Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
THCS - SKKN

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thái Quí
Ngày gửi: 12h:14' 30-09-2024
Dung lượng: 213.0 KB
Số lượt tải: 70
Nguồn:
Người gửi: Đặng Thái Quí
Ngày gửi: 12h:14' 30-09-2024
Dung lượng: 213.0 KB
Số lượt tải: 70
Số lượt thích:
0 người
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG THCS Nguyễn Quang Sáng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 06 tháng 12 năm 2023
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: ĐẶNG THÁI QUÍ
Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh : 27 / 02 / 1977
- Nơi thường trú: Tổ 25 , khóm Thị I , Thị Trấn Mỹ Luông , Huyện Chợ Mới , Tỉnh An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THCS Nguyễn Quang Sáng
- Chức vụ hiện nay: Giáo Viên
- Trình độ chuyên môn: ĐHSP Ngữ Văn
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy Ngữ Văn
II.- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận lợi,
khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ
1. Thuận lợi :
-
Cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu dạy và học.
-
Cảnh quang sư phạm tốt, tạo cảm giác thích thú, thoải mái cho học sinh khi đến
trường. Không gian rộng, thoáng mát.
-
Đội ngũ giáo viên có tay nghề giỏi, chuyên môn vững vàng có thể giúp cho học
sinh học tập tốt hơn.
2 . Khó khăn :
-
Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của các em.
-
Còn một số học sinh chưa ngoan , không chú ý đến việc học tập.
-
Một số học sinh ở xa nên khó khăn trong việc đi lại, ảnh hưởng đến học tập.
3 . Tên sáng kiến :
Rèn luyện bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết cho học sinh lớp 6 – 7
Lĩnh vực : Văn học - Kĩ năng nghe – nói – đọc – viết
III . Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến :
Trước khi áp dụng sáng kiến , tôi cảm thấy khó khăn trong việc rèn luyện cho học sinh
1
học tốt môn Ngữ Văn . Chương trình sách giáo khoa mới mang đến một luồng gió mới lạ trong
việc dạy và học môn Ngữ Văn . Sách Giáo Khoa mới chú trọng vào bốn kĩ năng Nghe – Nói –
Đọc – Viết cho học sinh . Từ đó giúp cho các em có thể nói và viết trôi chảy , lưu loát . Các em
có điều kiện phát huy phẩm chất và năng lực của mình . Mạnh dạn phát biểu ý kiến và trình bày
được ý kiến của mình . Các em tham gia tốt vào các hoạt động giáo dục . Có thể giải quyết được
một số khó khăn trong quá trình học tập .
Chương trình Sách Giáo Khoa mới đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh học tập . Với
những bài thơ hay và những bài văn chú trọng phần thực hành , thực tiễn . Những bài văn đã
bám sát vào sở thích và nguyện vọng của học sinh . Bám sát đời sống và tình hình thực tế đang
diễn ra trong xã hội . Học sinh dễ dàng tiếp thu và có điều kiện để phát huy phẩm chất và năng
lực của mình . Các em có thể tìm ra và giải được những bài tập Thực Hành Tiếng Việt . Học sinh
có thể tiếp thu bài nhanh và làm được các bài tập đã được đưa ra trong sách giáo khoa .
Tuy nhiên , Giáo viên cần phải rèn luyện thêm cho các em các kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết .
Để các em sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ . Cho các em có thể ứng dụng và áp dụng được
trong quá trình giao tiếp . Các em có thể đọc trôi chảy , lưu loát , không bị phát âm sai không
đúng chuẩn mực . Các em có thể viết liền mạch , dùng từ , đặt câu hợp lí . Bài văn trở nên sống
động , dễ đọc , dễ nghe . Để rèn luyện được bốn kĩ năng này , các em học sinh phải tích cực tham
gia vào quá trình học tập . Tích cực tham gia vào các hoạt động Nghe – Nói – Đọc – Viết sao cho
tất cả các em học sinh đều có thể trình bày được ý kiến của mình . Từ đó , lớp học sẽ trở nên sinh
động , quá trình giáo dục sẽ đạt được kết quả tốt .
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Ngày nay , chúng ta đang sống trong thời đại của Khoa học – Kĩ thuật . Kĩ nguyên của
Kiến thức và Trí tuệ . Do đó , cần phải rèn luyện cho học sinh những phẩm chất phù hợp với
Thời đại mới . Cần giúp cho các em giải phóng những tiềm năng sẵn có của mình . Để các em
có thể bắt kịp xu hướng phát triển của thời kì công nghiệp hóa , hiện đại hóa . Công dân của
thế kỉ XXI phải là người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để tham gia vào các hoạt động của
xã hội . Các em có thể tự tin hơn trong học tập và trong lao động sản xuất . Môi trường học
đường là nơi để các em rèn luyện và trưởng thành . Là nơi để các em trau dồi những kĩ năng
cần thiết cho cuộc sống sau này . Các em có thể làm chủ được công nghệ . Phát huy và kế thừa
những tiến bộ của Khoa học – Kỉ thuật . Trở thành một công dân có ích cho đất nước .
Một số học sinh yếu về kĩ năng đọc và viết. Do đó, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện
cho học sinh tốt hơn. Sáng kiến này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh thực hiện
tốt yêu cầu này . Các em có thể học tập tốt hơn, tiến bộ hơn. Từ đó, các em có thể đọc lưu loát, trôi
chảy, thông suốt, liền mạch và có thể viết được những bài văn nghị luận và biểu cảm. Học sinh sẽ
không gặp khó khăn trong việc đọc và viết . Đó là sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến này trong
nhà trường Trung Học Cơ Sở . Giúp cho việc học tập của các em đạt kết quả cao.
2
III. Nội dung sáng kiến (Tiến trình thực hiện, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức..)
1. Tiến trình thực hiện:
- Sáng kiến mô tả đầy đủ và rõ ràng các phương pháp để rèn luyện bốn kĩ năng Nghe –
Nói – Đọc – Viết cho học sinh . Sáng kiến cũng đã trình bày đầy đủ các cách thức tiến hành ,
các bước để thực hiện trong quá quá trình giáo dục . Các em học sinh có thể tiếp thu đầy đủ
nội dung sáng kiến này . Đây là một sáng kiến bổ ích , có thể thực hiện được ở các trường phổ
thông . Hình thành cho các em những phẩm chất và năng lực cần thiết . Giúp cho quá trình
giảng dạy đạt kết quả tốt đẹp .
- Những đơn vị, cá nhân tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu : Các trường THCS trong Huyện Chợ
Mới và Tỉnh An Giang . Các cơ sở giáo dục ở địa phương , các trường Tiểu Học trong địa bàn huyện
Tỉnh
- Mức độ khả thi: Có thể áp dụng các giải pháp khoa học trong quá trình giáo dục trẻ em . Tạo
hứng thú cho các em học tập . Có thể áp dụng đại trà và phổ biến trong lĩnh vực giáo dục . Dành
cho các em học sinh cấp Tiểu Học và THCS .
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan :
+ Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Ngữ Văn lớp 6,7,8,9.
+ Giáo trình : Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm – NXB GD Việt Nam.
+ Văn học Việt Nam Thế kỷ XX – NXB Văn Học.
+ Tài liệu tập huấn cho Giáo viên.
+ Phê bình Văn học Việt Nam 1975 – 2005 của Nguyễn Văn Long ( Chủ biên ) – NXB
Đại học sư phạm.
2. Thời gian thực hiện:
- Đề tại được tôi thực hiện từ năm học 2020-2021 đến năm học 2023-2024 tại trường THCS
Nguyễn Quang Sáng . Đối tượng để thực hiện và áp dụng sáng kiến là học sinh khối 6 – 7
- Trong suốt thời gian qua tôi vừa thực hiện sáng kiến vừa rút kinh nghiệm qua từng bài dạy.
- Phạm vi thực hiện:
Ứng dụng vào các tiết Ngữ Văn 6 - 7 phần nghe – nói – đọc – viết , các buổi ôn tập thi học kỳ
và các tiết dạy chính khóa.
3. Biện pháp tổ chức :
3.1. Cơ sở lí luận của vấn đề :
Ngày nay, chương trình sách giáo khoa mới hướng đến việc rèn luyện phẩm
chất và năng lực của học sinh . Nghĩa là cần phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong quá trình học tập. Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực)
là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo
dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy
học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo
phương pháp thụ động. Từ đó có thể rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh .
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung
tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong
cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo
nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Học sinh có thể rút ra được những kiến
3
thức - kinh nghiệm để phát triển kỹ năng của mình . Chương trình mới chú trọng rèn luyện cho
học sinh 04 kỹ năng : nghe – nói – đọc – viết do đó tôi chọn hướng đi này để viết sang kiến .
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt
động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo
phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Từ
đó có thể rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh .
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung
tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong
cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo
nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Học sinh có thể rút ra được những kiến
thức - kinh nghiệm để phát triển kỹ năng của mình . Chương trình mới chú trọng rèn luyện cho
học sinh 04 kỹ năng : nghe – nói – đọc – viết do đó tôi chọn hướng đi này để viết sáng kiến .
