Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Vợ nhặt

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ngọc Hương
Ngày gửi: 13h:38' 20-11-2021
Dung lượng: 29.6 KB
Số lượt tải: 109
Nguồn:
Người gửi: Ngọc Hương
Ngày gửi: 13h:38' 20-11-2021
Dung lượng: 29.6 KB
Số lượt tải: 109
Số lượt thích:
0 người
Đề 1: Cảm nhận về nhân vật Tràng trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân.
Mở bài:
Các bạn tự chọn mở bài trong file TỔNG HỢP NHỮNG MỞ BÀI NÂNG CAO GIÚP CHỊ
Thân bài:
Giới thiệu hiện thực nạn đói
* Các ý cần đạt:
+ Mở đầu truyện là bức tranh ngày đói phản ánh nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu, đâu đâu cũng ngập trong cái đói.
+ Người sống thì “lũ lượt dắt díu, bồng bế, dật dờ lặng lẽ xanh xám như những bóng ma”
+ Người chết “như ngả rạ, không một sáng nào đi làm đồng hoặc đi chợ người ta không thấy ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”
+ Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người, tiếng quạ cứ “gào lên từng hồi thê thiết”
Bước vào thế giới của Vợ nhặt ta sẽ cảm nhận được phần nào hiện thực trần trụi thấm đẫm những đau thương, đó là câu chuyện buồn về số phận con người trong nạn đói năm 1945. Cái đói cũng là một loại giặc nguy hiểm của nước ta khi ấy, cái đói mà Kim Lân nhắc tới hiện hình trong một không gian cụ thể - xóm Ngụ Cư, từ không gian nhỏ bé ấy nhà văn hướng người đọc đến cái đói đeo đẳng cả một dân tộc, ám ảnh trên bóng hình của những người còn sống. Đói khát khiến những đứng trẻ tinh nghịch ngày nào còn chọc ghẹo Tràng trở nên “ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích”, khiến những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đi ngụ cư để tìm kiếm cái ăn chỗ ở trong nghịch cảnh “đội chiếu lũ lượt, bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Mặc dù là những câu văn miêu tả sự sống nhưng lại khiến người đọc nhìn thấy một không gian u tối, ghê rợn. Sự sống và cái chết dường như không còn ranh giới rõ rệt nữa bởi “dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì bóng người đói dật dờ đi lặng lẽ như những bóng ma” và rồi “người chết như ngả rạ, thây nằm còng queo bên đường”. Sự sống là điều đáng quý nhất mà chúng ta có được, là quyền đầu tiên và cơ bản nhất của con người thế nhưng ở đây, việc hai lần so sánh “người” với “bóng ma” đã khắc họa một thực tại buồn tới xót xa, việc đơn giản nhất là tồn tại mà họ còn khó để thực hiện được. Sự khùng khiếp này không chỉ hiện lên thành hình ảnh mà còn bằng âm thanh và mùi vị: “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người”, “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” và trong đêm là “tiếng người kêu lúc to lúc nhỏ”. Xóm ngụ cư chẳng khác gì là một nghĩa địa mà sự chết chóc, thê lương đang bủa vây những sự sống mong manh.
Viết về đề tài người nông dân, nhà văn Kim Lân đã khơi gợi những cái chưa ai khơi gợi, đó là thân phận rẻ rúng như rơm rác của người nông dân nghèo trong xã hội cũ, trước CMT8 năm 1945. và ông đã rất thành công khi khắc hoạ chân dung người dân lao động tuy nghèo khổ, quanh năm chân lấm tay bùn nhưng ở sâu trong họ vẫn luôn mang những phẩm chất cao đẹp. và tràng là một nhân vật như thế.
Luận điểm 1: Ngoại hình và hoàn cảnh của Tràng
Hoàn cảnh: nghèo khổ
+ Tràng sống cùng người mẹ già, là dân ngụ cư – tầng lớp bị coi khinh
+ Tràng làm nghề đẩy xe bò thuê – nghề thấp kém dưới đáy xh.
hình ảnh Tràng xấu xí:
Ngoại hình: xáu xí, thô kệch “hai con mắt nhỏ tí, quai hạm bạnh ra, thân hình vậm vạp, cái lưng to rộng như lưng gấu, cười lúc nào cũng ngửa mặt lên hềnh hệch”
Nếu như trong văn Nam Cao, ta thấy Chí Phèo xuất hiện đầu tác phẩm với tiếng chửi ngoa ngoắt “hắn vừa đi vừa chửi, nó chửi trời, chửi đất, chửi cái đứa nào đẻ ra thân hắn”, thì Kim Lân lại đưa Tràng vào với một số nét khắc hoạ về ngoại hình: “dáng đi ngật ngưỡng”, “hai con mắt nhỏ tí, gà gà đăm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, đôi khi lại, ngửa mặt lên cười hềnh hệch”. Đã vậy Tràng còn có cái tật vừa đi vừa nói, than thở những điều hắn nghĩ. Anh làm nghề đẩy xe bò thuê nuôi mẹ già ở xóm ngụ cư với thân phận bị coi khinh, cuộc sống bấp bênh, chạy ăn từng bữa. Anh sống cùng người mẹ già trong căn nhà “rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”. Đây không chỉ là cuộc sống của riêng gia đình anh mà là của biết bao người dân trôi dạt trong nạn
Mở bài:
Các bạn tự chọn mở bài trong file TỔNG HỢP NHỮNG MỞ BÀI NÂNG CAO GIÚP CHỊ
Thân bài:
Giới thiệu hiện thực nạn đói
* Các ý cần đạt:
+ Mở đầu truyện là bức tranh ngày đói phản ánh nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu, đâu đâu cũng ngập trong cái đói.
