SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS trong học môn Vật lí

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Phương Loan
Ngày gửi: 21h:39' 23-10-2024
Dung lượng: 916.7 KB
Số lượt tải: 817
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Phương Loan
Ngày gửi: 21h:39' 23-10-2024
Dung lượng: 916.7 KB
Số lượt tải: 817
Số lượt thích:
0 người
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại 4.0, việc đổi mới phương pháp trong dạy học không còn xa lạ
đối với mỗi giáo viên chúng ta.
Việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, thiết kế tiến trình
dạy học các bài học hoặc chủ đề dạy học đảm bảo các yêu cầu về: phương pháp dạy học,
cách xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá chuỗi các hoạt động học theo sự
định hướng phát triển năng lực người học là rất cần thiết đối với giáo viên trong giai
đoạn hiện nay.
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, người Thầy cần tạo cho HS hứng thú học
tập, tạo được không khí học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em được làm chủ trong
giờ học, được bộc lộ những khả năng của mình, giúp các em “Học mà chơi, chơi mà
học” thì các em sẽ đến với kiến thức khoa học một cách tự nhiên hơn, giúp các em nhớ
lâu hơn, chất lượng dạy học sẽ được nâng cao hơn, đồng thời tạo cho các em cảm giác
thích thú hơn khi học môn Vật lí.
Để làm được điều đó, ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học mới và phối
hợp các hình thức tổ chức dạy học, thì việc vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học là điều
cực kì cần thiết.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài : “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong các tiết học
môn Vật lí THCS”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào dạy học môn Vật lí, giúp HS phát huy
năng lực sáng tạo, tính tính cực chủ động trong học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học môn Vật lí cấp THCS.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Các kĩ thuật dạy học tích cực.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Tổ chức dạy và học Vật lí trong nhà trường THCS theo xu hướng giáo dục hiện nay,
trong đó, tôi quan tâm nhiều hơn đến việc: tổ chức dạy và học Vật lí theo thông qua dạy
học hợp tác, dạy học dự án, dạy học theo hợp đồng học tập, dạy học thông qua hoạt động
trải nghiệm sáng tạo, dạy học theo định hướng giáo dục STEM.
- Các kĩ thuật dạy học tích cực.
- Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
3. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2019 - 2020; 2020 - 2021.
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy các kiến thức môn Vật lí THCS.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
1
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Phương pháp dạy học là những cách thức, sự tương tác chung giữa giáo viên và học
sinh ở trong điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu của việc dạy học.
Có các phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học. Tuy nhiên, cũng có
phương pháp đặc thù riêng cho từng môn học hoặc một nhóm các môn học.
Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại,
trực quan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như: dạy học nêu và giải quyết
vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học dự án, dạy học theo hợp đồng, dạy học theo định hướng
giáo dục STEM, dạy học trải nghiệm sáng tạo, dạy học gắn với di sản,..
2. Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước
để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động
hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực
nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực chính là phát huy được
tính tích cực trong nhận thức của học sinh. Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể
của mọi hoạt động, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn.
3. Kỹ thuật dạy học: Là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học
sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy
học. Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là những
thành phần của phương pháp dạy học.
Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực, nhưng trong phạm vi sáng kiến của mình,
tôi quan tâm tới một số các kĩ thuật dạy học sau đây:
3.1. Kĩ thuật chia nhóm
Nhóm học tập rất cần thiết trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực người
học. Khi học theo nhóm các em được chia sẻ ý kiến cho nhau, được hỗ trợ giúp đỡ nhau
để cùng tiến bộ nhằm phát triển năng lực và phẩm chất, hoàn thiện bản thân trong quá
trình học tập.
Việc chia nhóm phải đảm bảo cho các em học sinh được học tập thuận lợi, chỗ
ngồi của nhóm phải dễ trao đổi thảo luận với nhau để cùng nhau học tập xây dựng bài
học dưới sự điều khiển của giáo viên. Các em phải được thuận lợi trong việc ghi vở và
đọc các tư liệu bài học cũng như thuận lợi khi thực hành thí nghiệm, thuận lợi để quan
sát trên bảng.
2
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Nhóm học tập có thể 2 em (nhóm cặp đôi), 3 em, 4 em (nhóm theo bàn), nhóm 6
- 7 em (tương ứng với việc chia lớp thành 6 nhóm để thực hiện nhiệm vụ trong các bài
học có thí nghiệm), hoặc nhóm lớn 9 -10 em (dùng trong dạy học dự án chẳng hạn).
+ Không nên chọn số lượng HS trong nhóm quá lớn vì ảnh hưởng đến sự trao đổi và
điều khiển của nhóm trưởng cũng như các thành viên trong nhóm, dẫn đến một số em
bị bỏ rơi khi thảo luận hoặc không có cơ hội trình bày ý kiến của mình khi thảo luận.
+ Vị trí đặt bàn ghế của các nhóm phải thuận lợi cho việc đi lại của giáo viên và học sinh.
+ Luân phiên chỉ định nhóm trưởng và thành viên trong nhóm báo cáo kết quả hoạt động
nhóm một cách linh hoạt, phù hợp trong các hoạt động của từng bài học.
- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác
nhau, là các phần trong một chủ đề chung, nhưng khi tổ chức cho HS hoạt động theo
nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm theo các tiêu chí khác nhau để gây hứng
thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác
nhau trong lớp.
3.2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
- Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian
hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì? Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
3.3. Kĩ thuật theo dõi, đánh giá HS trong quá trình học tập
Theo dõi đánh giá HS trong quá trình học tập là một trong những khâu quan trọng
trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học. Ở đây, GV được quan sát các
hoạt động, cử chỉ, hành vi, tác phong của các em trong quá trình học ở lớp học cũng như
tự học ở ngoài lớp học (nếu quan sát được). Căn cứ vào sản phẩm học tập và thái độ học
tập, GV đánh giá được sự tiến bộ của HS, đánh giá được khả năng vận dụng giải quyết
tình huống vào thực tiễn.
Theo dõi đánh giá khả năng nhận thức, thái độ học tập thông qua hoạt động học:
tiếp nhận nhiệm vụ, tự học cá nhân, trao đổi thảo luận, tư duy sáng tạo học tập và trình
bày sản phẩm học tập, các kỹ năng thao tác thực hành ....
GV nên chuẩn bị các tiêu chí đánh giá, phân tích hướng dẫn cho HS cách tự đánh
giá, đánh giá lẫn nhau; thường xuyên tổ chức cho HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau
thông qua tổ chức trò chơi học tập, đánh giá sản phẩm học tập.
