Đề thi học kì 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Ma Thị Bạo
Ngày gửi: 15h:26' 21-04-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 339
Nguồn:
Người gửi: Ma Thị Bạo
Ngày gửi: 15h:26' 21-04-2023
Dung lượng: 26.5 KB
Số lượt tải: 339
Số lượt thích:
0 người
Ngày dạy: 9A:......../ ......../ 2023
9B:......../ ......./ 2023
Tiết 171,172
KIỂM TRA CUỐI KÌ II
I. Mục tiêu.
1. Vế kiến thức.
Qua bài viết nhằm đánh giá học sinh ở những phương diện:
- Biết cách vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào bài viết, đủ ba mức
độ: Nhận biết, thông hiểu,vận dụng.
- Có cảm nhận, suy nghĩ riêng và biết vận dụng một cách linh hoạt phương
pháp nghị luận về một nhân vật văn học trong quá trình làm bài.
2.Về kĩ năng.
- Rèn luyện kĩ năng nhận diện, viết đoạn văn, tạo lập văn bản.
3.Về thái độ.
- Giáo dục ý thức kỉ luật, tự giác khi làm bài.
4. Định hướng phát triển năng lực.
- Năng lực giải quyết vấn đề, tự học, tư duy sáng tạo, trau dồi ngôn ngữ
II. Hình thức kiểm tra: Tự luận
III. Ma trận
Vận dụng
Mức độ
Thông
Nhận biết
Cấp độ
Cấp độ
hiểu
Cộng
thấp
cao
Chủ đề
1. Phần đọc
hiểu
số câu
số điểm
Tỉ lệ %
2. Phần tập
làm văn
( Văn Nghị
luận)
- Nhận
biết
phương
thức biểu
đạt chính
trong
đoạn văn.
1
0,5
5%
Hiểu và
nêu được
tác dụng
của biện
pháp tu từ
được sử
dụng trong
đoạn thơ.
1
1,5
15 %
Viết đoạn
nghị luận
một vấn đề
xã hội.
1
2
20%
3
4
40%
Vận
dụng
kiến thức
đã học
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %
1
0,5đ
5%
1
1,5đ
15%
1
2,0đ
20%
để viết
bài văn
nghị luận
(về nhân
vật văn
học).
1
1
6
6
60%
60%
1
4
6
10
60%
100%
Phần I: Đọc – hiểu văn bản (4 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Có lẽ chỉ những giấc mơ trở về tuổi thơ mới đem lại cho tôi những cảm giác ấm
áp, bình yên đến thế... Trong mơ... Tôi thấy một tôi rơm rớm nước mắt trong buổi
chia tay. Xung quanh, bạn bè tôi đều tâm trạng cả. Đứa khóc thút thít, đứa cười
mắt đỏ hoe, đứa bịn rịn lặng thinh...Tất cả nắm tay tôi thật chặt, ôm tôi thật lâu...
Giấc mơ tuổi học trò du dương như một bản nhạc Ballad - bản nhạc nhẹ nhàng mà
da diết khôn nguôi. Bản nhạc đó mỗi lần kết thúc lại dấy lên trong tôi những bâng
khuâng, tiếc nuối. Nhưng tôi vẫn thích nghe, thích cảm nhận niềm hạnh phúc hân
hoan khi được trở về những năm tháng tuổi thơ, bên mái trường, bên thầy cô, bên
bạn bè và những kỉ niệm thân thương nhất. Dù biết rằng đó chỉ là một giấc mơ.
(Trích “Có những giấc mơ về lại tuổi học trò”- Đặng Tâm)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên? (0,5 đ)
Câu 2: Hãy tìm và cho biết tác dụng của biện pháp tu từ được tác giả sử dụng
trong đoạn văn? (1,5 đ)
Câu 3: Từ nội dung ở phần Đọc - hiểu, em hãy viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của
mình về tình bạn. (2,0 đ)
Phần II: Làm văn (6 điểm)
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa”
của Nguyễn Thành Long.
B.Đáp án – Biểu điểm.
Câu
Đáp án
Phần I: Đọc – Hiểu
Điểm
4
1
- Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
2
Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ
- Liệt kê: Đứa khóc thút thít, đứa cười mắt đỏ hoe, đứa bịn rịn
lặng thinh
- So sánh: Giấc mơ tuổi học trò du dương như một bản nhạc
Ballad
3
* Tác dụng: Làm nổi bật cảm nhận của tác giả về những kỉ
niệm của tuổi thơ và khơi gợi trái tim bạn đọc tình yêu mái
trường, bạn bè, thầy cô
- Yêu cầu về hình thức: Yêu câu viết được đoạn văn
khoảng 10 đến 12 diễn dạt lưu loát, văn phong trong sáng,
không mắc lỗi chính tả, chữ viết đẹp, dùng từ, đặt câu đúng.