+ Người sống thì “lũ lượt dắt díu, bồng bế, dật dờ lặng lẽ xanh xám như những bóng ma”
+ Người chết “như ngả rạ, không một sáng nào đi làm đồng hoặc đi chợ người ta không thấy ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường”
+ Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người, tiếng quạ cứ “gào lên từng hồi thê thiết”
Bước vào thế giới của Vợ nhặt ta sẽ cảm nhận được phần nào hiện thực trần trụi thấm đẫm những đau thương, đó là câu chuyện buồn về số phận con người trong nạn đói năm 1945. Cái đói cũng là một loại giặc nguy hiểm của nước ta khi ấy, cái đói mà Kim Lân nhắc tới hiện hình trong một không gian cụ thể - xóm Ngụ Cư, từ không gian nhỏ bé ấy nhà văn hướng người đọc đến cái đói đeo đẳng cả một dân tộc, ám ảnh trên bóng hình của những người còn sống. Đói khát khiến những đứng trẻ tinh nghịch ngày nào còn chọc ghẹo Tràng trở nên “ủ rũ dưới những xó tường không buồn nhúc nhích”, khiến những gia đình từ vùng Nam Định, Thái Bình đi ngụ cư để tìm kiếm cái ăn chỗ ở trong nghịch cảnh “đội chiếu lũ lượt, bồng bế dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, nằm ngổn ngang khắp lều chợ”. Mặc dù là những câu văn miêu tả sự sống nhưng lại khiến người đọc nhìn thấy một không gian u tối, ghê rợn. Sự sống và cái chết dường như không còn ranh giới rõ rệt nữa bởi “dưới những gốc đa, gốc gạo xù xì bóng người đói dật dờ đi lặng lẽ như những bóng ma” và rồi “người chết như ngả rạ, thây nằm còng queo bên đường”. Sự sống là điều đáng quý nhất mà chúng ta có được, là quyền đầu tiên và cơ bản nhất của con người thế nhưng ở đây, việc hai lần so sánh “người” với “bóng ma” đã khắc họa một thực tại buồn tới xót xa, việc đơn giản nhất là tồn tại mà họ còn khó để thực hiện được. Sự khùng khiếp này không chỉ hiện lên thành hình ảnh mà còn bằng âm thanh và mùi vị: “không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi, mùi gây của xác người”, “tiếng quạ trên mấy cây gạo ngoài bãi chợ cứ gào lên từng hồi thê thiết” và trong đêm là “tiếng người kêu lúc to lúc nhỏ”. Xóm ngụ cư chẳng khác gì là một nghĩa địa mà sự chết chóc, thê lương đang bủa vây những sự sống mong manh.
Viết về đề tài người nông dân, nhà văn Kim Lân đã khơi gợi những cái chưa ai khơi gợi, đó là thân phận rẻ rúng như rơm rác của người nông dân nghèo trong xã hội cũ, trước CMT8 năm 1945. và ông đã rất thành công khi khắc hoạ chân dung người dân lao động tuy nghèo khổ, quanh năm chân lấm tay bùn nhưng ở sâu trong họ vẫn luôn mang những phẩm chất cao đẹp. và tràng là một nhân vật như thế.
Luận điểm 1: Ngoại hình và hoàn cảnh của Tràng
Hoàn cảnh: nghèo khổ
+ Tràng sống cùng người mẹ già, là dân ngụ cư – tầng lớp bị coi khinh
+ Tràng làm nghề đẩy xe bò thuê – nghề thấp kém dưới đáy xh.
hình ảnh Tràng xấu xí:
Ngoại hình: xáu xí, thô kệch “hai con mắt nhỏ tí, quai hạm bạnh ra, thân hình vậm vạp, cái lưng to rộng như lưng gấu, cười lúc nào cũng ngửa mặt lên hềnh hệch”
Nếu như trong văn Nam Cao, ta thấy Chí Phèo xuất hiện đầu tác phẩm với tiếng chửi ngoa ngoắt “hắn vừa đi vừa chửi, nó chửi trời, chửi đất, chửi cái đứa nào đẻ ra thân hắn”, thì Kim Lân lại đưa Tràng vào với một số nét khắc hoạ về ngoại hình: “dáng đi ngật ngưỡng”, “hai con mắt nhỏ tí, gà gà đăm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, đôi khi lại, ngửa mặt lên cười hềnh hệch”. Đã vậy Tràng còn có cái tật vừa đi vừa nói, than thở những điều hắn nghĩ. Anh làm nghề đẩy xe bò thuê nuôi mẹ già ở xóm ngụ cư với thân phận bị coi khinh, cuộc sống bấp bênh, chạy ăn từng bữa. Anh sống cùng người mẹ già trong căn nhà “rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại”. Đây không chỉ là cuộc sống của riêng gia đình anh mà là của biết bao người dân trôi dạt trong nạn
 








Các ý kiến mới nhất