Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Huệ
Ngày gửi: 03h:36' 17-05-2024
Dung lượng: 20.5 KB
Số lượt tải: 89
Số lượt thích: 0 người
ĐỀ . Cảm nhận về bài Viếng lăng Bác của Viễn Phương
I. Mở bài
Cách 1 : Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ vĩ đại, người cha già muôn vàn kính
yêu của dân tộc Việt Nam. Người ra đi để lại niềm tiếc thương vô hạn cho toàn
thể nhân dân. Để rồi 7 năm sau - tháng 4 năm 1976, nhà thơ Viễn Phương bồi
hồi thương nhớ Người và sáng tác lên bài thơ “Viếng lăng Bác”. Bài thơ thể
hiện niềm kính yêu, sự xót thương và lòng biết ơn sâu sắc của tác giả nói riêng,
của toàn thể đồng bào Việt nói chung với vị lãnh tụ của dân tộc.
Cách 2 : Trong các bài thơ viết về Bác Hồ, Viếng lăng Bác của Viễn
Phương là một bài thơ đặc sắc, gây cho em nhiều xúc động nhất. Bài thơ được
viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất
đất nước. Bao trùm lên toàn bài thơ là niềm thương cảm vô hạn, lòng kính yêu
và biết ơn sâu sắc của nhà thơ đối với Bác Hồ vĩ đại.
Cách 3 : Bác Hồ-Người là nguồn cảm hứng bất tận trong thơ ca Việt Nam.
Nếu “Sáng tháng năm” của Tố Hữu là tình cảm tha thiết, sôi nổi của nhà thơ
với Bác khi ở chiến khu, hay “Đêm nay Bác không ngủ” của nhà thơ Minh Huệ
là niềm xúc động của Bác trước tình thương bao la của nguồn sáng dân tộc với
mọi người thì “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương lại là bài ca chân thành,
cảm động của nhà thơ đối với người. Và có lẽ đây chính là một trong những bài
hay nhất viết về Người.
II. Thân bài
1.Khái quát chung
Bài thơ được viết vào tháng 4 năm 1976, một năm sau ngày giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. Bài thơ được in trong tập thơ “Như mây mùa
xuân” (1978). Bố cục bài thơ có 4 phần, tương ứng với bốn khổ thơ. Mạch vận
động của cảm xúc trong bài theo trình tự của một cuộc viếng thăm.
2.Phân tích, cảm nhận
Luận điểm 1: Cảm xúc của nhà thơ khi đến lăng Bác (Khổ 1)
Mở đầu bài thơ, người đọc cảm nhận được niềm xúc động và tự hào của nhà thơ
khi được đến thăm lăng Bác sau 7 năm kể từ ngày Người ra đi:
“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng”
- Câu thơ mở đầu như một lời thông báo ngắn gọn, lời lẽ giản dị nhưng chứa
đựng trong nó biết bao điều sâu xa, Nhà thơ nói mình ở miền Nam, ở tuyến đầu
của Tổ quốc, ở nơi máu đổ suốt mấy chục năm trời. Như vậy, không đơn giản là
chuyên đi thăm công trình kiến trúc, không chỉ chiêm ngưỡng trước di hài một

vĩ nhân mà đó là cây tìm về cội, lá tìm về cành, máu chảy về tim, sông trở về
nguồn. Đó là cuộc trở về để báo công với Bác, để được Bác ôm vào lòng và
ngợi khen.
- Viễn Phương xưng hô “con -Bác” gợi cảm giác gần gũi thân thương, gợi mối
quan hệ gắn bó như cha con ruột thịt. Nhà thơ trong đó giống như một người
con xa nhà, lâu ngày mới có dịp trở về thăm hỏi người cha già kính yêu. Đồng
thời, động từ “thăm” được sử dụng như cách nói giảm nói tránh cho sự ra đi của
Bác để nén lại bớt cảm xúc mất mát đau thương chưa thể nguôi ngoai của cả
dân tộc.
