Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Mười ngày ở Huế

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thị Thu Hằng
Ngày gửi: 10h:17' 21-03-2024
Dung lượng: 332.6 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Mười ngày ở Huế
Phạm Quỳnh
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di
động
 Nguồn: http://vnthuquan.net
 Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
 

Mục lục
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Phần I
Phần II
Phần III
Phần IV

Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Khi nói đến những thành tựu rực rỡ của văn học hiện đại  Việt Nam,
đặc biệt là thời kỳ 1930-1945 và tiếp tục về sau này của  nền văn
học cách mạng, không thể không nói đến một tiền đề hết  sức quan
trọng, một công cụ cơ bản nhất để tạo nên tác phẩm văn  học, đó là
ngôn ngữ, là tiếng Việt La tinh hóa, tức chữ quốc ngữ như ta thường
gọi lâu nay. Việc dùng mẫu tự La tinh để ghi âm  tiếng Việt (La tinh
hóa tiếng Việt) đã được các nhà truyền giáo  Phương Tây thực hiện
từ các thế kỷ trước. Đặc biệt phải kể đến  công lao của Alếchxăng
đờ Rốt đã tiếp tục công việc của các nhà truyền đạo trước đó, biên
soạn được cuốn từ điển đầu tiên  Dictionnatium anamitium lusitanun
et latinum1(1)

Nhưng chữ quốc ngữ từ lĩnh vực giao tiếp truyền đạo, lĩnh  vực
hành chính của chính quyền thuộc địa đến tiếng Việt như là ngôn
ngữ chính thức của đời sống xã hội, của báo chí truyền thông,  của
văn học nghệ thuật là cả một thời gian dài để làm quen, rèn  rũa,
trau chuốt cho đến thuần thục. Thời gian chuẩn bị đó khá dài, 
khoảng trên ba thế kỷ (từ thế kỷ 16 cho đến tận gần giữa thế kỷ 20
(thời kỳ 1930 - 1945). Và, những báo, tạp chí, những công báo...  ở
thời kỳ này, dù theo các xu hướng chính trị xã hội khác nhau,  đều
có tác dụng khách quan thúc đẩy sự phát triển hoàn thiện của  Tiếng
Việt La tinh hóa, của chữ quốc ngữ

. Trong số các báo, tạp chí như Đông Pháp, Trung Bắc tân  văn, An
Nam tạp chí, Nam Phong tạp chí... thì tạp chí Nam Phong  do Phạm

Quỳnh làm chủ bút (từ 1917 đến 1934) có những đóng  góp cần
được nhìn nhận lại. Trong số các cây bút chính của Nam  Phongnhư
Nguyễn Mạnh Bổng, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, hai  cha con
Nguyễn Bá Học, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Duy Tốn... thì cây  bút chủ
báo Phạm Quỳnh là nổi bật nhất. Thượng Chi đã viết thường xuyên
về nhiều thể loại trên báo này: dịch thuật, thông tin,  bình luận, khảo
cứu... Các bút ký Trẩy hội Chùa Hương, Mười  ngày ở Huế, Một
tháng ở Nam Kỳ có thể gọi là bút ký du lịch, khi  Phạm Quỳnh mới ra
làm báo Nam Phong, đầy hăm hở của một  người ham hiểu biết, yêu
mến thiên nhiên, tìm hiểu các di sản văn  hóa, các phong tục tập
quán. Trong bút ký Trẩy hội Chùa Hương,  tác giả rất bài bác tệ mê
tín buôn thần bán thánh nhưng lại tỏ ra  thích thú khi thưởng ngoạn
cảnh đẹp thiên nhiên và tìm thấy ở Đạo Phật chân chính một nguồn
cứu rỗi tâm hồn. Trong Bút ký Mười ngày ở Huế, với một thời gian
ngắn ngủi, tác giả đã nêu được  nhiều hình ảnh phản ánh tình hình
đời sống, dân tình thời ấy  cùng vẻ đẹp kỳ ảo của cảnh núi non sông
nước, các công trình kiến  trúc đặc sắc của cố đô Huế, gặp gỡ
những gia đình quí tộc có danh  tiếng như nữ sĩ Đạm Phương (mẹ
đẻ nhà văn Hải Triều tức  NguyễnKhoa Văn...). Đặc biệt trong thiên
bút ký này Phạm  Quỳnh được tận mắt chứng kiến lễ tế Nam Giao.
Những ghi chép  này rất có giá trị trong việc tìm hiểu phong tục cung
đình thời nhà Nguyễn. Ở Một tháng ở Nam Kỳ, tác giả đã nhận biết
sớm và rất  đúng tính cách đời sống Nam Bộ, ghi lại được nhiều
điều về đời  sống Nam Kỳ lục tỉnh lúc đó, về tình hình của các Hội
khuyến học  và báo chí Nam Kỳ đương thời. Tóm lại, về mặt nội
dung, các bút  ký du lịch của Phạm Quỳnh đã ghi lại được nhiều mặt
về thiên  nhiên đất nước, phong tục tập quán và đời sống đương
thời, cách  viết hấp dẫn, suy tư phong phú, gây được tình cảm tốt

cho người  đọc về nghĩa vụ của người công dân đối với quốc gia,
với truyền  thống văn hóa của tiền nhân.