3.2. Về mặt nội dung triển khai việc thực hiện sáng kiến:
Học sinh lớp 6 – 7 là những học sinh ở đầu cấp . Do đó việc rèn luyện , củng cố kiến thức
học sinh đã học ở bậc Tiểu Học là điều cần thiết . Để giúp cho các em có nền tảng vững chắc cho
quá trình học tập sau này . Các em có thể đọc sách , báo , xem ti vi , xem các chương trình qua
mạng Internet để rèn luyện các kĩ năng Nghe – nói – đọc – viết . Là người Việt Nam , các em
phải sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ . Vận dụng vào đời sống một cách lưu loát trôi trải . Điều đó
sẽ làm cho các em có nền tảng vững chắc để học những ngôn ngữ khác ( ngoại ngữ ) . Nắm vững
04 kĩ năng trên sẽ giúp các em tránh những lỗi sai trong quá trình giao tiếp và trong ứng xử với
bạn bè , thầy cô và với những người xung quanh . Môn Ngữ Văn là một môn học khá là quan
trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh . Chương trình sách giáo khoa
mới giúp cho các em phát huy và có thể sử dụng thành thạo Tiếng Việt . Công cụ hổ trợ để các
em học tập và phát huy những khả năng vốn có của mình . Từ đó , giúp các em tự tin hơn trong
giao tiếp và trong quan hệ với mọi người . Sáng kiến này sẽ giúp cho học sinh có được đầy đủ 04
kĩ năng Nghe – nói – đọc viết . Góp phần vào việc giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng
Việt .
Sau khi học xong bài học, học sinh "làm" được gì để tiếp nhận (chiếm lĩnh) và vận
dụng kiến thức, kỹ năng của chủ đề ? Đó là một câu hỏi khó khiến cho tôi luôn trăn trở .
Phải làm sao cho học sinh hiểu và vận dụng được kiến thức ? Để cho học sinh hiểu được
tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn khi học môn Ngữ Văn . Học sinh phải phân tích được thông
tin cơ bản của văn bản, giải thích được ý nghĩa của nhan đề trong việc thể hiện thông tin cơ bản
của văn bản . Ngoài ra , học sinh còn phải biết nhận biết và phân tích được tác dụng của cách
trình bày thông tin trong văn bản theo trật tự thời gian, diễn tiến của sự việc . Biết được nhân vật
và sự kiện được trình bày trong văn bản . Biết cách dùng dấu câu khi dẫn trực tiếp và gián tiếp .
Biết cách phân tích các cụm từ và các thành phần trong câu . Ngoài ra học sinh còn phải biết lắng
nghe khi bạn trình bày trên lớp . Có ý kiến nhận xét , phát biểu phần trình bày của bạn ( nói ) .
Khi học sinh tiếp cận với văn bản thường có thái độ thờ ơ , không quan tâm đến bài học .
Do đó giáo viên cần động viên , khích lệ học sinh cho học sinh thấy được cái hay cái thú vị của
4
từng câu thơ , đoạn thơ hay bài văn . Thể hiện qua các hình tượng văn học và ngôn ngữ thơ .
Giúp học sinh liên hệ, mở rộng, vận dụng được những điều đã đọc từ văn bản để giải quyết một
vấn đề trong cuộc sống . Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng từ bài học chính để tự đọc
hiểu văn bản thông tin tương tự. Hiểu được từng câu thơ và ý thơ cũng như nhân vật và sự kiện
được thể hiện trong bài học . Học sinh tích cực, chủ động , sáng tạo trong việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên như :
+ Kĩ năng đọc - hiểu: biết đọc - hiểu một văn bản thông tin
+ Kĩ năng viết:Viết văn bản thuyết minh , kể về một nhân vật lịch sử
+ Kĩ năng nói và nghe: thuyết minh miệng về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử có
sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh họa; nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của nội
dung trình bày
- Huy động những tri thức cần thiết liên quan đến văn bản đọc - hiểu
- Học sinh biết yêu mến và tự hào về những danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước; có ý
thức bảo vệ và tuyên truyền giới thiệu về những cảnh đẹp ấy. Có niềm tự hào về lịch sử hào hung
của dân tộc . HS có hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Quyền được phát biểu ý kiến
( được nói ) .
Câu hỏi thứ hai luôn làm tôi trăn trở là học sinh sẽ được thực hiện các "hoạt động
học" nào trong bài học ? Lứa tuổi học sinh THCS là thời kì mới phát triển về thể chất lẫn
tinh thần . Nên học sinh thường hiếu động ham chơi hơn ham học . Do đó , người giáo viên
phải hết sức khéo léo dẫn dắt các em vào hoạt động học tập . Tránh cho các em đùa giỡn
hay có thái độ thờ ơ . Tránh lãng phí thời gian trong việc giữ gìn trật tự lớp học . Người
giáo viên phải hết sức khéo léo , tìm cách nào đó để lôi kéo các em vào bài học . Thông qua
các hình tượng nhân vật , nội dung , cốt truyện , nhân vật và sự việc .
Những hoạt động học có thể là:
- Khởi động
- Đọc - hiểu nội dung khái quát của văn bản
- Đọc - hiểu chi tiết văn bản
- Tìm hiểu tác động của văn bản
- Liên hệ, mở rộng, vận dụng
- Tổng kết và củng cố bài học
- Tự đọc văn bản thông tin
….
Có thể lấy ví dụ minh họa : LỜI CỦA CÂY / SANG THU / ÔNG MỘT
Học sinh sẽ được thực hiện các hoạt động: trình bày, trao đổi, thảo luận… về nhiệm vụ học tập
được giao . Hiểu được nội dung và nghệ thuật gắn liền với văn bản . Hiểu được những cái hay
trong câu thơ , câu văn bằng ngôn ngữ văn học .
- Phân tích thông tin cơ bản của văn bản, giải thich được ý nghĩa của nhan đề
- Nhận biết và phân tích đặc điểm của văn bản
- Tìm hiểu tác động của văn bản
- Hiểu về hoàn cảnh sống và gia đình trong mối quan hệ với môi trường xã hội .
- Thấy được tầm quan trọng của tình cảm gia đình .
- Hiểu được những vấn đề của xã hội mang tính thời đại .
- Liên hệ mở rộng, vận dụng
5
Câu hỏi thứ ba luôn làm tôi suy nghĩ là : thông qua các "hoạt động học" sẽ thực hiện
trong bài học, những "biểu hiện cụ thể" của những phẩm chất, năng lực nào có thể được
hình thành, phát triển cho học sinh? Học sinh ở độ tuổi THCS chưa đủ khôn lớn để có thể
tự mình khám phá tri thức . Do đó , vai trò của giáo viên là rất quan trọng . Người giáo viên
phải biết cách gợi mở , khơi gợi vấn đề cần tìm hiểu . Làm cho học có hứng thú , tích cực
trong giờ học . Từ đó , có thể hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh . Căn cứ vào
Kế hoạch bài dạy cụ thể , GV đối chiếu với các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, năng lực
đặc thù để xác định xem có các phẩm chất và năng lực nào được thể hiện trong KHBD.
Có thể lấy ví dụ minh họa : HAI NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH VÀ CON GẤU / CHÓ
SÓI VÀ CHIÊN CON
Những phẩm chất, năng lực có thể được hình thành, phát triển cho học sinh: Năng lực tự chủ và
tự học, năng lực hợp tác, NL chủ động, sáng tạo, NL thẩm mĩ khi thực hiện nhiệm vụ học tập
Cụ thể như :
- Năng lực tự nghiên cứu, tìm tòi tư liệu, sưu tầm tranh ảnh…
- Năng lực làm việc nhóm
- Năng lực tư duy sáng tạo, liên tưởng
- Năng lực vẽ, khai thác kênh hình…
- Phẩm chất yêu chuộng hòa bình , yêu chuộng mùa xuân .
- Phẩm chất hiểu , tìm tòi , khám phá .
- Phẩm chất thẩm mỹ : Thấy được cái hay cái đẹp trong câu văn , bài văn .
- Phẩm chất làm người : yêu quê hương , đất nước , con người , cảnh vật của mùa xuân , tình
bạn , tình người .
Qua việc hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh , Học sinh sẽ có được một sự hiểu
biết mới , một cái nhìn mới về con người và cuộc sống . Học sinh sẽ thấy được những điều gì cần
nên làm và những điều gì không nên làm . Sẽ hiểu được quê hương , đất nước , con người Việt
Nam . Các em sẽ có đầy đủ phẩm chất và năng lực để tự học , tự sáng tạo trong tương lai . Từ đó ,
các em sẽ trưởng thành hơn , ham học tập và ham hiểu biết . Các em sẽ không còn thờ ơ hay lơ
đểnh trong giờ học môn Ngữ Văn .