Đảm bảo yêu cầu của đoạn văn.
* Về nội dung: HS có thể trình bày theo nhiều cách khác
nhau, nhưng cần đạt những nội dung sau:
0,5
0,5
0,5
0,5
0.25
*Giới thiệu được vấn đề nghị luận:tình bạn
0.5
- Giải thích: Tình bạn là tình cảm trong sáng, cao quý và chân
thành và nó giúp ta vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
0.5
Cuộc sống này sẽ như thế nào nếu thiếu đi tình bạn. Và ta sẽ như
thế nào nếu thiếu đi những người bạn thật sự. Tình bạn sẽ là động
lực, là niềm tin để ta vững vàng bước vào cuộc sống này.
0.75
- Biểu hiện của tình bạn: Tình bạn không phân biệt màu da, dân
tộc, tôn giáo. Tình bạn cũng không phân biệt độ tuổi, sang hèn.
Tình bạn xuất phát từ những gì tinh khôi và trong sáng nhất.
Không vụ lợi, không toan tính là những thứ tốt đẹp của một tình
bạn.
- Vai trò của tình bạn: Bạn bè là người luôn bên cạnh ta những
lúc ta buồn nhất. Bên cạnh ta, bạn chia ngọt sẻ bùi, an ủi động
viên ta những lúc yếu lòng nhất. Trong cuộc sống, không ít lần ta
vấp ngã, ta đau khổ và tuyệt vọng. Bạn đã luôn ở bên cạnh ta và
giúp ta vượt qua những khó khăn. Những người bạn tốt luôn
đồng hành cùng ta trên con đường thành công, giúp nhau cùng
tiến bộ. Và bạn là những người mỉm cười, chia vui cùng ta ở cuối
con đường thành công. Bạn không phải là người thân của ta
nhưng lại đối xử với ta như những người thân thực sự.
- Mở rộng vấn đề: Nhưng trong cuộc sống, có nhiều người bạn
đến với nhau chỉ vì vụ lợi và lợi ích riêng của mình. Họ ngoài
mặt là bạn bè thân thiết nhưng sau lưng lại nói xấu nhau. Đó là
những tình cảm đáng phê phán và lên án. Và những tình bạn đó
không thể lâu bền được. Khi đã là bạn, hãy đối xử với nhau bằng
tình cảm chân thành nhất. Nếu không thể đến với nhau bằng tình
cảm chân thành thì cũng không nên làm hại nhau hay đối xử tệ
bạc với nhau
- Bài học cho bản thân: Khi chúng ta đã gọi là bạn của nhau, hãy
san sẻ mọi chuyện cùng nhau. Ta không nên toan tính thiệt hơn
hay chỉ nghỉ cho lợi ích của mình. Và cho đi không mong mình
sẽ được nhận lại. Thế mới là tình bạn đúng nghĩa. Hãy tha thứ
cho nhau những lỗi lầm và thay vì giận hơn hay dứt bỏ nhau thì
hãy cho nhau cơ hội và giúp nhau cùng thoát khỏi những tháng
ngày đau lòng ấy.
- Khẳng định sự quan trọng của tình bạn trong cuộc sống: Tất cả
chúng ta đều có những tình bạn. Từ bé chúng ta đã có những tình
bạn đẹp cho đến tận ngày nay. Hãy giữ gìn và vun đắp cho những
tình bạn đẹp ấy mãi mãi bền lâu. Khi đã là bạn, hãy dành cho
nhau những tình cảm chân thành nhất, giúp đỡ, chia ngọt sẻ bùi
cùng nhau. Tình bạn sẽ là thứ tình cảm cao quý và vững bền nếu
chúng ta biết giữ gìn và trân trọng nó.
a
b
c
Phần II: Làm văn ( 6 điểm)
Đảm bảo cấu trúc bài văn: Có đủ các phần mở bài, thân bài,
kết bài.
Xác định đúng dạng đề: Viết đúng thể loại văn nghị luận.
Viết bài văn nghị luận có bố cục ba phần
* Yêu cầu về kỹ năng:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Qua các
thao tác lập luận, biết khái quát, đánh giá làm sáng tỏ vấn đề
cần nghị luận.
- Bố cục ba phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát không
mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ và diễn đạt.
* Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể có nhiều cách sắp
xếp ý và diễn đạt khác nhau nhưng cần phải hướng đến các ý
cơ bản sau:
1. Mở bài.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm; cảm nhận chung về nhân vật
anh thanh niên.
2. Thân bài.
- Anh thanh niên là nhân vật trung tâm của truyện, chỉ xuất
hiện trong giây lát nhưng vẫn là điểm sáng nổi bật nhất
trong bức tranh mà tác giả thể hiện.
- Anh thanh niên là một người có lòng yêu đời, yêu nghề
khiến người đọc cảm phục, ngưỡng mộ.
+ Hoàn cảnh sống và làm việc đặc biệt: sống một mình trên
đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng làm bạn với cỏ cây và
mây mù, gian khổ nhất với anh là phải vượt qua nỗi cô
đơn...; công việc đo gió, đo nắng, tính mây, đo chấn động
địa chất, dự vào công việc báo trước thời tiết hằng ngày, phụ
vụ sản xuất, phụ vụ chiến đấu...
+ Anh suy nghĩ đúng đắn và có trách nhiệm trong công việc
6
0,25
0,25
1
0,5
1
(dẫn chứng)
+ Là người thành thạo, có kinh nghiệm trong công việc: kể
về công việc của mình rất ngắn gọn nhưng tỉ mỉ...(dẫn
chứng)
- Là người biết tổ chức, sắp xếp cuộc sống khoa học, ngăn
nắp, chủ động: trồng hoa, nuôi gà, đọc sách...
- Ở người thanh niên ấy còn có những nét tính cách và phẩm
chất rất đáng quí: sự cởi mở, chân thành, rất quí trọng tình
cảm con người, quan tâm đến người khác, khao khát gặp gỡ
mọi người (dẫn chứng)
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: miêu tả nhân vật với nhiều
điểm nhìn...
3. Kết bài.
- Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật
- Suy nghĩ liên hệ bản thân.
d
e
0,5
0,5
0,5
1
Sáng tạo:Ngôn ngữ rõ ràng dễ hiểu, giọng văn phù hợp với
dạng bài viết. Có kết hợp yếu tố miêu tả, miêu tả nội tâm.
Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng
từ, đặt câu.
0,25
Tổng toàn bài
10,0
0,25
9B:......../ ......./ 2023
Tiết 171,172
KIỂM TRA CUỐI KÌ II
I. Mục tiêu.
1. Vế kiến thức.
Qua bài viết nhằm đánh giá học sinh ở những phương diện:
- Biết cách vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào bài viết, đủ ba mức
độ: Nhận biết, thông hiểu,vận dụng.
- Có cảm nhận, suy nghĩ riêng và biết vận dụng một cách linh hoạt phương
pháp nghị luận về một nhân vật văn học trong quá trình làm bài.
2.Về kĩ năng.
- Rèn luyện kĩ năng nhận diện, viết đoạn văn, tạo lập văn bản.
3.Về thái độ.
- Giáo dục ý thức kỉ luật, tự giác khi làm bài.
4. Định hướng phát triển năng lực.
- Năng lực giải quyết vấn đề, tự học, tư duy sáng tạo, trau dồi ngôn ngữ
II. Hình thức kiểm tra: Tự luận
III. Ma trận
Vận dụng
Mức độ
Thông
Nhận biết
Cấp độ
Cấp độ
hiểu
Cộng
thấp
cao
Chủ đề
1. Phần đọc
hiểu
số câu
số điểm
Tỉ lệ %
2. Phần tập
làm văn
( Văn Nghị
luận)
- Nhận
biết
phương
thức biểu
đạt chính
trong
đoạn văn.
1
0,5
5%
Hiểu và
nêu được
tác dụng
của biện
pháp tu từ
được sử
dụng trong
đoạn thơ.
1
1,5
15 %
Viết đoạn
nghị luận
một vấn đề
xã hội.
1
2
20%
3
4
40%
Vận
dụng
kiến thức
đã học
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ %
Tổng số câu
Tổng số điểm
Tỉ lệ %
1
0,5đ
5%
1
1,5đ
15%
1
2,0đ
20%
để viết
bài văn
nghị luận
(về nhân
vật văn
học).
1
1
6
6
60%
60%
1
4
6
10
60%
100%
Phần I: Đọc – hiểu văn bản (4 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:
Có lẽ chỉ những giấc mơ trở về tuổi thơ mới đem lại cho tôi những cảm giác ấm
áp, bình yên đến thế... Trong mơ... Tôi thấy một tôi rơm rớm nước mắt trong buổi
chia tay. Xung quanh, bạn bè tôi đều tâm trạng cả. Đứa khóc thút thít, đứa cười
mắt đỏ hoe, đứa bịn rịn lặng thinh...Tất cả nắm tay tôi thật chặt, ôm tôi thật lâu...