Cần phải khẳng định những đóng góp của tác giả Phạm  Quỳnh về
ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại (chữ quốc ngữ). Nếu chúng  ta nhớ lại
khoảng những năm hai mươi, văn xuôi quốc ngữ chưa  phải đã đạt
đến trình độ thuần thục. Thời ấy, một người được dư  luận chú ý là
Hoàng Tích Chu đưa ra lối văn mới chống lại thứ văn  biền ngẫu
truyền thống, tác giả này thường ký là Văn Tôi, và giới  văn học
thường gọi là thứ văn cộc, đã được coi như một sự đổi mới  mạnh
dạn (theo Vũ Ngọc Phan -Những năm tháng ấy, hồi ký, Nxb  Văn
học, 1987) thì những bút ký du lịch của Phạm Quỳnh trong  những
năm 1918-1919 đã tỏ ra là một giọng văn trôi chảy, uyển  chuyển,
diễn đạt được nhiều nội dung phong phú.
Phạm Quỳnh hoạt động khá rộng trên các lĩnh vựcchính trị,  văn
hóa, nghệ thuật. Ông chủ trương dựa vào người Pháp để dần  dần
đòi lại quyền tự trị, (chủ trươngthuyết lập hiến, dựa vào hiệp  ước
Ácmăng 1883 để đòi lại quyền tự trị) khác với Nguyễn Văn  Vĩnh chủ
trương để cho người Pháp cai trị trực tiếp (thuyết trực  trị). Phạm
Quỳnh tỏ ra thần phục văn hóa Pháp, nước Pháp cũng  như chính
quyền thuộc địa Pháp ở Việt Nam, những quan hệ chính trị giữa
Phạm Quỳnh với chính quyền thực dân Pháp là đề tài thuộc lĩnh vực
chính trị - lịchsử. Ông đã, đang và sẽ còn được  phân tích, đánh giá,
phê phán trên lĩnh vực này, nhưng về mặt  văn hóa, văn học, về tiến
trình phát triển của văn xuôi quốc ngữ thìcông lao đóng góp của ông
cần được nhìn nhận lại. Điều đó đã được thể hiện phần nào trên các
công trình gần đây. Trong Từ điển  Văn hóa Việt Nam (Nxb Văn hóa
- Thông tin. Hà Nội. 1993) đã ghi  nhận điều đó và tác giả Phạm
Quỳnh đã được đưa vào chương  trình giảng dạy ở nhà trường

(Sách giáo khoa Văn 12. Nxb Giáo  dục. 199....). Vì vậy việc cho in
lại các bút ký du lịch của Phạm

Quỳnh chỉ là cụ thể hóa sự đánh giá lại tác giả này trên lĩnh vực  văn
học - báo chí, với tư cách là mộttác giả văn học. Để giúp cho  việc
nghiên cứu tiến trình văn xuôi quốc ngữ cũng như chữ quốc  ngữ,
và ngôn ngữ tiếng Việt hiện đại, chúng tôi giữ nguyên trạng  hình
thức văn phong của tác giả, chỉ lược bỏ những chi tiết xét  không
cần gợi lại.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và rất mong nhận  được sự
phê bình góp ý của các nhà nghiên cứu và đông đảo bạn  đọc.

Hà Nội tháng 6-1994 Nhà Xuất bản Văn học

1 Tự điển Annam - Bồ Đào Nha và La Tinh. Rôme. 1651.


Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần I
Nhân dịp tế Nam Giao tôi có về chơi Huế, thật là phỉ cái lòng  mong
mỏi đã lâu nay. Sinh trưởng ở một nơi đô hội mới, không còn  tí gì là
cái dấu vết cựu thời, mối hoài cổ vẫn thường canh cánh  trong lòng.
Quan niệm về lịch sử nước nhà, trông quanh mình  không có cái
cảnh tượng gì đủ nhắc lại những sự nghiệp nhớn nhao  của đời
trước, tình ái quốc vẫn thường ngang ngang trong dạ. Nên  vẫn ước
ao được về nơi Đế Đô để chiêm ngưỡng cái hình ảnh của  Tổ quốc.
Nay sự hi vọng đã thành, mắt đã được trông, tai đã được  nghe, tinh
thần đã cảm cái hồn xưa của loài giống, thân thể đã gội  cái khí
thiêng của núi sông, muốn đem những sự kiến văn, sự cảm  giác,
sự tư tưởng trong mười ngày ở chốn Trường An thuật lại cho  các
bạn đọc báo nghe, tưởng cũng giúp được một phần cho cái quan 
niệm của quốc dân đối với Tổ quốc vậy.

Xưa chẩy Kinh mất hai mươi ngày, nay nhờ có xe hỏa xe hơi  đi
đường bộ chỉ vừa đầy hai ngày tròn. Bắt đầu đi từ Hà Nội ngày  19
tháng 3 tây, ngày 21 tới Huế, ở Huế 12 ngày, ngày 2 tháng 4  bắt
đầu về, chiều ngày 3 tới Hà Nội, vừa đi vừa ở vừa về cả thảy 16 
ngày. Đi qua mười tỉnh: Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh  Bình,
Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị,  Thừa
Thiên; trải nhiều cảnh khác nhau: khi ruộng lúa, khi đồng  cỏ, khi non
thấp, khi núi cao, khi sa mạc, khi cao nguyên, khi qua  sông, khi men
bể; giải Hồng Lĩnh, núi Hoành Sơn, bến sông  Gianh, truông nhà Hồ,
những nơi có tiếng to tiếng dữ ngày xưa lần  lượt trình bầy ra trước

mắt, chỉ khác cổ nhân là thân không phải  chịu khó nhọc mà trong
khoảng hai ngày thu được một mảnh  giang sơn của cố quốc. Ở vào
thời đại khai thông cũng có nhiều  điều tiện lợi, nhưng có nhẽ kém
cái thú riêng của các cụ ngày xưa,  thong dong bầu rượu túi thơ, đi
đến đâu đề vịnh đến đấy, chẳng  quản ngày qua tháng lại, cái thân
nhàn không hệ lụy với thời  gian! Ngày nay thời giờ đã coi là vật rất
quí ở đời, người đời đối với  ngày giời đã sinh lòng bủn sỉn, thì cái
hồn thơ lấy đâu mà lai láng được như xưa! Cho nên điện khí, hơi
nước, xe hỏa, xe hơi, không  phải là những “thi khố” thiên nhiên của
giời đất.

