Giáo dục địa phương 7 đăk nông

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Y Thuer
Ngày gửi: 10h:48' 31-03-2024
Dung lượng: 20.0 KB
Số lượt tải: 66
Nguồn:
Người gửi: Y Thuer
Ngày gửi: 10h:48' 31-03-2024
Dung lượng: 20.0 KB
Số lượt tải: 66
Số lượt thích:
0 người
Chủ đề 2
ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVIII
Bài 1. QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN Ở VÙNG ĐẤT ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVIII
Yêu cầu cần đạt
- Mô tả được sự hình thành và phát triển của Đắk Nông từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XV.
- Trình bày được ý nghĩa của việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đăk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIIL
- Vận dụng được kiến thức lịch sử để phân tích và đánh giá về tâm quan trọng của việc xác lập và bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ ở Đắk Nông hiện nay.
Khát động
Em hãy đọc thông tin trong bảng "Em có biết" và nêu những hiểu biết của mình về lịch sử hình thành
tỉnh Đắk Nông.
EM CÓ BIET?
Đất Nông là vùng đất cổ, cách đây hàng trăm năm đã có các tộc người sống định cư bảng kinh tế nông
nghiệp. Họ cư trù trên những gò cao, thêm sông suối, ven hồ nước, vùng đất đỏ bazan. Bằng những
chiếc rìu, bôn đã tự chế tác, con người ở đây có thể chặt cây, xới đất, làm nghề nông. Họ đã tạo ra cho
mình những đồ trang sức bằng đã làm ra đó gồm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, phục vụ sinh
hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng và đáp ứng các nhu cầu xã hội khác.
Khám phá
1. Khái quát về vùng đất Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Vùng đất Đắk Nông từ xa xưa vốn là vùng
đất tự trị, là địa bàn sinh sống của
các dân tộc thiểu số tại chỗ. Trước thế kỉ XI, vùng đất này thường là đối tượng tranh chấp của hai nước
Champa và Chân Lạp, tuy không bị nước nào chiếm đóng, nhưng bị thiệt hại nhiều vì chiến tranh. Dân
chúng trong vùng rất khô cực vì thường bị cướp bóc lương thực của cải và bị bắt làm phu khuân vác.
Đến giữa thế kỉ XII, vùng Cao Nguyên (bao gồm cả Đăk Nông) bị vua Champa là Harivarman chiếm đông
và cai trị, người dân vùng này phải thần phục và triều công cho Champa từ đó. Năm 1471, vua Lê Thánh
Tông phản kích cuộc tấn công của vua Champa là Trà Toàn, quân Đại Việt giành thắng lợi trước Champa,
đồng thời giải phòng vùng đất Tây Nguyên (gồm cả Đăk Nông) khỏi sự thống trị của Champa. Tiếp đó,
triều đình nhà Lê thực hiện cái tổ hành chính và đặt quan lại tại những vùng đất này.
Có thể nhận ra chính sách của Bối Tử Hân đối với các dân tộc ở Tây Nguyên bấy giờ chỉ giới hạn trong
phạm vi thuế khoà và thương mại, việc phân chia địa giới hành chính với một vài chức quan cũng chỉ
hưởng đến mục tiêu này. Trên thực vì viều đình Đại Việt không can thiếp vào cơ cấu xã hội của cộng
đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và những bộ lạc nơi đây vẫn sống với văn hoá, tín ngưỡng,
phong tục và kết cầu xã hội ngàn đời của mình. Bút Tả Hán đã thực thì một chính sách cai tri (...) tạo ra
một giai đoạn yên à hiếm hoi cho vùng đất này
Em hãy nêu những nét chính về lịch sử phát triển của vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ X đến
thế kỉ XV.
2. Vùng đất Đắk Nông trong các thế kỉ XVI- XVIII Năm 1540, dưới triều vua Lê Trang Tông (trị vì từ 1533
đến 1548), Bùi Tá Hán (7 - 1568) được cử vào trấn thủ thánh Quảng Nam, cai quản toàn bộ vùng đất Tây
Nguyên (gồm cả Đắk Nông). Từ đó, ông từng bước mở rộng tầm ảnh hưởng của triều đình lên những
vùng đất Tây Nguyên tiếp giáp với các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Những chính sách về hành chính và
thuế vụ mà Bùi Tá Hán áp dụng cho Tây Nguyên đã đặt nền móng quan trọng cho việc xác lập chủ quyền
đối với vùng đất này về sau. Người dân các bộ tộc ở Đắk Nông thời bấy giờ rất tôn kính đối với Bùi Tá
Hán và giữ mối quan hệ hòa thuận với Đại Việt.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng mở cuộc Nam tiến, làm Tổng trấn xử Thuận Hoà, bắt đầu xây dựng chính
quyền Đàng Trong. Thời gian đầu, chính quyền Đàng Trong chưa quan tâm nhiều đến vùng đất Tây
Nguyên. Nhìn chung, họ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách của Bùi Tá Hán trước đây, thiết lập định
ước chư hầu với các dân tộc thiểu số tại chỗ, trưng thu thuế khoá, cổng vật. Năm 1570, tổng trấn Thuận
Hoá Nguyễn Hoàng trở thành tông trần Quảng Nam và toàn bộ vùng Tây Nguyên nằm dưới sự quản lí
của Chùa Đàng Trong, xứ sở này bước vào thời kì hoàn toàn yên tĩnh kéo dài khoảng 200 năm.
Sang thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765), tình hình vùng Tây Nguyên có hai thái cực: vùng phía
Tây Tây Nguyên tương đối ổn định, giữ mối quan hệ cống nạp cho chính quyền Đàng Trong. Còn vùng
phía Đông Tây Nguyên khả loạn lạc do dân cư đói kém, thường kéo xuông đồng bằng vùng Quảng Ngãi
cướp phá, sử cũ gọi là loạn Đã Vách. Mùa xuân năm 1760, Vô Vương bổ nhiệm ông Nguyễn Cư Trinh làm
Tuân phủ Quảng Ngãi, cai quản Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Năm 1770, chính quyền lại cử Khâm sai
Trần Ngọc Chu tiếp tục quản lí vùng đất quan trọng này.