3
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Thường xuyên xem vở ghi của HS, phát hiện những điểm yếu kém của HS, động
viên khích lệ sự cố gắng, nỗ lực tiến bộ của HS so với bản thân các em; Đa dạng hoá
các hình thức và phương pháp đánh giá.
Cần tìm hiểu nguyên nhân những em lười học tập để có sự trợ giúp kịp thời;
Không nên bỏ qua những sản phẩm học tập tự làm ở nhà của HS.
3.4. Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”
Sơ đồ tư duy thực chất là một cách ghi chép mà học sinh sẽ dùng đến màu sắc và
hình ảnh để trình bày ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.
* Cách vẽ sơ đồ tư duy:
- Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm.
- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết
một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung
tâm nói trên.
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh
chính đó.
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
* Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
- Trình bày tổng quan một chủ đề;
- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
- Ghi chép khi nghe bài giảng.
3.5. Kĩ thuật “Đặt câu hỏi”
- Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS - HS.
- Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập
tích cực hơn.
* Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
- Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HS tham gia
vào quá trình dạy học.
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối
với nội dung học tập.
- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức.
* Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học.
- Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ HS, kích thích suy nghĩ
của HS.
- Hỏi phải đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với thời gian thực tế.
4
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Các câu hỏi phải sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích.
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
3.6. Kĩ thuật “Trình bày một phút”
- Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi
về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với
các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá
trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.
* Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau:
Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan
trọng nhất mà chưa được giải đáp?...
- HS suy nghĩ và viết ra giấy.
- Mời một vài HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã
học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn
được tiếp tục tìm hiểu thêm.
3.7. Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
* GV đưa ra một vấn đề/một thông điệp/một câu chuyện ... mới chỉ được giải quyết một
phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.
- HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.
- HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.
- GV hướng dẫn cả lớp cùng nhận xét, đánh giá.
* Đây là một hoạt động tốt giúp các em hệ thống lại các kiến thức/tài liệu đã học hoặc
đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.
5
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
II. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
Trong mỗi bài học/chủ đề, theo logic của quá trình nhận thức, thông thường người
học phải trải qua các hoạt động: khởi động nêu vấn đề; hình thành kiến thức bài học; hệ
thống hóa kiến thức và luyện tập; vận dụng kiến thức vào thực tiễn và tìm tòi mở rộng.
Tôi nhận thấy, trong các phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp được các GV
sử dụng cho hầu hết các tiết dạy, đó là phương pháp dạy học nhóm (hay còn gọi là dạy
học hợp tác), trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm, trong khoảng thời
gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công
và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước
toàn lớp.
Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách
nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS, việc chia
nhóm để HS thực hiện nhiệm vụ là bước rất quan trọng. Do đó, tôi thường quan tâm tới
kĩ thuật chia nhóm đầu tiên.
1. Kĩ thuật chia nhóm
Căn cứ vào mục tiêu cần đạt của bài học/chủ đề, người GV phải lựa chọn được
phương pháp dạy học phù hợp, thì mới nghĩ đến việc chia lớp thành bao nhiêu nhóm,
mỗi nhóm bao nhiêu HS.
Cần chia nhóm theo tiêu chí nào? Cần tổ chức phòng học/kê bàn ghế như thế
nào? HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa? là những câu hỏi tôi
thường xuyên đặt ra trước khi chia nhóm HS để giao nhiệm vụ học tập.
Tôi xin chia sẻ một số cách chia nhóm tôi thường sử dụng trong quá trình dạy học.
* Chia nhóm ngẫu nhiên bằng cách sử dụng bộ bài Uno
Bộ bài số Uno gồm 76 lá bài chia đều ra 4 màu: đỏ, vàng, lục, lam. Mỗi màu gồm 19 lá
bài, chúng được đánh số từ 0 đến 9. Đây là bộ bài mà các em HS rất thích chơi.
Nếu cần chia lớp thành 5 hay 6 hay 7 nhóm, tôi cho HS bốc thăm nhóm theo số quân bài Uno
6
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Số lượng quân bài bằng số HS trong lớp.
- Nếu cần chia bao nhiêu nhóm thì tôi lựa chọn bấy nhiêu chữ số của bộ bài.
- Những em rút được quân bài có cùng một số thì về một nhóm.
VD: Với sĩ số lớp là 40, tôi muốn chia lớp thành 6 nhóm, 4 nhóm 7 em, 2 nhóm 5 em.
- Tôi chuẩn bị 07 con bài có cùng chữ số 0, 1, 6, 7; 05 quân bài có cùng chữ số 4;
05 quân bài có cùng chữ số 8 chẳng hạn. Những em bắt được cùng số 0 thì về một nhóm,
tương tự cho các nhóm còn lại.
Nếu chỉ cần chia lớp thành 3 hoặc 4 nhóm, tôi dùng chất rô, cơ, bích, nhép của quân
bài Uno để cho HS rút thăm.
- Số lượng quân bài bằng số HS trong lớp.
- Các chất rô, cơ, bích, nhép, về cơ bản phải được chia đều cho các nhóm
- Nếu chia lớp thành 4 nhóm thì tôi để nguyên 4 chất của bộ bài, nếu chia thành 3 nhóm
thì tôi cất bớt các quân bài của một chất nào đó đi.
- Tiến hành cho HS rút thăm. Những HS có cùng chất cơ về một nhóm.
- Tương tự như vậy với các HS có cùng chất rô, bích, nhép.
- Bài Uno số gồm có 4 màu, tôi cũng sử dụng màu sắc của các quân bài số Uno để chia
nhóm. Những HS rút thăm được cùng một màu thì về cùng một nhóm.
Cách làm này rất vui, không mất nhiều thời gian mà HS lại thấy sự gần gũi giữa Cô –
Trò, vì quân bài Uno là bài trí tuệ HS hay chơi.
* Chia nhóm theo sở thích
Những em có cùng sở thích sẽ tự động tạo thành một nhóm.
GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện
một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức
phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm ưa thích hình tròn/vuông/tam giác/hình
góc cạnh; nhóm ưa thích màu xanh/đỏ/tím/vàng; nhóm họa sĩ/nhà thơ/nhà hùng biện, ...
* Tôi rất thích sử dụng cách chia nhóm này, bởi nó giúp các em phát hiện ra những sở
thích chung của nhau để thấy mình và bạn có nhiều điểm tương đồng hơn. Chẳng hạn,
trong lớp sẽ có những em rất lười hoạt động nhóm, có thể vì các em học non hơn các
bạn khác, cũng có thể do em không tích cực, và một tâm lí chung là các bạn khác rất sợ
mình phải ở chung nhóm với những thành viên như thế này! Nhưng nếu chia nhóm theo
sở thích, các em sẽ tìm ra được điểm chung của các thành viên trong nhóm và dần xóa
mờ đi khoảng cách ấy!