Sáu giờ sáng ngày 19 lên xe hỏa về Vinh, năm giờ chiều tới  nơi. Từ
Hà Nội đến Ninh Bình là phong cảnh đất đồng bằng, đất  bằng giời
phẳng, bát ngát mênh mông, người đứng giữa như giam  mình trong
cái ngục nhớn. Ai sinh trưởng ở chốn đồng bằng xứ Bắc, từ thủa
nhỏ đầy mắt chỉ là cái cảnh giời biếc ruộng xanh,  song song bất
tuyệt, mới biết cái khổ lạ như cái khổ kẻ tù nhân,  khao khát những
cảnh núi non cao thẳm, gò đống khi khu. Theo  sách địa lý thì những
bậc anh tài hùng kiệt thường sinh ra ở gần  nơi cao phong tuấn lĩnh:
mắt nhìn những cảnh tượng nhớn nhao,  lòng tất rộng rãi mà trí tất
cao sâu. Sách tây cũng thường nói  người Ấn Độ đời xưa sở dĩ
sáng lập ra được những tôn giáo triết lý cao thâm như đạo Thích ca,
đạo Phệ đà, cũng là bởi sinh trưởng ở dưới núi Tuyết Sơn, tinh thần
thường theo ngọn núi cao mà bay  bổng lên chốn không gian vô
cực. Như thế thì xứ đồng bằng hiếm  người anh tuấn cũng là phải:
người đồng bằng cái trí không lên  khỏi ngọn cây tre! - Từ Ninh Bình
giở vào mới thấy nhiều núi non,  trước còn thấp, rồi cao dần mãi lên.
Núi thường đột khởi ở giữa  cánh đồng, đá trắng mọc rêu xanh, đen
đen đốm đốm, trông xa  như những mảnh thành bị tàn phá đã lâu

ngày, hay là những bức  tường đổ nát của cái lâu đài khổng lồ từ
thời thượng cổ. Trông  những núi đó không khiếp sợ mà chạnh
thương, vì nó trơ vơ xơ xác  giữa đồng, có cái hình dạng tiêu điều
như người đau đớn trong  lòng: mộc thạch cũng có linh hồn chớ
chẳng không! Nhưng từ vùng  Thanh Nghệ giở vào thì núi đã thấy
liên tiếp nhau mà thành từng  rặng dài, đá thường lẫn đất, cỏ cây
rậm rạp, không xơ xác như  những núi trên kia. Hình tròn sắc mượt,
như một đàn voi cực lớn  theo nhau tự trong rừng Vạn Tượng ra
đến bờ bể Đông. “Hồng  Lĩnh cửu thập cửu phong” là bắt đầu từ
đấy. Xe lửa chạy nhanh,  không thể đếm được có đủ chín mươi chín
ngọn không. Nhưng  túng sử đếm được mà cái số hoặc nhiều hơn
hay ít kém thì có hề chi; cái tên của cổ nhân đặt vẫn là có ý vị, dẫu
không đúng cũng  chẳng giảm đi chút nào. Ôi! Cái hồn thơ của cha
ông!...

Đêm hôm ấy ngủ tại Vinh, sáng hôm sau lên xe hơi đi về Đông Hà.
Xe hơi có thể đi từ Vinh về Đông Hà trong 12 giờ, nhưng  xe hỏa tự
Đông Hà về Huế chỉ có một chuyến chạy chín giờ sáng, vả Đông Hà
là một nhà ga cùng tịch ở đêm không tiện, nên ước  năm sáu giờ
chiều tới Đồng Hới là tỉnh lỵ tỉnh Quảng Bình ngủ đêm đấy, sáng
hôm sau đi nốt Đồng Hới về Đông Hà, vừa gặp  chuyến xe lửa về
Huế, đúng 12 giờ trưa thì tới Kinh đô. Nếu sở xe  hỏa chịu đặt một
chuyến bảy tám giờ tối thì hành khách khỏi phải  ngủ đêm ở Đồng
Hới, khỏi phải mất nửa ngày hôm sau, mà ước  nửa đêm ngày thứ
hai đã tới Kinh. Cứ xem khi ở Huế ra Hà Nội  chỉ vừa đầy hai ngày
thì đủ biết: 6 giờ sáng lên xe hỏa tự Huế ra  Đông Hà, 8 giờ đến
Đông Hà, 9 giờ lên xe hơi ra Vinh, 10 giờ tối tới  Vinh, ngủ đêm ở
đấy, sáng sớm mai lên xe hỏa ra Hà Nội, 5 giờ chiều tới nơi. Người
yếu sức cũng hơi nhọc mệt một đôi chút,  nhưng trông phong cảnh

hai bên đường đủ làm cho quên cái nỗi  lưng mỏi chân chồn.