Giấc mơ tuổi học trò du dương như một bản nhạc Ballad - bản nhạc nhẹ nhàng mà
da diết khôn nguôi. Bản nhạc đó mỗi lần kết thúc lại dấy lên trong tôi những bâng
khuâng, tiếc nuối. Nhưng tôi vẫn thích nghe, thích cảm nhận niềm hạnh phúc hân
hoan khi được trở về những năm tháng tuổi thơ, bên mái trường, bên thầy cô, bên
bạn bè và những kỉ niệm thân thương nhất. Dù biết rằng đó chỉ là một giấc mơ.
(Trích “Có những giấc mơ về lại tuổi học trò”- Đặng Tâm)
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên? (0,5 đ)
Câu 2: Hãy tìm và cho biết tác dụng của biện pháp tu từ được tác giả sử dụng
trong đoạn văn? (1,5 đ)
Câu 3: Từ nội dung ở phần Đọc - hiểu, em hãy viết một đoạn văn nêu suy nghĩ của
mình về tình bạn. (2,0 đ)
Phần II: Làm văn (6 điểm)
Cảm nhận của em về nhân vật anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa”
của Nguyễn Thành Long.
B.Đáp án – Biểu điểm.
Câu
Đáp án
Phần I: Đọc – Hiểu
Điểm
4
1
- Đoạn văn sử dụng phương thức biểu đạt chính: biểu cảm
2
Trong đoạn trích trên tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ
- Liệt kê: Đứa khóc thút thít, đứa cười mắt đỏ hoe, đứa bịn rịn
lặng thinh
- So sánh: Giấc mơ tuổi học trò du dương như một bản nhạc
Ballad
3
* Tác dụng: Làm nổi bật cảm nhận của tác giả về những kỉ
niệm của tuổi thơ và khơi gợi trái tim bạn đọc tình yêu mái
trường, bạn bè, thầy cô
- Yêu cầu về hình thức: Yêu câu viết được đoạn văn
khoảng 10 đến 12 diễn dạt lưu loát, văn phong trong sáng,
không mắc lỗi chính tả, chữ viết đẹp, dùng từ, đặt câu đúng.
Đảm bảo yêu cầu của đoạn văn.
* Về nội dung: HS có thể trình bày theo nhiều cách khác
nhau, nhưng cần đạt những nội dung sau:
0,5
0,5
0,5
0,5
0.25
*Giới thiệu được vấn đề nghị luận:tình bạn
0.5
- Giải thích: Tình bạn là tình cảm trong sáng, cao quý và chân
thành và nó giúp ta vượt qua những khó khăn trong cuộc sống.
0.5
Cuộc sống này sẽ như thế nào nếu thiếu đi tình bạn. Và ta sẽ như
thế nào nếu thiếu đi những người bạn thật sự. Tình bạn sẽ là động
lực, là niềm tin để ta vững vàng bước vào cuộc sống này.
0.75
- Biểu hiện của tình bạn: Tình bạn không phân biệt màu da, dân
tộc, tôn giáo. Tình bạn cũng không phân biệt độ tuổi, sang hèn.
Tình bạn xuất phát từ những gì tinh khôi và trong sáng nhất.
Không vụ lợi, không toan tính là những thứ tốt đẹp của một tình
bạn.
- Vai trò của tình bạn: Bạn bè là người luôn bên cạnh ta những
lúc ta buồn nhất. Bên cạnh ta, bạn chia ngọt sẻ bùi, an ủi động
viên ta những lúc yếu lòng nhất. Trong cuộc sống, không ít lần ta
vấp ngã, ta đau khổ và tuyệt vọng. Bạn đã luôn ở bên cạnh ta và
giúp ta vượt qua những khó khăn. Những người bạn tốt luôn
đồng hành cùng ta trên con đường thành công, giúp nhau cùng
tiến bộ. Và bạn là những người mỉm cười, chia vui cùng ta ở cuối
con đường thành công. Bạn không phải là người thân của ta
nhưng lại đối xử với ta như những người thân thực sự.