Năm 1771, ở làng Tây Sơn trên Cao Nguyên An Khê thuộc Bình Định có Nguyễn Nhạc cùng với hai em là
Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa, lấy vùng An Khê làm căn cứ địa. Trong giai đoạn tiến
công lật đổ chính quyền chúa Nguyễn cũng như chúa Trịnh, nghĩa quân Tây Sơn đã nhận được sự ủng hộ
to lớn của các dân tộc Tây Nguyễn. Về sau, dù triều Tây Sơn bị sụp đổ trước thế lực của Nguyễn Ảnh
nhưng mỏi giao hảo giữa đồng bào Tây Nguyễn với lực lượng nghĩa quân Tây Sơn vẫn rất tốt đẹp,
Sau khi Gia Long thiết lập vương triều Nguyễn năm 1802, vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói
riêng nhân được sự quan tâm nhiều hơn của triều đình Huế. Vua Gia Long cho lập Trấn Man và cử quan
lại cai quản, nổi bật là Nguyễn Công Trừ và Nguyễn Khắc Tuân với nhiều chính sách quân lí khá hiệu quả.
Từ đây, vùng Tây Nguyên trở thành một bộ phận quan trọng của lãnh thổ nước Việt Nam dưới thời vua
Gia Long
- Em hãy nêu những nét chính về vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII.
3. Ý nghĩa việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông
Thứ nhất, việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông đưới thời hậu Lê và thời kì chúa Nguyễn sau đó
là vương triều Nguyễn đã phân định ranh giới lãnh thổ rõ ràng giữa vùng đất Tây Nguyên với để chế
Khmer, vương quốc Champa và các vương quốc trên lãnh thổ Lào lúc bấy giờ.
Thứ hai, việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông đã góp phần tăng cường tính đặc trưng đa dân
tộc - đa văn hoá của vùng. Kèm theo đó là sự tiếp xúc giữa người Kính và người dân tộc thiểu số tại chỗ
ngày càng trở nên sâu sắc hơn, dần dần tạo nên một cộng đồng cư dân ổn định, có chung mục đích xây
dựng và bảo vệ vùng đất này.
Thứ ba, việc xác lập chủ quyền của vùng Đắk Nông tạo cơ sở pháp lí để khẳng định chủ quyền lãnh thổ
của nước Việt Nam đối với vùng Tây Nguyên trong quan hệ với các quốc gia láng giềng trong các giai
đoạn sau thế kỉ XVIII.
Tháng 2 năm 1804 (Giáp Tý), vua Gia Long cho đết quốc hiệu nước ta là Việt Nam thay cho quốc hiệu Đại Việt
• Việc xác lập chủ quyền của chính quyền Đại Việt đối với vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XVIII có ý nghĩa gì?
Luyện tập
1) Dựa vào các ngủ liệu trong bài, hãy lập bảng niên biên thắng kẻ bả xu kiện
lịch sử quan trọng về chủ quyền của vùng Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng.
2) Hây là giải vì sao các chúa Nguyễn trong buổi đầu xây dựng chính quyền ở Đàng Trong lại không dành
nhiều sự quan tâm đến vùng Tây Nguyễn cũng như Đắk Nông?
Viết một đoạn văn ngắn (10-15 dòng) trình bày cảm nhận của em về quá trình xác lập chủ quyền của
người Việt trên vùng đất Tây Nguyên và Đắk Nông dưới thời các chúa Nguyễn.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài 2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HOÁ Ở ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVIII
Yêu cầu cần đạt
- Nêu được một số nét cơ bản về đời sống chính trị, kinh tế tại Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII.
Trình bày được những đặc trưng cơ bản về đời sống văn hoá tại
- Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII - Trân trọng và đề xuất được các biện pháp để bảo tồn, phát huy
những thành tựu trong rong công cuộc : xây dựng và phát t triển quê hương của người dân tỉnh Đắk
Nông
Khởi động
Em hãy kể tên một số ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn hiện nay. Theo em, đầu
là ngành kinh tế quan trọng nhất của tỉnh?
Khám phá
1. Chính trị
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII, vùng đất Tây Nguyên (bao gồm tỉnh Đắk Nông ngày nay), trên thực tế chưa
có hệ thống chính trị, chưa đặt quan chức, chưa có quân đội, lãnh thổ của các tộc người vẫn được vận
hành theo luật tục của buôn, làng độc lập mà chưa có hình luật.
Trong suốt các thế kỉ XII-XV, tuỳ vào nhu cầu thực tiễn của họ mà những bộ
lạc ấy có lúc theo thuần phục nước Đại Việt, có lúc không chịu thuẩn phục. Đến thời chúa Nguyễn, các bộ
lạc đã triều công chúa Nguyễn từ khi họ Nguyễn mới lập nghiệp ở miền Thuận Quảng. Về sau các chúa
Nguyễn vẫn buộc họ phải triều công và mỗi lần triều công chúa Nguyễn lại thường cấp rất hậu để mong
giữ các bộ lạc làm phên giậu cho mình trước sức mạnh của nước Cao Miên (Campu chia) từ phía Tây.
- Em hãy cho biết, chính quyền các chúa Nguyễn đã đưa ra chính sách gì đổi với các bộ lạc ở Tây
Nguyên?
"Nơi chia cách. Nơi biên giới Phôn giận của đứn
25
"Luật tục là tập tục, phong tục tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành
viên trung cộng đồng chấp nhận, tuâ thou mong quan hệ với nhau.
