Những lá thư không gửi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:11' 25-09-2023
Dung lượng: 559.0 KB
Số lượt tải: 7
Nguồn:
Người gửi: lê thị lành (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:11' 25-09-2023
Dung lượng: 559.0 KB
Số lượt tải: 7
Số lượt thích:
0 người
Tên eBook: Những Lá Thư Không Gửi
Tác giả : Susie Morgenstern
Thể loại: Hài hước, Thiếu nhi, Tiểu thuyết, Văn học phương tây
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Thế Giới
Trọng lượng vận chuyển: 300 g
Kích thước: 13 x 20.5 cm
Số trang: 157
Ngày xuất bản: 2006
Hình thức: Bìa Mềm
Giá bìa: 45.000 ₫
Đánh máy: Phạm Thúy, Phương Vũ, Tuấn Cường
Thực hiện: Hanki Duong Nguyen, Phương Thảo
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu:
Ernest là một cậu bé 10 tuổi, đẹp trai và học giỏi. Tuy nhiên, tuổi thơ
của cậu bé lại thật buồn. Mẹ cậu mất ngay khi sinh cậu, còn cha cậu đã
bỏ đi không trở về.
Ernest sống với bà trong một chuỗi ngày bằng lặng, buồn chán, nhịp
điệu không thay đổi. Không có gì để chơi dù là ti vi hay điện thoại.
Nhưng rồi, một bạn gái tên là Victore de Montardent mới đến lớp.
Cô bé đã dành tình yêu mến đặc biệt cho Ernest. Nhờ có Victore, niềm
vui trong cuộc sống đã đến. Và Ernet đã khám phá được nhiều điều bí
mật trong thế giới của mình, để rồi tìm lại được người cha.
Nồng nàn, dí dỏm, Những lá thư không gửi là một trong những cuốn
sách thiếu nhi lôi cuốn nhất trong nhiều năm qua, được độc giả mọi lứa
tuổi trên thế giới yêu mến.
Susie Morgenstern là nhà văn gốc Mỹ sinh ra ở bang New Jersey năm
1945. Số phận đã đưa đẩy bà gặp một nhà toán học người Pháp và tới sống ở
Nice (Pháp), giảng dạy tiếng Anh ở trường Sophie Anti-polis tới năm 2005.
Bà đã viết trên dưới 60 cuốn sách và giành được vô số giải thưởng. Các
tác phẩm của Susie Morgenstern đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản
ở khắp châu Âu, châu Á, châu Mỹ và Trung Đông.
“Đầy nhiệt tình và dí dỏm, tuyệt đối không nên bỏ qua câu chuyện về cậu
chàng Ernest này.” - Publisher Weekly
“Lôi cuốn,vui nhộn… cái kết có hậu một cách xứng đáng… sẽ khiến cho
bọn trẻ thèm muốn được đọc thêm các tập tiếp theo nữa.” - Booklist
“Một cuốn tiểu thuyết để ta nâng niu.” - Kirkus Reviews
“Một câu chuyện bổ ích, kích thích, và tràn đầy hy vọng.” – SDM
Những lá thư không gửi đã giành được Giải Totem Roman 1996 do
Phòng sách Tuổi trẻ Montreuil trao tặng, Giải Chronos 1997, Giải Gaya
Déconverte 1997, Giải Lire au college 1997, và trên dưới hai mươi giải
thưởng văn học khác.
Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: Lettres d'amour de 0 à 10
© 1996, L'Ecole des Loisirs, Paris, pour le texte francais
© Nhà xuất bản Thế giới, 2006, bản tiếng Việt
Copyright for the Vietnamese transalation by Thế Giới Publishers 2006.
Mục lục
1. Ernest
2. Victorie
3. Jérémie
4. Bà Précieuse
5. Bà Germaine
6. Alphonse
7. Dan
8. Simon
9. Ông Montardent
10. Henriette
11. Benjamin
12. Elodie
13: Issachar
14: Jeannette
15: Gaspard
16: Adrien
Dành tặng Philippe Silvy
I
Ernest
Cậu bước đi chậm rãi về phía tòa nhà. Mắt không hề nhìn ngó xung
quanh.
Vẫn con đường ấy. Vẫn bên vỉa hè ấy. Cậu đi thẳng một mạch từ nhà
đến trường, rồi lại từ trường về nhà, chẳng bao giờ phát kiến ra con đường
nào khác.
Cậu nặng nề leo hết năm mươi bảy bậc cầu thang lên tới gác ba. Cậu
không nhảy chân sáo mà cứ từ từ leo từng bậc một. Ernest không vội. Mười
năm trôi qua trong cuộc đời cậu không có gì gấp gáp. Cậu bé sống như một
ông cụ non.
Ernest cất cặp vào phòng riêng; căn phòng ít đồ đạc nhất nhà vì là
phòng nhỏ nhất. Căn phòng khiến người ta liên tưởng tới một cái tủ hốc
tường hay phòng giam trong nhà tù xưa: một chiếc giường cá nhân, một cái
bàn, một cái ghế, một cái tủ, mọi thứ được xếp ngăn nắp không chê vào đâu
được. Cậu lôi sẵn sách vở bài tập ra khỏi cặp rồi mới đi vào bếp ăn lót dạ.
Một quả táo xanh to và một miếng bánh mì nướng đã nằm sẵn ở đó chờ
cậu từ buổi trưa. Ngày nào cũng vậy, sau khi dọn sạch bàn ăn bữa trưa, bà
quản gia phần sẵn đồ ăn cho cậu trên bàn. Thực đơn bữa lót dạ ít khi thay
đổi.
Ăn được vài miếng, món táo làm cậu phát ớn, nhưng cậu vẫn ăn hết.
Sau đó, cậu bắt tay vào làm bài tập rất chăm chú và theo trình tự. Cậu biết
làm xong bài càng nhanh thì cậu có thể lục bới cái tủ duy nhất không khóa.
Khi bà nội nghe thấy tiếng kẹt cửa của tủ sách và tiếng cửa kính lách
cách bà mới từ phòng riêng bước ra và đến ngồi trong phòng khách cùng
Ernest.
“Cháu chào Bà ạ” Ernest vừa nói vừa ngồi xuống chiếc tràng kỷ bằng
nhung đã cũ mèm. Chưa bao giờ có ai gọi Bà nội bằng tên: Précieuse(1). Thật
khó tưởng tượng có ai đó lại xưng hô với bà như vậy.
Bà gật đầu chào cháu. Hiếm khi thấy bà nói, mà nếu có thì cũng chỉ đôi
ba lời. Ernest cảm giác nếu bà cử động thêm nữa thì không khéo bà tan biến
mất. Bà nội cậu tám mươi tuổi, song trông bà già nua hệt như những người
bà trong chuyện cổ tích. Da bà nhăn nheo và khô tới mức Ernest sợ nếu
chẳng may bà cười thì nó sẽ tan thành bụi mất. Nhưng Bà nội không bao giờ
cười. Bà đi lại khó nhọc, ăn uống không ngon miệng, và bà trông nom cậu
cháu bởi nghĩa vụ. Vì ngoài bà ra không còn ai khác.
Bà đã nuôi Ernest khi cậu vừa mới lọt lòng, sau ngày mẹ cậu mất.
Người nhà Morlaisse thường chết vì tai nạn, những tai nạn do lịch sử gậy ra:
Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã cướp đi cụ nội của cậu, còn người cha đẻ
của cậu thì biến mất một cách khó hiểu sau đám tang mẹ cậu, khi Ernest mới
sinh được một ngày.
Chẳng thế bà nội cậu đã mất cha khi mới năm tuổi, mất chồng vào năm
ba mươi tuổi, và mất con vào năm bảy mươi tuổi, cùng lúc được thừa hưởng
một đứa trẻ sơ sinh mà bà chẳng còn sức lực hay tinh thần để nuôi nấng nữa.
Song bà đã làm điều phải làm.
Bà mướn ngay một người phụ nữ cũng gần bằng tuổi bà để chăm sóc
ăn uống và vệ sinh cho đứa nhỏ. Đó là Germaine. Lúc ấy bà cũng vừa mất
chồng, lại không có con. Germaine nhận công việc này để trốn nỗi cô đơn
hơn là cần kiếm tiền. Hai người đàn bà rất hợp nhau vì họ có cùng nguyên
tắc… rất nhiều nguyên tắc. Hai người sống bên nhau, như hai đường thẳng
song song. Trong số rất nhiều phòng của tòa nhà, bà nội của Ernest dành cho
bà Germaine một phòng riêng, nhưng Germaine không thích ở lại qua đêm,
trừ thời gian đầu khi Ernest vẫn hay thức đêm, và thi thoảng những khi xấu
trời.
Vậy là bà Germaine cũng đã cao tuổi. Bà che giấu tuổi già của mình
bằng một lớp trang điểm rất hiện đại. Đồ phấn son của bà Germaine có lẽ là
chút hiện đại duy nhất trong ngôi nhà không hề có thiết bị máy móc và ti vi
này. Lúc đầu bà Germaine còn hăng hái nhổ tóc trắng, cố gắng làm mờ
những vết nhăn và hay làm giảm bớt những lượng mỡ thừa, nhưng rồi bà đã
đầu hàng và rơi vào trầm uất. Những năm đầu, bà ân cần chăm sóc Ernest và
nói với cậu những lời duy nhất cậu có thể nghe được, song ngay khi cậu đi
học, Germaine cũng bắt đầu trầm mặc như bà chủ của mình. Lời nói qua lại
chỉ dành cho những trao đổi cực kỳ cần thiết, và thậm chí việc trao đổi này
cũng không hẳn nhất thiết, vì mọi việc trong nhà tự nó vẫn trôi theo thời
gian, theo thói quen, bởi chán nản, chỉ phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu.
Bà Germaine lo chợ búa và nấu ăn. Đáng nhẽ bà có thể gọi điện đặt
mua hàng nhưng nhà không có điện thoại. Một người phụ nữ khác cũng đã
già là bạn của Germaine thì dọn dẹp nhà cửa. Còn quần áo bẩn được mang ra
hàng giặt là.
Bà Mornaisse ngồi im như tượng, dáng vẻ ủ ê. Khi trước bà vẫn thường
đọc sách bên cạnh Ernest. Nhưng giờ mắt bà mỏi rất nhanh. Thường khi
Ernest ngẩng đầu khỏi cuốn sách, cậu đã thấy bà ngồi ngủ gật thẳng đờ trong
ghế bành. Thậm chí bà còn ngáy khiến cho căn phòng có thêm chút âm thanh
sống động ngoài tiếng tích tắc đều đặn của những chiếc đồng hồ treo tường.