Từ Vinh giở vào đi xe hơi là theo con đường Thiên Lý cũ gần  bờ bể.
Phải một quãng ở khỏi Nghệ đường mới đắp xấu quá, hôm  đi lại
vừa gặp giời mưa to đêm hôm trước, đường sũng nước thành  bùn
lầy, bánh xe bết xuống không đi được hành khách phải xuống  để
cho phu đẩy mất năm sáu trăm thước tây. Chuyến ấy có bốn  người
đi, hai vợ chồng ông quan ba với hai anh em nhà báo mình  là ông
Chương Dân và tôi. Bốn người cùng lội bì bõm, nhìn nhau  mà buồn
cười thay. Quan ba cùng phu nhân tính vui mà nhã nhặn, thực là
một đôi bạn đi đường quí hóa. Suốt một ngày chuyện  trò ân cần vui
vẻ, cùng nhau bình phẩm cái bức tranh thiên nhiên  đương bầy ra
trước mắt. Đến lắm chỗ phong cảnh núi non đẹp, phu  nhân nói nhớ
đến những cảnh quê hương bên mẫu quốc. Chẳng  hay phu nhân
có biết hai người Việt Nam ngồi đấy trông cảnh ấy  trong lòng cũng
đương vẩn vương về tổ quốc không?... Quan ba  người đẫy đà, ngồi
trong xe khí chật, tủm tỉm cười mà nói: “Tôi to  nhớn quá, ngồi chật
mất cả chỗ, không được thanh tú như các ông  là những bậc văn
nhân...” Than ôi! Câu đó cũng là một câu nói nhã mà khiến cho
chúng tôi luống những rầu lòng. Trông người mạnh  mẽ ta yếu ớt mà
buồn thay cho tư cách văn nhân của giống mình.  Ngoài những khi
ngồi xe như lúc này, cái tư cách ấy há đáng người  ta thèm lắm ru?
Ngay khi lóng cóng lội bùn vừa rồi cũng đủ biết  cái tư cách văn
nhân không đủ ra đối đãi với đời. Ngán thay!

Xe hơi đi phăng phăng như nuốt đường, gió lộng tứ phía như  đập
vào mặt đập vào tai mà thành một thứ âm nhạc riêng lẫn với tiếng
phành phạch của cái máy động cơ trong xe. Người nhà quê  trong
Trung Kỳ này vụng tránh xe lắm. Nghe hiệu còi không biết  đứng
nép ngay vào bên đường mình đương đi, lại hình như cuồng  cẳng

lên mà đâm quàng sang bên kia, hoặc cứ chạy mãi cho đến  chỗ
nào có cái cửa hay cái ngõ ngang mới rẽ vào, rồi cắp nón quay  lại
nhìn, mặt ngơ ngác! Thường xe hại người cũng vì thế. Nhưng  mà
nghĩ cho kỹ chẳng nên trách chi người nhà quê. Phàm cái gì có
hiểu, có giải được cái lý do nó thế nào thì làm mới phải đường; 
người nhà quê trông cái xe hơi chạy vùn vụt, tưởng là có cái ma lực 
gì nó đưa đi như mây như gió, lại không hiểu những người ngồi 
trong xe ấy có công việc gì mà đến nỗi chạy bạt hơi bay tóc như lũ
cuồng như vậy, nên trông thấy cái xe đi đến kinh ngạc khiếp sợ,  bối
rối lên mà không biết tới lui thế nào.

Hai bên đường xe chạy, phong cảnh có cái vẻ buồn rầu lặng  lẽ:
toàn thị là một rải đất hoang, xa xa mới có một thôn lạc năm ba  nóc
nhà lơ thơ; ngoài là bãi cát trắng xóa, trong là rẫy núi xanh  om. Cái
xe bon bon chạy giữa tưởng như con thú rừng lạc vào  trong sa
mạc; kinh hoảng mà chạy cuồng. Ngoài xa nữa là bể khơi  một mầu
xanh ngắt, sóng rạt gần bờ trông như một rải bạc trắng  xóa. Phong
cảnh ấy tưởng những lúc bão bể mưa ngàn, tiếng sấm  trên núi họa
với tiếng sóng ngoài khơi, thì kinh hãi biết chừng  nào! Hoặc buổi
chiều mặt giời đã xế, cây cỏ rầu rầu, nghe tiếng con  chim lạc đàn
kêu giữa bãi trường xa, thì thê thảm biết chừng nào!  Mình ngồi
trong xe chạy vùn vụt, mà trông cảnh ấy trong lòng còn  lạnh lẽo
thay, huống chi là những khách đường xa, người lữ thứ đi  đến đấy,
tấm lữ hoài ngao ngán biết là bao!

Miền hải tần đó không phải là cái đất người ở được. Núi tuy  có cây
mà là những cây cằn cọc, không phải là cái lợi nguyên cho  cư dân.
Đất trộn lẫn với cát, không phải là cái chất nuôi được  giống sinh vật.
Trông cây cỏ mọc đấy mà thương thay; có lắm  giống giá vào chỗ
đất tốt sức nhớn được bằng cây đa cây đề, mà ở đây không sao lên

được hơn ba bốn mươi phân tây. Thực là cái  cảnh sơn cùng địa
tịch vậy.