2. Kinh tế
2.1. Nông nghiệp
Đắk Nông là vùng đất có những điều kiện thuận lợi cho con người cu trú và phát triển từ rất sớm. Trong
những thẻ kì đầu Công nguyên và các giai đoạn tương ứng với thời kì phong kiến Đại Việt, những hoạt
động kinh tế của cư dân Đắk Nông đã có sự tiến bộ nhất định Sự tiến n bộ về các hoạt động kinh tế ở
Đắk Nông thể hiện rà nhất qua những vị dụ về người M'Nông tại đây.
Trước đây, người M'Nông sống chủ yếu nhờ vào săn bắt chim, thú và hái lượm rau củ có sẵn trong tự
nhiên. Cuộc sống gần bỏ gần gũi với thiên nhiên hình thánh cho đồng bào nhiều kinh nghiệm và kĩ năng
săn bắt.
Người M'Nông vốn có tập quân canh tác nương rẫy lâu đời. Mỗi năm đồng báo đều chọn các khu rừng
già đất tốt để phát rẫy mới trồng lúa và hoa màu. Cách trồng chủ yếu là dùng gây chọc lỗ tra hạt. Nông
cụ lao động gồm đạo đùng để phát rây, riu đề đồn cây, cuốc để xới đất, ống nứa đựng hạt giống, gió, gửi
đựng thóc... Đến mùa thu hoạch cư dân chủ yếu dùng tay và lùa được tuốt ngay tại rây.
Cây lương thực chính của đồng bảo là lúa tẻ, trồng đan xen trên rây là ngô, khoai, sân, rau cả, bầu bí,...
Những cư dân sinh sống quanh thung lũng, sông suối thương trồng lúa nước. Người dân dùng trâu
không phải để cây mà để giẫm nát những khoảnh ruộng nước trước khi trồng cấy vụ tiếp theo. Ngày nay,
đồng bào cư dân Đắk Nông còn làm rây chuyên canh cây cà phê, tiêu, điều, ca cao, cao su...
Nghề chăn nuôi gia súc của người M'Nông khá phát triển. Mỗi buồn làng đều có đồng có để chân thả
trâu bò, dê. Các vật nuôi được dùng để trao đổi hàng hóa như chiêng, chẻ, đồ trang sức hoặc để hiến tế
thần linh trong các lễ hội. Sừng trâu được. dùng làm đồ trang sức, đựng rượu, đựng nước uống hoặc làm
tù và,....
2.2. Thủ công nghiệp và thương nghiệp
Cùng với sự phát triển về nông nghiệp, các nghề thủ công cũng được duy trì như nghề gồm, đan lát tre mây, dệt sợi, thêu nhuộm hoa văn trên vải tạo nên những trang phục độc đáo và bắt mắt, đặc biệt là
nghề thổ cẩm của cư dân Đắk Nông đã đạt đến trình độ tỉnh xảo.
Ví dụ, nghề thủ công truyền thống lâu đời của người M'Nông là dệt vải thổ cẩm. Người phụ nữ dân tộc
M'Nông tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để kéo chi, dệt vài làm ra áo, khô, chăn cho gia đình.
Nếu người phụ nữ M'Nông chuyên đột vài thì đàn ông M'Nông lại giỏi đan lát với các sản phẩm như gũi,
nong, nia, gió... Bên cạnh đó, đàn ông M'Nông còn giỏi đèo thuyền độc mộc phục vụ việc đi lại, chuyên
chờ, đánh bắt cá trên sông.
Quả bầu khô là vật dụng đặc dụng của đồng bào M'Nông, nó có thể được xử dụng để đi lấy nước, dùng
làm bát in cơm, đựng gạo, làm nhạc cụ....
Nghề thủ công chưa tách khỏi nông nghiệp, việc trao đổi hàng hoá giữa các cư dân đã có phần phát triển
nhưng còn chưa chuyên nghiệp, chủ yếu diễn ra theo phương thức vật đối vật hoặc dùng các loại đồ vật
phố biển và có giá trị cao lúc đó như ché, trầu làm vật ngàng giá Ngoài hình thức trao đổi giữa các làng,
sau mùa thu hoạch, cư dân Đắk Nông thường tổ chức những thương đoàn đem sản phẩm địa phương
xuống các tỉnh đồng bằng hay sang mước láng giếng Campuchia theo những con đường nhất định,
chuyên chở bằng voi hoặc thổ bằng gùi để bán. Hình thức trao đổi tuy đa dạng nhưng số lượng hàng hóa
còn ít, phạm vi chỉ đông khung trong một số khu vực nhất định.
Theo em, trong ba ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đâu là ngành kinh tế chủ đạo
của người dân Đắk Nông giai đoạn từ thế kỉ X đến XVIII?
3. Xã hội
Đơn vị xã hội cơ bản của cư dân Đắk Nông là “đơn vị xã hội cổ truyền". Các dân tộc trên địa bàn được
chia thành nhiều đơn vị cơ sở như người M'Nông. Mạ gọi là bọn, người Ê Đê gọi là buôn, người Kinh gọi
là thôn, khỏi,... Những gia đình có nhiều thế hệ vẫn được gọi là "gia đình lớn", "đại gia đình"... và đây
chính là tế bào của các đơn vị xã hội.
Trong quan hệ gia đình ở các dân tộc. Hình 23 Nhà Đà nhà ở truyền thống của người M'Nông (Ảnh Tông
cục Du lịch thiểu số Đắk Nông vẫn tồn tại chế độ thị tộc mẫu hệ, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng
trong gia đình và xã hội, có quyền quyết định mọi việc.
Mỗi buồn (bon), làng của của đồng bào dân tộc thiểu số có khoảng 60 nóc nhà, có đầy đủ khu vực sản
xuất và sinh hoạt riêng. Đứng đầu các bon là trưởng bọn, giả láng hoặc trường bản, có nhiệm vụ điều
hành các công việc chung. Các nhà dãi của người M'Nông là nơi mà đại gia đình mẫu hệ cũng chung
sống, các gia đình trong bon có mối quan hệ gần gũi, gắn bó khăng khít với nhau.