Ernest biết Bà nội chắc không thích biết mình ngáy nên cậu chẳng bao giờ để
bà nhận thấy điều này.
Dù ngủ sâu đến mấy thì cứ tới 20 giờ bà lại bật dậy nghe tin tức. Chiếc
đài là một trong những kiểu mẫu được sản xuất đời đầu. Bắt được sóng của
đài France Inter cũng khó như hồi chiến tranh dò nghe tin tức của đài phát
thanh Luân Đôn. Âm thanh nghe cứ xa vời vợi, lại còn nhiễu nữa. Bà
Mornaisse nghe không rõ nữa, còn người phóng viên không hề nghĩ phải
nhắc lại mỗi tin tức ba lần. Điều đó không quan trọng, vì bà Mornaisse
không quá tò mò về thế giới. Thi thoảng mới có một từ, một cái tên, một đất
nước khiến bà có phản ứng. Nếu tình cờ người phóng viên nói tới “nước
Đức”, thì bà lại thở dài nhắc lại “nước Đức”. Việc quan trọng với bà là bật
đài vào lúc 20 giờ, như bà vẫn thường làm.
Còn Ernest thì chăm chú nghe từ đầu đến cuối, như thể người ta sẽ cho
cậu lời giải đáp về điều cậu đang tìm. Vấn đề chính trị, bầu cử, các chính trị
gia không làm cậu quan tâm. Cậu kiên nhẫn ngồi trên chiếc tràng kỷ và chờ
đợi cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ ba nổ ra, mà chắc chắn nó lại cuốn theo
một người nữa trong nhà Mornaisse, giống như những cuộc chiến trước đó.
Hai mươi giờ ba mươi phút, nhà Mornaisse mới dùng bữa tối. Thực
đơn ngày nào cũng như ngày nào: món súp. Súp dễ tiêu hóa, giúp chóng lớn
và ban đêm ngủ ngon, với điều kiện là không cho muối và hạt tiêu. Buổi tối
bà Germaine không đến. Ernest hâm nóng lại món súp và xếp bát đĩa vào
bồn rửa bát. Sau đó cậu ngoan ngoãn đi ngủ, không nài nỉ gì thêm. Trẻ con
cần phải ngủ mà. Trước khi làm vệ sinh cá nhân, cậu nói: “Cháu chúc Bà
ngủ ngon.” Và bà nháy mắt đáp lại.
Như vậy, các ngày trong tuần, Ernest ngoan ngoãn thức dậy dù không
có gì phấn chấn, ăn hai miếng bánh mỳ nướng quết mứt cam đắng do người
em họ của bà Germaine ở miền Nam làm, uống một cốc sữa ấm, thắt cà-vạt,
xếp sách vở vào cặp và đi tới trường. Trưa nào cậu cũng về nhà, vì cả
Germaine và Bà nội đều không tin tưởng đồ ăn ở căng-tin trường. Ở nhà
Mornaisse, mọi người không ăn đồ hộp và đồ đông lạnh. Cá còn tươi nguyên
đầu, khoai tây thì mới đào khỏi đất chưa hề qua chế biến ở nhà máy. Bà
Mornaisse sợ đồ ăn ở trường có quá nhiều muối, đường và nhiều ảnh hưởng
xấu. Germaine thì ngại những thứ dầu ăn không đảm bảo, đồ chiên rán, thịt
ôi và môi trường quá ầm ĩ.
Ernest không có đồ Jean và cũng chẳng có đồ thể thao. Mỗi năm hai
lần có người thợ may tới nhà đo và cắt may cho cậu một bộ quần áo không
thuộc mốt thế kỷ trước và cũng chẳng phải mốt thế kỷ này. Trông nó giống
bộ đồng phục của học sinh nội trú kiểu Anh quốc thì đúng hơn. Người thợ
may cung cấp luôn cả áo sơ-mi, cà-vạt, khăn tay, đồ lót, tất và một chiếc áo
măng-tô cho cậu.
Cách ăn mặc này khiến cho Ernest khó tiếp xúc với những đứa trẻ
khác; nói đúng ra thì cậu né tránh không phải vì đó là sở thích mà bởi tính
cẩn trọng. Mọi người không chế giễu cậu. Họ quen rồi. Ernest là học sinh
giỏi nhất lớp, trừ môn viết luận khi thầy giáo bắt phải thuật lại một chương
trình ti-vi, kỳ nghỉ hè vừa qua, hay kể về hoạt động ngày chủ nhật.
Ngày chủ nhật, Ernest còn ít hoạt động hơn những ngày thường. Thời
gian trôi nhỏ giọt như trong một chiếc đồng hồ cát bị ẩm. Bà Germaine chỉ rẽ
qua để chuẩn bị và phục vụ bữa trưa, một bữa ăn chủ nhật có thịt và ba loại
rau, kèm món tráng miệng là mứt.
Sau giờ nghỉ trưa, bà Mornaisse gọi Ernest ra phòng khách. Bà rút ra từ
bộ ngực nhăn nheo một chiếc chìa khóa, mở cánh cửa bằng gỗ dát, lấy ra
một chiếc hộp bằng sứ mỏng tang trong có để lá thư. Hai bà cháu ngồi quanh
chiếc bàn có chân đẽo hình sư tử mạ vàng.
“Bà đọc thư ạ?” Ernest hỏi.
Bà Mornaisse rút lá thư khỏi phong bì, cẩn thận giở nhẹ nhàng và nhìn
đăm đắm như thể lá thư có những giải pháp cho tất cả trò chơi ghép hình trên
đời này. Song chữ trong lá thư không đọc được. Ernest biết điều này, nhưng
mỗi chủ nhật cậu lại thêm hy vọng. Ngay đến cậu, tuy học giỏi nhất lớp,
cũng không thể hiểu được dù là một ký hiệu nhỏ nhất. Chẳng phải là chữ A,
chữ B, hay chữ Z, mà chỉ toàn những thứ loằng ngoằng câm lặng. Bức thư
này do cụ nội của cậu gửi về từ một ngôi làng gần mặt trận. Trong số những
bí mật của ngôi nhà này thì đây là điều bí mật lớn nhất, hoặc có thể là điều bí
mật lớn thứ hai. Ernest nghĩ nếu cậu tiếp tục là học sinh xuất sắc, thì một
ngày nào đó, cậu sẽ khám phá ra mọi bí mật.
II
Victorie
Ernest không cười. Ở trường, cậu chỉ tham gia thảo luận khi thầy giáo
gọi đích danh tên cậu. Các câu trả lời của cậu bao giờ cũng chính xác, cân
nhắc kỹ và hiệu quả, còn nhận xét của cậu thì rất tinh và đúng mực. Ernest
yêu mến ngôi trường bởi âm thanh giọng nói làm dịu nỗi cô đơn của cậu, và
ngôi trường giúp cậu nuôi hy vọng một ngày nào đó có thể đọc được điều bí
mật ẩn sau vết mực nhem nhuốc trên bức thư nhàu nát.
Tụi con trai để Ernest yên trong sự đơn độc của cậu.
Trái lại, các cô bạn gái thì cố làm mọi cách cho cậu để mắt tới, cố len
vào thế giới của cậu, và ra sức hút cậu vào vòng vây của các nàng. Một điều
không thể che dấu, đó là vẻ đẹp của cậu. Tất cả các cô gái đều mơ ước được
chạm vào người cậu, được nắm bắt lấy cậu. Hay chí ít cũng mong nhận được
một cái nhìn từ đôi mắt đen láy của cậu, đôi mắt vốn chỉ nhìn xuống đất,
hướng lên trời hay chăm chú vào các trang sách.
Các nàng mang bánh ga-tô đặt lên chỗ bàn của cậu, nhưng nó vẫn nằm
nguyên ở đó cho tới khi người dọn dẹp đi qua. Ernest không phải bất lịch sự,
chỉ có điều cậu chưa bao giờ ăn bánh ga-tô nên nó khiến cậu sợ. Germaine
và bà nội cũng không ăn. Thi thoảng cậu thấy trên bàn có một hộp mứt kẹo
rất hấp dẫn hay như một loại quả lạ, song cậu biết có những nguyên tắc và
không được ăn vặt giữa các bữa ăn.
Các cô nàng thường xuyên gửi thư cho cậu. Cậu không hề có ý nghĩ
mở những lá thư ra đọc. Cho nên cậu không biết có những lời nhắn: “Ernest,
mình yêu cậu.” “Cậu đẹp trai lắm, cậu ăn bánh ga-tô của mình đi.” “Thứ tư
tới mời cậu tới cuộc vui của mình.” Những lời tỏ tình tràn đầy niềm hy vọng
vô hiệu.
Giờ ra chơi, cậu thường ngồi đọc sách trên chiếc ghế băng hoặc dưới
mái hiên sân trường. Tan học, cậu đi thẳng về nhà. Không hề ngó nghiêng ra
xung quanh. Vài cô bé đi theo cậu với hy vọng cậu sẽ nói với các cô vài lời.
Các cô biết nhà cậu, nôn nóng chờ cậu ra khỏi nhà, và mong chờ cậu nói một
lời chào.
Cuộc sống của Ernest không có những bất ngờ. Hàng ngày nó cứ lặp
lại theo đúng một kiểu. Không có gì ngạc nhiên… cho tới một ngày thứ hai
đầu tháng mười một. Bà hiệu trưởng bất ngờ xuất hiện trong lớp học, bà đẩy
ra trước mặt cô học trò mới. “Tôi giới thiệu với các em đây là bạn Victoire
de Montardent. Từ nay bạn sẽ học lớp các em.”
Ernest hơi bất ngờ. Cái cô Victoire này trông khác với đám con gái kia,
cô ăn mặc gần giống Ernest, áo vét màu xanh nước biển, váy xếp ly, áo sơmi nghiêm chỉnh. Một dải khăn màu đen cuốn bộ tóc dài màu đen. Và vì chỉ
còn chỗ bên cạnh cậu là còn trống, thầy giáo xếp cô bé vào đó. Cô bé vừa
ngồi xuống vừa chào Ernest với giọng rất tự nhiên không kiểu cách. Ernest
chẳng còn cách nào khác là phải chào đáp lại.
Lúc thầy giáo đưa một quyển sách cho cô bạn ngồi bên, Ernest chỉ số
trang cho cô. Cậu bắt buộc phải làm thế. Mỗi khi thầy nói: “Ernest, thầy giao
cho con nhiệm vụ giải thích bài cho bạn mới nhé”, Ernest làm theo lời thầy
như một cái máy, không hề nhìn cô bạn, song không quên kiểm tra chắc
chắn xem cô đã hiểu bài chưa chỉ bằng một câu: “Đúng không nào?”