* Tuy nhiên, đối với những dự án học tập cần có những HS thạo về công nghệ thông tin,
hay cần phải có đủ máy tính để thực hiện nhiệm vụ học tập, thì khi chia nhóm tôi phải
chú ý tới những điều kiện này đầu tiên, sao cho nhóm nào cũng đảm bảo được các tiêu
chí cần thiết.
MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHIA NHÓM
7
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Ví dụ 1. Khi dạy chủ đề “Sự nở vì nhiệt của các chất” (Vật lí 6)
Để thuận tiện cho làm việc theo trạm khi thực hiện các thí nghiệm về sự nở vì nhiệt của
các chất rắn/lỏng/khí, tôi chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 6 -7 em;mỗi nhóm được
hình thành ngẫu nhiên bằng cách rút thăm số trong quân bài Uno.
Ví dụ 2. Khi dạy bài tổng kết ôn tập chương I: Cơ học (Vật lí 8)
- Tôi chia lớp thành 4 nhóm, bằng cách:
+ Tôi chuẩn bị các hình tròn/vuông/tam giác/hình góc cạnh, đề nghị mỗi em chọn một
hình theo sở thích của mình.
+ Tôi yêu cầu những em có cùng sở thích là hình tròn về một nhóm và chỉ vị trí ngồi
của nhóm đó, tương tự cho các nhóm HS có sở thích là các hình còn lại.
+ Tôi cho các em tham khảo tính cách của mình qua sở thích chọn hình tròn/ vuông, ...
* Hình tam giác: “Làm theo lời tôi nói!”
Bạn có nhớ những kim tự tháp của các vị vua Ai Cập cổ đại? Hình tam giác
được xem như tượng trưng cho sự lãnh đạo với quyền lực mạnh nhất tập trung tại đỉnh.
Những người thích hình tam giác là những con người của hành động. Bạn không thích
sự trì hoãn. Không phải ngày mai, không phải một ngày nào đó, mọi việc phải được làm
ngay bây giờ!
Bạn là người giỏi lãnh đạo, năng động, quyết đoán, tập trung tốt, hướng đến kết quả,
nhưng bạn cũng có nhược điểm tiềm tàng là thiếu kiên nhẫn và hay đối đầu.
* Hình vuông: “Cứ cho thời hạn, tôi sẽ làm!”
Người thích hình vuông là người giỏi sắp xếp, nhấn mạnh nhất vào tính tổ chức và cấu
trúc. Bạn luôn quan niệm: “Hãy làm đúng dù phải mất bao nhiêu thời gian”.
- Bạn là người có đầu óc tổ chức, ham hiểu biết, thích phân tích, kiên trì, ngăn nắp.
Nhưng bạn cũng có nhược điểm tiềm tàng: quá tỉ mỉ, cầu toàn nên có thể hay trì hoãn.
Bill Gates cũng là người đã chọn hình vuông, bạn có phải là fan của ông ấy không?
* Hình tròn: “Tích cực lên nào, tôi sẽ giúp bạn”
Hình tròn là mẫu người tốt bụng và luôn chăm lo cho người khác nhất trong số 4 hình.
Bạn là người lạc quan, thích làm việc nhóm. Bạn luôn thể hiện sự tử tế, quan tâm và
giao tiếp rất tốt do có khả năng lắng nghe tuyệt vời. Bạn cũng rất giỏi thuyết phục, nhưng
đôi lúc bạn thiếu quyết đoán và dễ có xu hướng nghiêm trọng hóa vấn đề.
* Hình góc cạnh: “Hãy sáng tạo!”
Bạn là người rất thích sáng tạo! Bạn không phải là bản sao của ai cả, và luôn cân nhắc
các khả năng có thể xảy ra.
Bạn luôn hướng đến tương lai, giàu trí tưởng tượng, tự do, vui tính, không bó buộc suy
nghĩ. Bạn thấy mình là người luôn tìm những ý tưởng mới, cách thực hiện mới, sản
phẩm mới nhưng một số khác đôi khi nghĩ tính cách này thật kỳ quặc, khác người.
8
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Tính cách này có thể tìm thấy ở những người nổi tiếng như Albert Einstein, Walt
Disney.
- Cho các em cử nhóm trưởng, thư kí, mời nhóm trưởng lên bốc thăm chọn chủ đề cần
trình bày cho nhóm mình.
- GV cũng có thể thay các hình nói trên bằng các bông hoa có màu sắc khác nhau/hoặc
các quân bài Uno có các màu sắc khác nhau, cho HS biết tính cách qua việc lựa chọn
màu sắc.
* Trong làm việc nhóm, ngoài việc cử nhóm trưởng, thư kí cho mỗi nhóm là điều phải
làm, thì tùy theo từng tính chất nhiệm vụ học tập, mà chúng ta có thể yêu cầu HS cử
thêm những chức danh khác nhau trong nhóm.
Ví dụ: Trong dự án về “Mắt” (Vật lí 9) với chủ đề: “Hãy bảo vệ đôi mắt, chiếc máy ảnh
diệu kì Mẹ đã ban tặng cho ta!”, ngoài nhóm trưởng, thư kí, tôi yêu cầu HS cử ra một
nhà ngoại giao để thuận tiện khi đi đến các hiệu kính thuốc để tìm hiểu về cách khám mắt,
cách thử kính và được tận mắt xem các loại kính thuốc.
2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
Khi chuyển giao nhiệm vụ cho HS, tôi thường theo các bước sau:
- Đưa ra nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ.
- Giới thiệu địa chỉ tranh ảnh, bảng biểu trong sách (nếu có) để HS nắm bắt thông tin.
- Cho biết thời gian cần hoàn thành nhiệm vụ.
- Đưa ra hình thức hoạt động (cá nhân/nhóm cặp đôi/nhóm theo bàn/ nhóm lớn, ..)
(Cũng có thể bước này tôi đưa lên đầu tiên, tùy thuộc vào tính chất từng nhiệm vụ,vì vậy
rất cần sự linh hoạt khi sử dụng kĩ thuật giao nhiệm vụ)
- Bắt đầu tính giờ.
Ví dụ . Khi dạy về chủ đề “Sự truyền ánh sáng” (Vật lí 7)
Tôi tiến hành giao nhiệm vụ để yêu cầu HS tìm hiểu về hiện tượng nhật thực- nguyệt
thực, như sau:
Hoạt động của GV
- Giáo viên yêu cầu các nhóm HS (6 nhóm đã chia để làm
việc ở các nhiệm vụ học tập trước đó), trong 6 phút:
- Tìm hiểu thông tin SGK mục II và hình 3.3; 3.4 trang
11.