Những phong tục tập quân, nét đẹp truyền thống của đồng bào nơi đây được lưu giữ và truyền từ đời
này sang đời khác.
* Em hãy nêu các tên gọi về tổ chức đơn vị cơ sở trong đời sống xã hội của người dân Đắk Nông
4. Văn hoá và tín ngưỡng, tôn giáo
4.1. Văn hoá
Cư dân Đắk Nông có đời sống tính thần khá phong phú về mọi mặt như nghệ thuật, kiến trúc nhà ở,
trang trí nhà cửa, đồ gốm, nhà mở, âm nhạc,... Các phong tục tập quân của cư dân Đắk Nông vẫn còn
mang dấu ấn của thời nguyên thủy, trong đó có những tập quán tốt như việc tương trợ nhau trong sản
xuất, sinh hoạt. Tất cả những sinh hoạt hội hè, đình đám, ma chay, cưới xin, dựng nhà, đời nhà... đều
được cả làng góp công, góp của, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Cư dân còn lưu giữ một kho tàng
luật tục đồ sộ, nội dung đề cập đến các môi quan hệ xã hội. Trong đó, xã hội của cư dân M'Nông là một
điển hình, xã hội của họ vận hành theo các luật tục từ đời này sang đới khác và các tập tục lạc hậu vẫn
còn tồn tại cho đến ngày nay.
Người M'Nông thích mang nhiều đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, hoa tai, nhân bằng
đồng hay băng bạc. Riêng nữ giới còn thích quàng lên có những chuỗi hạt cướm ngũ sắc. Những chiếc
vòng đông là cái mà hầu như người M'Nông nào cũng có. Đó là kỉ vật của các lễ hiến sinh, hay. lễ kết
nghĩa anh em, bạn bè. Nó còn tượng trưng cho sự giao ước với thần linh thay lời hứa hôn của đôi trai gái
theo tập quán có truyền của dân tộc.
Người M'Nông có tập quán cưa bằng một số răng cửa đổi với thanh niên nam, nữ đang trưởng thành và
xâu thủng lỗ tai để mang đồ trang sức. Hoa tai thường là một khúc ngà voi, hay một khúc tre vàng óng
hay một thời gỗ quý. Dái tai của một số lão ông, lão bà có khi xệ xuống chạm vai và như thể được coi là
đẹp, là người sang trọng. Cùng với tập tục cà răng, căng tại là tập quán nhuộm răng đen và ăn trầu giống
như người Kinh...
Đồng bào M'Nông ở chủ yếu là nhà sàn và nhà trệt. Nhà trệt của họ khá đặc biệt bởi chân mái thường
buông xuống gần đất, nên cửa ra vào có cấu trúc vòm như tổ tò vò trông rất bắt mắt. Trang phục của
đồng bào M'Nông rất phong phú. Đàn ông mặc áo chui đầu, đóng khố, đàn bà mặc váy quần buông dài
trên mất cá chân. Màu sắc của trang phục thường có màu chàm thẩm, được trang trí bằng các hoa văn
trông rất bắt mắt. Đi kèm với trang phục là vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn bằng bạc, hoặc bằng
đồng .
4.2. Tín ngưỡng, tôn giáo
Dân cư Đắk Nông đa phần là cư dân nông nghiệp lùa rẫy, trong đời sống tin ngưỡng của họ có hệ thống
nghi lễ, các lễ hội đa dạng, đặc sắc, trong đó nổi bật là tin ngưỡng đa thân và tín ngưỡng sùng hải tự
nhiên. Trong quá trình phát triển, bên cạnh tín ngưỡng truyền thông của các dân tộc thiểu số tại chỗ còn
có thêm sự du nhập của các tôn giáo mới như Phật giáo, Tin lành, Công giáo,... ở các giai đoạn sau này.
Em hãy trình bày đặc điểm của đời sống văn hoá, tín ngưỡng và tôn giáo của người M'Nông ở Đắk Nông.
5. Văn học, nghệ thuật
Cộng đồng các dân tộc ở Đắk Nông còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá và độc
đáo. Trong đó, người M'Nông là chủ nhân của nhiều loại hình văn học, nghệ thuật dân gian đặc sắc mà
tiêu biểu là sử thi. Nhiều nghệ nhân người M'Nông có những đóng góp rất lớn trong việc sưu tầm, dịch
thuật các tác phẩm văn học dân gian như trường ca Or N'drong. Trong văn học dân gian truyền miệng,
đồng bảo M'Nông có kho tàng đồ sộ vẻ truyện cổ, ca dao, tục ngữ, lời nói vẫn Ngoài các nhạc cụ bằng
tre, nứa, người M'Nông còn có cồng chiêng, đàn đã, đán môi.
* Em hãy kể tên các thành tựu tiêu biểu về văn học, nghệ thuật của người M'Nông ở Đắk Nông.
Luyện tập
1) Trình bày một số nét khái quát về đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của các cư dân ở Đắk Nông từ
thế kỉ X đến thế kỉ XIII.
2) Dựa vào những thông tin về đời sống kinh tế, văn hoá của người M'Nông, em hãy tìm hiểu và trình
bày những nét chính về đời sống kinh tế, văn hoá của một số dân tộc như Ê Đê, Mạ...
Sưu tầm một số hình ảnh, câu chuyện hoặc hiện vật về đời sống kinh tế, văn hoá của người dân Đắk
Nông để viết bài giới thiệu (5-10 dòng) về nguồn gốc, ý nghĩa của hình ảnh, câu chuyện hoặc hiện vật đó.
ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THẾ KỈ XVIII
Bài 1. QUÁ TRÌNH XÁC LẬP CHỦ QUYỀN Ở VÙNG ĐẤT ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVIII
Yêu cầu cần đạt
- Mô tả được sự hình thành và phát triển của Đắk Nông từ thế kỉ thứ X đến thế kỉ XV.