Và cô thưởng cho cậu một câu trả lời cương quyết: “Đồng ý!”
Giờ ra chơi, thay vì ra chỗ tụi con gái, Victoire lại theo Ernest tới ngồi
trên chiếc ghế băng và cậu làm gì thì cô làm theo, có nghĩa là đọc một quyển
sách, có điều là cô chẳng có cuốn nào. Thế là cô ngồi sát vào cậu cùng đọc
một cuốn sách, cố đưa mắt theo nhịp đọc của cậu và sẵn sàng mỗi khi cậu
giở sang trang khác.
Cuối giờ ra chơi, Ernest gấp sách lại và quay vào lớp, theo đuôi là
Victoire. Đến giờ ăn trưa ở căng-tin trường học, Ernest khoác áo măng-tô về
nhà, vẫn có Victoire bám theo đuôi suốt dọc đường. Lúc cậu mở cửa vào
nhà, cô kêu to lên với cậu: “Nhà tớ cách đây một chút thôi. Lát nữa tớ sẽ qua
đón cậu nhé. Chúc cậu ăn ngon!”
Khi cậu ra khỏi nhà cô bé đã đứng đợi cậu. Ernest bước đi dứt khoát
như không có Victoire bên cạnh. Và để cho cậu cảm nhận rõ sự hiện diện
của mình, cô khoác lấy tay cậu và hỏi: “Cậu sống ở đây lâu chưa?” Ernest
gật đầu. “Cậu không bao giờ ăn ở căng-tin trường à?” Cậu lại lắc đầu. “Cậu
có anh chị em gì không?” Cậu đưa đầu từ trái qua phải. “Cha mẹ cậu có
nghiêm khắc không?” Victoire chẳng mấy quan tâm Ernest có trả lời các câu
hỏi của cô hay không, một mình cô nói thừa đủ cho cả hai. “Cha mẹ mình rất
nghiêm khắc: ở nhà mình chưa làm xong bài tập thì còn lâu mới được xem
ti-vi. Cậu thích chương trình nào nhất? Cậu thích ăn món gì nhất? Thứ tư
được nghỉ cậu làm gì? Còn tớ thì chơi đàn piano và đi bơi. Nhà cậu đi nghỉ
hè ở đâu? Cậu có sưu tầm gì không? Mình thì chuyên sưu tầm giấy bạc bọc
các thanh kẹo sô-cô-la. Cậu đã du lịch nước ngoài bao giờ chưa? Cha mẹ cậu
có cho cậu tới hội hè không?”
Ernest, một học sinh giỏi như thế, bỗng nhiên lại tỏ ra ngớ ngẩn; cậu
không thể trả lời nổi một câu hỏi nào. Cậu không biết tên một ca sĩ nào,
không biết một chương trình truyền hình nào. Còn món ăn ưa thích nhất của
cậu ư? Ở nhà cậu ăn những gì người ta phục vụ. Món súp thường xuyên có
trong bát của cậu chắc phải đưa lên đầu danh sách. Nhưng cậu lại không đặc
biệt thích món súp. Còn bộ sưu tập ư, điều duy nhất cậu nghĩ tới, đó là năm
mươi bảy bậc cầu thang trong tòa nhà cậu ở, hoặc những bước đi tới trường
(cậu thường xuyên đếm chúng), hoặc từng giây phút ăn mòn một ngày thậm
chí không cần biết người ta có nhận ra, hay những phút giây khác trôi qua
nặng trịch.
“Mình hỏi cậu đến giờ khá nhiều rồi. Chẳng lẽ cậu không có gì hỏi
mình à?”
Ernest lo lắng. Chưa bao giờ có ai hỏi cậu điều gì và cậu cũng không
học được cách đặt câu hỏi. Hơn nữa, ở cậu không có tính quá tò mò muốn
biết về những người cậu gặp gỡ. Tuy nhiên cậu vẫn tìm câu hỏi. Cậu bắt cái
phần trong bộ óc của mình cho tới giờ chưa được dùng đến phải làm việc để
cố lôi ra một điểm thắc mắc nhỏ nhất. Song miệng cậu không thốt ra được
lời nào. Nhưng cậu lại muốn tỏ ta tử tế với cô bạn. Như hiểu được sự bối rối
của cậu, Victoire hỏi: “Không sao đâu Ernest. Cậu đẹp trai lắm nên chẳng
cần nói cũng đủ hấp dẫn rồi.” Cô còn nắm lấy cánh tay cậu thật chặt. Ernest
không tin ở tai mình. Cậu ư? Đẹp trai? Một tin đầu tiên.
Một câu hỏi…một câu hỏi. Người ta không hỏi nếu không muốn biết
câu trả lời. Cậu đưa mắt nhìn cô bất thình lình và lắp bắp: “V-V-V-Victoire!
Cậu trịnh trọng nói. Sao bạn lại có tên là Victoire(2)?” Cậu chờ đợi câu trả lời
là để kỷ niệm một chiến thắng lịch sử nào đó.
“Bởi vì mình được sinh ra sau mười hai người anh trai. Bố mẹ mình
thèm một cô con gái tới mức đã cố sinh tới lần thứ mười ba. Và mình là
Chiến công của bố mẹ!”
Ernest tự hỏi không biết người anh trai thứ mười hai của Victoire có
tên là Bại trận không. Cậu thì thào: “Mười hai anh trai?!”
“Bây giờ nhà mình có mười ba cơ. Mẹ mình muốn thử nốt một lần cuối
xem có thêm được cô con gái nữa không. Nhưng hỏng rồi. Lại một đứa con
trai. Nó được sáu tháng.”
“Đúng là cả một tiểu đội”, Ernest nghĩ. Suốt buổi chiều, cậu không
ngừng tưởng tượng ra cảnh Victoire giữa mười ba cậu con trai. Điều đó làm
cậu không tập trung, nhưng vì cậu vốn quá chỉn chu ở trường nên mọi việc
vẫn trôi qua suôn sẻ. Victoire vẫn theo cậu suốt. Giờ ra chơi cô vẫn ngồi đọc
sách qua vai của Ernest. Những cô bạn gái khác trong lớp im lặng càu nhàu
xung quanh hai người, nhưng “cặp đôi” vẫn điềm nhiên, không hề để ý tới.
Vào cuối ngày, khi thầy giáo tới đặt vào tay Victoire một chồng sách
chất ngất và nói cô bé phải đọc hết để chuẩn bị cho buổi học ngày mai, cô bé
đặt một nửa chồng sách vào tay Ernest, và ra lệnh: “Cậu đi cùng mình!”
III
Jérémie
Khi hai đứa về đến cửa nhà của Ernest, cậu rất muốn đặt chồng sách
xuống và lịch sự nói: “Mình không thể đi xa hơn.” Nhưng rõ ràng với số
sách nhiều thế kia thì một người không thể bê nổi, và cậu thừa đủ lòng tốt để
hiểu: người ta không bỏ rơi một đồng loại đang lúc cần giúp đỡ. Tuy nhiên
việc vượt quá ranh giới thói quen khiến cậu thấy lạnh hết cả sống lưng. Bà
nội không cấm cậu làm điều này, nhưng cậu vẫn cảm thấy kỳ cục thế nào đó.
Cậu ngỡ ngàng thấy mình vẫn còn thở khi đi qua khu nhà, và không cảm
thấy sấm chớp đổ ập xuống cậu. Cậu chưa bao giờ bị Bà nội phạt; vì cậu
chẳng làm điều gì để bị phạt cả.
Ernest đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chỉ cách nhà cậu gần
ba trăm mét, nơi cậu sống khép kín trong bốn bức tường từ mười năm nay,
thì nào là chó mèo, trẻ em và đủ thứ khác nữa đang nô đùa trong gió và bỗng
khiến tâm hồn Ernest chợt rung động. Lần đầu tiên cậu cảm thấy bạo dạn,
như một tay đi săn thị thành, một người ưa phiêu lưu khám phá ngay trong
khu ở của mình, gần giống như một người anh hùng.
Cậu theo Victoire đi qua một vườn hoa công cộng rồi tới trước cửa khu
nhà của cô bé. Khu nhà chạy dọc theo vườn cây xanh rì này. Cậu đặt chồng
sách xuống trước cửa và nói: “Đây nhé!” Cái từ “đây nhé” này chứa cả một
loạt ý nghĩ diễn ra trong đầu Ernest: “Mình đã hoàn thành nghĩa vụ của một
người hàng xóm, một người bạn học, một người công dân, nghĩa vụ của một
con người rồi nhé.” Ernest hiểu thấu cái từ “nghĩa vụ” này.
“Không được, mà…!” Victoire chuyển chồng sách đang bê sang tay
Ernest, rồi cúi xuống ôm chồng sách kia lên và đẩy cậu ra trước cửa thang
máy. Chồng sách rung rung chứng tỏ Ernest đang sợ. “Mình đi bộ thôi.”
“Cậu điên à? Lên tận tầng bảy cơ mà. Bố mình hay gọi là tầng trời thứ
bảy.” Cô bé đẩy Ernest vào trong cái khung bằng sắt thô này và nó từ từ
chạy lên. Ernest cảm giác như ngừng thở. “Trẻ con cũng được phép đi thang
máy à?”
Victoire dướn một bên lông mày và nheo một mắt lại suy nghĩ. “Tại
sao không?”
Ra khỏi thang máy, Ernest cảm giác như có phép lạ vì thấy mình vẫn
còn sống. Cậu đặt chồng sách xuống trước cánh cửa duy nhất của chiếu nghỉ
và lại nói: “Đây nhé!” Nhưng cậu chưa kịp chạy ra cầu thang bộ thì cánh cửa
mở ra, có một anh thanh niên đang bế một em bé trên tay. Em bé cười toét
miệng, ngó ngoáy và chìa ta về phía Ernest đang đứng như trời chồng.
“Cậu bế em đi, nó thích cậu đấy, Victoire đề nghị. Đây là Jérémie”.
Jérémie khoái chí đã bám chặt như đỉa trên ngực Ernest. Cậu đang tự
hỏi không biết đây có phải trận sấm sét đang đợi cậu không, và bỗng nhiên
một cảm xúc hoàn toàn mới mẻ khiến khuôn mặt cậu thoáng rạng lên nụ
cười. Cảm xúc ấy cậu chưa từng được biết đến. Jérémie quàng chặt lấy cậu
bằng hai cánh tay mũm mĩm, khiến cậu gần ngạt thở. Trên đời này chưa bao
giờ có ai ôm chặt Ernest như thế. Cậu thấy thực sự hạnh phúc.
