Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

ngu van 11 Chiều tối

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: chính chủ
Người gửi: Nguyễn Đại Hùng
Ngày gửi: 21h:48' 04-05-2023
Dung lượng: 53.3 KB
Số lượt tải: 31
Số lượt thích: 0 người
Đề bài: Phân tích bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh.
Dàn ý chi tiết:

1. Mở bài:
Hồ Chí Minh là lãnh tụ cách mạng kiệt xuất, người chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam
đi đến thành công. Nhưng nhắc đến Người, ta còn nghĩ đến một là một nhà văn, nhà thơ lớn để
lại một sự nghiệp văn chương khá đồ sộ. Sự nghiệp sáng tác của Hồ Chí Minh rất phong phú và
được chia thành ba mảng: thơ, truyện kí và văn chính luận nhưng thành công nhất là ở mảng thơ
ca. Thơ của Người thường ngắn gọn, súc tích, lập luận sắc sảo, chặt chẽ, bằng chứng giàu
thuyết phục và đa dạng về bút pháp. Trong sự nghiệp sáng tác của Người, ta không thể không
nhắc đến tập thơ “Nhật ký trong tù” mà trong đó “Chiều tối” được đánh giá là một trong những
bài thơ hay nhất trong tập thơ. Bài thơ là sự hòa hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại,
giữa chất thép và chất tình, giữa sự trong sáng, giản dị và sự hàm súc sâu sắc.
Phiên âm:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”
Dịch thơ:
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xây ngô tối,
Xây hết, lò than đã rực hồng.”
2. Thân bài:
a. Tổng:
Mặc dù tình cảnh vô cùng đau khổ nhưng Người vẫn sáng tác được trên 130 bài thơ, ghi
chép trong một cuốn sổ tay và được đặt tên là “Ngục trung nhật kí”. Tập thơ được sáng tác vào
khoảng thời gian từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu năm 1943. Bài thơ “Chiều tối” (Mộ) là bài
thơ thất ngôn tứ tuyệt thứ 31 trong tập thơ. Cảm hứng của bài thơ được gợi lên trên đường
chuyển lao từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào cuối mùa thu năm 1942. Bài thơ “Chiều tối” ngay từ
nhan đề đã thể hiện một quãng thời gian, một đề tài quen thuộc trong thơ ca xưa nay, đó là viết
về thiên nhiên cảnh vật vào lúc chiều tối, hoàng hôn. Đây cũng là khoảng thời gian dễ gây cảm
xúc, tâm trạng cho lòng người, đặc biệt là với những kẻ xa nhà lữ thứ, bởi đó là thời điểm người
ta thường được sum họp đầm ấm bên gia đình.
b. Phân tích:
- Luận điểm 1: Phân tích bài thơ.
Bài thơ được sáng tác khi Bác bị giải từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bức tranh
chiều tối được nhìn qua cặp mắt của người tù tay đeo gông chân vướng xiềng:
“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
1