- Trình bày được ý nghĩa của việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đăk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIIL
- Vận dụng được kiến thức lịch sử để phân tích và đánh giá về tâm quan trọng của việc xác lập và bảo vệ
chủ quyền lãnh thổ ở Đắk Nông hiện nay.
Khát động
Em hãy đọc thông tin trong bảng "Em có biết" và nêu những hiểu biết của mình về lịch sử hình thành
tỉnh Đắk Nông.
EM CÓ BIET?
Đất Nông là vùng đất cổ, cách đây hàng trăm năm đã có các tộc người sống định cư bảng kinh tế nông
nghiệp. Họ cư trù trên những gò cao, thêm sông suối, ven hồ nước, vùng đất đỏ bazan. Bằng những
chiếc rìu, bôn đã tự chế tác, con người ở đây có thể chặt cây, xới đất, làm nghề nông. Họ đã tạo ra cho
mình những đồ trang sức bằng đã làm ra đó gồm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, phục vụ sinh
hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của cộng đồng và đáp ứng các nhu cầu xã hội khác.
Khám phá
1. Khái quát về vùng đất Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XV Vùng đất Đắk Nông từ xa xưa vốn là vùng
đất tự trị, là địa bàn sinh sống của
các dân tộc thiểu số tại chỗ. Trước thế kỉ XI, vùng đất này thường là đối tượng tranh chấp của hai nước
Champa và Chân Lạp, tuy không bị nước nào chiếm đóng, nhưng bị thiệt hại nhiều vì chiến tranh. Dân
chúng trong vùng rất khô cực vì thường bị cướp bóc lương thực của cải và bị bắt làm phu khuân vác.
Đến giữa thế kỉ XII, vùng Cao Nguyên (bao gồm cả Đăk Nông) bị vua Champa là Harivarman chiếm đông
và cai trị, người dân vùng này phải thần phục và triều công cho Champa từ đó. Năm 1471, vua Lê Thánh
Tông phản kích cuộc tấn công của vua Champa là Trà Toàn, quân Đại Việt giành thắng lợi trước Champa,
đồng thời giải phòng vùng đất Tây Nguyên (gồm cả Đăk Nông) khỏi sự thống trị của Champa. Tiếp đó,
triều đình nhà Lê thực hiện cái tổ hành chính và đặt quan lại tại những vùng đất này.
Có thể nhận ra chính sách của Bối Tử Hân đối với các dân tộc ở Tây Nguyên bấy giờ chỉ giới hạn trong
phạm vi thuế khoà và thương mại, việc phân chia địa giới hành chính với một vài chức quan cũng chỉ
hưởng đến mục tiêu này. Trên thực vì viều đình Đại Việt không can thiếp vào cơ cấu xã hội của cộng
đồng các dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên và những bộ lạc nơi đây vẫn sống với văn hoá, tín ngưỡng,
phong tục và kết cầu xã hội ngàn đời của mình. Bút Tả Hán đã thực thì một chính sách cai tri (...) tạo ra
một giai đoạn yên à hiếm hoi cho vùng đất này
Em hãy nêu những nét chính về lịch sử phát triển của vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ X đến
thế kỉ XV.
2. Vùng đất Đắk Nông trong các thế kỉ XVI- XVIII Năm 1540, dưới triều vua Lê Trang Tông (trị vì từ 1533
đến 1548), Bùi Tá Hán (7 - 1568) được cử vào trấn thủ thánh Quảng Nam, cai quản toàn bộ vùng đất Tây
Nguyên (gồm cả Đắk Nông). Từ đó, ông từng bước mở rộng tầm ảnh hưởng của triều đình lên những
vùng đất Tây Nguyên tiếp giáp với các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi. Những chính sách về hành chính và
thuế vụ mà Bùi Tá Hán áp dụng cho Tây Nguyên đã đặt nền móng quan trọng cho việc xác lập chủ quyền
đối với vùng đất này về sau. Người dân các bộ tộc ở Đắk Nông thời bấy giờ rất tôn kính đối với Bùi Tá
Hán và giữ mối quan hệ hòa thuận với Đại Việt.
Năm 1558, Nguyễn Hoàng mở cuộc Nam tiến, làm Tổng trấn xử Thuận Hoà, bắt đầu xây dựng chính
quyền Đàng Trong. Thời gian đầu, chính quyền Đàng Trong chưa quan tâm nhiều đến vùng đất Tây
Nguyên. Nhìn chung, họ vẫn tiếp tục thực hiện các chính sách của Bùi Tá Hán trước đây, thiết lập định
ước chư hầu với các dân tộc thiểu số tại chỗ, trưng thu thuế khoá, cổng vật. Năm 1570, tổng trấn Thuận
Hoá Nguyễn Hoàng trở thành tông trần Quảng Nam và toàn bộ vùng Tây Nguyên nằm dưới sự quản lí
của Chùa Đàng Trong, xứ sở này bước vào thời kì hoàn toàn yên tĩnh kéo dài khoảng 200 năm.
Sang thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 -1765), tình hình vùng Tây Nguyên có hai thái cực: vùng phía
Tây Tây Nguyên tương đối ổn định, giữ mối quan hệ cống nạp cho chính quyền Đàng Trong. Còn vùng
phía Đông Tây Nguyên khả loạn lạc do dân cư đói kém, thường kéo xuông đồng bằng vùng Quảng Ngãi
cướp phá, sử cũ gọi là loạn Đã Vách. Mùa xuân năm 1760, Vô Vương bổ nhiệm ông Nguyễn Cư Trinh làm
Tuân phủ Quảng Ngãi, cai quản Nam Trung bộ và Tây Nguyên. Năm 1770, chính quyền lại cử Khâm sai
Trần Ngọc Chu tiếp tục quản lí vùng đất quan trọng này.