“Đừng đứng ở đấy! Vào nhà đi!” Người thanh niên nói với cậu.
“Em không thể. Em phải đi đây.” Cậu nói một câu “tạm biệt” rất nhỏ
và đi xuống bậc thang.
“Ê… cậu bế em đi theo à?” Victoire hét toáng lên.
“Ôi, xin lỗi! Mình không để ý”, Ernest nói và quay lại.
“Chà, cậu biết đấy, bớt được một tên…”
“Đây! Mình trả lại em bé cho mọi người!” Ernest nói dứt khoát và cố
gỡ em bé bướng bỉnh đang bám chặt lấy cậu.
“Em vào nhà đi!” Anh cao lớn nhắc lại.
“Đây là Dan, anh cả mình, anh ấy hai mươi hai tuổi. Còn xin giới thiệu
với anh, đây là Ernest, người bạn thân nhất của em.”
Nghe từ “bạn”, Ernest vô cùng xúc động. Cậu theo hai người qua lối
vào nhà, nơi có hàng chồng các thùng giấy to tướng, và sau đó vào trong một
hành lang dài thật tiện lợi cho hoạt động đang diễn ra ở đó, một cuộc trượt
pa-tanh bằng bánh xe luồn giữa các thùng giấy khác. Có ba người trượt patanh đang cãi nhau về một chức danh vô địch tự ứng tác. “Ba tên đấy là
Zabulon, Naphtali và Asher, Victoire nói nhỏ với cậu, lũ tinh nghịch!”
Ba tên này sàn sàn tuổi với Ernest và Victoire. Ernest tự hỏi không biết
đấy có phải là những cái tên châu Phi không. Cậu nhắc lại mấy cái tên:
“Zabulon, Naphtali, Asher?”
“Bố mẹ mình muốn đặt tên cho các con theo chủ đề. Họ đã nghĩ tới các
vị vua của Pháp, nhưng không thể gọi tất cả tụi con trai là Louis được. Bố
mẹ mình biết là họ muốn có rất nhiều con nên đã tự nhủ với nhau rằng họ sẽ
bắt đầu bằng những tên mười hai thị tộc của Israel. Không ngờ hai người lại
đẻ ra đủ số con trai dùng hết mười hai cái tên đó.”
“Tên của Kinh Thánh phải không?”
“Ừ, cậu biết à?”
“Nhà mình có một quyển kinh rất cũ, mình có đọc qua nhưng không
nhớ hết tất cả các tên.”
Hai đứa đi vào một phòng khách lớn ở giữa có bốn “thị tộc” khác đang
tranh nhau cái điều khiển từ xa. Cái ti-vi, đồ vật duy nhất nằm ngoài thùng
giấy, đang phát ra âm thanh to tướng và cả bốn đứa cũng vậy.
“Đấy là Gad, Benjamin, Ephraim và Manassé.”
Ernest vẫn đang bế em bé, cậu ngơ ngác cảm thấy một thứ nước lỏng
âm ấm từ tay mình chảy xuống đất như thác nước Niagara(3). Vitoire nhìn
thấy và cằn nhằn Dan: “Anh không thay tã cho em từ lâu rồi phải không?”
“Anh vừa về đến đây. Hỏi Juda xem, đấy là phiên cậu ấy mà.”
“Cho qua đi! Chúng ta sẽ thay tã cho em.”
Victoire bảo Ernest đi theo cô vào căn phòng cô ở chung với Jérémine
cuối căn hộ rộng lớn. Căn phòng giống như một vườn thú nhồi bông với các
đồ có động cơ, các hộp nhạc và vô số đồ chơi, tất cả vừa được lôi ra từ
những thùng các-tông rỗng. Chúng cũng góp phần trang trí thêm cho căn
phòng đã quá nhiều thứ. Ernest nghĩ tới căn buồng thầy tu của mình và tự
hỏi không biết làm sao Victoire có thể làm việc ở trong đó. Victoire chỉ cho
Ernest một tấm ván đầy rêu. Cậu đặt Jérémie lên đó và đứng quan sát những
động tác thành thục của người mẹ trẻ con này. Thay tã xong cho Jérémie, cô
để em vào giữa đống thú bông khổng lồ, rồi cô lau quần áo cho Ernest, cầm
tay cậu và dẫn vào bếp. Căn hộ chia thành nhiều phần của gia đình. Chỗ nào
cũng thấy cửa khiến có cảm giác như có tới ngàn lẻ một phòng. Trước một
cánh cửa khép hờ, Victoire chỉ cho Ernest một cậu anh khác đang nghiêng
người bên bàn làm việc. “Đấy là anh Ruben, suốt ngày học. Chuẩn bị thi tú
tài mà! Năm nay anh ấy được miễn không phải trông em.”
Ở nhà bếp có Issachar và Simon đang gọt một đống khoai tây. Ernest
không đếm được nhưng cậu cảm giác tầng này chứa cả một trung đoàn.
Victoire chìa ra cho cậu một cái khay màu nâu đậm bằng cao su và nói: “Cậu
mở miệng ra!” Việc này thì Ernest không nghe theo. “Mình phải về đây.
Thật đấy!”
“Cậu phải ăn sô-cô-la đã!”
“Không, xin cảm ơn.”
“Cậu phải giúp mình. Nếu cậu ăn một nửa thanh, mình sẽ có tờ giấy
bạc thứ một ngàn cho bộ sưu tập của mình. Cậu nếm thử đi! Đây là loại sôcô-la có 72 phần trăm ca cao đấy.”
“Mình không ăn đâu, mình có bữa lót dạ ở nhà rồi.” Ernest vừa lùi lại
vừa nói: “Tạm biệt bạn.” Cậu nghe thấy tiếng hét của Jérémie bị bỏ một
mình. “Em bé khóc kìa”, cậu nói trong bếp.
“Cậu đừng lo, nó thể hiện đấy mà. Ai chẳng từng có lúc như thế”
Vitoire đưa cậu ra tận cửa. Có một điều trong vô số điều khác khiến Ernest
thắc mắc. Cậu không thể không hỏi Victoire rằng: “Này, bạn có bố mẹ
không?”
Cô bé dướn lông mày và nheo một mắt lại. “Hỏi gì lạ thế, có chứ, ai
chẳng có bố mẹ! Cậu cũng phải có bố mẹ chứ, đúng không?”
“Không, mình không có”, Ernest vừa quay đi vừa nói.
IV
Bà Précieuse
Ernest ngắm kỹ cái khung sắt của cầu thang máy có khả năng đưa cậu lên
tới tầng ba mà không bị toát mồ hôi. Dù cảm giác mệt đến bất chợt, theo thói
quen, chân cậu vẫn đi ra cầu thang bộ. Cậu leo hết năm mươi bảy bậc cầu
thang, trong khi đầu óc lại nghĩ đến chuyện khác. Cậu như thấy lại em bé,
Victoire, một lô các anh con trai, và cậu thắc mắc: “Lẽ nào lại có một người
phụ nữ có chừng ấy đứa con, trong khi một người khác lại chết ngay sau khi
hạ sinh được duy nhất một đứa con trai tội nghiệp? Mười bốn người con! Có
nghĩa là mẹ của Victoire đã mất mười hai năm rưỡi để mang thai, với ít nhất
là năm mươi sáu tháng trong tình trạng béo phì khủng khiếp. Nhưng không
chỉ có vậy. Ernest nghĩ tới cái thứ chất thảm hai chứa trong tã lót của
Jérémine được nhân thành mười bốn lần. Làm cách nào có quần áo mặc cho
chừng ấy người, rồi còn nuôi nấng, dạy dỗ họ? Thêm vào đó bố mẹ thậm chí
không có mặt ở nhà để giám sát. “Bố mẹ làm việc”, Victoire đã nói với cậu
như vậy. Phải làm chứ, dù rõ ràng là họ chỉ có khoai tây để ăn.
Ernest bước vào nhà, để cặp sách vào buồng riêng, đưa mắt nhìn quả
táo và món bánh mỳ khô đang nằm im phắc đợi cậu. Cậu vòng qua trước
phòng bà. Mọi thứ không có gì thay đổi, có thể bà không để ý tới việc cậu về
muộn, song cậu vốn quá thật thà. Cậu thì thầm, không muốn nhỡ làm bà thức
dậy: “Bà ơi, cháu về rồi. Cháu về muộn.” Rồi cậu lại vòng một lần nữa –
hôm nay đúng là ngày vòng đi vòng lại – trong phòng khách, nơi cất cái hộp
đựng lá thư thách thức cậu. Và như có một phát hiện mới, cậu tính: “Bây giờ
mình tự nhiên quen tới mười bốn người, đúng ra là mười ba người, có thể
giúp mình đọc lá thư.” Lần thứ hai chỉ trong một ngày, cậu bất giác mỉm
cười. Cậu ăn hết quả táo một cách ngon lành, say sưa làm hết bài tập rất
nhanh. Nhưng, tới giờ nghỉ giải lao như mọi khi, mắt cậu vẫn dán chặt vào
cuốn sách, song không thể đọc được dòng nào. Sự say mê khó tả từng biến
những biểu tượng trên giấy thành những cảm xúc dâng tràn lên trái tim nay
không còn tác dụng nữa. Các từ ngữ không thể chui vào đầu. Các câu chữ thì
ứ đọng. Cậu gắng đọc đi rồi đọc lại, nhưng trong đầu cậu chỉ đầy ắp những
sự việc diễn ra trong ngày. Chỗ này chỗ kia, một từ trong cuốn sách được
gán với một tình huống trong ngày: những chữ như “anh”, “bạn” trước đây
chưa từng có ý nghĩa với cậu. Đọc đến chữ “cưỡng ép”, cậu có ý nghĩ rằng
Victoire đã cưỡng ép cậu. Chẳng thèm hỏi ý kiến của cậu, cô đã biến cậu
thành nô lệ của cô ấy. Đúng là một thủ lĩnh thực sự, một thủ lĩnh của khu
phố. Hoặc cậu đi hoặc cậu chết. Và Ernest, không thể đừng được đã lại mỉm
cười lần thứ ba. “Thủ lĩnh muôn năm!”
Vào 20 giờ, vẫn chưa thấy bà ra phòng khác. Ernest lo lắng. Liệu có
phải cú sét đánh cậu đang đợi không? Thế nhỡ bà chết thì sao? Phải mất vài
giây cậu mới đủ dũng cảm gõ cửa phòng bà, và ít nhất phải một phút sau mới
dám bước vào. Bà đang ngồi trên giường, chân thõng xuống dưới đất, trông
như người mộng du, trên ta...