Hoạt động của HS
- Học sinh các nhóm
nhận nhiệm vụ
- Các nhóm đọc nội
dung trong sách giáo
Hãy vẽ hình mô tả vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái
khoa và lắng nghe
Đất khi xảy ra hiện tượng nhật thực và nguyệt thực và trả hướng dẫn của giáo
lời các câu hỏi sau:
viên
1. Nhật thực toàn phần, nhật thực một phần xảy ra khi
nào?
9
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Giải thích vì sao đứng ở nơi có nhật thực toàn phần ta lại
không nhìn thấy Mặt Trời và thấy trời tối lại
- Vật nào là nguồn sáng, vật cản, màn chắn ?
2. Tại sao ban đêm khi đứng trên Trái Đất ta lại nhìn thấy
Mặt Trăng?
- Nguyệt thực xảy ra khi nào?
- Hãy chỉ ra, trên hình 3.4, Mặt Trăng ở vị trí nào thì
người đứng ở điểm A trên Trái Đất thấy trăng sáng, thấy
có nguyệt thực.
- Nguyệt thực xảy ra có thể xảy ra trong cả đêm không?
3. Nguyên nhân chung gây ra hiện tượng nhật thực và
nguyệt thực là gì?
3. Kĩ thuật theo dõi, đánh giá HS trong quá trình học tập
* Ngoài những con điểm kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì, tôi còn có một con
điểm ý thức để đánh giá phương pháp học tập, rèn luyện và ý thức học tập của học sinh.
HS nào ngoan, tích cực học tập sẽ được điểm cộng, ngược lại sẽ bị điểm trừ.
Tôi đưa ra tiêu chí đánh giá ngay từ đầu năm học và được nhắc lại mỗi khi có HS nào
đó hay vi phạm hoặc ý thức học tập chưa tốt. Con điểm này tôi không sử dụng là con
điểm thành phần của điểm tổng kết, nhưng nó giống như một “cái ngàm”, một barie để
HS biết các ngưỡng và cần cố gắng hơn trong học tập môn Vật lí.
* Tôi luôn quan tâm tới việc đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng
lực, tôi luôn hướng tới quan điểm “đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập”
Ví dụ 1. Khi dạy tiết 26. Bài tập (Vật lí 7) bằng phương pháp dạy học theo hợp đồng Tôi
cho HS kí hợp đồng học tập và phát phiếu học tập cho HS. Ở hoạt động 1 (Ôn tập các
kiến thức cần thiết) tôi cho các em làm việc cá nhân trong thời gian 7 phút, khi thanh lí
hợp đồng ở hoạt động này, tôi trình chiếu đáp án để tự các em chấm điểm cho mình, rồi
tự đối chiếu với mức độ đăng kí lúc đầu trong hợp đồng để các em tự đánh giá mình và
tự rút ra những kinh nghiệm học tập cho bản thân.
Khi thanh lí hợp đồng hoạt động vẽ sơ đồ mạch điện theo yêu cầu, tôi yêu cầu HS chuyển
bài và chấm chéo bài cho nhau để thực hiện sự đánh giá đồng đẳng, đảm bảo HS nào
cũng được đánh giá và tự đánh giá.
Ví dụ 2. Khi dạy tiết 13. Luyện tập: Thí nghiệm với mạch điện than chì (Vật lí 9)
(Dạy học theo định hướng giáo dục STEM)
Khi trình chiếu sản phẩm học tập của mỗi nhóm, các nhóm còn lại sẽ theo dõi và chấm
điểm trên phiếu theo các tiêu chí mà tôi đã đưa ra từ trước đó.
BIỂU ĐIỂM CHẤM (theo thang điểm 20)
1. Nội dung thực hành (10 điểm):
10
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Cụ thể: + Thí nghiệm thành công (đèn sáng): 1 điểm
+ Rút ra nhận xét cần thiết sau khi làm thí nghiệm: 4 điểm
+ Làm đầy đủ 3 loại thí nghiệm: 5 điểm
2. Kiến thức đúng: 5 điểm
3. Thuyết minh (trình bày sản phẩm): khoa học, đẹp mắt, làm bật được vấn đề cần nghiên
cứu : 3 điểm
4. Hợp tác khi làm việc nhóm: 1 điểm
5. Thể hiện tính sáng tạo: 1 điểm
PHIẾU CHẤM ĐIỂM
STT
ĐIỂM
NHÓM 1
NHÓM 2
NHÓM 3
NHÓM 4
NHÓM 5
NHÓM 6
NHÓM 7
NHÓM 8
NHÓM 9
NHÓM 10
NHÓM 11
NHÓM 12
Ví dụ 3. Khi dạy tiết 9. “Ôn tập chương I. Quang học” (Vật lí 7) tôi chia lớp thành 3
nhóm bằng cách chọn màu quân bài Uno, mỗi nhóm có nhiệm vụ ôn tập, hệ thống kiến
thức của từng chủ đề dưới dạng sơ đồ tư duy.
- Khi một nhóm trình bày xong, đặt câu hỏi cho nhóm khác trả lời, các nhóm khác có
quyền đặt câu hỏi ngược lại cho nhóm đó. Các nhóm khác lắng nghe, thảo luận về kết
quả và đánh giá vào phiếu chấm.
- Tiếp đến, các nhóm đánh giá chéo về kính vạn hoa do mỗi nhóm tự làm.
Biểu điểm chấm
1. Sơ đồ tư duy
- Nội dung: + Đảm bảo đúng kiến thức: 30 điểm
+ Đảm bảo tính logic của mạch kiến thức : 10 điểm.
- Hình thức: Đẹp, bắt mắt, phối màu hợp lí: 10 điểm
2. Thuyết trình
- Phong thái tự tin, chững chạc, nói to rõ ràng: 5 điểm
- Thuyết trình theo đúng mạch kiến thức: 5 điểm
3. Kĩ thuật đặt câu hỏi và trả lời
- Nội dung câu hỏi rõ ràng + đáp án đưa ra đúng: 5 điểm + 5 điểm
- Trả lời đúng nội dung câu hỏi: 10 điểm
4. Kính vạn hoa
11
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Kính được gắn chắc chắn giữa khối gương với ống vỏ bên ngoài : 5 điểm
- Hình thức trang trí đẹp : 5 điểm
- Kính tạo ra những hoa văn đẹp :10 điểm
Hình
Thuyết
Đặt câu
Trả lời
Làm
Nội
Tổng
thức
trình
hỏi giao câu hỏi kính vạn
dung
điểm
STT
(10
(10
lưu
giao lưu
hoa
(40
(100
điểm)
điểm)
(10
(10
(20
điểm)
điểm)
điểm)
điểm)
điểm)
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
- GV chấm điểm cho cả 3 nhóm theo phiếu trên, tổng hợp điểm chấm vào phiếu sau :
PHIẾU TỔNG HỢP ĐIỂM CỦA CÁC NHÓM
Nhóm 1 chấm
Nhóm 2 chấm
Nhóm 3 chấm
GV chấm
Tổng
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Điều đáng nói ở đây, điểm đánh giá của GV cũng chỉ hệ số 1 như điểm đánh giá lẫn
nhau giữa các HS.
4. Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”
* Tôi thường dùng kĩ thuật sơ đồ tư duy khi dạy các bài tổng kết chương hoặc cho các
em hệ thống lại kiến thức của một bài học/chủ đề, nhằm:
- Giúp HS xâu chuỗi được kiến thức và nắm được kiến thức một cách hệ thống.
- Rèn luyện cho HS tinh thần tập thể, tính đoàn kết hợp tác khi làm việc nhóm .
- Rèn luyện cho HS tư duy trừu tượng (cần sắp xếp mạch kiến thức như thế nào, đâu là
nhánh chính cấp 1, đâu là nhánh cấp 2, 3, ... , sử dụng màu sắc thế nào cho hợp lí, đẹp
mắt, vv ...)
- Rèn luyện cho HS kĩ năng thuyết trình một vấn đề trước đám đông.
- Góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng
tạo của HS.
12
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
5. Kĩ thuật “Đặt câu hỏi”
Thông thường, GV hay đặt câu hỏi để HS trả lời. Nhưng theo tôi, chúng ta nên tạo điều
kiện để HS được đặt câu hỏi cho GV, đặt câu hỏi cho bạn để các em rèn luyện năng lực
phát triển ngôn ngữ, năng lực giao tiếp.
Ví dụ, khi dạy các tiết ôn tập chương, tôi hay chia nhóm và cho HS nhóm này, đặt câu
hỏi cho các nhóm khác trả lời, qua đó giúp các em vừa ôn tập kiến thức, vừa rèn luyện
năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. GV đóng vai trò là trọng tài trong phần học đó.
6. Kĩ thuật “Trình bày một phút”
Ví dụ 1: Khi dạy xong tiết 13. Luyện tập: Thí nghiệm với mạch điện than chì (Vật lí 9)
(Dạy học theo định hướng giáo dục STEM), tôi đặt câu hỏi: Qua cách học của buổi hôm
nay, em đã được luyện tập hay học tập thêm được những điều gì?
- Hầu hết HS viết: Em đã được ôn lại các kiến thức về sự phụ thuộc của điện trở vật dẫn
vào các yếu tố: chiều dài, tiết diện, vật liệu làm dây dẫn và tính dẫn điện của than chì
(Điều đó chứng tỏ GV đã hoàn tất mục tiêu kiến thức của bài dạy!)
- Rất nhiều HS viết: Em học được cách tự mình thiết kế và thực hiện thí nghiệm; em
được học cách cầm máy để quay video, học được cách tìm góc quay sao cho hợp lí, em
học được cách dàn dựng một video; em học được cách edit chữ vào video để dùng kênh
chữ thay cho kênh tiếng khi thuyết trình; em học thêm được cách thiết kế một bài Power
point hợp lí và bắt mắt, vv ... (Điều này chứng tỏ tiết học đã đi đúng theo định hướng
giáo dục STEM)
7. Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
Tôi thường dùng kĩ thuật này vào hoạt động luyện tập trong buổi học, hoặc sau khi học
xong các đơn vị kiến thức có tính tương quan để giúp các em tổng hợp kiến thức.
- Khi thực hiện trên lớp, để không ảnh hưởng đến thời lượng của những phần sau, tôi
thường cung cấp biểu bảng/mẫu sẵn để HS/nhóm HS hoàn thiện kiến thức vào đó.
Sau đây tôi xin được minh họa bằng một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: HS lớp 6 bước đầu làm quen với các đại lượng Vật lí, ngay sau khi HS học
xong bài đầu tiên với chủ đề đo độ dài, tôi hướng dẫn các em lập bảng và hệ thống lại
các kiến thức cần thiết:
STT
1.
Đại lượng Vật lí
Độ dài
Kí hiệu
Đơn vị đo
Dụng cụ đo
l
m
Thước
13
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Cuối những tiết học tiếp theo, tôi lại yêu cầu các em viết tiếp vào bảng tổng hợp đó
những kiến thức về các đại lượng Vật lí khác, như: thể tích, khối lượng, lực.
- Khi học đến trọng lượng, tôi hướng dẫn các em kẻ thêm cột công thức để viết công
thức trọng lượng P = 10.m
- Cứ như vậy, khi thêm được m...
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong thời đại 4.0, việc đổi mới phương pháp trong dạy học không còn xa lạ
đối với mỗi giáo viên chúng ta.
Việc vận dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, thiết kế tiến trình
dạy học các bài học hoặc chủ đề dạy học đảm bảo các yêu cầu về: phương pháp dạy học,
cách xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá chuỗi các hoạt động học theo sự
định hướng phát triển năng lực người học là rất cần thiết đối với giáo viên trong giai
đoạn hiện nay.
Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, người Thầy cần tạo cho HS hứng thú học
tập, tạo được không khí học tập thoải mái, tạo điều kiện để các em được làm chủ trong
giờ học, được bộc lộ những khả năng của mình, giúp các em “Học mà chơi, chơi mà
học” thì các em sẽ đến với kiến thức khoa học một cách tự nhiên hơn, giúp các em nhớ
lâu hơn, chất lượng dạy học sẽ được nâng cao hơn, đồng thời tạo cho các em cảm giác
thích thú hơn khi học môn Vật lí.
Để làm được điều đó, ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học mới và phối
hợp các hình thức tổ chức dạy học, thì việc vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học là điều
cực kì cần thiết.
Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài : “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học
nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong các tiết học
môn Vật lí THCS”.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học vào dạy học môn Vật lí, giúp HS phát huy
năng lực sáng tạo, tính tính cực chủ động trong học tập nhằm nâng cao chất lượng dạy
và học môn Vật lí cấp THCS.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu: Các kĩ thuật dạy học tích cực.
2. Phạm vi nghiên cứu
- Tổ chức dạy và học Vật lí trong nhà trường THCS theo xu hướng giáo dục hiện nay,
trong đó, tôi quan tâm nhiều hơn đến việc: tổ chức dạy và học Vật lí theo thông qua dạy
học hợp tác, dạy học dự án, dạy học theo hợp đồng học tập, dạy học thông qua hoạt động
trải nghiệm sáng tạo, dạy học theo định hướng giáo dục STEM.
- Các kĩ thuật dạy học tích cực.