Nếu suốt đường cứ một cái cảnh tiêu điều như thế thì mắt  cũng
phải chán mà lòng cũng phải ngán. Nhưng ước nửa đường thì  đến
rặng Đèo Ngang. Phong cảnh ở đây mới thực là ngoạn mục,  chẳng
khác gì một bức tranh sơn thủy vậy. Núi Đèo Ngang tức tên chữ là
Hoành Sơn. Ta thường dùng nhầm chữ Hoành Sơn mà dịch  tên tây
Chalne Annamitique là gồm cả cái rẫy núi dài chạy dọc  suốt đất
Trung kỳ, theo lưu vực sông Cửu Long, trên liền tiếp với  các núi
miền Thượng du Bắc kỳ, dưới đến tận đồng bằng Lục tỉnh.  Thực
Hoành Sơn chỉ là một chi núi của rẫy núi nhớn ấy, chạy  thẳng ra bờ
bể, chắn ngang đường Thiên Lý tự Bắc vào Kinh, nên  gọi là Đèo
Ngang, Bài thơ bà huyện Thanh Quan:

Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà...  tức là vịnh núi ấy. Ngày xưa
khách bộ hành đi đến đấy tất  phải trèo đèo, trèo ngược lên, rồi lại
trèo dốc xuống, lấy làm một  bước đường rất gian hiểm. Khi đêm
các vì sơn quân vẫn thường  lẩn quất ở đấy. Ngày nay đã có con
đường chạy quanh núi như  xoáy trôn ốc, xe hơi đi ước mất hơn
nửa giờ, đến lưng chừng núi  trông xuống không cảnh gì xinh bằng.
Thực là:

Dừng chân đứng lại giời, non, nước,

Một mảnh tình riêng ta với ta.

Cảnh vui này mới bõ cảnh buồn lúc nãy. Trên núi thì cỏ cây  chen đá
lá chen hoa, dưới đồng thì ruộng lúa xanh rì dòng nước  cuốn, ngoài
bể thì giời nước mênh mông sắc một mầu. Đến cửa  “Hoành sơn
quan” xe đỗ tôi trèo lên xem. Cửa nay đã mất cánh,  rêu mọc cỏ che.
Cạnh có cái bi đinh trong khắc bài bia ngự chế của  Đức Thiệu Trị.
Trông cái cửa cỏn con ấy, không thấy gì là cái cảnh  tượng một chốn

“hùng quan”! Đứng đấy mà lại sực nhớ đến hai câu  thơ của bà
huyện:

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.  Tuy bấy giờ không nghe tiếng
con quốc cái gia nào kêu, mà nỗi thương nước nhớ nhà như chan
chứa trong lòng.

Nghe nói gần đấy có cái đền thờ bà Liễu Hạnh linh lắm,  nhưng
đường xuống dốc quá, không thể đi tới nơi.

Khi xuống xe thấy một ông lão già ngồi bên đường như người  hành
khất, hình dáng tiều tuỵ, không nói không năng. Than ôi!  Khoảng
vắng đường dài, trên rừng dưới bể, lão ở đâu đến, lão ngồi chi đây?
Hay là lão cực nỗi đời khốn khổ, đem thân tự hiến cho sơn  quân?
Thương thay!

Lúc đã xuống đến chân núi ngửng trông lên thấy con đường  mình
vừa đi như một dải lụa vòng quanh núi, khác nào như cái  dây trắng
buộc quả bầu xanh vậy.

Hết rặng Đèo Ngang lại đến cái cảnh đất cát câycằn như  trước. Đi
một ít lâu nữa thì tới một nơi có tiếng dữ ngày xưa, tức là nơi truông
nhà Hồ, thuộc tỉnh Quảnh Bình, làng Hồ Xá. Truông là một khoảng
đất cây cỏ rậm rạp, không có đường đi lối lại. Ngày  nay thì không
có cái cảnh tượng như thế nữa, cây cỏ ở đấy cũng  cằn cọc như ở
trên kia, nhưng xưa thực là một nơi sào huyệt của  bọn cướp
đường, khách bộ hành lấy làm nguy hiểm hơn cả, nên đi  qua đấy
phải đông người mới dám đi. Những buổi nhiễu nhũng  khách đi qua
thường bị bọn cướp bắt đem vào trong xa bóc lột,  quân quan không
biết đường nào mà tìm bắt, vì cây cỏ rậm quá.  Thuộc về lịch sử nơi
truông nhà Hồ ấy, ở đường trong có tương  truyền truyện như sau
này. Ông Nguyễn Khoa Đăng làm chức nội  tán cho chúa Minh

vương (1691 - 1725) nghe nói nơi truông nhà Hồ có nhiều giặc
cướp, hay bóc lột khách đi đường, bèn lập kếtrị  cho yên. Ông cho
tải đến nơi ấy ước hai mươi cái hòm to đóng kín,  trong phục người,
để giả làm một bọn nhà buôn chở đồ hàng đi  qua. Đám cướp vẫn
rình ở đấy trông thấy bọn khách đông, lại  nhiều đồ hàng, tưởng là
một dịp béo bở lắm, xông vào đánh cướp,  rồi đem đến nơi bụi rậm
chia nhau. Trong hai mươi cái hòm ấy  một cái có khoan lỗ thủng,
người nằm trong ấy đi đến đâu rắc giấy  đến đấy, để cho quân lính
theo sau biết đường mà tìm vào. Đương  khi bọn cướp họp lại đông
đủ cả để bàn nhau chia của thì người  trong hòm đâm xổ ra, quân ở
ngoài kéo ùa vào, vây bốn bề, bắt  được cả bọn, không thiếu đứa
nào. Từ đấy cả miền đó được yên.  Sau ông truyền cho người bộ
hành nào đi qua đấy cũng phải cắt  những cây mọc bên đường. Hai
đầu đường đã để dao sẵn cho mà dùng. Cứ thế mãi, không bao lâu
mà con đường thành ra quang  đãng, người đi lại giao thông như
thường; từ đấy không có tiếng  giặc cướp gì nữa. - Lại gần Kinh,
giáp bể, ở nơi tên là Bàu Ngược,  thuộc huyện Quảng Điền, có một
cái đầm nước gọi là phá Tam  Giang, cũng có tiếng dữ lắm. Nay xe
hơi không đi gần đến đấy,  nhưng xưa hành khách về Kinh tất phải
chở thuyền qua đấy.