Tác giả : Susie Morgenstern
Thể loại: Hài hước, Thiếu nhi, Tiểu thuyết, Văn học phương tây
Công ty phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: NXB Thế Giới
Trọng lượng vận chuyển: 300 g
Kích thước: 13 x 20.5 cm
Số trang: 157
Ngày xuất bản: 2006
Hình thức: Bìa Mềm
Giá bìa: 45.000 ₫
Đánh máy: Phạm Thúy, Phương Vũ, Tuấn Cường
Thực hiện: Hanki Duong Nguyen, Phương Thảo
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Giới thiệu:
Ernest là một cậu bé 10 tuổi, đẹp trai và học giỏi. Tuy nhiên, tuổi thơ
của cậu bé lại thật buồn. Mẹ cậu mất ngay khi sinh cậu, còn cha cậu đã
bỏ đi không trở về.
Ernest sống với bà trong một chuỗi ngày bằng lặng, buồn chán, nhịp
điệu không thay đổi. Không có gì để chơi dù là ti vi hay điện thoại.
Nhưng rồi, một bạn gái tên là Victore de Montardent mới đến lớp.
Cô bé đã dành tình yêu mến đặc biệt cho Ernest. Nhờ có Victore, niềm
vui trong cuộc sống đã đến. Và Ernet đã khám phá được nhiều điều bí
mật trong thế giới của mình, để rồi tìm lại được người cha.
Nồng nàn, dí dỏm, Những lá thư không gửi là một trong những cuốn
sách thiếu nhi lôi cuốn nhất trong nhiều năm qua, được độc giả mọi lứa
tuổi trên thế giới yêu mến.
Susie Morgenstern là nhà văn gốc Mỹ sinh ra ở bang New Jersey năm
1945. Số phận đã đưa đẩy bà gặp một nhà toán học người Pháp và tới sống ở
Nice (Pháp), giảng dạy tiếng Anh ở trường Sophie Anti-polis tới năm 2005.
Bà đã viết trên dưới 60 cuốn sách và giành được vô số giải thưởng. Các
tác phẩm của Susie Morgenstern đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản
ở khắp châu Âu, châu Á, châu Mỹ và Trung Đông.
“Đầy nhiệt tình và dí dỏm, tuyệt đối không nên bỏ qua câu chuyện về cậu
chàng Ernest này.” - Publisher Weekly
“Lôi cuốn,vui nhộn… cái kết có hậu một cách xứng đáng… sẽ khiến cho
bọn trẻ thèm muốn được đọc thêm các tập tiếp theo nữa.” - Booklist
“Một cuốn tiểu thuyết để ta nâng niu.” - Kirkus Reviews
“Một câu chuyện bổ ích, kích thích, và tràn đầy hy vọng.” – SDM
Những lá thư không gửi đã giành được Giải Totem Roman 1996 do
Phòng sách Tuổi trẻ Montreuil trao tặng, Giải Chronos 1997, Giải Gaya
Déconverte 1997, Giải Lire au college 1997, và trên dưới hai mươi giải
thưởng văn học khác.
Dịch từ nguyên bản tiếng Pháp: Lettres d'amour de 0 à 10
© 1996, L'Ecole des Loisirs, Paris, pour le texte francais
© Nhà xuất bản Thế giới, 2006, bản tiếng Việt
Copyright for the Vietnamese transalation by Thế Giới Publishers 2006.
Mục lục
1. Ernest
2. Victorie
3. Jérémie
4. Bà Précieuse
5. Bà Germaine
6. Alphonse
7. Dan
8. Simon
9. Ông Montardent
10. Henriette
11. Benjamin
12. Elodie
13: Issachar
14: Jeannette
15: Gaspard
16: Adrien
Dành tặng Philippe Silvy
I
Ernest
Cậu bước đi chậm rãi về phía tòa nhà. Mắt không hề nhìn ngó xung
quanh.
Vẫn con đường ấy. Vẫn bên vỉa hè ấy. Cậu đi thẳng một mạch từ nhà
đến trường, rồi lại từ trường về nhà, chẳng bao giờ phát kiến ra con đường
nào khác.
Cậu nặng nề leo hết năm mươi bảy bậc cầu thang lên tới gác ba. Cậu
không nhảy chân sáo mà cứ từ từ leo từng bậc một. Ernest không vội. Mười
năm trôi qua trong cuộc đời cậu không có gì gấp gáp. Cậu bé sống như một
ông cụ non.
Ernest cất cặp vào phòng riêng; căn phòng ít đồ đạc nhất nhà vì là
phòng nhỏ nhất. Căn phòng khiến người ta liên tưởng tới một cái tủ hốc
tường hay phòng giam trong nhà tù xưa: một chiếc giường cá nhân, một cái
bàn, một cái ghế, một cái tủ, mọi thứ được xếp ngăn nắp không chê vào đâu
được. Cậu lôi sẵn sách vở bài tập ra khỏi cặp rồi mới đi vào bếp ăn lót dạ.
Một quả táo xanh to và một miếng bánh mì nướng đã nằm sẵn ở đó chờ
cậu từ buổi trưa. Ngày nào cũng vậy, sau khi dọn sạch bàn ăn bữa trưa, bà
quản gia phần sẵn đồ ăn cho cậu trên bàn. Thực đơn bữa lót dạ ít khi thay
đổi.
Ăn được vài miếng, món táo làm cậu phát ớn, nhưng cậu vẫn ăn hết.
Sau đó, cậu bắt tay vào làm bài tập rất chăm chú và theo trình tự. Cậu biết
làm xong bài càng nhanh thì cậu có thể lục bới cái tủ duy nhất không khóa.
Khi bà nội nghe thấy tiếng kẹt cửa của tủ sách và tiếng cửa kính lách
cách bà mới từ phòng riêng bước ra và đến ngồi trong phòng khách cùng
Ernest.
“Cháu chào Bà ạ” Ernest vừa nói vừa ngồi xuống chiếc tràng kỷ bằng
nhung đã cũ mèm. Chưa bao giờ có ai gọi Bà nội bằng tên: Précieuse(1). Thật
khó tưởng tượng có ai đó lại xưng hô với bà như vậy.
Bà gật đầu chào cháu. Hiếm khi thấy bà nói, mà nếu có thì cũng chỉ đôi
ba lời. Ernest cảm giác nếu bà cử động thêm nữa thì không khéo bà tan biến
mất. Bà nội cậu tám mươi tuổi, song trông bà già nua hệt như những người
bà trong chuyện cổ tích. Da bà nhăn nheo và khô tới mức Ernest sợ nếu
chẳng may bà cười thì nó sẽ tan thành bụi mất. Nhưng Bà nội không bao giờ
cười. Bà đi lại khó nhọc, ăn uống không ngon miệng, và bà trông nom cậu
cháu bởi nghĩa vụ. Vì ngoài bà ra không còn ai khác.
Bà đã nuôi Ernest khi cậu vừa mới lọt lòng, sau ngày mẹ cậu mất.
Người nhà Morlaisse thường chết vì tai nạn, những tai nạn do lịch sử gậy ra:
Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã cướp đi cụ nội của cậu, còn người cha đẻ
của cậu thì biến mất một cách khó hiểu sau đám tang mẹ cậu, khi Ernest mới
sinh được một ngày.
Chẳng thế bà nội cậu đã mất cha khi mới năm tuổi, mất chồng vào năm
ba mươi tuổi, và mất con vào năm bảy mươi tuổi, cùng lúc được thừa hưởng
một đứa trẻ sơ sinh mà bà chẳng còn sức lực hay tinh thần để nuôi nấng nữa.
Song bà đã làm điều phải làm.
Bà mướn ngay một người phụ nữ cũng gần bằng tuổi bà để chăm sóc
ăn uống và vệ sinh cho đứa nhỏ. Đó là Germaine. Lúc ấy bà cũng vừa mất
chồng, lại không có con. Germaine nhận công việc này để trốn nỗi cô đơn
hơn là cần kiếm tiền. Hai người đàn bà rất hợp nhau vì họ có cùng nguyên
tắc… rất nhiều nguyên tắc. Hai người sống bên nhau, như hai đường thẳng
song song. Trong số rất nhiều phòng của tòa nhà, bà nội của Ernest dành cho
bà Germaine một phòng riêng, nhưng Germaine không thích ở lại qua đêm,
trừ thời gian đầu khi Ernest vẫn hay thức đêm, và thi thoảng những khi xấu
trời.
Vậy là bà Germaine cũng đã cao tuổi. Bà che giấu tuổi già của mình
bằng một lớp trang điểm rất hiện đại. Đồ phấn son của bà Germaine có lẽ là
chút hiện đại duy nhất trong ngôi nhà không hề có thiết bị máy móc và ti vi
này. Lúc đầu bà Germaine còn hăng hái nhổ tóc trắng, cố gắng làm mờ
những vết nhăn và hay làm giảm bớt những lượng mỡ thừa, nhưng rồi bà đã
đầu hàng và rơi vào trầm uất. Những năm đầu, bà ân cần chăm sóc Ernest và
nói với cậu những lời duy nhất cậu có thể nghe được, song ngay khi cậu đi
học, Germaine cũng bắt đầu trầm mặc như bà chủ của mình. Lời nói qua lại
chỉ dành cho những trao đổi cực kỳ cần thiết, và thậm chí việc trao đổi này
cũng không hẳn nhất thiết, vì mọi việc trong nhà tự nó vẫn trôi theo thời
gian, theo thói quen, bởi chán nản, chỉ phục vụ cho những nhu cầu tối thiểu.
Bà Germaine lo chợ búa và nấu ăn. Đáng nhẽ bà có thể gọi điện đặt
mua hàng nhưng nhà không có điện thoại. Một người phụ nữ khác cũng đã
già là bạn của Germaine thì dọn dẹp nhà cửa. Còn quần áo bẩn được mang ra
hàng giặt là.
Bà Mornaisse ngồi im như tượng, dáng vẻ ủ ê. Khi trước bà vẫn thường
đọc sách bên cạnh Ernest. Nhưng giờ mắt bà mỏi rất nhanh. Thường khi
Ernest ngẩng đầu khỏi cuốn sách, cậu đã thấy bà ngồi ngủ gật thẳng đờ trong
ghế bành. Thậm chí bà còn ngáy khiến cho căn phòng có thêm chút âm thanh
sống động ngoài tiếng tích tắc đều đặn của những chiếc đồng hồ treo tường.
Ernest biết Bà nội chắc không thích biết mình ngáy nên cậu chẳng bao giờ để
bà nhận thấy điều này.