- Đổi mới việc kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy năng lực sáng tạo của học sinh.
3. Thời gian nghiên cứu: Năm học 2019 - 2020; 2020 - 2021.
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: giảng dạy các kiến thức môn Vật lí THCS.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
1
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Phương pháp dạy học là những cách thức, sự tương tác chung giữa giáo viên và học
sinh ở trong điều kiện dạy học nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu của việc dạy học.
Có các phương pháp dạy học chung cho nhiều môn học. Tuy nhiên, cũng có
phương pháp đặc thù riêng cho từng môn học hoặc một nhóm các môn học.
Bên cạnh các phương pháp truyền thống quen thuộc như thuyết trình, đàm thoại,
trực quan, làm mẫu, có thể kể một số phương pháp khác như: dạy học nêu và giải quyết
vấn đề, dạy học hợp tác, dạy học dự án, dạy học theo hợp đồng, dạy học theo định hướng
giáo dục STEM, dạy học trải nghiệm sáng tạo, dạy học gắn với di sản,..
2. Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước
để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của người học. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt động
hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học, nghĩa là tập trung vào phát huy
tính tích cực của người học chứ không phải là tập trung vào phát huy tính tích cực của
người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì giáo viên phải nỗ lực
nhiều so với dạy theo phương pháp thụ động.
Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực chính là phát huy được
tính tích cực trong nhận thức của học sinh. Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể
của mọi hoạt động, giáo viên chỉ đóng vai trò là người tổ chức, hướng dẫn.
3. Kỹ thuật dạy học: Là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học
sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy
học. Các kĩ thuật dạy học chưa phải là các phương pháp dạy học độc lập mà là những
thành phần của phương pháp dạy học.
Có rất nhiều kĩ thuật dạy học tích cực, nhưng trong phạm vi sáng kiến của mình,
tôi quan tâm tới một số các kĩ thuật dạy học sau đây:
3.1. Kĩ thuật chia nhóm
Nhóm học tập rất cần thiết trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực người
học. Khi học theo nhóm các em được chia sẻ ý kiến cho nhau, được hỗ trợ giúp đỡ nhau
để cùng tiến bộ nhằm phát triển năng lực và phẩm chất, hoàn thiện bản thân trong quá
trình học tập.
Việc chia nhóm phải đảm bảo cho các em học sinh được học tập thuận lợi, chỗ
ngồi của nhóm phải dễ trao đổi thảo luận với nhau để cùng nhau học tập xây dựng bài
học dưới sự điều khiển của giáo viên. Các em phải được thuận lợi trong việc ghi vở và
đọc các tư liệu bài học cũng như thuận lợi khi thực hành thí nghiệm, thuận lợi để quan
sát trên bảng.
2
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Nhóm học tập có thể 2 em (nhóm cặp đôi), 3 em, 4 em (nhóm theo bàn), nhóm 6
- 7 em (tương ứng với việc chia lớp thành 6 nhóm để thực hiện nhiệm vụ trong các bài
học có thí nghiệm), hoặc nhóm lớn 9 -10 em (dùng trong dạy học dự án chẳng hạn).
+ Không nên chọn số lượng HS trong nhóm quá lớn vì ảnh hưởng đến sự trao đổi và
điều khiển của nhóm trưởng cũng như các thành viên trong nhóm, dẫn đến một số em
bị bỏ rơi khi thảo luận hoặc không có cơ hội trình bày ý kiến của mình khi thảo luận.
+ Vị trí đặt bàn ghế của các nhóm phải thuận lợi cho việc đi lại của giáo viên và học sinh.
+ Luân phiên chỉ định nhóm trưởng và thành viên trong nhóm báo cáo kết quả hoạt động
nhóm một cách linh hoạt, phù hợp trong các hoạt động của từng bài học.
- Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau, hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác
nhau, là các phần trong một chủ đề chung, nhưng khi tổ chức cho HS hoạt động theo
nhóm, GV nên sử dụng nhiều cách chia nhóm theo các tiêu chí khác nhau để gây hứng
thú cho HS, đồng thời tạo cơ hội cho các em được học hỏi, giao lưu với nhiều bạn khác
nhau trong lớp.
3.2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
- Nhiệm vụ phải phù hợp với mục tiêu hoạt động, trình độ HS, thời gian, không gian
hoạt động và cơ sở vật chất, trang thiết bị của nhà trường.
- Giao nhiệm vụ phải cụ thể, rõ ràng:
+ Nhiệm vụ giao cho cá nhân/nhóm nào?
+ Nhiệm vụ là gì? Địa điểm thực hiện nhiệm vụ ở đâu?
+ Thời gian thực hiện nhiệm vụ là bao nhiêu?
+ Phương tiện thực hiện nhiệm vụ là gì?
+ Sản phẩm cuối cùng cần có là gì?
+ Cách thức trình bày/ đánh giá sản phẩm như thế nào?
3.3. Kĩ thuật theo dõi, đánh giá HS trong quá trình học tập
Theo dõi đánh giá HS trong quá trình học tập là một trong những khâu quan trọng
trong kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học. Ở đây, GV được quan sát các
hoạt động, cử chỉ, hành vi, tác phong của các em trong quá trình học ở lớp học cũng như
tự học ở ngoài lớp học (nếu quan sát được). Căn cứ vào sản phẩm học tập và thái độ học
tập, GV đánh giá được sự tiến bộ của HS, đánh giá được khả năng vận dụng giải quyết
tình huống vào thực tiễn.
Theo dõi đánh giá khả năng nhận thức, thái độ học tập thông qua hoạt động học:
tiếp nhận nhiệm vụ, tự học cá nhân, trao đổi thảo luận, tư duy sáng tạo học tập và trình
bày sản phẩm học tập, các kỹ năng thao tác thực hành ....
GV nên chuẩn bị các tiêu chí đánh giá, phân tích hướng dẫn cho HS cách tự đánh
giá, đánh giá lẫn nhau; thường xuyên tổ chức cho HS tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau
thông qua tổ chức trò chơi học tập, đánh giá sản phẩm học tập.
3
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Thường xuyên xem vở ghi của HS, phát hiện những điểm yếu kém của HS, động
viên khích lệ sự cố gắng, nỗ lực tiến bộ của HS so với bản thân các em; Đa dạng hoá
các hình thức và phương pháp đánh giá.
Cần tìm hiểu nguyên nhân những em lười học tập để có sự trợ giúp kịp thời;
Không nên bỏ qua những sản phẩm học tập tự làm ở nhà của HS.
3.4. Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”
Sơ đồ tư duy thực chất là một cách ghi chép mà học sinh sẽ dùng đến màu sắc và
hình ảnh để trình bày ý tưởng hay kết quả làm việc của cá nhân/ nhóm về một chủ đề.