- Câu thơ không có một dụng công nghệ thuật nào nhưng lại vô cùng gợi cảm,
dồn nén biết bao cảm xúc. Cách xưng hô và cách dùng từ của Viễn Phương giúp
cho người đọc cảm nhận được tình cảm xúc động, nhớ thương của một người
con đối với cha. Đó không chỉ là tình cảm riêng của nhà thơ mà còn là tình cảm
chung của dân tộc Việt Nam. Thế hệ này tiếp nối thế hệ khác song tất cả đều có
chung một tình cảm như thế với Bác Hồ kính yêu.
- Đến lăng Bác, hình ảnh đầu tiên mà tác giả quan sát được, cảm nhận được, và
có ấn tượng đậm nét là hình ảnh hàng tre. Khi xây dựng lăng Bác, các nhà thiết
kế đã đưa về từ mọi miền đất nước các loài cây, loài hoa, tiêu biểu cho mọi
miền quê hương đất nước để trồng ở lăng Bác bởi Bác là một tâm hồn rộng mở
trước thiên nhiên và Bác cũng là biểu tượng cho tinh hoa, chođất nước, cho dân
tộc Việt Nam. Và ai đã từng đến lăng Bác đều có thể nhận thấy hình ảnh đầu
tiên về cảnh vật hai bên lăng là những hàng tre đằng ngà bát ngát.
- Nhà thơ Viễn Phương cũng vậy! Hình ảnh “hàng tre bát ngát” ẩn hiện trong
làn sương sớm mờ ảo trên đường đến thăm Bác chính là hình ảnh tả thực mang
dáng hình quê hương đất nước thân yêu, bình dị. Nó cũng là biểu tượng cho con
người Việt Nam kiên cường bất khuất, vượt qua “bão táp mưa sa” muôn vàn
gian khổ để thống nhất đất nước theo di ngôn của Người, rồi trở về nghiêng
mình kính cẩn trước anh linh của Người.
- Những hình ảnh gợi tả gợi cảm kết hợp với nhau đã tạo nên một trường liên
tưởng độc đáo, thú vị. Lăng Bác hiện lên dưới ngòi bút nhà thơ như một làng
quê yên bình.=> Chỉ một khổ thơ ngắn thôi nhưng cũng đủ để thể hiện những
cảm xúc chân thành, thiêng liêng của nhà thơ và cũng là của nhân dân đối với
Bác kính yêu.
Luận điểm 2: Cảm xúc của nhà thơ khi đứng trước lăng Bác (Khổ 2)
- Tác giả bước theo dòng người chầm chậm vào lăng, tâm hồn trào dâng niềm
thành kính, biết ơn và ngưỡng mộ sâu sắc:
“Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một Mặt Trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

- Đến đây, nhà thơ tiếp tục sáng tạo những hình ảnh thơ vô cùng độc đáo. Hình
ảnh “mặt trời đi qua trên lăng” là hình ảnh thực. Đó là mặt trời thiên tạo, là
hành tinh quan trọng nhất của vũ trụ, nó gợi ra sự kì vĩ, sự bất tử, vĩnh hằng.
Mặt trời là nguồn cội của sự sống, ánh sáng.
- Hình ảnh “mặt trời trong lăng” là một ẩn dụ đầy sáng tạo, độc đáo – đó là
hình ảnh của Bác Hồ. Giống như “mặt trời”, Bác Hồ cũng là nguồn ánh sáng,
nguồn sức mạnh.
- “Mặt trời” Bác Hồ soi đường dẫn lối cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân
tộc, giành độc lập tự do, thống nhất đất nước. Bác đã cùng nhân dân vượt qua
trăm ngàn gian khổ, hi sinh để đi tới chiến thắng quanh vinh, trọn vẹn.
- “Mặt trời” – Bác Hồ tỏa hơi ấm tình thương bao la trong lòng mỗi con người
Việt Nam. Nhà thơ Tố Hữu đã so sánh Bác như: “Quả tim lớn lọc trăm dòng
máu nhỏ”. Cái nghĩa, cái nhân lớn lao của Bác đã tác động mạnh mẽ, sâu xa tới
mỗi số phận con người.
Liên hệ=>Thật ra so sánh Bác Hồ với mặt trời đã được các nhà thơ sử dụng từ
rất lâu:
Người rực rỡ một mặt trời cách mạng
Mà đế quốc là loài dơi hốt hoảng
Đêm tàn bay chập chạng dưới chân người.