Năm 1771, ở làng Tây Sơn trên Cao Nguyên An Khê thuộc Bình Định có Nguyễn Nhạc cùng với hai em là
Nguyễn Lữ và Nguyễn Huệ dựng cờ khởi nghĩa, lấy vùng An Khê làm căn cứ địa. Trong giai đoạn tiến
công lật đổ chính quyền chúa Nguyễn cũng như chúa Trịnh, nghĩa quân Tây Sơn đã nhận được sự ủng hộ
to lớn của các dân tộc Tây Nguyễn. Về sau, dù triều Tây Sơn bị sụp đổ trước thế lực của Nguyễn Ảnh
nhưng mỏi giao hảo giữa đồng bào Tây Nguyễn với lực lượng nghĩa quân Tây Sơn vẫn rất tốt đẹp,
Sau khi Gia Long thiết lập vương triều Nguyễn năm 1802, vùng Tây Nguyên nói chung và Đắk Nông nói
riêng nhân được sự quan tâm nhiều hơn của triều đình Huế. Vua Gia Long cho lập Trấn Man và cử quan
lại cai quản, nổi bật là Nguyễn Công Trừ và Nguyễn Khắc Tuân với nhiều chính sách quân lí khá hiệu quả.
Từ đây, vùng Tây Nguyên trở thành một bộ phận quan trọng của lãnh thổ nước Việt Nam dưới thời vua
Gia Long
- Em hãy nêu những nét chính về vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII.
3. Ý nghĩa việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông
Thứ nhất, việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông đưới thời hậu Lê và thời kì chúa Nguyễn sau đó
là vương triều Nguyễn đã phân định ranh giới lãnh thổ rõ ràng giữa vùng đất Tây Nguyên với để chế
Khmer, vương quốc Champa và các vương quốc trên lãnh thổ Lào lúc bấy giờ.
Thứ hai, việc xác lập chủ quyền của vùng đất Đắk Nông đã góp phần tăng cường tính đặc trưng đa dân
tộc - đa văn hoá của vùng. Kèm theo đó là sự tiếp xúc giữa người Kính và người dân tộc thiểu số tại chỗ
ngày càng trở nên sâu sắc hơn, dần dần tạo nên một cộng đồng cư dân ổn định, có chung mục đích xây
dựng và bảo vệ vùng đất này.
Thứ ba, việc xác lập chủ quyền của vùng Đắk Nông tạo cơ sở pháp lí để khẳng định chủ quyền lãnh thổ
của nước Việt Nam đối với vùng Tây Nguyên trong quan hệ với các quốc gia láng giềng trong các giai
đoạn sau thế kỉ XVIII.
Tháng 2 năm 1804 (Giáp Tý), vua Gia Long cho đết quốc hiệu nước ta là Việt Nam thay cho quốc hiệu Đại Việt
• Việc xác lập chủ quyền của chính quyền Đại Việt đối với vùng đất Đắk Nông trong giai đoạn từ thế kỉ XV
đến thế kỉ XVIII có ý nghĩa gì?
Luyện tập
1) Dựa vào các ngủ liệu trong bài, hãy lập bảng niên biên thắng kẻ bả xu kiện
lịch sử quan trọng về chủ quyền của vùng Tây Nguyên nói chung và Đăk Nông nói riêng.
2) Hây là giải vì sao các chúa Nguyễn trong buổi đầu xây dựng chính quyền ở Đàng Trong lại không dành
nhiều sự quan tâm đến vùng Tây Nguyễn cũng như Đắk Nông?
Viết một đoạn văn ngắn (10-15 dòng) trình bày cảm nhận của em về quá trình xác lập chủ quyền của
người Việt trên vùng đất Tây Nguyên và Đắk Nông dưới thời các chúa Nguyễn.
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài 2. TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ, KINH TẾ, VĂN HOÁ Ở ĐẮK NÔNG TỪ THẾ KỈ X ĐẾN THỂ KỈ XVIII
Yêu cầu cần đạt
- Nêu được một số nét cơ bản về đời sống chính trị, kinh tế tại Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII.
Trình bày được những đặc trưng cơ bản về đời sống văn hoá tại
- Đắk Nông từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII - Trân trọng và đề xuất được các biện pháp để bảo tồn, phát huy
những thành tựu trong rong công cuộc : xây dựng và phát t triển quê hương của người dân tỉnh Đắk
Nông
Khởi động
Em hãy kể tên một số ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh Đắk Nông trong giai đoạn hiện nay. Theo em, đầu
là ngành kinh tế quan trọng nhất của tỉnh?
Khám phá
1. Chính trị
Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII, vùng đất Tây Nguyên (bao gồm tỉnh Đắk Nông ngày nay), trên thực tế chưa
có hệ thống chính trị, chưa đặt quan chức, chưa có quân đội, lãnh thổ của các tộc người vẫn được vận
hành theo luật tục của buôn, làng độc lập mà chưa có hình luật.
Trong suốt các thế kỉ XII-XV, tuỳ vào nhu cầu thực tiễn của họ mà những bộ
lạc ấy có lúc theo thuần phục nước Đại Việt, có lúc không chịu thuẩn phục. Đến thời chúa Nguyễn, các bộ
lạc đã triều công chúa Nguyễn từ khi họ Nguyễn mới lập nghiệp ở miền Thuận Quảng. Về sau các chúa
Nguyễn vẫn buộc họ phải triều công và mỗi lần triều công chúa Nguyễn lại thường cấp rất hậu để mong
giữ các bộ lạc làm phên giậu cho mình trước sức mạnh của nước Cao Miên (Campu chia) từ phía Tây.
- Em hãy cho biết, chính quyền các chúa Nguyễn đã đưa ra chính sách gì đổi với các bộ lạc ở Tây
Nguyên?
"Nơi chia cách. Nơi biên giới Phôn giận của đứn
25
"Luật tục là tập tục, phong tục tập quán của một cộng đồng, được hình thành tự phát và được các thành
viên trung cộng đồng chấp nhận, tuâ thou mong quan hệ với nhau.