Nhất là về mùa thu mùa đông, sóng gió nhiều, thuyền  thường đắm
luôn, rất là nguy hiểm, vì chỗ ấy nước vừa sâu mà đường đi lại
quanh co khúc khuỷu. Tục truyền là đấy có ba cái  Sóng thần dữlắm.
Ông Nguyễn Khoa Đăng muốn trị cho được, bèn  truyền đóng một
chiếc thuyền rất vững vàng, đặt chiếc súng thần  công ở trong. Ra
đến giữa phá ông nổ hai phát súng bắn tan được  hai cái Sóngthần,
còn cái thứ ba thì chạy ra bể mất. Đêm hôm ấy  ông cho đào liền
một con sông thẳng đấy; từ đó thuyền bé không  hay đắm nữa. 


Nhân hai việc tục truyền đó mà có câu hát như sau này: 

- Thương anh em cũng muốn vô

Sợ truông nhà Hồ sợ Phá Tam Giang

- Phá Tam Giang nay rày đã cạn,

Truông nhà Hồ nội tán cấm nghiêm(1)

Xe hơi đi đến Đông Hà thì thôi. Đấy là đầu đường xe hỏa  Quảng
Trị. Có một nhà ga nhỏ với năm ba cái hàng quán con ở giữa
khoảng đồng không mông quạnh. Xe hơi tới nơi, đợi ít lâu thì  có
chuyến xe hỏa về Huế. Hai bên đường cũng vẫn nhiều đất rậm  bỏ
hoang, chưa ra cái cảnh tượng trù mật. Xe hỏa chạy gần tỉnh 
Quảng Trị, nhưng không đi qua.

Vào đến địa phận Thừa Thiên thì phong cảnh thấy khác  ngay. Làng
xóm đông đúc, ruộng lúa xanh rì, không phải đất bỏ hoang như trên
kia nữa. Dẫu không biết rằng đã sắp đến Huế,  cũng đoán được
rằng sắp tới một nơi đô hội nhớn. Quả nhiên ước  một giờ đồng hồ
thì xe hỏa tới Kinh đô: Bây giờ vừa đúng 12 giờ trưa...

Kể chi những nỗi dọc đường... tới đây mới nhớ đến câu thơ ấy 
trong truyện Kiều, thì ra từ trên toàn thị là những nỗi dọc đường  cả,
mà chính chuyện trong “mười ngày ở Huế” chưa từng kể đến.  Ôi!
Cổ nhân có tính hay thơ, mà tôi đây thực là thơ thẩn vậy. Thơ  thẩn
thẩn thơ, giời đã bẩm sinh cho cái tính luyến cảnh luyến người, bình
sinh đã từng biết người nào cảnh nào, những khi hồi  tưởng đến
không thể dứt cho đành. Thôi thì:

Dở hay cũng bởi tính giời biết sao? tưởng các bạn đọc báo  cũng
lượng cho vậy.

Từ đây xin thuật chuyện Trường An.

1 Họ Nguyễn Khoa là một vọng tộc ở tỉnh Thừa Thiên, khi ở Huế tôi
có được tiếp truyện một  ông Nguyễn Khoa, sau này sẽ kể qua cái

lịch sử họ ấy, theo một bài khảo cứu trong sách Biên  tập của hội
“Đô thành hiếu cổ xả”.


Phạm Quỳnh
Mười ngày ở Huế
Phần II
Cổ ngữ Âu châu có câu: “Trăm con đường đều quay đầu về thành
La Mã”. Có ý nói thành La Mã là nơi trung tâm của lịch sử Âu châu
đời xưa, đâu đâu cũng qui phục về đấy, muôn sự đều do  đấy mà ra.
Cái ánh sáng của văn minh nước La Mã nhóm lên từ đấy mà chiếu
khắp thế giới, cái oai quyền của quân đội nước La  Mã dấy lên từ
đấy mà trấn áp hoàn cầu; cái then máy của cuộc  thống nhất nước
La Mã cũng do tự đấy mà vận động ra suốt cõiÂu  Châu. Từ xưa
đến nay phàm nước nào đã có một cuộc lịch sử lâu  dài đều có một
nơi trung tâm như thế: nước nào cũng có một thành  La Mã vậy.
Thành La Mã của Việt Nam ta là ở đâu? Tức là nơi Đế đô bây giờ,
đất Thuận Hóa khi xưa, kinh thành Huế ngày nay vậy.

Lấy lịch sử mà xét, lấy địa thế mà chứng, lấy cái tình thế chính trị
ngày nay mà chiêm nghiệm, lấy lòng khuynh hướng quốc  dân sau
này mà dự đoán, thành Huế thực là chốn căn cứ, nơi yếu  điểm của
giống Việt Nam, xưa đã nhờ đấy mà gây dựng nên bờ cõi,  nay lại
nhân đấy mà nói lên cái tư cách mộtdân quốc hoàn toàn.  Ôi! Phàm
đã gọi là một dân quốc không thể giây phút thiếu cái tư  tưởng, cái
tinh thần một dân quốc. Tư tưởng ấy, tinh thần ấy gọi  một tên tức là
cái quốc hồn vậy. Quốc hồn của Việt Nam ta ngày  nay phải tìm ở
đâu cho thấy? Thiết tưởng phi ở Huế không đâu  thấy vậy.