Dù ngủ sâu đến mấy thì cứ tới 20 giờ bà lại bật dậy nghe tin tức. Chiếc
đài là một trong những kiểu mẫu được sản xuất đời đầu. Bắt được sóng của
đài France Inter cũng khó như hồi chiến tranh dò nghe tin tức của đài phát
thanh Luân Đôn. Âm thanh nghe cứ xa vời vợi, lại còn nhiễu nữa. Bà
Mornaisse nghe không rõ nữa, còn người phóng viên không hề nghĩ phải
nhắc lại mỗi tin tức ba lần. Điều đó không quan trọng, vì bà Mornaisse
không quá tò mò về thế giới. Thi thoảng mới có một từ, một cái tên, một đất
nước khiến bà có phản ứng. Nếu tình cờ người phóng viên nói tới “nước
Đức”, thì bà lại thở dài nhắc lại “nước Đức”. Việc quan trọng với bà là bật
đài vào lúc 20 giờ, như bà vẫn thường làm.
Còn Ernest thì chăm chú nghe từ đầu đến cuối, như thể người ta sẽ cho
cậu lời giải đáp về điều cậu đang tìm. Vấn đề chính trị, bầu cử, các chính trị
gia không làm cậu quan tâm. Cậu kiên nhẫn ngồi trên chiếc tràng kỷ và chờ
đợi cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ ba nổ ra, mà chắc chắn nó lại cuốn theo
một người nữa trong nhà Mornaisse, giống như những cuộc chiến trước đó.
Hai mươi giờ ba mươi phút, nhà Mornaisse mới dùng bữa tối. Thực
đơn ngày nào cũng như ngày nào: món súp. Súp dễ tiêu hóa, giúp chóng lớn
và ban đêm ngủ ngon, với điều kiện là không cho muối và hạt tiêu. Buổi tối
bà Germaine không đến. Ernest hâm nóng lại món súp và xếp bát đĩa vào
bồn rửa bát. Sau đó cậu ngoan ngoãn đi ngủ, không nài nỉ gì thêm. Trẻ con
cần phải ngủ mà. Trước khi làm vệ sinh cá nhân, cậu nói: “Cháu chúc Bà
ngủ ngon.” Và bà nháy mắt đáp lại.
Như vậy, các ngày trong tuần, Ernest ngoan ngoãn thức dậy dù không
có gì phấn chấn, ăn hai miếng bánh mỳ nướng quết mứt cam đắng do người
em họ của bà Germaine ở miền Nam làm, uống một cốc sữa ấm, thắt cà-vạt,
xếp sách vở vào cặp và đi tới trường. Trưa nào cậu cũng về nhà, vì cả
Germaine và Bà nội đều không tin tưởng đồ ăn ở căng-tin trường. Ở nhà
Mornaisse, mọi người không ăn đồ hộp và đồ đông lạnh. Cá còn tươi nguyên
đầu, khoai tây thì mới đào khỏi đất chưa hề qua chế biến ở nhà máy. Bà
Mornaisse sợ đồ ăn ở trường có quá nhiều muối, đường và nhiều ảnh hưởng
xấu. Germaine thì ngại những thứ dầu ăn không đảm bảo, đồ chiên rán, thịt
ôi và môi trường quá ầm ĩ.
Ernest không có đồ Jean và cũng chẳng có đồ thể thao. Mỗi năm hai
lần có người thợ may tới nhà đo và cắt may cho cậu một bộ quần áo không
thuộc mốt thế kỷ trước và cũng chẳng phải mốt thế kỷ này. Trông nó giống
bộ đồng phục của học sinh nội trú kiểu Anh quốc thì đúng hơn. Người thợ
may cung cấp luôn cả áo sơ-mi, cà-vạt, khăn tay, đồ lót, tất và một chiếc áo
măng-tô cho cậu.
Cách ăn mặc này khiến cho Ernest khó tiếp xúc với những đứa trẻ
khác; nói đúng ra thì cậu né tránh không phải vì đó là sở thích mà bởi tính
cẩn trọng. Mọi người không chế giễu cậu. Họ quen rồi. Ernest là học sinh
giỏi nhất lớp, trừ môn viết luận khi thầy giáo bắt phải thuật lại một chương
trình ti-vi, kỳ nghỉ hè vừa qua, hay kể về hoạt động ngày chủ nhật.
Ngày chủ nhật, Ernest còn ít hoạt động hơn những ngày thường. Thời
gian trôi nhỏ giọt như trong một chiếc đồng hồ cát bị ẩm. Bà Germaine chỉ rẽ
qua để chuẩn bị và phục vụ bữa trưa, một bữa ăn chủ nhật có thịt và ba loại
rau, kèm món tráng miệng là mứt.
Sau giờ nghỉ trưa, bà Mornaisse gọi Ernest ra phòng khách. Bà rút ra từ
bộ ngực nhăn nheo một chiếc chìa khóa, mở cánh cửa bằng gỗ dát, lấy ra
một chiếc hộp bằng sứ mỏng tang trong có để lá thư. Hai bà cháu ngồi quanh
chiếc bàn có chân đẽo hình sư tử mạ vàng.
“Bà đọc thư ạ?” Ernest hỏi.
Bà Mornaisse rút lá thư khỏi phong bì, cẩn thận giở nhẹ nhàng và nhìn
đăm đắm như thể lá thư có những giải pháp cho tất cả trò chơi ghép hình trên
đời này. Song chữ trong lá thư không đọc được. Ernest biết điều này, nhưng
mỗi chủ nhật cậu lại thêm hy vọng. Ngay đến cậu, tuy học giỏi nhất lớp,
cũng không thể hiểu được dù là một ký hiệu nhỏ nhất. Chẳng phải là chữ A,
chữ B, hay chữ Z, mà chỉ toàn những thứ loằng ngoằng câm lặng. Bức thư
này do cụ nội của cậu gửi về từ một ngôi làng gần mặt trận. Trong số những
bí mật của ngôi nhà này thì đây là điều bí mật lớn nhất, hoặc có thể là điều bí
mật lớn thứ hai. Ernest nghĩ nếu cậu tiếp tục là học sinh xuất sắc, thì một
ngày nào đó, cậu sẽ khám phá ra mọi bí mật.
II
Victorie
Ernest không cười. Ở trường, cậu chỉ tham gia thảo luận khi thầy giáo
gọi đích danh tên cậu. Các câu trả lời của cậu bao giờ cũng chính xác, cân
nhắc kỹ và hiệu quả, còn nhận xét của cậu thì rất tinh và đúng mực. Ernest
yêu mến ngôi trường bởi âm thanh giọng nói làm dịu nỗi cô đơn của cậu, và
ngôi trường giúp cậu nuôi hy vọng một ngày nào đó có thể đọc được điều bí
mật ẩn sau vết mực nhem nhuốc trên bức thư nhàu nát.
Tụi con trai để Ernest yên trong sự đơn độc của cậu.
Trái lại, các cô bạn gái thì cố làm mọi cách cho cậu để mắt tới, cố len
vào thế giới của cậu, và ra sức hút cậu vào vòng vây của các nàng. Một điều
không thể che dấu, đó là vẻ đẹp của cậu. Tất cả các cô gái đều mơ ước được
chạm vào người cậu, được nắm bắt lấy cậu. Hay chí ít cũng mong nhận được
một cái nhìn từ đôi mắt đen láy của cậu, đôi mắt vốn chỉ nhìn xuống đất,
hướng lên trời hay chăm chú vào các trang sách.
Các nàng mang bánh ga-tô đặt lên chỗ bàn của cậu, nhưng nó vẫn nằm
nguyên ở đó cho tới khi người dọn dẹp đi qua. Ernest không phải bất lịch sự,
chỉ có điều cậu chưa bao giờ ăn bánh ga-tô nên nó khiến cậu sợ. Germaine
và bà nội cũng không ăn. Thi thoảng cậu thấy trên bàn có một hộp mứt kẹo
rất hấp dẫn hay như một loại quả lạ, song cậu biết có những nguyên tắc và
không được ăn vặt giữa các bữa ăn.
Các cô nàng thường xuyên gửi thư cho cậu. Cậu không hề có ý nghĩ
mở những lá thư ra đọc. Cho nên cậu không biết có những lời nhắn: “Ernest,
mình yêu cậu.” “Cậu đẹp trai lắm, cậu ăn bánh ga-tô của mình đi.” “Thứ tư
tới mời cậu tới cuộc vui của mình.” Những lời tỏ tình tràn đầy niềm hy vọng
vô hiệu.
Giờ ra chơi, cậu thường ngồi đọc sách trên chiếc ghế băng hoặc dưới
mái hiên sân trường. Tan học, cậu đi thẳng về nhà. Không hề ngó nghiêng ra
xung quanh. Vài cô bé đi theo cậu với hy vọng cậu sẽ nói với các cô vài lời.
Các cô biết nhà cậu, nôn nóng chờ cậu ra khỏi nhà, và mong chờ cậu nói một
lời chào.
Cuộc sống của Ernest không có những bất ngờ. Hàng ngày nó cứ lặp
lại theo đúng một kiểu. Không có gì ngạc nhiên… cho tới một ngày thứ hai
đầu tháng mười một. Bà hiệu trưởng bất ngờ xuất hiện trong lớp học, bà đẩy
ra trước mặt cô học trò mới. “Tôi giới thiệu với các em đây là bạn Victoire
de Montardent. Từ nay bạn sẽ học lớp các em.”
Ernest hơi bất ngờ. Cái cô Victoire này trông khác với đám con gái kia,
cô ăn mặc gần giống Ernest, áo vét màu xanh nước biển, váy xếp ly, áo sơmi nghiêm chỉnh. Một dải khăn màu đen cuốn bộ tóc dài màu đen. Và vì chỉ
còn chỗ bên cạnh cậu là còn trống, thầy giáo xếp cô bé vào đó. Cô bé vừa
ngồi xuống vừa chào Ernest với giọng rất tự nhiên không kiểu cách. Ernest
chẳng còn cách nào khác là phải chào đáp lại.
Lúc thầy giáo đưa một quyển sách cho cô bạn ngồi bên, Ernest chỉ số
trang cho cô. Cậu bắt buộc phải làm thế. Mỗi khi thầy nói: “Ernest, thầy giao
cho con nhiệm vụ giải thích bài cho bạn mới nhé”, Ernest làm theo lời thầy
như một cái máy, không hề nhìn cô bạn, song không quên kiểm tra chắc
chắn xem cô đã hiểu bài chưa chỉ bằng một câu: “Đúng không nào?”