6
Câu hỏi thứ tư luôn làm tôi băn khoăn là : khi thực hiện hoạt động để hình thành
kiến thức mới trong bài học, học sinh sẽ được sử dụng những thiết bị dạy học/học liệu nào?
Về thiết bị dạy học , nhà trường đã trang bị cho mỗi phòng một máy chiếu , thuận lợi cho
giáo viên trong việc giảng dạy . Về học liệu , thì chỉ có sách giáo khoa là chính , một số ít các
em học sinh có sách tham khảo . Học liệu tuy chưa phong phú nhưng cũng có thể đáp ứng
cho việc giảng dạy , nhu cầu tìm hiểu của học sinh . Ngoài ra , GV phải tự kiểm tra trong Kế
hoạch bài dạy và xác định những thiết bị dạy học / học liệu HS được sử dụng.
Có thể chú ý:
- Văn bản " Nguyễn văn Trỗi – Anh hùng dân tộc " / Cốm Vồng
- Phiếu học tập
- Video
Có thể lấy ví dụ minh họa : Ếch ngồi đáy giếng / Thầy bói xem voi
Phương tiện dạy học Ngữ Văn chủ yếu là tranh, ảnh trong SGK Ngữ văn THCS và một số đồ
dùng dạy học; Phương tiện dạy học có thể có sẵn hoặc tự tạo (do giáo viên và học sinh sáng tạo
nên). Phương tiện dạy học có thể gắn với các thiết bị đơn giản, thông thường hoặc các thiết bị
hiện đại trong quá trình sử dụng.
- Máy tính/ điện thoại có kết nối internet, máy chiếu, bộ loa
Phiếu học tập
- Tư liệu : Video khám phá động Phong Nha / Video phong cảnh thiên nhiên
Qua việc sử dụng Thiết bị dạy học và học liệu sẽ gúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng phân
tích vấn đề , kĩ năng lựa chọn các phương tiện học tập . Học sinh sẽ thấy được giờ học Ngữ Văn
là một giờ học khá thú vị . Không khô khan , cứng nhắc . Từ đó , các em sẽ rèn luyện được năng
khiếu thẩm mỹ , khả năng phát triển vốn từ . Vận dụng được vốn ngôn ngữ vào thực tế giao tiếp
hàng ngày . Học sinh sẽ chiếm lĩnh được khả năng vận dụng ngôn ngữ . Sử dụng được vốn ngôn
ngữ Tiếng Việt trong học tập , viết bài , làm văn , cũng như trong giao tiếp xã hội . Học sinh có
thể khắc phục lỗi diễn đạt trong khi viết . Biết dùng từ , đặt câu và viết thành văn . Trình bày ý
tưởng một cách mạch lạc , trôi chảy .
Câu hỏi thứ năm luôn khiến tôi băn khoăn là : Học sinh sử dụng thiết bị dạy học /
học liệu như thế nào (đọc/nghe/nhìn/làm) để hình thành kiến thức mới ? Từ câu hỏi này ,
tôi đã tìm ra các cách thức để giảng bài , truyền tải kiến thức cho học sinh . Tôi đã nghĩ ra
việc giảng bài như thế nào để lôi cuốn học sinh . Làm cho học sinh thích nghe , thích tìm
hiểu . Tôi đã tìm ra được các phương pháp dạy học văn để tăng thêm hứng thú trong giờ
học . Các phương pháp đó là :
- Khởi động – gợi mở
- Đàm thoại – thuyết giảng có dẫn chứng cụ thể , sinh động
- Nêu vần đề - dẫn dắt vấn đề ( Một câu chuyện , một câu thơ )
- Phân tích ngôn ngữ , hình ảnh thơ , hình tượng nhân vật
Có thể lưu ý thêm cho học sinh :
- Lắng nghe phần trình bày của bạn
- Đọc văn bản
- Làm phiếu học tập
- Xem video
Từ đó rèn luyện cho học sinh bốn kĩ năng : Nghe – Nói – Đọc – Viết . Đây là bốn kĩ năng
cơ bản để học sinh tiếp thu , lĩnh hội ngôn ngữ . Học sinh cần phải thông thạo bốn kĩ năng này để
làm nền tảng cơ bản cho việc học ngoại ngữ . Với việc nắm vững tiếng mẹ đẻ sẽ giúp cho học
7
sinh phát huy được năng lực ngôn ngữ để có thể học một ngôn ngữ mói . Đây là kĩ năng cần phải
có và bắt buộc trong quá trình học tập Tiếng Việt . Từ đó giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp .
Có thể lấy ví dụ minh họa : ĐỘNG PHONG NHA / BÀI HỌC TỪ CÂY CAU /
PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC
Học sinh đọc tư liệu từ SGK, nghe hướng dẫn của gv, quan sát tranh, ảnh, đoạn video,…
thực hiện nhiệm vụ học tập được giao (thảo luận, trình bày, phản biện…)
- Đọc- hiểu nội dung khái quát của văn bản “ Động Phong Nha- Đệ nhất kì quan động”
- Sử dụng ngôn từ, tranh ảnh, video để chuyển tải thông tin.
- Nhận biết và phân tích được quan hệ giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ
(tranh ảnh, video gồm cả hình ảnh và lời nói) dùng để biểu đạt thông tin trong văn bản.
- Thực hiện phiếu học tập.
- Lắng nghe – Tiếp nhận ý kiến thảo luận và đưa ra nhận xét .
Câu hỏi thứ sáu luôn làm tôi phải suy nghĩ là : Sản phẩm học tập mà học sinh phải
hoàn thành trong hoạt động để hình thành kiến thức mới là gì ?
Đây là một câu hỏi khó . Trước khi hình thành kiến thức mới , học sinh phải nắm vững kiến
thức cũ . Từ kiến thức cũ học sinh có thể tiếp thu kiến thức mới . Tránh được những lỗ
hỏng kiến thức mà người học thường hay gặp phải . Trong quá trình học , học sinh phải
làm ra được ( tạo ra được ) Sản Phẩm Học Tập để đánh giá quá trình rèn luyện của học
sinh . Sản phẩm ấy phải thể hiện được trình độ nhận thức của các em . Thể hiện được sự
hiểu biết mà các em tiếp thu được trong quá trình học tập . Sản phẩm ấy phải tiêu biểu và
có chất lượng . Không phải là một sản phẩm hời hợt , nông cạn thiếu hiểu biết . Sản phẩm
ấy phải được tạo ra bằng chính khả năng và năng lực của các em . Đúc kết được quá trình
học tập và rèn luyện trên ghế nhà trường .
Có thể lưu ý đến một số sản phẩm như:
- Câu trả lời
- Sơ đồ tư duy
- Phiếu học tập
- Câu hỏi gợi mở , câu hỏi tư duy
- Liệt kê các nhân vật và sự việc – sự kiện
Có thể lấy ví dụ minh họa : SỌ DỪA / THÁNH GIÓNG / ÔNG MỘT
Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành trong hoạt động để hình thành kiến
thức mới là: sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng; kết quả hoạt động của các nhóm, hoặc từng cá nhân
học sinh; hệ thống hóa kiến thức
- Hiểu được kiểu văn bản thuyết minh về một danh lam thắng cảnh gắn liền với sự kiện lịch sử và
những ngày tháng hào hùng của dân tộc .
- Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng từ bài học chính để tự đọc hiểu văn bản thông tin
tương tự . Học sinh có thể sưu tầm , tìm hiểu các tư liệu lịch sử gắn liền với nhân vật và sự kiện
lịch sử . Có thể kể được một số câu chuyện thú vị , hài hước . Làm cho giờ học thêm sinh động .
Có sức hấp dẫn , lôi cuốn .
(qua câu trả lời, sơ đồ tư duy, khả năng liên hệ thực tế với các văn bản khác..)
Tôi luôn tự hỏi giáo viên cần nhận xét, đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện
hoạt động để hình thành kiến thức mới của học sinh? Khi học sinh đã làm ra Sản Phẩm
Học Tập thì giáo viên phải nhận xét – đánh giá . Nhận xét – đánh giá phải đúng trong từng
trường hợp . Làm sao cho học sinh thấy được cái hay – cái dỡ trong bài làm của mình . Học
sinh thấy được sản phẩm do mình làm ra là có ích lợi và có khả năng vận dụng . Từ đó giúp
8
cho học sinh có hứng thú để tiếp thu cái mới , bài học mới . Hoạt động học tập của học sinh
được thực hiện để hình thành kiến thức mới cho học sinh . Các em sẽ tự tin hơn , vững vàng
hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức .
Trình bày phương án đánh giá một cách hợp lí, bao gồm: sản phẩm để đánh giá, phương
pháp đánh giá, công cụ đánh giá (đánh giá cái gì/ đánh giá bằng cách nào/ dùng công cụ nào để
đánh giá); mỗi ý: 30-35 điểm.