* Cách vẽ sơ đồ tư duy:
- Viết tên chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm.
- Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết
một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung
tâm nói trên.
- Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh
chính đó.
- Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.
* Sơ đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:
- Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề;
- Trình bày tổng quan một chủ đề;
- Chuẩn bị ý tưởng cho một báo cáo hay buổi nói chuyện, bài giảng;
- Thu thập, sắp xếp các ý tưởng;
- Ghi chép khi nghe bài giảng.
3.5. Kĩ thuật “Đặt câu hỏi”
- Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS - GV và HS - HS.
- Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ học tập
tích cực hơn.
* Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
- Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HS tham gia
vào quá trình dạy học.
- Kiểm tra, đánh giá kiến thức, kĩ năng của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đối
với nội dung học tập.
- Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức.
* Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học.
- Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với trình độ HS, kích thích suy nghĩ
của HS.
- Hỏi phải đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với thời gian thực tế.
4
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Các câu hỏi phải sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp.
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xích.
- Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc.
3.6. Kĩ thuật “Trình bày một phút”
- Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi
về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với
các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá
trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.
* Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau:
Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan
trọng nhất mà chưa được giải đáp?...
- HS suy nghĩ và viết ra giấy.
- Mời một vài HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã
học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn
được tiếp tục tìm hiểu thêm.
3.7. Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
* GV đưa ra một vấn đề/một thông điệp/một câu chuyện ... mới chỉ được giải quyết một
phần và yêu cầu HS/nhóm HS hoàn tất nốt phần còn lại.
- HS/nhóm HS thực hiện nhiệm vụ được giao.
- HS/ nhóm HS trình bày sản phẩm.
- GV hướng dẫn cả lớp cùng nhận xét, đánh giá.
* Đây là một hoạt động tốt giúp các em hệ thống lại các kiến thức/tài liệu đã học hoặc
đọc các tài liệu theo yêu cầu của giáo viên.
5
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
II. CÁC GIẢI PHÁP CỤ THỂ
Trong mỗi bài học/chủ đề, theo logic của quá trình nhận thức, thông thường người
học phải trải qua các hoạt động: khởi động nêu vấn đề; hình thành kiến thức bài học; hệ
thống hóa kiến thức và luyện tập; vận dụng kiến thức vào thực tiễn và tìm tòi mở rộng.
Tôi nhận thấy, trong các phương pháp dạy học tích cực thì phương pháp được các GV
sử dụng cho hầu hết các tiết dạy, đó là phương pháp dạy học nhóm (hay còn gọi là dạy
học hợp tác), trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm, trong khoảng thời
gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công
và hợp tác làm việc. Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước
toàn lớp.
Dạy học nhóm nếu được tổ chức tốt sẽ phát huy được tính tích cực, tính trách
nhiệm; phát triển năng lực cộng tác làm việc và năng lực giao tiếp của HS, việc chia
nhóm để HS thực hiện nhiệm vụ là bước rất quan trọng. Do đó, tôi thường quan tâm tới
kĩ thuật chia nhóm đầu tiên.
1. Kĩ thuật chia nhóm
Căn cứ vào mục tiêu cần đạt của bài học/chủ đề, người GV phải lựa chọn được
phương pháp dạy học phù hợp, thì mới nghĩ đến việc chia lớp thành bao nhiêu nhóm,
mỗi nhóm bao nhiêu HS.
Cần chia nhóm theo tiêu chí nào? Cần tổ chức phòng học/kê bàn ghế như thế
nào? HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa? là những câu hỏi tôi
thường xuyên đặt ra trước khi chia nhóm HS để giao nhiệm vụ học tập.
Tôi xin chia sẻ một số cách chia nhóm tôi thường sử dụng trong quá trình dạy học.
* Chia nhóm ngẫu nhiên bằng cách sử dụng bộ bài Uno
Bộ bài số Uno gồm 76 lá bài chia đều ra 4 màu: đỏ, vàng, lục, lam. Mỗi màu gồm 19 lá
bài, chúng được đánh số từ 0 đến 9. Đây là bộ bài mà các em HS rất thích chơi.
Nếu cần chia lớp thành 5 hay 6 hay 7 nhóm, tôi cho HS bốc thăm nhóm theo số quân bài Uno
6
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Số lượng quân bài bằng số HS trong lớp.
- Nếu cần chia bao nhiêu nhóm thì tôi lựa chọn bấy nhiêu chữ số của bộ bài.
- Những em rút được quân bài có cùng một số thì về một nhóm.
VD: Với sĩ số lớp là 40, tôi muốn chia lớp thành 6 nhóm, 4 nhóm 7 em, 2 nhóm 5 em.
- Tôi chuẩn bị 07 con bài có cùng chữ số 0, 1, 6, 7; 05 quân bài có cùng chữ số 4;
05 quân bài có cùng chữ số 8 chẳng hạn. Những em bắt được cùng số 0 thì về một nhóm,
tương tự cho các nhóm còn lại.
Nếu chỉ cần chia lớp thành 3 hoặc 4 nhóm, tôi dùng chất rô, cơ, bích, nhép của quân
bài Uno để cho HS rút thăm.
- Số lượng quân bài bằng số HS trong lớp.
- Các chất rô, cơ, bích, nhép, về cơ bản phải được chia đều cho các nhóm
- Nếu chia lớp thành 4 nhóm thì tôi để nguyên 4 chất của bộ bài, nếu chia thành 3 nhóm
thì tôi cất bớt các quân bài của một chất nào đó đi.
- Tiến hành cho HS rút thăm. Những HS có cùng chất cơ về một nhóm.
- Tương tự như vậy với các HS có cùng chất rô, bích, nhép.
- Bài Uno số gồm có 4 màu, tôi cũng sử dụng màu sắc của các quân bài số Uno để chia
nhóm. Những HS rút thăm được cùng một màu thì về cùng một nhóm.
Cách làm này rất vui, không mất nhiều thời gian mà HS lại thấy sự gần gũi giữa Cô –
Trò, vì quân bài Uno là bài trí tuệ HS hay chơi.
* Chia nhóm theo sở thích
Những em có cùng sở thích sẽ tự động tạo thành một nhóm.
GV có thể chia HS thành các nhóm có cùng sở thích để các em có thể cùng thực hiện
một công việc yêu thích hoặc biểu đạt kết quả công việc của nhóm dưới các hình thức
phù hợp với sở trường của các em. Ví dụ: Nhóm ưa thích hình tròn/vuông/tam giác/hình
góc cạnh; nhóm ưa thích màu xanh/đỏ/tím/vàng; nhóm họa sĩ/nhà thơ/nhà hùng biện, ...