Và cô thưởng cho cậu một câu trả lời cương quyết: “Đồng ý!”
Giờ ra chơi, thay vì ra chỗ tụi con gái, Victoire lại theo Ernest tới ngồi
trên chiếc ghế băng và cậu làm gì thì cô làm theo, có nghĩa là đọc một quyển
sách, có điều là cô chẳng có cuốn nào. Thế là cô ngồi sát vào cậu cùng đọc
một cuốn sách, cố đưa mắt theo nhịp đọc của cậu và sẵn sàng mỗi khi cậu
giở sang trang khác.
Cuối giờ ra chơi, Ernest gấp sách lại và quay vào lớp, theo đuôi là
Victoire. Đến giờ ăn trưa ở căng-tin trường học, Ernest khoác áo măng-tô về
nhà, vẫn có Victoire bám theo đuôi suốt dọc đường. Lúc cậu mở cửa vào
nhà, cô kêu to lên với cậu: “Nhà tớ cách đây một chút thôi. Lát nữa tớ sẽ qua
đón cậu nhé. Chúc cậu ăn ngon!”
Khi cậu ra khỏi nhà cô bé đã đứng đợi cậu. Ernest bước đi dứt khoát
như không có Victoire bên cạnh. Và để cho cậu cảm nhận rõ sự hiện diện
của mình, cô khoác lấy tay cậu và hỏi: “Cậu sống ở đây lâu chưa?” Ernest
gật đầu. “Cậu không bao giờ ăn ở căng-tin trường à?” Cậu lại lắc đầu. “Cậu
có anh chị em gì không?” Cậu đưa đầu từ trái qua phải. “Cha mẹ cậu có
nghiêm khắc không?” Victoire chẳng mấy quan tâm Ernest có trả lời các câu
hỏi của cô hay không, một mình cô nói thừa đủ cho cả hai. “Cha mẹ mình rất
nghiêm khắc: ở nhà mình chưa làm xong bài tập thì còn lâu mới được xem
ti-vi. Cậu thích chương trình nào nhất? Cậu thích ăn món gì nhất? Thứ tư
được nghỉ cậu làm gì? Còn tớ thì chơi đàn piano và đi bơi. Nhà cậu đi nghỉ
hè ở đâu? Cậu có sưu tầm gì không? Mình thì chuyên sưu tầm giấy bạc bọc
các thanh kẹo sô-cô-la. Cậu đã du lịch nước ngoài bao giờ chưa? Cha mẹ cậu
có cho cậu tới hội hè không?”
Ernest, một học sinh giỏi như thế, bỗng nhiên lại tỏ ra ngớ ngẩn; cậu
không thể trả lời nổi một câu hỏi nào. Cậu không biết tên một ca sĩ nào,
không biết một chương trình truyền hình nào. Còn món ăn ưa thích nhất của
cậu ư? Ở nhà cậu ăn những gì người ta phục vụ. Món súp thường xuyên có
trong bát của cậu chắc phải đưa lên đầu danh sách. Nhưng cậu lại không đặc
biệt thích món súp. Còn bộ sưu tập ư, điều duy nhất cậu nghĩ tới, đó là năm
mươi bảy bậc cầu thang trong tòa nhà cậu ở, hoặc những bước đi tới trường
(cậu thường xuyên đếm chúng), hoặc từng giây phút ăn mòn một ngày thậm
chí không cần biết người ta có nhận ra, hay những phút giây khác trôi qua
nặng trịch.
“Mình hỏi cậu đến giờ khá nhiều rồi. Chẳng lẽ cậu không có gì hỏi
mình à?”
Ernest lo lắng. Chưa bao giờ có ai hỏi cậu điều gì và cậu cũng không
học được cách đặt câu hỏi. Hơn nữa, ở cậu không có tính quá tò mò muốn
biết về những người cậu gặp gỡ. Tuy nhiên cậu vẫn tìm câu hỏi. Cậu bắt cái
phần trong bộ óc của mình cho tới giờ chưa được dùng đến phải làm việc để
cố lôi ra một điểm thắc mắc nhỏ nhất. Song miệng cậu không thốt ra được
lời nào. Nhưng cậu lại muốn tỏ ta tử tế với cô bạn. Như hiểu được sự bối rối
của cậu, Victoire hỏi: “Không sao đâu Ernest. Cậu đẹp trai lắm nên chẳng
cần nói cũng đủ hấp dẫn rồi.” Cô còn nắm lấy cánh tay cậu thật chặt. Ernest
không tin ở tai mình. Cậu ư? Đẹp trai? Một tin đầu tiên.
Một câu hỏi…một câu hỏi. Người ta không hỏi nếu không muốn biết
câu trả lời. Cậu đưa mắt nhìn cô bất thình lình và lắp bắp: “V-V-V-Victoire!
Cậu trịnh trọng nói. Sao bạn lại có tên là Victoire(2)?” Cậu chờ đợi câu trả lời
là để kỷ niệm một chiến thắng lịch sử nào đó.
“Bởi vì mình được sinh ra sau mười hai người anh trai. Bố mẹ mình
thèm một cô con gái tới mức đã cố sinh tới lần thứ mười ba. Và mình là
Chiến công của bố mẹ!”
Ernest tự hỏi không biết người anh trai thứ mười hai của Victoire có
tên là Bại trận không. Cậu thì thào: “Mười hai anh trai?!”
“Bây giờ nhà mình có mười ba cơ. Mẹ mình muốn thử nốt một lần cuối
xem có thêm được cô con gái nữa không. Nhưng hỏng rồi. Lại một đứa con
trai. Nó được sáu tháng.”
“Đúng là cả một tiểu đội”, Ernest nghĩ. Suốt buổi chiều, cậu không
ngừng tưởng tượng ra cảnh Victoire giữa mười ba cậu con trai. Điều đó làm
cậu không tập trung, nhưng vì cậu vốn quá chỉn chu ở trường nên mọi việc
vẫn trôi qua suôn sẻ. Victoire vẫn theo cậu suốt. Giờ ra chơi cô vẫn ngồi đọc
sách qua vai của Ernest. Những cô bạn gái khác trong lớp im lặng càu nhàu
xung quanh hai người, nhưng “cặp đôi” vẫn điềm nhiên, không hề để ý tới.
Vào cuối ngày, khi thầy giáo tới đặt vào tay Victoire một chồng sách
chất ngất và nói cô bé phải đọc hết để chuẩn bị cho buổi học ngày mai, cô bé
đặt một nửa chồng sách vào tay Ernest, và ra lệnh: “Cậu đi cùng mình!”
III
Jérémie
Khi hai đứa về đến cửa nhà của Ernest, cậu rất muốn đặt chồng sách
xuống và lịch sự nói: “Mình không thể đi xa hơn.” Nhưng rõ ràng với số
sách nhiều thế kia thì một người không thể bê nổi, và cậu thừa đủ lòng tốt để
hiểu: người ta không bỏ rơi một đồng loại đang lúc cần giúp đỡ. Tuy nhiên
việc vượt quá ranh giới thói quen khiến cậu thấy lạnh hết cả sống lưng. Bà
nội không cấm cậu làm điều này, nhưng cậu vẫn cảm thấy kỳ cục thế nào đó.
Cậu ngỡ ngàng thấy mình vẫn còn thở khi đi qua khu nhà, và không cảm
thấy sấm chớp đổ ập xuống cậu. Cậu chưa bao giờ bị Bà nội phạt; vì cậu
chẳng làm điều gì để bị phạt cả.
Ernest đi từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác. Chỉ cách nhà cậu gần
ba trăm mét, nơi cậu sống khép kín trong bốn bức tường từ mười năm nay,
thì nào là chó mèo, trẻ em và đủ thứ khác nữa đang nô đùa trong gió và bỗng
khiến tâm hồn Ernest chợt rung động. Lần đầu tiên cậu cảm thấy bạo dạn,
như một tay đi săn thị thành, một người ưa phiêu lưu khám phá ngay trong
khu ở của mình, gần giống như một người anh hùng.
Cậu theo Victoire đi qua một vườn hoa công cộng rồi tới trước cửa khu
nhà của cô bé. Khu nhà chạy dọc theo vườn cây xanh rì này. Cậu đặt chồng
sách xuống trước cửa và nói: “Đây nhé!” Cái từ “đây nhé” này chứa cả một
loạt ý nghĩ diễn ra trong đầu Ernest: “Mình đã hoàn thành nghĩa vụ của một
người hàng xóm, một người bạn học, một người công dân, nghĩa vụ của một
con người rồi nhé.” Ernest hiểu thấu cái từ “nghĩa vụ” này.
“Không được, mà…!” Victoire chuyển chồng sách đang bê sang tay
Ernest, rồi cúi xuống ôm chồng sách kia lên và đẩy cậu ra trước cửa thang
máy. Chồng sách rung rung chứng tỏ Ernest đang sợ. “Mình đi bộ thôi.”
“Cậu điên à? Lên tận tầng bảy cơ mà. Bố mình hay gọi là tầng trời thứ
bảy.” Cô bé đẩy Ernest vào trong cái khung bằng sắt thô này và nó từ từ
chạy lên. Ernest cảm giác như ngừng thở. “Trẻ con cũng được phép đi thang
máy à?”
Victoire dướn một bên lông mày và nheo một mắt lại suy nghĩ. “Tại
sao không?”
Ra khỏi thang máy, Ernest cảm giác như có phép lạ vì thấy mình vẫn
còn sống. Cậu đặt chồng sách xuống trước cánh cửa duy nhất của chiếu nghỉ
và lại nói: “Đây nhé!” Nhưng cậu chưa kịp chạy ra cầu thang bộ thì cánh cửa
mở ra, có một anh thanh niên đang bế một em bé trên tay. Em bé cười toét
miệng, ngó ngoáy và chìa ta về phía Ernest đang đứng như trời chồng.
“Cậu bế em đi, nó thích cậu đấy, Victoire đề nghị. Đây là Jérémie”.
Jérémie khoái chí đã bám chặt như đỉa trên ngực Ernest. Cậu đang tự
hỏi không biết đây có phải trận sấm sét đang đợi cậu không, và bỗng nhiên
một cảm xúc hoàn toàn mới mẻ khiến khuôn mặt cậu thoáng rạng lên nụ
cười. Cảm xúc ấy cậu chưa từng được biết đến. Jérémie quàng chặt lấy cậu
bằng hai cánh tay mũm mĩm, khiến cậu gần ngạt thở. Trên đời này chưa bao
giờ có ai ôm chặt Ernest như thế. Cậu thấy thực sự hạnh phúc.