2. Kinh tế
2.1. Nông nghiệp
Đắk Nông là vùng đất có những điều kiện thuận lợi cho con người cu trú và phát triển từ rất sớm. Trong
những thẻ kì đầu Công nguyên và các giai đoạn tương ứng với thời kì phong kiến Đại Việt, những hoạt
động kinh tế của cư dân Đắk Nông đã có sự tiến bộ nhất định Sự tiến n bộ về các hoạt động kinh tế ở
Đắk Nông thể hiện rà nhất qua những vị dụ về người M'Nông tại đây.
Trước đây, người M'Nông sống chủ yếu nhờ vào săn bắt chim, thú và hái lượm rau củ có sẵn trong tự
nhiên. Cuộc sống gần bỏ gần gũi với thiên nhiên hình thánh cho đồng bào nhiều kinh nghiệm và kĩ năng
săn bắt.
Người M'Nông vốn có tập quân canh tác nương rẫy lâu đời. Mỗi năm đồng báo đều chọn các khu rừng
già đất tốt để phát rẫy mới trồng lúa và hoa màu. Cách trồng chủ yếu là dùng gây chọc lỗ tra hạt. Nông
cụ lao động gồm đạo đùng để phát rây, riu đề đồn cây, cuốc để xới đất, ống nứa đựng hạt giống, gió, gửi
đựng thóc... Đến mùa thu hoạch cư dân chủ yếu dùng tay và lùa được tuốt ngay tại rây.
Cây lương thực chính của đồng bảo là lúa tẻ, trồng đan xen trên rây là ngô, khoai, sân, rau cả, bầu bí,...
Những cư dân sinh sống quanh thung lũng, sông suối thương trồng lúa nước. Người dân dùng trâu
không phải để cây mà để giẫm nát những khoảnh ruộng nước trước khi trồng cấy vụ tiếp theo. Ngày nay,
đồng bào cư dân Đắk Nông còn làm rây chuyên canh cây cà phê, tiêu, điều, ca cao, cao su...
Nghề chăn nuôi gia súc của người M'Nông khá phát triển. Mỗi buồn làng đều có đồng có để chân thả
trâu bò, dê. Các vật nuôi được dùng để trao đổi hàng hóa như chiêng, chẻ, đồ trang sức hoặc để hiến tế
thần linh trong các lễ hội. Sừng trâu được. dùng làm đồ trang sức, đựng rượu, đựng nước uống hoặc làm
tù và,....
2.2. Thủ công nghiệp và thương nghiệp
Cùng với sự phát triển về nông nghiệp, các nghề thủ công cũng được duy trì như nghề gồm, đan lát tre mây, dệt sợi, thêu nhuộm hoa văn trên vải tạo nên những trang phục độc đáo và bắt mắt, đặc biệt là
nghề thổ cẩm của cư dân Đắk Nông đã đạt đến trình độ tỉnh xảo.
Ví dụ, nghề thủ công truyền thống lâu đời của người M'Nông là dệt vải thổ cẩm. Người phụ nữ dân tộc
M'Nông tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để kéo chi, dệt vài làm ra áo, khô, chăn cho gia đình.
Nếu người phụ nữ M'Nông chuyên đột vài thì đàn ông M'Nông lại giỏi đan lát với các sản phẩm như gũi,
nong, nia, gió... Bên cạnh đó, đàn ông M'Nông còn giỏi đèo thuyền độc mộc phục vụ việc đi lại, chuyên
chờ, đánh bắt cá trên sông.
Quả bầu khô là vật dụng đặc dụng của đồng bào M'Nông, nó có thể được xử dụng để đi lấy nước, dùng
làm bát in cơm, đựng gạo, làm nhạc cụ....
Nghề thủ công chưa tách khỏi nông nghiệp, việc trao đổi hàng hoá giữa các cư dân đã có phần phát triển
nhưng còn chưa chuyên nghiệp, chủ yếu diễn ra theo phương thức vật đối vật hoặc dùng các loại đồ vật
phố biển và có giá trị cao lúc đó như ché, trầu làm vật ngàng giá Ngoài hình thức trao đổi giữa các làng,
sau mùa thu hoạch, cư dân Đắk Nông thường tổ chức những thương đoàn đem sản phẩm địa phương
xuống các tỉnh đồng bằng hay sang mước láng giếng Campuchia theo những con đường nhất định,
chuyên chở bằng voi hoặc thổ bằng gùi để bán. Hình thức trao đổi tuy đa dạng nhưng số lượng hàng hóa
còn ít, phạm vi chỉ đông khung trong một số khu vực nhất định.
Theo em, trong ba ngành nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp, đâu là ngành kinh tế chủ đạo
của người dân Đắk Nông giai đoạn từ thế kỉ X đến XVIII?
3. Xã hội
Đơn vị xã hội cơ bản của cư dân Đắk Nông là “đơn vị xã hội cổ truyền". Các dân tộc trên địa bàn được
chia thành nhiều đơn vị cơ sở như người M'Nông. Mạ gọi là bọn, người Ê Đê gọi là buôn, người Kinh gọi
là thôn, khỏi,... Những gia đình có nhiều thế hệ vẫn được gọi là "gia đình lớn", "đại gia đình"... và đây
chính là tế bào của các đơn vị xã hội.
Trong quan hệ gia đình ở các dân tộc. Hình 23 Nhà Đà nhà ở truyền thống của người M'Nông (Ảnh Tông
cục Du lịch thiểu số Đắk Nông vẫn tồn tại chế độ thị tộc mẫu hệ, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng
trong gia đình và xã hội, có quyền quyết định mọi việc.
Mỗi buồn (bon), làng của của đồng bào dân tộc thiểu số có khoảng 60 nóc nhà, có đầy đủ khu vực sản
xuất và sinh hoạt riêng. Đứng đầu các bon là trưởng bọn, giả láng hoặc trường bản, có nhiệm vụ điều
hành các công việc chung. Các nhà dãi của người M'Nông là nơi mà đại gia đình mẫu hệ cũng chung
sống, các gia đình trong bon có mối quan hệ gần gũi, gắn bó khăng khít với nhau.