Có thể lấy ví dụ minh họa : Dế mèn phiêu lưu ký
- Giáo viên nhận xét, đánh giá về: mức độ tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học
sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ . Học sinh có hiểu bài không ? Có biết tên quan phụ mẫu
là người vô lương tâm , vô trách nhiệm bỏ mặc cho dân tình khốn khổ . Học sinh có thấy được
hai bức tranh tương phản ? Học sinh có thái độ , tình cảm như thế nào đối với nhân dân ?
- Nhận xét các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm : Có thể đặt câu hỏi để thảo luận hoặc vẽ tranh
ảnh minh họa . Dùng thang đo để đánh giá: Tuyên dương HS tích cực, có tư duy sáng tạo
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh khi thực hiện hoạt động luyện tập/vận dụng kiến
thức mới trong bài học, học sinh sẽ được sử dụng những thiết bị dạy học/học liệu nào? Đây
là vấn đề cần được quan tâm và sẽ giải quyết . Góp phần năng cao chất lượng giảng dạy ,
năng cao hiệu quả học tập . Học sinh sẽ làm gì và thực hiện như thế nào ? Học sinh làm
cách nào để lĩnh hội kiến thúc mới ? Dưới sự hướng dẫn của giáo viên , học sinh sẽ thực
hiện các bước , các giai đoạn để chiếm lĩnh tri thức . Học sinh sẽ được sử dụng những thiết
bị dạy học / học liệu mà học sinh tự có ( ảnh minh học , chân dung , sách tham khảo , laptop
... )
GV phải tự kiểm tra trong Kế hoạch bài dạy và xác định những thiết bị dạy học / học liệu
HS được sử dụng. Có thể chú ý:
- Văn bản
- Giấy + bút màu
- Mạng Internet
Có thể lấy ví dụ minh họa : Dế mèn phiêu lưu ký
Phương tiện dạy học có thể có sẵn hoặc tự tạo (do giáo viên và học sinh sáng tạo nên) như máy
chiếu, bảng phụ, bảng nhóm, sơ đồ hệ thống hóa kiến thức, tranh ảnh, phiếu bài tập . thiết kế đồ
họa , chân dung , sơ đồ tư duy ...
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh thì học sinh sử dụng thiết bị dạy học / học liệu như
thế nào (đọc/nghe/nhìn/làm) để luyện tập/vận dụng kiến thức mới?
GV nêu một số cách sử dụng các thiết bị
Có thể lưu ý:
- Đọc văn bản
- Vẽ lại một địa điểm nào đó trong quần thể Động Phong Nha , vẽ tranh Cầu Long Biên , vẽ tên
quan Phụ mẫu ...
- Sưu tầm văn bản trên mạng Internet
- Xem các tư liệu lịch sử , xem các thước phim lên quan đến lịch sử .
…
Có thể lấy ví dụ minh họa : CHÚNG TA CÓ THỂ ĐỌC NHANH HƠN / TÓM TẮT Ý
CHÍNH DO NGƯỜI KHÁC TRÌNH BÀY
HS đọc kĩ và xác định yêu cầu bài tập, nghe gv chuyển giao nhiệm vụ, vận dụng trình bày
kết quả vào bảng nhóm, sơ đồ hệ thống, bảng phụ, tranh ảnh, phiếu học tập …
- Nói, viết được bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng
các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ.
9
HS trao đổi về bài tập đã chuẩn bị ở nhà . Có thể thực hành Luyện Nói hay thuyết giảng trình bày
trước lớp .
( bài làm phải được trình bày trên máy tính hoặc đề cương bài nói )…
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh , yêu cầu đầu tiên là sản phẩm học tập . Sản phẩm
học tập mà học sinh phải hoàn thành trong hoạt động luyện tập / vận dụng kiến thức mới là
gì? Sản phẩm học tập phải đa dạng , mang màu sắc cá nhân . Phải thể hiện được tầm nhìn
và vốn hiểu biết của các em . Các em phải vận dụng tri thức và hiểu biết của mình để làm ra
Sản Phẩm Học Tập . Hay nói cách khác Sản Phẩm Học Tập là kết tinh trí tuệ của học sinh .
Các em sẽ có được niềm vui , niềm đam mê trong học tập . Sẽ hứng thú hơn trong giờ học
môn Ngũ Văn .
GV có thể lưu ý đến một số sản phẩm dạng như:
- Câu trả lời của HS – Phiếu nhận xét + đánh giá .
- Liên hệ 02 văn bản khác cũng viết về Nhân vật và Sự kiện lịch sử
- Liên hệ về hình ảnh Cầu Long Biên xưa và nay .
- Liên hệ hình ảnh về thiên nhiên và môi trường qua 02 bài thơ LỜI CỦA CÂY VÀ SANG THU
- Phần trình bày về điểm giống và khác nhau của các văn bản
Có thể lấy ví dụ minh họa : ÔNG MỘT / CỐM VỒNG
Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành là: Kết quả đúng đắn, chính xác của quá
trình luyện tập, vận dụng kiến thức
Thuyết minh được về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ,
bảng biểu, hình ảnh minh hoạ.
- Nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của sản phẩm trình bày (bằng ngôn ngữ nói); chỉ ra được
những hạn chế (nếu có) của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (bằng ngôn ngữ nói) .
Học sinh có thể tham gia phát biểu ý kiến và nhận xét phần trình bày của bạn . Học sinh có quyền
đưa ra những ý kiến khác nhau . Giáo viên nghe và chốt lại . Nhận xét – đánh giá chung .
Giáo viên cần nhận xét, đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện hoạt động luyện
tập/vận dụng kiến thức mới của học sinh? Giáo viên giúp cho học sinh thấy dược khả năng
của mình . Giúp cho học sinh biết được năng lực của mình . Từ đó rèn luyện cho học sinh
những kĩ năng cần thiết ( kĩ năng thảo luận nhóm , kĩ năng giải quyết vấn đề , kĩ năng đọc
hiểu văn bản , kĩ năng phân tích – nhận xét – đánh giá , kĩ năng vẽ tranh ảnh , sơ đồ tu
duy ... ) Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành là: Kết quả đúng đắn, chính xác của
quá trình luyện tập, vận dụng kiến thức . Thuyết minh được về một danh lam thắng cảnh hay một
di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ . Phát huy được tính tích cực
chủ động củ học sinh .
- Nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của sản phẩm trình bày (bằng ngôn ngữ nói); chỉ ra được
những hạn chế (nếu có) của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (bằng ngôn ngữ nói) .
Từ đó các em sẽ thấy giờ học Ngữ Văn là một giờ học thú vị và đầy tính sáng tạo . Các em sẽ rút
ra được những lợi ích thiết thực sau giờ học Ngữ Văn . Sẽ có được những bài học bổ ích .
Có thể lấy ví dụ minh họa : CẢM NHẬN VỀ LỄ ĐÓN GIAO THỪA QUÊ TÔI / MÙA
THU VỀ TRÙNG KHÁNH NGHE HẠT DẺ HÁT
- Giáo viên cần nhận xét, đánh giá HS theo mức độ: nhanh, chậm, chính xác, khả năng tư duy,
sáng tạo… của HS qua quá trình vận dụng . Giáo viên đánh giá – nhận xét mức độ sáng tạo của
học sinh . Cũng như Sản Phẩm Học Tập . GV đề nghị cả lớp nhận xét bài thuyết trình của bạn,
tập trung vào tính rõ ràng, mạch lạc và hấp dẫn của nội dung cũng như hình thức trình bày.
10
Qua những vấn đề trên , giáo viên nhận thấy học sinh cần rèn luyện những kỹ năng gì ?
a / Phương pháp học tập tích cực :
Phương pháp học tập tích cực (PPHT tích cực) là một phương pháp học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực trong học tập " - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với
không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực. Học tập tích cực hướng
tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào
phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với
dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói
quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh
đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo
viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưn...
TRƯỜNG THCS Nguyễn Quang Sáng
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 06 tháng 12 năm 2023
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kỹ thuật, quản lý, tác nghiệp, ứng
dụng tiến bộ kỹ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: ĐẶNG THÁI QUÍ
Nam, nữ: Nam
- Ngày tháng năm sinh : 27 / 02 / 1977
- Nơi thường trú: Tổ 25 , khóm Thị I , Thị Trấn Mỹ Luông , Huyện Chợ Mới , Tỉnh An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THCS Nguyễn Quang Sáng
- Chức vụ hiện nay: Giáo Viên
- Trình độ chuyên môn: ĐHSP Ngữ Văn
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy Ngữ Văn
II.- Sơ lược đặc điểm tình hình đơn vị: Nêu tóm tắt tình hình đơn vị, những thuận lợi,
khó khăn của đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ
1. Thuận lợi :
-
Cơ sở vật chất đầy đủ, đáp ứng được yêu cầu dạy và học.
-
Cảnh quang sư phạm tốt, tạo cảm giác thích thú, thoải mái cho học sinh khi đến
trường. Không gian rộng, thoáng mát.
-
Đội ngũ giáo viên có tay nghề giỏi, chuyên môn vững vàng có thể giúp cho học
sinh học tập tốt hơn.