Cô vân mạn mạn độ thiên không.”
“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.”
Buổi chiều thường là lúc đoàn tụ, nhưng cũng là khi con người ta thấy vô cùng cô đơn nếu
không có một chốn để về. Cánh chim mỏi sau một ngày kiếm ăn cũng đã bay về tổ của mình.
Trên không trung chỉ còn lững lờ một chòm mây. Giữa thiên nhiên bao la hùng vĩ, con người và
cảnh vật đều như dừng lại, chỉ có chòm mây ấy vẫn nhẹ nhàng trôi, càng làm nổi bật lên sự yên
ắng, êm ả của buổi chiều tối nơi rừng núi. Chòm mây ấy cũng giống như Bác, đang trong tình
cảnh tù tội, vẫn phải cô độc bước đi. Chòm mây cô đơn, lặng lẽ, Bác cũng lặng lẽ, cô đơn. Tuy
thế, phải là một người có lòng yêu thiên nhiên, phải có một tâm thái ung dung, bình tĩnh, lạc
quan, vượt lên mọi gông cùm về thể xác để ngắm thiên nhiên, hòa mình với thiên nhiên như thế.
Thân xác mỏi rã rời vì phải đi cả ngày đường vất vả, nhưng Bác vẫn dõi mắt theo cánh chim về
tổ, tầng mây lững lờ trôi lúc chiều về. Tuy chỉ hai câu thơ bảy chữ, nhưng cũng đã khiến cho
người đọc tưởng tượng ra được cảnh chiều muộn nơi rùng núi thật mênh mông, âm u, vắng vẻ,
quạnh quẽ. Đồng thời, cũng nói lên niềm mong ước quay trở về với quê hương, ước mong được
tự do như đám mây kia.
Trong khung cảnh thiên nhiên mênh mông, đượm nét buồn lúc chiều muộn nơi rừng núi,
bỗng xuất hiện con người:
“Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.”
“Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.”
Giữa cảnh buồn của thiên nhiên như trong thơ cổ, cô sơn nữ hiện lên như một điểm sáng,
làm cho cả bức tranh trở nên sinh động, vui tươi hơn. Đó chính là nét cố điển mà hiện đại trong
thơ của Hồ Chí Minh. Bức tranh vừa có người, vừa có hoạt động khỏe khoắn của con người
trong đó. Đó chính là nét đẹp, nét đáng quý của người dân lao động. Cô gái đang miệt mài xay
ngô bên lò than rực hồng để chuẩn bị bữa tối. Ở đây, bản dịch thơ không đảm bảo được nghệ
thuật của bản chữ Hán. Bác đã lặp lại hai chữ “bao túc” ở cuối câu thứ ba và đầu câu thứ tư,
như những vòng xay nối tiếp nhau của cô gái, như sự tuần hoàn của thời gian, trời đã tối, tối
dần. Bức tranh vừa ấm áp bởi cảnh tượng lao động khỏe khoắn của người thôn nữ lao động, vừa
bởi cái ánh hồng của bếp lò. Đó chỉ là một thứ hạnh phúc bình dị, vậy mà Bác vẫn gạt bỏ hết
những đau đớn, mệt mỏi về thân xác để cảm nhận được.
- Luận điểm 2: Nét hiện đại và cổ điển trong bài thơ.
1. Phân tích, chứng minh
1.1. Hai câu đầu: Phân tích hai câu thơ đầu làm nổi bật các yếu tố cổ điển và hiện đại.
a. Cổ điển:
- Thể thơ tứ tuyệt, lời ít ý nhiều, để lại nhiều dư ba.
2

- Đề tài: Bài thơ là bức tranh thiên nhiên và bức tranh cuộc sống của con người lúc chiều tối.
Đây là đề tài quen thuộc của thơ ca cổ (dẫn chứng).
- Hình ảnh thơ: tác phẩm sử dụng những thi liệu quen thuộc trong thơ ca cổ với ý nghĩa tượng
trưng tạo nên tính chất hàm súc cho bài thơ. Nghệ thuật lấy điểm vẽ diện, lấy động tả tĩnh:
+ Hình ảnh cánh chim: biểu tượng cho không gian lẫn thời gian, là tín hiệu cho buổi hoàng hôn.
+ Hình ảnh chòm mây: biểu tượng cho không gian cao rộng của bầu trời.
- Nghệ thuật đối lập:
- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình: chỉ bằng vài nét chấm phá mà ghi lại linh hồn của tạo vật và gợi
được nỗi niềm của nhà thơ.
- Có sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên. Hình ảnh con người hiện lên vớp phong thái nhàn
tản, ung dung.
b. Hiện đại:
- Hình ảnh cánh chim không mất hút vào bầu trời vô tận như thơ cổ mà tìm về tổ ấm.
- Hình ảnh thơ cánh chim, chòm mây là những hình ảnh của hiện thực.
+ Cánh chim mỏi: chữ “mỏi” thể hiện sự cảm nhận rất sâu cái bên trong của sự vật. Đó là cánh
chim bay theo cái nhịp điệu bất tận của cuộc sống. Đó là cánh chim của tự do, của ước mơ sum
họp. Đấy cũng là niềm khao khát của người tù.
+ Chòm mây cô đơn trôi chậm chạp giữa bầu trời là hình ảnh ẩn dụ về người tù đang bị giải đi
trên đường xa vạn dặm chưa biết đâu là điểm dừng.
1.2. Hai câu sau: Phân tích hai câu thơ đầu làm nổi bật các yếu tố cổ điển và hiện đại.
a.Cổ điển:
- Lấy sáng tả tối. Không dùng từ tối nào mà vẫn giúp người đọc cảm nhận được trời đã tối hẳn.
b. Hiện đại
- Hình ảnh thơ giản dị mà chứa đựng được những tình cảm rất đỗi đời thường:
+ Hình ảnh người con gái xóm núi xay ngô tối là hình ảnh của con người lao động, hiện lên sinh
động, khỏe khoắn, tích cực, là trung tâm của bức tranh Chiều tối.
+ Sự rực hồng của bếp lửa, hình ảnh này đã xua tan đi bóng tối, giá rét, mang đến cho người tù
niềm vui của sự sống, của hơi ấm.
- Hình ảnh con người trong bức tranh thiên nhiên không phải là một ẩn sĩ mà là một chiến sĩ, có
phong thái của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, luôn làm chủ hoàn cảnh.
- Sự vận động của tứ thơ: đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ nỗi buồn đến niềm vui thể hiện được
tinh thần lạc quan, ý chí kiên cường của Bác.
2. Bình luận
- Bài thơ “Chiều tối” vừa mang màu sắc cổ điển của thơ ca phương Đông vừa mang những yếu
tố rất hiện đại cả về nội dung và nghệ thuật.
- Lí giải:
+ Lí giải tính chất cổ điển: Bác vốn xuất thân từ một gia đình Nho học. Ông ngoại và phụ thân
của Bác vốn là những bậc túc nho nổi tiếng đương thời nên người con ưu tú của gia đình, con
người Việt Nam đẹp nhất ấy đã tiếp thu, kết tinh được vẻ đẹp truyền thống của nền văn hóa cổ
phương Đông. Với tâm hồn phong phú, trí tuệ anh minh, lại giỏi chữ Hán và am hiểu sâu sắc
3