Ấy trước khi bước chân xuống đất Huế, cái tư tưởng tôi triền  miên
như vậy. Tôi chưa biết Huế tôi đã yêu Huế rồi, yêu vì cái  nghĩa cao
thượng nó ngụ ở trong cái tên ấy, yêu vì cái cảm tình vô  hạn nó

chan chứa trong lòng tôi. Bình sinh tôi học vấn được đến  đâu, cảm
giác được đến đâu, tư tưởng được đến đâu, hy vọng được đến đâu,
bấy giờ tựa hồ như con sông vỡ đê mà tràn ngập cả trong  tâm giới
tôi vậy.

Đương mộng tưởng mơ màng thì xe hỏa dừng trước nhà ga  Huế.
Sực tỉnh trong bụng nửa mừng mà nửa lo. Mừng rằng nay đã tới nơi
rồi, lo rằng không biết sự thực có xứng với cái mộng không,  hay là
quen thói thường chỉ đủ khiến cho mình thất vọng...

Thường câu đọc trong sách Đại Nam nhất thống chí, thiên  Kinh sư,
có tả địa thế cùng lược lịch sử nơi kinh thành Huế như  sau này:

“Chốn Kinh sư gồm cả núi bể trong nước mà ở vào giữa  khoảng
Bắc Nam, khí hậu hòa bình, sơn thủy kỳ tú. Đường bể thì  có cửa
Thuận An, cửa Tư Hiền làm hiểm, đường lục thì có ải  Quảng Bình,
ải Hải Vân làm trở. Sông nhớn bao mặt trước, núi cao  chắn mặt
sau. Ba nguồn Bồ Trạch bọc bên tả bên hữu. Đầm Tam  Giang, đầm
Thanh Lam, đầm Hà Trung làm then làm chốt. Thực  là một nơi hổ
chồm rồng cuốn, địa thắng hình cường; đất hiểm yếu  của giời đất,
làm thượng đô cho đế vương. Kể từ khi nước Nam  dựng nước,
thuộc về nhà Trần là đất Thuận Hóa, thuộc về nhà Lê  là Thuận Hóa
thừa tuyên, đều xưng là nơi trọng trấn. Về Bản  Triều, đức Thái tổ
Gia Dũ Hoàng đế chịu mệnh Giời mở nền nước ở cõi Nam, trước
đóng ở Ái Tử, sau đi ra Trà Bát (tên làng thuộc  tỉnh Quảng Trị,
huyện Đăng Xương, lại đi ra phía đông Ái Tử nữa  ở nơi gọi là Cát
Doanh). Đức Hi tôn Hiếu Văn Hoàng đế lại tự Cát  Doanh đi ra Phúc
An (tên làng, thuộc huyệnQuảng Điền). Đức  Thần Tôn Hiếu Chiêu
Hoàng đế lấy nơi Kim Long là đất có hình  thế, đổi ra đóng đấy. Đức
Anh tôn Hiếu Nghĩa Hoàng đế lại dịch ra  Phú Xuân (Kim Long Phú
Xuân đều là tên làng). Đức Thế tôn  Hiếu Võ Hoàng đế chia đất

trong cõi làm 12 doanh. Ở Phú Xuân  thì gọi là Chính doanh,lại xưng
là Đô thành. Đều là đất Thuận  Hóa vậy. Phía Bắc cưỡi lên sông
Gianh, phía Nam gồm đất Chân  Lạp, Liệt Thánh tương truyền hơn
hai trăm năm. Năm Giáp Ngọ đời đức Duệ tôn Hiếu Định Hoàng đế,
quân Trịnh đến chiếm. Sau  bị giạc Tây Sơn trộm giữ trong ba mươi
năm. Kịp đến đức Thế tổ Cao Hoàng đế ta dấy lên như rồng như
mây, thay Giời dẹp giặc,  mùa thu năm Mậu Tuất thu phục thành Gia
Định, mùa hạ năm  Tân Dậu khắc phục chốn cựu kinh, mùa hạ năm
Nhâm Tuất bắt  tướng giặc ở cõi Bắc; từ đó gồm An Nam nhất thống
dư đồ, bờ cõi mênh mông, nam tới Tiêm La Chân Lạp, bắc giáp
nước Tàu, đông  đến bể, tây đến Ai Lao. Giở về đất cũ, mở rộng
thêm ra, định đô ở Phú Xuân, từ đấy mới xưng là Kinh sư vậy. Đặt
phép tắc, định  triều cống, như cái nóc nhà cao hơn cả, bốn bề đều
quay về đấy,  như ngôi sao Bắc đẩu tôn hơn cả, trăm sao đều chầu
chung quanh.  Cái nền vững vàng thịnh vượng của nước nhà trong
ức vạn năm  thực là ở đấy vậy. Rực rỡ thay! Vẻ vang thay!"

Lấy cái cảm giác nhà ái quốc mà đọc những nhời đó, trong  lòng
hứng khởi biết chừng nào! Người vô tình cho là nhời văn  chương
hư sức, mà người có cảm với nước nhà qua câu văn hình  như
trông thấy cái hồn trong nước sinh trưởng ở vùng Thuận Hóa  Phú
Xuân nơi đất cũ vậy.

Tôi vốn không tin cái thuật địa lý của bọn thầy vườn lấy  đống đất
giữa đồng, ngòi nước bên ruộng làm ngai rồng tay hổ.  Nhưng tôi tin
những nơi sơn thủy kỳ tú có ảnh hưởng đến vận  mệnh một nước.
Người ta đối với cái ngoại cảnh không phải là không có quan hệ.
Người đồng bằng biệt ra tính cách đất đồng  bằng, người rừng núi
biệt ra tính cách nơi rừng núi; thói ăn cách ở,  đường sinh kế, lối tư
tưởng, không gì là không tùy theo cái ngoại  cảnh mà khác nhau.