2 . Khó khăn :
-
Một số phụ huynh học sinh chưa quan tâm đến việc học tập của các em.
-
Còn một số học sinh chưa ngoan , không chú ý đến việc học tập.
-
Một số học sinh ở xa nên khó khăn trong việc đi lại, ảnh hưởng đến học tập.
3 . Tên sáng kiến :
Rèn luyện bốn kĩ năng nghe – nói – đọc – viết cho học sinh lớp 6 – 7
Lĩnh vực : Văn học - Kĩ năng nghe – nói – đọc – viết
III . Mục đích yêu cầu của đề tài, sáng kiến:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến :
Trước khi áp dụng sáng kiến , tôi cảm thấy khó khăn trong việc rèn luyện cho học sinh
1
học tốt môn Ngữ Văn . Chương trình sách giáo khoa mới mang đến một luồng gió mới lạ trong
việc dạy và học môn Ngữ Văn . Sách Giáo Khoa mới chú trọng vào bốn kĩ năng Nghe – Nói –
Đọc – Viết cho học sinh . Từ đó giúp cho các em có thể nói và viết trôi chảy , lưu loát . Các em
có điều kiện phát huy phẩm chất và năng lực của mình . Mạnh dạn phát biểu ý kiến và trình bày
được ý kiến của mình . Các em tham gia tốt vào các hoạt động giáo dục . Có thể giải quyết được
một số khó khăn trong quá trình học tập .
Chương trình Sách Giáo Khoa mới đã tạo ra sự hứng thú cho học sinh học tập . Với
những bài thơ hay và những bài văn chú trọng phần thực hành , thực tiễn . Những bài văn đã
bám sát vào sở thích và nguyện vọng của học sinh . Bám sát đời sống và tình hình thực tế đang
diễn ra trong xã hội . Học sinh dễ dàng tiếp thu và có điều kiện để phát huy phẩm chất và năng
lực của mình . Các em có thể tìm ra và giải được những bài tập Thực Hành Tiếng Việt . Học sinh
có thể tiếp thu bài nhanh và làm được các bài tập đã được đưa ra trong sách giáo khoa .
Tuy nhiên , Giáo viên cần phải rèn luyện thêm cho các em các kĩ năng Nghe – Nói – Đọc – Viết .
Để các em sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ . Cho các em có thể ứng dụng và áp dụng được
trong quá trình giao tiếp . Các em có thể đọc trôi chảy , lưu loát , không bị phát âm sai không
đúng chuẩn mực . Các em có thể viết liền mạch , dùng từ , đặt câu hợp lí . Bài văn trở nên sống
động , dễ đọc , dễ nghe . Để rèn luyện được bốn kĩ năng này , các em học sinh phải tích cực tham
gia vào quá trình học tập . Tích cực tham gia vào các hoạt động Nghe – Nói – Đọc – Viết sao cho
tất cả các em học sinh đều có thể trình bày được ý kiến của mình . Từ đó , lớp học sẽ trở nên sinh
động , quá trình giáo dục sẽ đạt được kết quả tốt .
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Ngày nay , chúng ta đang sống trong thời đại của Khoa học – Kĩ thuật . Kĩ nguyên của
Kiến thức và Trí tuệ . Do đó , cần phải rèn luyện cho học sinh những phẩm chất phù hợp với
Thời đại mới . Cần giúp cho các em giải phóng những tiềm năng sẵn có của mình . Để các em
có thể bắt kịp xu hướng phát triển của thời kì công nghiệp hóa , hiện đại hóa . Công dân của
thế kỉ XXI phải là người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để tham gia vào các hoạt động của
xã hội . Các em có thể tự tin hơn trong học tập và trong lao động sản xuất . Môi trường học
đường là nơi để các em rèn luyện và trưởng thành . Là nơi để các em trau dồi những kĩ năng
cần thiết cho cuộc sống sau này . Các em có thể làm chủ được công nghệ . Phát huy và kế thừa
những tiến bộ của Khoa học – Kỉ thuật . Trở thành một công dân có ích cho đất nước .
Một số học sinh yếu về kĩ năng đọc và viết. Do đó, giáo viên cần hướng dẫn và rèn luyện
cho học sinh tốt hơn. Sáng kiến này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh thực hiện
tốt yêu cầu này . Các em có thể học tập tốt hơn, tiến bộ hơn. Từ đó, các em có thể đọc lưu loát, trôi
chảy, thông suốt, liền mạch và có thể viết được những bài văn nghị luận và biểu cảm. Học sinh sẽ
không gặp khó khăn trong việc đọc và viết . Đó là sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến này trong
nhà trường Trung Học Cơ Sở . Giúp cho việc học tập của các em đạt kết quả cao.
2
III. Nội dung sáng kiến (Tiến trình thực hiện, thời gian thực hiện, biện pháp tổ chức..)
1. Tiến trình thực hiện:
- Sáng kiến mô tả đầy đủ và rõ ràng các phương pháp để rèn luyện bốn kĩ năng Nghe –
Nói – Đọc – Viết cho học sinh . Sáng kiến cũng đã trình bày đầy đủ các cách thức tiến hành ,
các bước để thực hiện trong quá quá trình giáo dục . Các em học sinh có thể tiếp thu đầy đủ
nội dung sáng kiến này . Đây là một sáng kiến bổ ích , có thể thực hiện được ở các trường phổ
thông . Hình thành cho các em những phẩm chất và năng lực cần thiết . Giúp cho quá trình
giảng dạy đạt kết quả tốt đẹp .
- Những đơn vị, cá nhân tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu : Các trường THCS trong Huyện Chợ
Mới và Tỉnh An Giang . Các cơ sở giáo dục ở địa phương , các trường Tiểu Học trong địa bàn huyện
Tỉnh
- Mức độ khả thi: Có thể áp dụng các giải pháp khoa học trong quá trình giáo dục trẻ em . Tạo
hứng thú cho các em học tập . Có thể áp dụng đại trà và phổ biến trong lĩnh vực giáo dục . Dành
cho các em học sinh cấp Tiểu Học và THCS .
- Nghiên cứu tài liệu có liên quan :
+ Sách giáo khoa và sách giáo viên môn Ngữ Văn lớp 6,7,8,9.
+ Giáo trình : Phương pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm – NXB GD Việt Nam.
+ Văn học Việt Nam Thế kỷ XX – NXB Văn Học.
+ Tài liệu tập huấn cho Giáo viên.
+ Phê bình Văn học Việt Nam 1975 – 2005 của Nguyễn Văn Long ( Chủ biên ) – NXB
Đại học sư phạm.
2. Thời gian thực hiện:
- Đề tại được tôi thực hiện từ năm học 2020-2021 đến năm học 2023-2024 tại trường THCS
Nguyễn Quang Sáng . Đối tượng để thực hiện và áp dụng sáng kiến là học sinh khối 6 – 7
- Trong suốt thời gian qua tôi vừa thực hiện sáng kiến vừa rút kinh nghiệm qua từng bài dạy.
- Phạm vi thực hiện:
Ứng dụng vào các tiết Ngữ Văn 6 - 7 phần nghe – nói – đọc – viết , các buổi ôn tập thi học kỳ
và các tiết dạy chính khóa.
3. Biện pháp tổ chức :
3.1. Cơ sở lí luận của vấn đề :
Ngày nay, chương trình sách giáo khoa mới hướng đến việc rèn luyện phẩm
chất và năng lực của học sinh . Nghĩa là cần phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh trong quá trình học tập. Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực)
là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo
dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức
của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy
học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo
phương pháp thụ động. Từ đó có thể rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh .
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung
tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong
cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo
nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Học sinh có thể rút ra được những kiến
3
thức - kinh nghiệm để phát triển kỹ năng của mình . Chương trình mới chú trọng rèn luyện cho
học sinh 04 kỹ năng : nghe – nói – đọc – viết do đó tôi chọn hướng đi này để viết sang kiến .
Phương pháp dạy học tích cực (PPDH tích cực) là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở
nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. PPDH tích cực hướng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt
động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy tính tích cực của người học chứ
không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo
phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động. Từ
đó có thể rèn luyện kỹ năng học tập cho học sinh .
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay đổi cách dạy
và cách học. Chuyển cách dạy thụ động, truyền thụ một chiều “đọc- chép”, giáo viên làm trung
tâm sang cách dạy lấy học sinh làm trung tâm hay còn được gọi là dạy và học tích cực. Trong
cách dạy này học sinh là chủ thể hoạt động, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn, tạo
nên sự tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Học sinh có thể rút ra được những kiến
thức - kinh nghiệm để phát triển kỹ năng của mình . Chương trình mới chú trọng rèn luyện cho
học sinh 04 kỹ năng : nghe – nói – đọc – viết do đó tôi chọn hướng đi này để viết sáng kiến .