(Tố Hữu – “Sáng tháng năm”)
- Nhưng cái so sánh ngầm Bác Hồ nằm trong lăng rất đỏ trong cái nhìn chiêm
ngưỡng hàng ngày của mặt trời tự nhiên là một sáng tạo độc đáo và mới mẻ của
Viễn Phương. Cách ví đó một mặt ca ngợi sự vĩ đại, công lao trời biển của
Người đối với các thế hệ con người Việt Nam. Mặt khác bộc lộ rõ niềm tự hào
của dân tộc Việt Nam khi có Bác Hồ - có được mặt trời của cách mạng soi
đường chỉ lối cũng như ánh sáng của mặt trời thiên nhiên.
- Từ “ngày ngày” khẳng định quy luật thời gian bất biến của tự nhiên lẫn con
người, diễn tả hiện thực dòng người nối dài vô tận, lặng lẽ trang nghiêm mỗi
ngày tiến vào lăng Bác để bày tỏ tình cảm với người cha già muôn vàn kính
yêu. Họ là đại diện cho người Việt Nam từ ba miền Bắc Trung Nam, từ 54 dân
tộc anh em trên khắp mọi miền Tổ Quốc.
- Họ kết thành hình ảnh ẩn dụ “tràng hoa” biểu tượng cho những gì tinh túy,
đẹp đẽ nhất của đất nước và con người Việt Nam kính dâng lên Bác.
- Ngoài ra, tác giả cũng sáng tạo hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa
xuân” diễn tả bảy mươi chín năm tuổi đời của Bác là bảy mươi chín mùa xuân
tươi đẹp, tràn đầy ý nghĩa. 79 mùa xuân ấy đã hy sinh để đem đến cho dân tộc ta
một mùa xuân độc lập, tự do và hạnh phúc vĩnh hằng.
Luận điểm 3: Cảm xúc của nhà thơ khi vào trong lăng (Khổ 3)
- Để rồi khi đứng trước di hài của Bác, trái tim nhà thơ trào dâng cảm xúc nghẹn
ngào không thể kìm nén, lay động trái tim của hàng triệu người:

“Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim”
- Viễn Phương vẫn tiếp tục dùng phép nói giảm, nói tránh “giấc ngủ bình yên”
như muốn cố gắng giảm bớt sự thật đau đớn về sự ra đi của Bác. Chỉ là mệt nên
Bác ngủ thôi bởi “Suốt cuộc đời Bác có ngủ yên đâu/ Nay Bác ngủ chúng con
canh giấc ngủ” (Chúng con canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi- Hải Như).
- Hình ảnh “vầng trăng sáng dịu hiền” gợi cho chúng ta nghĩ đến tâm hồn, cách
sống cao đẹp, thanh cao, sáng trong của Bác và những vần thơ tràn ngập ánh
trăng của Người. Trăng với Bác đã từng vào thơ Bác trong nhà lao, trên chiến
trận, giờ đây trăng cũng đến để giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người.
- Chỉ có thể bằng trí tưởng tượng, sự thấu hiểu và yêu quí những vẻ đẹp trong
nhân cách của Hồ Chí Minh thì nhà thơ mới sáng tạo nên được những ảnh thơ
đẹp như vậy! Hình ảnh “trời xanh” được hiểu theo nghĩa tả thực đó là thiên
nhiên mà chúng ta hằng ngày vẫn đang chiêm ngưỡng, nó tồn tại mãi mãi và
vĩnh hằng.
- Mặt khác, “trời xanh” còn là một hình ảnh ẩn dụ sâu xa: Bác vẫn còn mãi với
non sông đất nước, như “trời xanh” vĩnh hằng. Nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Bác
sống như trời đất của ta”, bởi Bác đã hóa thân thành thiên nhiên, đất nước và
dân tộc.
- Cặp quan hệ từ “vẫn biết – mà sao” diễn tả cảm xúc nghẹn ngào trào dâng.
Biết rằng Người sẽ luôn sống mãi trong lòng dân tộc nhưng sự thật Bác đã ra đi
mãi mãi vẫn khiến nhà thơ cũng như mấy chục triệu người dân Việt Nam
“nghe nhói ở trong tim”.
- Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “nghe nhói” nhấn mạnh niềm đau xót
tột cùng của nhà thơ trước thực tại Bác không còn nữa. (Liên hệ)=>Cảm xúc
đau đớn này, vô vọng này đã từng xuất hiện trong bài thơ của Tố Hữu:
Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm…
- Cảm xúc này là đỉnh điểm của nỗi nhớ thương, của niềm đau xót. Nó chính là
nguyên nhân dẫn đến những khát vọng ở khổ cuối bài thơ.
Luận điểm 4: Tâm trạng lưu luyến của nhà thơ khi rời xa lăng Bác (khổ 4)
- Khép lại nỗi đau mất mát ấy là những giọt nước mắt luyến tiếc, bịn rịn, không
muốn rời xa Bác. Khổ thơ thứ tư đã diễn tả tâm trạng lưu luyến của nhà thơ
muốn được ở mãi bên lăng Bác.

“Mai về miền Nam thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”
- Những giọt nước mắt tiếc thương, nhung nhớ Bác đến giây phút này đã không
thể kìm nén. Lời thơ vang lên đầy nức nở, nghẹn ngào. Niềm khát khao chân
thành muốn ở gần Bác của ông được bộc lộ mãnh liệt bằng một loạt động từ
“muốn làm”.
- Điệp ngữ “muốn làm” cùng các hình ảnh đẹp của thiên nhiên “con chim”,
“đóa hoa”, “cây tre” đã thể hiện ước muốn tha thiết, mãnh liệt của tác giả. Nhà
thơ ao ước được hóa thân thành con chim nhỏ cất tiếng hót làm vui lăng Bác,
thành đóa hoa đem sắc hương, điểm tô cho vườn hoa quanh lăng.
- Đặc biệt là ước nguyện “Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này” để nhập vào
hàng tre bát ngát, canh giữ giấc ngủ thiên thu của Người. Hình ảnh cây tre có
tính chất tượng trưng một lần nữa nhắc lại khiến bài thơ có kết cấu đầu cuối
tương ứng.
- Hình ảnh hàng tre quanh lăng Bác được lặp ở câu thơ cuối như mang thêm
nghĩa mới, tạo ấn tượng sâu sắc, làm dòng cảm xúc được trọn vẹn. “Cây tre
trung hiếu” là hình ảnh ẩn dụ thể hiện lòng kính yêu, sự trung thành vô hạn với
Bác, nguyện mãi mãi đi theo con đường cách mạng mà Người đã đưa đường chỉ
lối. “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một
chút”. Đó là lời hứa thủy chung của riêng nhà thơ và cũng là ý nguyện của đồng
miền Nam, của mỗi chúng ta nói chung với Bác.
3. Đánh giá
Trải qua bao dòng chảy thời gian, bài thơ vẫn chạm đến trái tim người
đọc bởi nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Bài thơ được viết theo thể tám chữ sáng
tạo, kết hợp khéo léo chất tự sự và trữ tình. Ngôn ngữ thơ giản dị, mộc mạc,
đậm chất Nam Bộ đồng thời sử dụng những hình ảnh thơ chân thực gợi nhiều
trường liên tưởng. Đặc biệt, sử dụng thành công các biện pháp nói giảm, nói
tránh, ẩn dụ, hoán dụ, điệp từ...Từ đó thể hiện cảm xúc đau đớn xót thương, nỗi
nhớ và tình cảm thiết tha, sự biết ơn thành kính với Bác Hồ kính yêu. Bài thơ dễ
dàng khơi gợi cảm xúc trong lòng độc giả, là nén tâm hương kính dâng lên
Người.
III. Kết bài
Với bài thơ “Viếng lăng Bác” Viễn Phương đã đóng góp không nhỏ cho
thi ca đề tài về Bác. Dù bao năm qua đi, bài thơ mãi mãi là tác phẩm đầy xúc
cảm gửi gắm những giá trị tốt đẹp vĩnh cửu mà nhà thơ và toàn thể dân tộc dành
cho Bác. Cảm ơn Viễn Phương đã để lại cho đời một bài thơ hay như thế để em
biết mình phải làm gì? Phải sống ra sao để xứng đáng với công lao trời biển ấy.
 
Gửi ý kiến