“Đừng đứng ở đấy! Vào nhà đi!” Người thanh niên nói với cậu.
“Em không thể. Em phải đi đây.” Cậu nói một câu “tạm biệt” rất nhỏ
và đi xuống bậc thang.
“Ê… cậu bế em đi theo à?” Victoire hét toáng lên.
“Ôi, xin lỗi! Mình không để ý”, Ernest nói và quay lại.
“Chà, cậu biết đấy, bớt được một tên…”
“Đây! Mình trả lại em bé cho mọi người!” Ernest nói dứt khoát và cố
gỡ em bé bướng bỉnh đang bám chặt lấy cậu.
“Em vào nhà đi!” Anh cao lớn nhắc lại.
“Đây là Dan, anh cả mình, anh ấy hai mươi hai tuổi. Còn xin giới thiệu
với anh, đây là Ernest, người bạn thân nhất của em.”
Nghe từ “bạn”, Ernest vô cùng xúc động. Cậu theo hai người qua lối
vào nhà, nơi có hàng chồng các thùng giấy to tướng, và sau đó vào trong một
hành lang dài thật tiện lợi cho hoạt động đang diễn ra ở đó, một cuộc trượt
pa-tanh bằng bánh xe luồn giữa các thùng giấy khác. Có ba người trượt patanh đang cãi nhau về một chức danh vô địch tự ứng tác. “Ba tên đấy là
Zabulon, Naphtali và Asher, Victoire nói nhỏ với cậu, lũ tinh nghịch!”
Ba tên này sàn sàn tuổi với Ernest và Victoire. Ernest tự hỏi không biết
đấy có phải là những cái tên châu Phi không. Cậu nhắc lại mấy cái tên:
“Zabulon, Naphtali, Asher?”
“Bố mẹ mình muốn đặt tên cho các con theo chủ đề. Họ đã nghĩ tới các
vị vua của Pháp, nhưng không thể gọi tất cả tụi con trai là Louis được. Bố
mẹ mình biết là họ muốn có rất nhiều con nên đã tự nhủ với nhau rằng họ sẽ
bắt đầu bằng những tên mười hai thị tộc của Israel. Không ngờ hai người lại
đẻ ra đủ số con trai dùng hết mười hai cái tên đó.”
“Tên của Kinh Thánh phải không?”
“Ừ, cậu biết à?”
“Nhà mình có một quyển kinh rất cũ, mình có đọc qua nhưng không
nhớ hết tất cả các tên.”
Hai đứa đi vào một phòng khách lớn ở giữa có bốn “thị tộc” khác đang
tranh nhau cái điều khiển từ xa. Cái ti-vi, đồ vật duy nhất nằm ngoài thùng
giấy, đang phát ra âm thanh to tướng và cả bốn đứa cũng vậy.
“Đấy là Gad, Benjamin, Ephraim và Manassé.”
Ernest vẫn đang bế em bé, cậu ngơ ngác cảm thấy một thứ nước lỏng
âm ấm từ tay mình chảy xuống đất như thác nước Niagara(3). Vitoire nhìn
thấy và cằn nhằn Dan: “Anh không thay tã cho em từ lâu rồi phải không?”
“Anh vừa về đến đây. Hỏi Juda xem, đấy là phiên cậu ấy mà.”
“Cho qua đi! Chúng ta sẽ thay tã cho em.”
Victoire bảo Ernest đi theo cô vào căn phòng cô ở chung với Jérémine
cuối căn hộ rộng lớn. Căn phòng giống như một vườn thú nhồi bông với các
đồ có động cơ, các hộp nhạc và vô số đồ chơi, tất cả vừa được lôi ra từ
những thùng các-tông rỗng. Chúng cũng góp phần trang trí thêm cho căn
phòng đã quá nhiều thứ. Ernest nghĩ tới căn buồng thầy tu của mình và tự
hỏi không biết làm sao Victoire có thể làm việc ở trong đó. Victoire chỉ cho
Ernest một tấm ván đầy rêu. Cậu đặt Jérémie lên đó và đứng quan sát những
động tác thành thục của người mẹ trẻ con này. Thay tã xong cho Jérémie, cô
để em vào giữa đống thú bông khổng lồ, rồi cô lau quần áo cho Ernest, cầm
tay cậu và dẫn vào bếp. Căn hộ chia thành nhiều phần của gia đình. Chỗ nào
cũng thấy cửa khiến có cảm giác như có tới ngàn lẻ một phòng. Trước một
cánh cửa khép hờ, Victoire chỉ cho Ernest một cậu anh khác đang nghiêng
người bên bàn làm việc. “Đấy là anh Ruben, suốt ngày học. Chuẩn bị thi tú
tài mà! Năm nay anh ấy được miễn không phải trông em.”
Ở nhà bếp có Issachar và Simon đang gọt một đống khoai tây. Ernest
không đếm được nhưng cậu cảm giác tầng này chứa cả một trung đoàn.
Victoire chìa ra cho cậu một cái khay màu nâu đậm bằng cao su và nói: “Cậu
mở miệng ra!” Việc này thì Ernest không nghe theo. “Mình phải về đây.
Thật đấy!”
“Cậu phải ăn sô-cô-la đã!”
“Không, xin cảm ơn.”
“Cậu phải giúp mình. Nếu cậu ăn một nửa thanh, mình sẽ có tờ giấy
bạc thứ một ngàn cho bộ sưu tập của mình. Cậu nếm thử đi! Đây là loại sôcô-la có 72 phần trăm ca cao đấy.”
“Mình không ăn đâu, mình có bữa lót dạ ở nhà rồi.” Ernest vừa lùi lại
vừa nói: “Tạm biệt bạn.” Cậu nghe thấy tiếng hét của Jérémie bị bỏ một
mình. “Em bé khóc kìa”, cậu nói trong bếp.
“Cậu đừng lo, nó thể hiện đấy mà. Ai chẳng từng có lúc như thế”
Vitoire đưa cậu ra tận cửa. Có một điều trong vô số điều khác khiến Ernest
thắc mắc. Cậu không thể không hỏi Victoire rằng: “Này, bạn có bố mẹ
không?”
Cô bé dướn lông mày và nheo một mắt lại. “Hỏi gì lạ thế, có chứ, ai
chẳng có bố mẹ! Cậu cũng phải có bố mẹ chứ, đúng không?”
“Không, mình không có”, Ernest vừa quay đi vừa nói.
IV
Bà Précieuse
Ernest ngắm kỹ cái khung sắt của cầu thang máy có khả năng đưa cậu lên
tới tầng ba mà không bị toát mồ hôi. Dù cảm giác mệt đến bất chợt, theo thói
quen, chân cậu vẫn đi ra cầu thang bộ. Cậu leo hết năm mươi bảy bậc cầu
thang, trong khi đầu óc lại nghĩ đến chuyện khác. Cậu như thấy lại em bé,
Victoire, một lô các anh con trai, và cậu thắc mắc: “Lẽ nào lại có một người
phụ nữ có chừng ấy đứa con, trong khi một người khác lại chết ngay sau khi
hạ sinh được duy nhất một đứa con trai tội nghiệp? Mười bốn người con! Có
nghĩa là mẹ của Victoire đã mất mười hai năm rưỡi để mang thai, với ít nhất
là năm mươi sáu tháng trong tình trạng béo phì khủng khiếp. Nhưng không
chỉ có vậy. Ernest nghĩ tới cái thứ chất thảm hai chứa trong tã lót của
Jérémine được nhân thành mười bốn lần. Làm cách nào có quần áo mặc cho
chừng ấy người, rồi còn nuôi nấng, dạy dỗ họ? Thêm vào đó bố mẹ thậm chí
không có mặt ở nhà để giám sát. “Bố mẹ làm việc”, Victoire đã nói với cậu
như vậy. Phải làm chứ, dù rõ ràng là họ chỉ có khoai tây để ăn.
Ernest bước vào nhà, để cặp sách vào buồng riêng, đưa mắt nhìn quả
táo và món bánh mỳ khô đang nằm im phắc đợi cậu. Cậu vòng qua trước
phòng bà. Mọi thứ không có gì thay đổi, có thể bà không để ý tới việc cậu về
muộn, song cậu vốn quá thật thà. Cậu thì thầm, không muốn nhỡ làm bà thức
dậy: “Bà ơi, cháu về rồi. Cháu về muộn.” Rồi cậu lại vòng một lần nữa –
hôm nay đúng là ngày vòng đi vòng lại – trong phòng khách, nơi cất cái hộp
đựng lá thư thách thức cậu. Và như có một phát hiện mới, cậu tính: “Bây giờ
mình tự nhiên quen tới mười bốn người, đúng ra là mười ba người, có thể
giúp mình đọc lá thư.” Lần thứ hai chỉ trong một ngày, cậu bất giác mỉm
cười. Cậu ăn hết quả táo một cách ngon lành, say sưa làm hết bài tập rất
nhanh. Nhưng, tới giờ nghỉ giải lao như mọi khi, mắt cậu vẫn dán chặt vào
cuốn sách, song không thể đọc được dòng nào. Sự say mê khó tả từng biến
những biểu tượng trên giấy thành những cảm xúc dâng tràn lên trái tim nay
không còn tác dụng nữa. Các từ ngữ không thể chui vào đầu. Các câu chữ thì
ứ đọng. Cậu gắng đọc đi rồi đọc lại, nhưng trong đầu cậu chỉ đầy ắp những
sự việc diễn ra trong ngày. Chỗ này chỗ kia, một từ trong cuốn sách được
gán với một tình huống trong ngày: những chữ như “anh”, “bạn” trước đây
chưa từng có ý nghĩa với cậu. Đọc đến chữ “cưỡng ép”, cậu có ý nghĩ rằng
Victoire đã cưỡng ép cậu. Chẳng thèm hỏi ý kiến của cậu, cô đã biến cậu
thành nô lệ của cô ấy. Đúng là một thủ lĩnh thực sự, một thủ lĩnh của khu
phố. Hoặc cậu đi hoặc cậu chết. Và Ernest, không thể đừng được đã lại mỉm
cười lần thứ ba. “Thủ lĩnh muôn năm!”
Vào 20 giờ, vẫn chưa thấy bà ra phòng khác. Ernest lo lắng. Liệu có
phải cú sét đánh cậu đang đợi không? Thế nhỡ bà chết thì sao? Phải mất vài
giây cậu mới đủ dũng cảm gõ cửa phòng bà, và ít nhất phải một phút sau mới
dám bước vào. Bà đang ngồi trên giường, chân thõng xuống dưới đất, trông
như người mộng du, trên ta...
 









Các ý kiến mới nhất