3.2. Về mặt nội dung triển khai việc thực hiện sáng kiến:
Học sinh lớp 6 – 7 là những học sinh ở đầu cấp . Do đó việc rèn luyện , củng cố kiến thức
học sinh đã học ở bậc Tiểu Học là điều cần thiết . Để giúp cho các em có nền tảng vững chắc cho
quá trình học tập sau này . Các em có thể đọc sách , báo , xem ti vi , xem các chương trình qua
mạng Internet để rèn luyện các kĩ năng Nghe – nói – đọc – viết . Là người Việt Nam , các em
phải sử dụng thành thạo tiếng mẹ đẻ . Vận dụng vào đời sống một cách lưu loát trôi trải . Điều đó
sẽ làm cho các em có nền tảng vững chắc để học những ngôn ngữ khác ( ngoại ngữ ) . Nắm vững
04 kĩ năng trên sẽ giúp các em tránh những lỗi sai trong quá trình giao tiếp và trong ứng xử với
bạn bè , thầy cô và với những người xung quanh . Môn Ngữ Văn là một môn học khá là quan
trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh . Chương trình sách giáo khoa
mới giúp cho các em phát huy và có thể sử dụng thành thạo Tiếng Việt . Công cụ hổ trợ để các
em học tập và phát huy những khả năng vốn có của mình . Từ đó , giúp các em tự tin hơn trong
giao tiếp và trong quan hệ với mọi người . Sáng kiến này sẽ giúp cho học sinh có được đầy đủ 04
kĩ năng Nghe – nói – đọc viết . Góp phần vào việc giữ gìn và phát huy sự trong sáng của Tiếng
Việt .
Sau khi học xong bài học, học sinh "làm" được gì để tiếp nhận (chiếm lĩnh) và vận
dụng kiến thức, kỹ năng của chủ đề ? Đó là một câu hỏi khó khiến cho tôi luôn trăn trở .
Phải làm sao cho học sinh hiểu và vận dụng được kiến thức ? Để cho học sinh hiểu được
tầm quan trọng và ý nghĩa to lớn khi học môn Ngữ Văn . Học sinh phải phân tích được thông
tin cơ bản của văn bản, giải thích được ý nghĩa của nhan đề trong việc thể hiện thông tin cơ bản
của văn bản . Ngoài ra , học sinh còn phải biết nhận biết và phân tích được tác dụng của cách
trình bày thông tin trong văn bản theo trật tự thời gian, diễn tiến của sự việc . Biết được nhân vật
và sự kiện được trình bày trong văn bản . Biết cách dùng dấu câu khi dẫn trực tiếp và gián tiếp .
Biết cách phân tích các cụm từ và các thành phần trong câu . Ngoài ra học sinh còn phải biết lắng
nghe khi bạn trình bày trên lớp . Có ý kiến nhận xét , phát biểu phần trình bày của bạn ( nói ) .
Khi học sinh tiếp cận với văn bản thường có thái độ thờ ơ , không quan tâm đến bài học .
Do đó giáo viên cần động viên , khích lệ học sinh cho học sinh thấy được cái hay cái thú vị của
4
từng câu thơ , đoạn thơ hay bài văn . Thể hiện qua các hình tượng văn học và ngôn ngữ thơ .
Giúp học sinh liên hệ, mở rộng, vận dụng được những điều đã đọc từ văn bản để giải quyết một
vấn đề trong cuộc sống . Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng từ bài học chính để tự đọc
hiểu văn bản thông tin tương tự. Hiểu được từng câu thơ và ý thơ cũng như nhân vật và sự kiện
được thể hiện trong bài học . Học sinh tích cực, chủ động , sáng tạo trong việc thực hiện các
nhiệm vụ học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên như :
+ Kĩ năng đọc - hiểu: biết đọc - hiểu một văn bản thông tin
+ Kĩ năng viết:Viết văn bản thuyết minh , kể về một nhân vật lịch sử
+ Kĩ năng nói và nghe: thuyết minh miệng về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử có
sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh họa; nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của nội
dung trình bày
- Huy động những tri thức cần thiết liên quan đến văn bản đọc - hiểu
- Học sinh biết yêu mến và tự hào về những danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước; có ý
thức bảo vệ và tuyên truyền giới thiệu về những cảnh đẹp ấy. Có niềm tự hào về lịch sử hào hung
của dân tộc . HS có hiểu biết và tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ. Quyền được phát biểu ý kiến
( được nói ) .
Câu hỏi thứ hai luôn làm tôi trăn trở là học sinh sẽ được thực hiện các "hoạt động
học" nào trong bài học ? Lứa tuổi học sinh THCS là thời kì mới phát triển về thể chất lẫn
tinh thần . Nên học sinh thường hiếu động ham chơi hơn ham học . Do đó , người giáo viên
phải hết sức khéo léo dẫn dắt các em vào hoạt động học tập . Tránh cho các em đùa giỡn
hay có thái độ thờ ơ . Tránh lãng phí thời gian trong việc giữ gìn trật tự lớp học . Người
giáo viên phải hết sức khéo léo , tìm cách nào đó để lôi kéo các em vào bài học . Thông qua
các hình tượng nhân vật , nội dung , cốt truyện , nhân vật và sự việc .
Những hoạt động học có thể là:
- Khởi động
- Đọc - hiểu nội dung khái quát của văn bản
- Đọc - hiểu chi tiết văn bản
- Tìm hiểu tác động của văn bản
- Liên hệ, mở rộng, vận dụng
- Tổng kết và củng cố bài học
- Tự đọc văn bản thông tin
….
Có thể lấy ví dụ minh họa : LỜI CỦA CÂY / SANG THU / ÔNG MỘT
Học sinh sẽ được thực hiện các hoạt động: trình bày, trao đổi, thảo luận… về nhiệm vụ học tập
được giao . Hiểu được nội dung và nghệ thuật gắn liền với văn bản . Hiểu được những cái hay
trong câu thơ , câu văn bằng ngôn ngữ văn học .
- Phân tích thông tin cơ bản của văn bản, giải thich được ý nghĩa của nhan đề
- Nhận biết và phân tích đặc điểm của văn bản
- Tìm hiểu tác động của văn bản
- Hiểu về hoàn cảnh sống và gia đình trong mối quan hệ với môi trường xã hội .
- Thấy được tầm quan trọng của tình cảm gia đình .
- Hiểu được những vấn đề của xã hội mang tính thời đại .
- Liên hệ mở rộng, vận dụng
5
Câu hỏi thứ ba luôn làm tôi suy nghĩ là : thông qua các "hoạt động học" sẽ thực hiện
trong bài học, những "biểu hiện cụ thể" của những phẩm chất, năng lực nào có thể được
hình thành, phát triển cho học sinh? Học sinh ở độ tuổi THCS chưa đủ khôn lớn để có thể
tự mình khám phá tri thức . Do đó , vai trò của giáo viên là rất quan trọng . Người giáo viên
phải biết cách gợi mở , khơi gợi vấn đề cần tìm hiểu . Làm cho học có hứng thú , tích cực
trong giờ học . Từ đó , có thể hình thành phẩm chất và năng lực cho học sinh . Căn cứ vào
Kế hoạch bài dạy cụ thể , GV đối chiếu với các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung, năng lực
đặc thù để xác định xem có các phẩm chất và năng lực nào được thể hiện trong KHBD.
Có thể lấy ví dụ minh họa : HAI NGƯỜI BẠN ĐỒNG HÀNH VÀ CON GẤU / CHÓ
SÓI VÀ CHIÊN CON
Những phẩm chất, năng lực có thể được hình thành, phát triển cho học sinh: Năng lực tự chủ và
tự học, năng lực hợp tác, NL chủ động, sáng tạo, NL thẩm mĩ khi thực hiện nhiệm vụ học tập
Cụ thể như :
- Năng lực tự nghiên cứu, tìm tòi tư liệu, sưu tầm tranh ảnh…
- Năng lực làm việc nhóm
- Năng lực tư duy sáng tạo, liên tưởng
- Năng lực vẽ, khai thác kênh hình…
- Phẩm chất yêu chuộng hòa bình , yêu chuộng mùa xuân .
- Phẩm chất hiểu , tìm tòi , khám phá .
- Phẩm chất thẩm mỹ : Thấy được cái hay cái đẹp trong câu văn , bài văn .
- Phẩm chất làm người : yêu quê hương , đất nước , con người , cảnh vật của mùa xuân , tình
bạn , tình người .
Qua việc hình thành phẩm chất và năng lực của học sinh , Học sinh sẽ có được một sự hiểu
biết mới , một cái nhìn mới về con người và cuộc sống . Học sinh sẽ thấy được những điều gì cần
nên làm và những điều gì không nên làm . Sẽ hiểu được quê hương , đất nước , con người Việt
Nam . Các em sẽ có đầy đủ phẩm chất và năng lực để tự học , tự sáng tạo trong tương lai . Từ đó ,
các em sẽ trưởng thành hơn , ham học tập và ham hiểu biết . Các em sẽ không còn thờ ơ hay lơ
đểnh trong giờ học môn Ngữ Văn .