Những phong tục tập quân, nét đẹp truyền thống của đồng bào nơi đây được lưu giữ và truyền từ đời
này sang đời khác.
* Em hãy nêu các tên gọi về tổ chức đơn vị cơ sở trong đời sống xã hội của người dân Đắk Nông
4. Văn hoá và tín ngưỡng, tôn giáo
4.1. Văn hoá
Cư dân Đắk Nông có đời sống tính thần khá phong phú về mọi mặt như nghệ thuật, kiến trúc nhà ở,
trang trí nhà cửa, đồ gốm, nhà mở, âm nhạc,... Các phong tục tập quân của cư dân Đắk Nông vẫn còn
mang dấu ấn của thời nguyên thủy, trong đó có những tập quán tốt như việc tương trợ nhau trong sản
xuất, sinh hoạt. Tất cả những sinh hoạt hội hè, đình đám, ma chay, cưới xin, dựng nhà, đời nhà... đều
được cả làng góp công, góp của, cùng nhau chia sẻ niềm vui, nỗi buồn. Cư dân còn lưu giữ một kho tàng
luật tục đồ sộ, nội dung đề cập đến các môi quan hệ xã hội. Trong đó, xã hội của cư dân M'Nông là một
điển hình, xã hội của họ vận hành theo các luật tục từ đời này sang đới khác và các tập tục lạc hậu vẫn
còn tồn tại cho đến ngày nay.
Người M'Nông thích mang nhiều đồ trang sức như vòng cổ, vòng tay, vòng chân, hoa tai, nhân bằng
đồng hay băng bạc. Riêng nữ giới còn thích quàng lên có những chuỗi hạt cướm ngũ sắc. Những chiếc
vòng đông là cái mà hầu như người M'Nông nào cũng có. Đó là kỉ vật của các lễ hiến sinh, hay. lễ kết
nghĩa anh em, bạn bè. Nó còn tượng trưng cho sự giao ước với thần linh thay lời hứa hôn của đôi trai gái
theo tập quán có truyền của dân tộc.
Người M'Nông có tập quán cưa bằng một số răng cửa đổi với thanh niên nam, nữ đang trưởng thành và
xâu thủng lỗ tai để mang đồ trang sức. Hoa tai thường là một khúc ngà voi, hay một khúc tre vàng óng
hay một thời gỗ quý. Dái tai của một số lão ông, lão bà có khi xệ xuống chạm vai và như thể được coi là
đẹp, là người sang trọng. Cùng với tập tục cà răng, căng tại là tập quán nhuộm răng đen và ăn trầu giống
như người Kinh...
Đồng bào M'Nông ở chủ yếu là nhà sàn và nhà trệt. Nhà trệt của họ khá đặc biệt bởi chân mái thường
buông xuống gần đất, nên cửa ra vào có cấu trúc vòm như tổ tò vò trông rất bắt mắt. Trang phục của
đồng bào M'Nông rất phong phú. Đàn ông mặc áo chui đầu, đóng khố, đàn bà mặc váy quần buông dài
trên mất cá chân. Màu sắc của trang phục thường có màu chàm thẩm, được trang trí bằng các hoa văn
trông rất bắt mắt. Đi kèm với trang phục là vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, nhẫn bằng bạc, hoặc bằng
đồng .
4.2. Tín ngưỡng, tôn giáo
Dân cư Đắk Nông đa phần là cư dân nông nghiệp lùa rẫy, trong đời sống tin ngưỡng của họ có hệ thống
nghi lễ, các lễ hội đa dạng, đặc sắc, trong đó nổi bật là tin ngưỡng đa thân và tín ngưỡng sùng hải tự
nhiên. Trong quá trình phát triển, bên cạnh tín ngưỡng truyền thông của các dân tộc thiểu số tại chỗ còn
có thêm sự du nhập của các tôn giáo mới như Phật giáo, Tin lành, Công giáo,... ở các giai đoạn sau này.
Em hãy trình bày đặc điểm của đời sống văn hoá, tín ngưỡng và tôn giáo của người M'Nông ở Đắk Nông.
5. Văn học, nghệ thuật
Cộng đồng các dân tộc ở Đắk Nông còn lưu giữ nhiều di sản văn hoá vật thể và phi vật thể quý giá và độc
đáo. Trong đó, người M'Nông là chủ nhân của nhiều loại hình văn học, nghệ thuật dân gian đặc sắc mà
tiêu biểu là sử thi. Nhiều nghệ nhân người M'Nông có những đóng góp rất lớn trong việc sưu tầm, dịch
thuật các tác phẩm văn học dân gian như trường ca Or N'drong. Trong văn học dân gian truyền miệng,
đồng bảo M'Nông có kho tàng đồ sộ vẻ truyện cổ, ca dao, tục ngữ, lời nói vẫn Ngoài các nhạc cụ bằng
tre, nứa, người M'Nông còn có cồng chiêng, đàn đã, đán môi.
* Em hãy kể tên các thành tựu tiêu biểu về văn học, nghệ thuật của người M'Nông ở Đắk Nông.
Luyện tập
1) Trình bày một số nét khái quát về đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá của các cư dân ở Đắk Nông từ
thế kỉ X đến thế kỉ XIII.
2) Dựa vào những thông tin về đời sống kinh tế, văn hoá của người M'Nông, em hãy tìm hiểu và trình
bày những nét chính về đời sống kinh tế, văn hoá của một số dân tộc như Ê Đê, Mạ...
Sưu tầm một số hình ảnh, câu chuyện hoặc hiện vật về đời sống kinh tế, văn hoá của người dân Đắk
Nông để viết bài giới thiệu (5-10 dòng) về nguồn gốc, ý nghĩa của hình ảnh, câu chuyện hoặc hiện vật đó.
 








Các ý kiến mới nhất