Huống chi là những bậc đế vương mở đất  dựng nước, những nơi
sông núi xinh đẹp lại không có quan hệ với  cái lòng hoài bão nhớn
nhaohay sao? Liệt Thánh bản triều ta đặt  nền Đại Việt ở đất Phú
Xuân thực đã dự tưởng mà biết cái cơ đồ vĩ  đại về sau vậy.

Người khách mới đến thành Huế tưởng như bước chân vào  bức
tranh cảnh: chung quanh núi, giữa con sông, nhà cửa tụ họp  hai
bên bờ, trên bến dưới thuyền, trông xa một tòa thành cổ bao la, 
thâm nghiêm kín cổng. Cái phong cảnh Huế sở dĩ đẹp là thứ nhất 
bởi con sông Hương Giang. Con sông xinh thay! Hà Nội cũng có
sông Nhị Hà, mà sông Nhị với sông Hương khác nhau biết chừng 
nào! Một đằng ví như cô con gái tươi cười, một đằng ví như bà lão 
già cay nghiệt. Nhị Hà là cái thiên tai của xứ Bắc, Hương Giang là
cái châu báu của xứ Kinh. Nước trong như vắt, dòng phẳng như tờ, 
ít khi có tị sóng gợn trên mặt, đi thuyền trên sông như đi trong hồ
vậy. Huế không có con sông Hương thì tưởng cái đẹp của xứ Huế
giảm mất nửa phần. Nhưng đã có sông Hương lại có núi Ngự nữa, 
cái cảnh mới thực là toàn xinh. Ngự Bình không phải là một núi cao
như núi Phú Sĩ nước Nhật, Hương Giang không phải là một  sông
rộng như sông Hoàng Hà nước Tàu, nên nói rằng sông ấy núi  ấy
làm hiểm trở cho chốn Đế kinh thì cũng là nói quá, nhưng sông  ấy
núi ấy thực là vẽ nên phong cảnh xứ Huế vậy. Vả cái khí vị của 
phong cảnh Huế không phải là cái khí vị hùng tráng, mà là cái khí  vị
mĩ diệu; cảnh Huế xinh mà đẹp, không phải là hùng mà cường, 
đáng yêu mà không phải là đáng sợ, có thi vị mà không phải là có
khí tượng. Phải nhận kỹ như thế thì mới khỏi nhầm mà hiểu được 
tinh thần của cái bức sơn thủy hiển nhiên ấy.

Khi mới bước chân vào một xứ lạ, cái gì nó cảm mình trước  nhất là
cái cảnh ngoài. Có cái cảnh ưa người, như tươi cười mà đón 

khách, có cái cảnh ghét người như hẩm hiu mà mới gượng, lại có
lắm cái cảnh vô tình, mình hỏi không thèm đáp, phần đó là phần 
nhiều. Cảnh Huế là một cảnh rất ưa người, ngoài mặt mới tiếp xúc 
trong lòng đã sinh cảm tình. Hay là lòng tôi đã nhiệt thành sẵn  mà
dễ cảm như thế? Cũng có nhẽ, nhưng bởi cái tinh thần riêng  của
phong cảnh cũng nhiều.

Nay đã có cảm tình với cảnh Huế, phải gây lấy mối cảm tình  với
người Huế nữa. Đó là cái công việc tôi trong mấy ngày về sau  này.

Cái mục đích cuộc du Kinh của tôi là chủ xem tế Nam Giao.  Vậy
trước nhất hẵng xin thuật chuyện Giao.

Tế Giao đính nhật đêm ngày 12 rạng 13 tháng 2 an nam (tức  là 2425 tháng 3 tây). Tôi tới Kinh từ ngày mồng 9, có ý sớm mấy  bữa để
xem cái cảnh tượng trong phố phường cùng cách trần thiết  ở Giao
Đàn. Mấy ngày ấy thành Huế tấp nập những kẻ đi người  lại. Hai
bên đường Hoàng Thượng sắp ngự qua từ Nội thành đến  Giao Đàn
đương làm rạp đặt hương án. Những hương án đó là do  các thôn
xã mấy huyện ở gần Kinh đô, mỗi làng phải đặt một sở,  nghe nói cả
thảy mấy trăm sở. Nhất là con đường thẳng lên Nam  Giao hai ngày
10-11 đi dạo chơi không cảnh gì vui mắt bằng: cờ xanh, cờ đỏ, cờ
đuôi nheo, cờ ngũ hành, các hạng cờ cắm san sát  hai bên đường,
gió thổi bay cả về một hướng, xa trông phấp phới,  tưởng tượng
như con hoàng long ở dưới đất nổi lên mà mỗi lá cờ là một cái vẩy
đương rung động vậy! Hương án liên tiếp nhau, cách  vài thước lại
một cái, không có khoảng nào bỏ không. Mỗi sở có mấy viên ký-mục
ngồi túc trực. Sau lưng những hàng quán dựng  lên nhan nhản.
Giữa đường kẻ đi người lại như nước chảy, nào là người phục dịch
về Giao Đàn, về các hương án, nào là dân các nơi  lại xem, đàn bà
con trẻ cũng nhiều. Tôi có ý nhận những đám đông  người ở đây rất

nghiêm, không những như ngoài Bắc. Lính cảnh  sát có ít mà trên
đường vẫn có trật tự, không hề thấy đám đánh  nhau chửi nhau, ồn
ào rộn rịp, thứ nhất là không có cái tiếng rất  khả ố là tiếng cập kè
của bọn sẩm chợ, như những khi hội hè ở ngoài ta.

Cái vui của người dân ...
 
Gửi ý kiến