6
Câu hỏi thứ tư luôn làm tôi băn khoăn là : khi thực hiện hoạt động để hình thành
kiến thức mới trong bài học, học sinh sẽ được sử dụng những thiết bị dạy học/học liệu nào?
Về thiết bị dạy học , nhà trường đã trang bị cho mỗi phòng một máy chiếu , thuận lợi cho
giáo viên trong việc giảng dạy . Về học liệu , thì chỉ có sách giáo khoa là chính , một số ít các
em học sinh có sách tham khảo . Học liệu tuy chưa phong phú nhưng cũng có thể đáp ứng
cho việc giảng dạy , nhu cầu tìm hiểu của học sinh . Ngoài ra , GV phải tự kiểm tra trong Kế
hoạch bài dạy và xác định những thiết bị dạy học / học liệu HS được sử dụng.
Có thể chú ý:
- Văn bản " Nguyễn văn Trỗi – Anh hùng dân tộc " / Cốm Vồng
- Phiếu học tập
- Video
Có thể lấy ví dụ minh họa : Ếch ngồi đáy giếng / Thầy bói xem voi
Phương tiện dạy học Ngữ Văn chủ yếu là tranh, ảnh trong SGK Ngữ văn THCS và một số đồ
dùng dạy học; Phương tiện dạy học có thể có sẵn hoặc tự tạo (do giáo viên và học sinh sáng tạo
nên). Phương tiện dạy học có thể gắn với các thiết bị đơn giản, thông thường hoặc các thiết bị
hiện đại trong quá trình sử dụng.
- Máy tính/ điện thoại có kết nối internet, máy chiếu, bộ loa
Phiếu học tập
- Tư liệu : Video khám phá động Phong Nha / Video phong cảnh thiên nhiên
Qua việc sử dụng Thiết bị dạy học và học liệu sẽ gúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng phân
tích vấn đề , kĩ năng lựa chọn các phương tiện học tập . Học sinh sẽ thấy được giờ học Ngữ Văn
là một giờ học khá thú vị . Không khô khan , cứng nhắc . Từ đó , các em sẽ rèn luyện được năng
khiếu thẩm mỹ , khả năng phát triển vốn từ . Vận dụng được vốn ngôn ngữ vào thực tế giao tiếp
hàng ngày . Học sinh sẽ chiếm lĩnh được khả năng vận dụng ngôn ngữ . Sử dụng được vốn ngôn
ngữ Tiếng Việt trong học tập , viết bài , làm văn , cũng như trong giao tiếp xã hội . Học sinh có
thể khắc phục lỗi diễn đạt trong khi viết . Biết dùng từ , đặt câu và viết thành văn . Trình bày ý
tưởng một cách mạch lạc , trôi chảy .
Câu hỏi thứ năm luôn khiến tôi băn khoăn là : Học sinh sử dụng thiết bị dạy học /
học liệu như thế nào (đọc/nghe/nhìn/làm) để hình thành kiến thức mới ? Từ câu hỏi này ,
tôi đã tìm ra các cách thức để giảng bài , truyền tải kiến thức cho học sinh . Tôi đã nghĩ ra
việc giảng bài như thế nào để lôi cuốn học sinh . Làm cho học sinh thích nghe , thích tìm
hiểu . Tôi đã tìm ra được các phương pháp dạy học văn để tăng thêm hứng thú trong giờ
học . Các phương pháp đó là :
- Khởi động – gợi mở
- Đàm thoại – thuyết giảng có dẫn chứng cụ thể , sinh động
- Nêu vần đề - dẫn dắt vấn đề ( Một câu chuyện , một câu thơ )
- Phân tích ngôn ngữ , hình ảnh thơ , hình tượng nhân vật
Có thể lưu ý thêm cho học sinh :
- Lắng nghe phần trình bày của bạn
- Đọc văn bản
- Làm phiếu học tập
- Xem video
Từ đó rèn luyện cho học sinh bốn kĩ năng : Nghe – Nói – Đọc – Viết . Đây là bốn kĩ năng
cơ bản để học sinh tiếp thu , lĩnh hội ngôn ngữ . Học sinh cần phải thông thạo bốn kĩ năng này để
làm nền tảng cơ bản cho việc học ngoại ngữ . Với việc nắm vững tiếng mẹ đẻ sẽ giúp cho học
7
sinh phát huy được năng lực ngôn ngữ để có thể học một ngôn ngữ mói . Đây là kĩ năng cần phải
có và bắt buộc trong quá trình học tập Tiếng Việt . Từ đó giúp các em tự tin hơn trong giao tiếp .
Có thể lấy ví dụ minh họa : ĐỘNG PHONG NHA / BÀI HỌC TỪ CÂY CAU /
PHÒNG TRÁNH ĐUỐI NƯỚC
Học sinh đọc tư liệu từ SGK, nghe hướng dẫn của gv, quan sát tranh, ảnh, đoạn video,…
thực hiện nhiệm vụ học tập được giao (thảo luận, trình bày, phản biện…)
- Đọc- hiểu nội dung khái quát của văn bản “ Động Phong Nha- Đệ nhất kì quan động”
- Sử dụng ngôn từ, tranh ảnh, video để chuyển tải thông tin.
- Nhận biết và phân tích được quan hệ giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ
(tranh ảnh, video gồm cả hình ảnh và lời nói) dùng để biểu đạt thông tin trong văn bản.
- Thực hiện phiếu học tập.
- Lắng nghe – Tiếp nhận ý kiến thảo luận và đưa ra nhận xét .
Câu hỏi thứ sáu luôn làm tôi phải suy nghĩ là : Sản phẩm học tập mà học sinh phải
hoàn thành trong hoạt động để hình thành kiến thức mới là gì ?
Đây là một câu hỏi khó . Trước khi hình thành kiến thức mới , học sinh phải nắm vững kiến
thức cũ . Từ kiến thức cũ học sinh có thể tiếp thu kiến thức mới . Tránh được những lỗ
hỏng kiến thức mà người học thường hay gặp phải . Trong quá trình học , học sinh phải
làm ra được ( tạo ra được ) Sản Phẩm Học Tập để đánh giá quá trình rèn luyện của học
sinh . Sản phẩm ấy phải thể hiện được trình độ nhận thức của các em . Thể hiện được sự
hiểu biết mà các em tiếp thu được trong quá trình học tập . Sản phẩm ấy phải tiêu biểu và
có chất lượng . Không phải là một sản phẩm hời hợt , nông cạn thiếu hiểu biết . Sản phẩm
ấy phải được tạo ra bằng chính khả năng và năng lực của các em . Đúc kết được quá trình
học tập và rèn luyện trên ghế nhà trường .
Có thể lưu ý đến một số sản phẩm như:
- Câu trả lời
- Sơ đồ tư duy
- Phiếu học tập
- Câu hỏi gợi mở , câu hỏi tư duy
- Liệt kê các nhân vật và sự việc – sự kiện
Có thể lấy ví dụ minh họa : SỌ DỪA / THÁNH GIÓNG / ÔNG MỘT
Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành trong hoạt động để hình thành kiến
thức mới là: sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng; kết quả hoạt động của các nhóm, hoặc từng cá nhân
học sinh; hệ thống hóa kiến thức
- Hiểu được kiểu văn bản thuyết minh về một danh lam thắng cảnh gắn liền với sự kiện lịch sử và
những ngày tháng hào hùng của dân tộc .
- Biết vận dụng những kiến thức và kĩ năng từ bài học chính để tự đọc hiểu văn bản thông tin
tương tự . Học sinh có thể sưu tầm , tìm hiểu các tư liệu lịch sử gắn liền với nhân vật và sự kiện
lịch sử . Có thể kể được một số câu chuyện thú vị , hài hước . Làm cho giờ học thêm sinh động .
Có sức hấp dẫn , lôi cuốn .
(qua câu trả lời, sơ đồ tư duy, khả năng liên hệ thực tế với các văn bản khác..)
Tôi luôn tự hỏi giáo viên cần nhận xét, đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện
hoạt động để hình thành kiến thức mới của học sinh? Khi học sinh đã làm ra Sản Phẩm
Học Tập thì giáo viên phải nhận xét – đánh giá . Nhận xét – đánh giá phải đúng trong từng
trường hợp . Làm sao cho học sinh thấy được cái hay – cái dỡ trong bài làm của mình . Học
sinh thấy được sản phẩm do mình làm ra là có ích lợi và có khả năng vận dụng . Từ đó giúp
8
cho học sinh có hứng thú để tiếp thu cái mới , bài học mới . Hoạt động học tập của học sinh
được thực hiện để hình thành kiến thức mới cho học sinh . Các em sẽ tự tin hơn , vững vàng
hơn trong quá trình lĩnh hội tri thức .
Trình bày phương án đánh giá một cách hợp lí, bao gồm: sản phẩm để đánh giá, phương
pháp đánh giá, công cụ đánh giá (đánh giá cái gì/ đánh giá bằng cách nào/ dùng công cụ nào để
đánh giá); mỗi ý: 30-35 điểm.