- Mở rộng vấn đề: Nhưng trong cuộc sống, có nhiều người bạn
đến với nhau chỉ vì vụ lợi và lợi ích riêng của mình. Họ ngoài
mặt là bạn bè thân thiết nhưng sau lưng lại nói xấu nhau. Đó là
những tình cảm đáng phê phán và lên án. Và những tình bạn đó
không thể lâu bền được. Khi đã là bạn, hãy đối xử với nhau bằng
tình cảm chân thành nhất. Nếu không thể đến với nhau bằng tình
cảm chân thành thì cũng không nên làm hại nhau hay đối xử tệ
bạc với nhau
- Bài học cho bản thân: Khi chúng ta đã gọi là bạn của nhau, hãy
san sẻ mọi chuyện cùng nhau. Ta không nên toan tính thiệt hơn
hay chỉ nghỉ cho lợi ích của mình. Và cho đi không mong mình
sẽ được nhận lại. Thế mới là tình bạn đúng nghĩa. Hãy tha thứ
cho nhau những lỗi lầm và thay vì giận hơn hay dứt bỏ nhau thì
hãy cho nhau cơ hội và giúp nhau cùng thoát khỏi những tháng
ngày đau lòng ấy.
- Khẳng định sự quan trọng của tình bạn trong cuộc sống: Tất cả
chúng ta đều có những tình bạn. Từ bé chúng ta đã có những tình
bạn đẹp cho đến tận ngày nay. Hãy giữ gìn và vun đắp cho những
tình bạn đẹp ấy mãi mãi bền lâu. Khi đã là bạn, hãy dành cho
nhau những tình cảm chân thành nhất, giúp đỡ, chia ngọt sẻ bùi
cùng nhau. Tình bạn sẽ là thứ tình cảm cao quý và vững bền nếu
chúng ta biết giữ gìn và trân trọng nó.
a
b
c
Phần II: Làm văn ( 6 điểm)
Đảm bảo cấu trúc bài văn: Có đủ các phần mở bài, thân bài,
kết bài.
Xác định đúng dạng đề: Viết đúng thể loại văn nghị luận.
Viết bài văn nghị luận có bố cục ba phần
* Yêu cầu về kỹ năng:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận văn học. Qua các
thao tác lập luận, biết khái quát, đánh giá làm sáng tỏ vấn đề
cần nghị luận.
- Bố cục ba phần rõ ràng, chặt chẽ, diễn đạt lưu loát không
mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ và diễn đạt.
* Yêu cầu về kiến thức: Học sinh có thể có nhiều cách sắp
xếp ý và diễn đạt khác nhau nhưng cần phải hướng đến các ý
cơ bản sau:
1. Mở bài.
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm; cảm nhận chung về nhân vật
anh thanh niên.
2. Thân bài.
- Anh thanh niên là nhân vật trung tâm của truyện, chỉ xuất
hiện trong giây lát nhưng vẫn là điểm sáng nổi bật nhất
trong bức tranh mà tác giả thể hiện.
- Anh thanh niên là một người có lòng yêu đời, yêu nghề
khiến người đọc cảm phục, ngưỡng mộ.
+ Hoàn cảnh sống và làm việc đặc biệt: sống một mình trên
đỉnh núi cao, quanh năm suốt tháng làm bạn với cỏ cây và
mây mù, gian khổ nhất với anh là phải vượt qua nỗi cô
đơn...; công việc đo gió, đo nắng, tính mây, đo chấn động
địa chất, dự vào công việc báo trước thời tiết hằng ngày, phụ
vụ sản xuất, phụ vụ chiến đấu...
+ Anh suy nghĩ đúng đắn và có trách nhiệm trong công việc
6
0,25
0,25
1
0,5
1
(dẫn chứng)
+ Là người thành thạo, có kinh nghiệm trong công việc: kể
về công việc của mình rất ngắn gọn nhưng tỉ mỉ...(dẫn
chứng)
- Là người biết tổ chức, sắp xếp cuộc sống khoa học, ngăn
nắp, chủ động: trồng hoa, nuôi gà, đọc sách...
- Ở người thanh niên ấy còn có những nét tính cách và phẩm
chất rất đáng quí: sự cởi mở, chân thành, rất quí trọng tình
cảm con người, quan tâm đến người khác, khao khát gặp gỡ
mọi người (dẫn chứng)
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật: miêu tả nhân vật với nhiều
điểm nhìn...
3. Kết bài.
- Khẳng định vẻ đẹp của nhân vật
- Suy nghĩ liên hệ bản thân.
d
e
0,5
0,5
0,5
1
Sáng tạo:Ngôn ngữ rõ ràng dễ hiểu, giọng văn phù hợp với
dạng bài viết. Có kết hợp yếu tố miêu tả, miêu tả nội tâm.
Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo quy tắc chính tả, dùng
từ, đặt câu.
0,25
Tổng toàn bài
10,0
0,25
 









Các ý kiến mới nhất