thơ Đường, thơ Người vì thế đậm đà chất cổ điển. Điều đó được thể hiện: giàu cảm hứng với
thiên nhiên, bút pháp chấm phá như ghi lấy linh hồn của tạo vật, ngôn ngữ thơ cô đọng, hàm
súc ý tại ngôn ngoại.
+ Lí giải về tính chất hiện đại: Bên cạnh đó, đã sống và làm việc, tiếp xúc với văn minh phương
Tây, hồn thơ ấy rất sáng tạo và hiện đại, biểu hiện ở: tính chất dân chủ của đề tài, hình tượng
thơ luôn vận động khỏe khoắn hướng về ánh sáng và tương lai, chủ thể trữ tình hòa hợp với
thiên nhiên nhưng không là ẩn sỹ mà là chiến sỹ.
Điều đáng nói là chất cổ điển và hiện đại luôn hài hòa trong thơ của Hồ Chí Minh mà bài thơ
Chiều tối là một sáng tác tiêu biểu.
- Bài thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách người tù Hồ Chí Minh:
+ Yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống.
+ Đồng cảm, chia sẻ với muôn loài, đặc biệt là nỗi vất vả của những con người lao động. Đó là
tinh thần nhân đạo và cúng là tình cảm quốc tế vô sản trong sáng.
+ Tâm hồn lạc quan, giàu nghị lực.
 Đó là một tâm hồn nghệ sĩ mà rất chiến sĩ.
c. Hợp:
Bài thơ “Chiều tối” là một bài thơ tiêu biểu cho nét đẹp cổ điển và hiện đại trong thơ Hồ Chí
Minh. Bài thơ chỉ đơn giản là tả về phong cảnh thiên nhiên và con người nơi xóm núi khi chiều
muộn, đồng thời, cũng ẩn chứa trong đó nỗi niềm ước mong được tự do, được sum họp của
Người. Đồng thời, ở Bác, chúng ta vẫn luôn thấy ánh lên một vẻ đẹp của tinh thần quên mình,
của một trái tim giàu lòng yêu thương luôn biết quan tâm đến những điều bình dị nhất.
3. Kết bài:
“Chiều tối” là bài thơ hay vừa có tính chất cổ điển vừa hiện đại. Hình ảnh thơ đậm nét tượng
trưng ước lệ, cảm hứng tự nhiên phong phú thể hiện sự hòa hợp giữa con người với tự nhiên.
Hình ảnh con người hiện lên trong bài thơ không phải là là ẩn sĩ ẩn dật lánh đời mà chan chứa
tình đời, tình người. Bài thơ là bức tranh cảnh vật con người nơi miền sơn cước vào lúc chiều
tối và thông qua bức tranh thiên nhiên ta cảm nhận được một tình yêu thiên nhiên, tạo vật, tình
yêu cuộc sống cũng như ý chí và nghị lực phi thường, vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách của người
tù chiến sĩ Hồ Chí Minh. Chất trữ tình của thơ ca cổ điển kết hợp với chất thép của một nhà thơ
chiến sĩ đã tạo nên sức hấp dẫn riêng bài thơ.

2
 
Gửi ý kiến