Có thể lấy ví dụ minh họa : Dế mèn phiêu lưu ký
- Giáo viên nhận xét, đánh giá về: mức độ tham gia tích cực, chủ động, sáng tạo, hợp tác của học
sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ . Học sinh có hiểu bài không ? Có biết tên quan phụ mẫu
là người vô lương tâm , vô trách nhiệm bỏ mặc cho dân tình khốn khổ . Học sinh có thấy được
hai bức tranh tương phản ? Học sinh có thái độ , tình cảm như thế nào đối với nhân dân ?
- Nhận xét các hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm : Có thể đặt câu hỏi để thảo luận hoặc vẽ tranh
ảnh minh họa . Dùng thang đo để đánh giá: Tuyên dương HS tích cực, có tư duy sáng tạo
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh khi thực hiện hoạt động luyện tập/vận dụng kiến
thức mới trong bài học, học sinh sẽ được sử dụng những thiết bị dạy học/học liệu nào? Đây
là vấn đề cần được quan tâm và sẽ giải quyết . Góp phần năng cao chất lượng giảng dạy ,
năng cao hiệu quả học tập . Học sinh sẽ làm gì và thực hiện như thế nào ? Học sinh làm
cách nào để lĩnh hội kiến thúc mới ? Dưới sự hướng dẫn của giáo viên , học sinh sẽ thực
hiện các bước , các giai đoạn để chiếm lĩnh tri thức . Học sinh sẽ được sử dụng những thiết
bị dạy học / học liệu mà học sinh tự có ( ảnh minh học , chân dung , sách tham khảo , laptop
... )
GV phải tự kiểm tra trong Kế hoạch bài dạy và xác định những thiết bị dạy học / học liệu
HS được sử dụng. Có thể chú ý:
- Văn bản
- Giấy + bút màu
- Mạng Internet
Có thể lấy ví dụ minh họa : Dế mèn phiêu lưu ký
Phương tiện dạy học có thể có sẵn hoặc tự tạo (do giáo viên và học sinh sáng tạo nên) như máy
chiếu, bảng phụ, bảng nhóm, sơ đồ hệ thống hóa kiến thức, tranh ảnh, phiếu bài tập . thiết kế đồ
họa , chân dung , sơ đồ tư duy ...
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh thì học sinh sử dụng thiết bị dạy học / học liệu như
thế nào (đọc/nghe/nhìn/làm) để luyện tập/vận dụng kiến thức mới?
GV nêu một số cách sử dụng các thiết bị
Có thể lưu ý:
- Đọc văn bản
- Vẽ lại một địa điểm nào đó trong quần thể Động Phong Nha , vẽ tranh Cầu Long Biên , vẽ tên
quan Phụ mẫu ...
- Sưu tầm văn bản trên mạng Internet
- Xem các tư liệu lịch sử , xem các thước phim lên quan đến lịch sử .
…
Có thể lấy ví dụ minh họa : CHÚNG TA CÓ THỂ ĐỌC NHANH HƠN / TÓM TẮT Ý
CHÍNH DO NGƯỜI KHÁC TRÌNH BÀY
HS đọc kĩ và xác định yêu cầu bài tập, nghe gv chuyển giao nhiệm vụ, vận dụng trình bày
kết quả vào bảng nhóm, sơ đồ hệ thống, bảng phụ, tranh ảnh, phiếu học tập …
- Nói, viết được bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng
các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ.
9
HS trao đổi về bài tập đã chuẩn bị ở nhà . Có thể thực hành Luyện Nói hay thuyết giảng trình bày
trước lớp .
( bài làm phải được trình bày trên máy tính hoặc đề cương bài nói )…
Để rèn luyện kĩ năng cho học sinh , yêu cầu đầu tiên là sản phẩm học tập . Sản phẩm
học tập mà học sinh phải hoàn thành trong hoạt động luyện tập / vận dụng kiến thức mới là
gì? Sản phẩm học tập phải đa dạng , mang màu sắc cá nhân . Phải thể hiện được tầm nhìn
và vốn hiểu biết của các em . Các em phải vận dụng tri thức và hiểu biết của mình để làm ra
Sản Phẩm Học Tập . Hay nói cách khác Sản Phẩm Học Tập là kết tinh trí tuệ của học sinh .
Các em sẽ có được niềm vui , niềm đam mê trong học tập . Sẽ hứng thú hơn trong giờ học
môn Ngũ Văn .
GV có thể lưu ý đến một số sản phẩm dạng như:
- Câu trả lời của HS – Phiếu nhận xét + đánh giá .
- Liên hệ 02 văn bản khác cũng viết về Nhân vật và Sự kiện lịch sử
- Liên hệ về hình ảnh Cầu Long Biên xưa và nay .
- Liên hệ hình ảnh về thiên nhiên và môi trường qua 02 bài thơ LỜI CỦA CÂY VÀ SANG THU
- Phần trình bày về điểm giống và khác nhau của các văn bản
Có thể lấy ví dụ minh họa : ÔNG MỘT / CỐM VỒNG
Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành là: Kết quả đúng đắn, chính xác của quá
trình luyện tập, vận dụng kiến thức
Thuyết minh được về một danh lam thắng cảnh hay một di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ,
bảng biểu, hình ảnh minh hoạ.
- Nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của sản phẩm trình bày (bằng ngôn ngữ nói); chỉ ra được
những hạn chế (nếu có) của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (bằng ngôn ngữ nói) .
Học sinh có thể tham gia phát biểu ý kiến và nhận xét phần trình bày của bạn . Học sinh có quyền
đưa ra những ý kiến khác nhau . Giáo viên nghe và chốt lại . Nhận xét – đánh giá chung .
Giáo viên cần nhận xét, đánh giá như thế nào về kết quả thực hiện hoạt động luyện
tập/vận dụng kiến thức mới của học sinh? Giáo viên giúp cho học sinh thấy dược khả năng
của mình . Giúp cho học sinh biết được năng lực của mình . Từ đó rèn luyện cho học sinh
những kĩ năng cần thiết ( kĩ năng thảo luận nhóm , kĩ năng giải quyết vấn đề , kĩ năng đọc
hiểu văn bản , kĩ năng phân tích – nhận xét – đánh giá , kĩ năng vẽ tranh ảnh , sơ đồ tu
duy ... ) Sản phẩm học tập mà học sinh phải hoàn thành là: Kết quả đúng đắn, chính xác của
quá trình luyện tập, vận dụng kiến thức . Thuyết minh được về một danh lam thắng cảnh hay một
di tích lịch sử, có sử dụng các sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh minh hoạ . Phát huy được tính tích cực
chủ động củ học sinh .
- Nghe và nhận biết được tính hấp dẫn của sản phẩm trình bày (bằng ngôn ngữ nói); chỉ ra được
những hạn chế (nếu có) của bài thuyết minh về một danh lam thắng cảnh (bằng ngôn ngữ nói) .
Từ đó các em sẽ thấy giờ học Ngữ Văn là một giờ học thú vị và đầy tính sáng tạo . Các em sẽ rút
ra được những lợi ích thiết thực sau giờ học Ngữ Văn . Sẽ có được những bài học bổ ích .
Có thể lấy ví dụ minh họa : CẢM NHẬN VỀ LỄ ĐÓN GIAO THỪA QUÊ TÔI / MÙA
THU VỀ TRÙNG KHÁNH NGHE HẠT DẺ HÁT
- Giáo viên cần nhận xét, đánh giá HS theo mức độ: nhanh, chậm, chính xác, khả năng tư duy,
sáng tạo… của HS qua quá trình vận dụng . Giáo viên đánh giá – nhận xét mức độ sáng tạo của
học sinh . Cũng như Sản Phẩm Học Tập . GV đề nghị cả lớp nhận xét bài thuyết trình của bạn,
tập trung vào tính rõ ràng, mạch lạc và hấp dẫn của nội dung cũng như hình thức trình bày.
10
Qua những vấn đề trên , giáo viên nhận thấy học sinh cần rèn luyện những kỹ năng gì ?
a / Phương pháp học tập tích cực :
Phương pháp học tập tích cực (PPHT tích cực) là một phương pháp học theo hướng phát
huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.
"Tích cực trong học tập " - tích cực được dùng với nghĩa là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với
không hoạt động, thụ động chứ không dùng theo nghĩa trái với tiêu cực. Học tập tích cực hướng
tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào
phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với
dạy theo phương pháp thụ động.
Muốn đổi mới cách học phải đổi mới cách dạy. Cách dạy chỉ đạo cách học, nhưng ngược lại thói
quen học tập của trò cũng ảnh hưởng tới cách dạy của thầy. Chẳng hạn, có trường hợp học sinh
đòi hỏi cách dạy tích cực hoạt động nhưng giáo viên chưa đáp ứng được, hoặc có trường hợp giáo
viên hăng hái áp dụng PPDH tích cực nhưn...
 









Các ý kiến mới nhất