* Tôi rất thích sử dụng cách chia nhóm này, bởi nó giúp các em phát hiện ra những sở
thích chung của nhau để thấy mình và bạn có nhiều điểm tương đồng hơn. Chẳng hạn,
trong lớp sẽ có những em rất lười hoạt động nhóm, có thể vì các em học non hơn các
bạn khác, cũng có thể do em không tích cực, và một tâm lí chung là các bạn khác rất sợ
mình phải ở chung nhóm với những thành viên như thế này! Nhưng nếu chia nhóm theo
sở thích, các em sẽ tìm ra được điểm chung của các thành viên trong nhóm và dần xóa
mờ đi khoảng cách ấy!
* Tuy nhiên, đối với những dự án học tập cần có những HS thạo về công nghệ thông tin,
hay cần phải có đủ máy tính để thực hiện nhiệm vụ học tập, thì khi chia nhóm tôi phải
chú ý tới những điều kiện này đầu tiên, sao cho nhóm nào cũng đảm bảo được các tiêu
chí cần thiết.
MỘT SỐ VÍ DỤ VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHIA NHÓM
7
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Ví dụ 1. Khi dạy chủ đề “Sự nở vì nhiệt của các chất” (Vật lí 6)
Để thuận tiện cho làm việc theo trạm khi thực hiện các thí nghiệm về sự nở vì nhiệt của
các chất rắn/lỏng/khí, tôi chia lớp thành 6 nhóm, mỗi nhóm 6 -7 em;mỗi nhóm được
hình thành ngẫu nhiên bằng cách rút thăm số trong quân bài Uno.
Ví dụ 2. Khi dạy bài tổng kết ôn tập chương I: Cơ học (Vật lí 8)
- Tôi chia lớp thành 4 nhóm, bằng cách:
+ Tôi chuẩn bị các hình tròn/vuông/tam giác/hình góc cạnh, đề nghị mỗi em chọn một
hình theo sở thích của mình.
+ Tôi yêu cầu những em có cùng sở thích là hình tròn về một nhóm và chỉ vị trí ngồi
của nhóm đó, tương tự cho các nhóm HS có sở thích là các hình còn lại.
+ Tôi cho các em tham khảo tính cách của mình qua sở thích chọn hình tròn/ vuông, ...
* Hình tam giác: “Làm theo lời tôi nói!”
Bạn có nhớ những kim tự tháp của các vị vua Ai Cập cổ đại? Hình tam giác
được xem như tượng trưng cho sự lãnh đạo với quyền lực mạnh nhất tập trung tại đỉnh.
Những người thích hình tam giác là những con người của hành động. Bạn không thích
sự trì hoãn. Không phải ngày mai, không phải một ngày nào đó, mọi việc phải được làm
ngay bây giờ!
Bạn là người giỏi lãnh đạo, năng động, quyết đoán, tập trung tốt, hướng đến kết quả,
nhưng bạn cũng có nhược điểm tiềm tàng là thiếu kiên nhẫn và hay đối đầu.
* Hình vuông: “Cứ cho thời hạn, tôi sẽ làm!”
Người thích hình vuông là người giỏi sắp xếp, nhấn mạnh nhất vào tính tổ chức và cấu
trúc. Bạn luôn quan niệm: “Hãy làm đúng dù phải mất bao nhiêu thời gian”.
- Bạn là người có đầu óc tổ chức, ham hiểu biết, thích phân tích, kiên trì, ngăn nắp.
Nhưng bạn cũng có nhược điểm tiềm tàng: quá tỉ mỉ, cầu toàn nên có thể hay trì hoãn.
Bill Gates cũng là người đã chọn hình vuông, bạn có phải là fan của ông ấy không?
* Hình tròn: “Tích cực lên nào, tôi sẽ giúp bạn”
Hình tròn là mẫu người tốt bụng và luôn chăm lo cho người khác nhất trong số 4 hình.
Bạn là người lạc quan, thích làm việc nhóm. Bạn luôn thể hiện sự tử tế, quan tâm và
giao tiếp rất tốt do có khả năng lắng nghe tuyệt vời. Bạn cũng rất giỏi thuyết phục, nhưng
đôi lúc bạn thiếu quyết đoán và dễ có xu hướng nghiêm trọng hóa vấn đề.
* Hình góc cạnh: “Hãy sáng tạo!”
Bạn là người rất thích sáng tạo! Bạn không phải là bản sao của ai cả, và luôn cân nhắc
các khả năng có thể xảy ra.
Bạn luôn hướng đến tương lai, giàu trí tưởng tượng, tự do, vui tính, không bó buộc suy
nghĩ. Bạn thấy mình là người luôn tìm những ý tưởng mới, cách thực hiện mới, sản
phẩm mới nhưng một số khác đôi khi nghĩ tính cách này thật kỳ quặc, khác người.
8
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Tính cách này có thể tìm thấy ở những người nổi tiếng như Albert Einstein, Walt
Disney.
- Cho các em cử nhóm trưởng, thư kí, mời nhóm trưởng lên bốc thăm chọn chủ đề cần
trình bày cho nhóm mình.
- GV cũng có thể thay các hình nói trên bằng các bông hoa có màu sắc khác nhau/hoặc
các quân bài Uno có các màu sắc khác nhau, cho HS biết tính cách qua việc lựa chọn
màu sắc.
* Trong làm việc nhóm, ngoài việc cử nhóm trưởng, thư kí cho mỗi nhóm là điều phải
làm, thì tùy theo từng tính chất nhiệm vụ học tập, mà chúng ta có thể yêu cầu HS cử
thêm những chức danh khác nhau trong nhóm.
Ví dụ: Trong dự án về “Mắt” (Vật lí 9) với chủ đề: “Hãy bảo vệ đôi mắt, chiếc máy ảnh
diệu kì Mẹ đã ban tặng cho ta!”, ngoài nhóm trưởng, thư kí, tôi yêu cầu HS cử ra một
nhà ngoại giao để thuận tiện khi đi đến các hiệu kính thuốc để tìm hiểu về cách khám mắt,
cách thử kính và được tận mắt xem các loại kính thuốc.
2. Kĩ thuật giao nhiệm vụ
Khi chuyển giao nhiệm vụ cho HS, tôi thường theo các bước sau:
- Đưa ra nội dung, yêu cầu của nhiệm vụ.
- Giới thiệu địa chỉ tranh ảnh, bảng biểu trong sách (nếu có) để HS nắm bắt thông tin.
- Cho biết thời gian cần hoàn thành nhiệm vụ.
- Đưa ra hình thức hoạt động (cá nhân/nhóm cặp đôi/nhóm theo bàn/ nhóm lớn, ..)
(Cũng có thể bước này tôi đưa lên đầu tiên, tùy thuộc vào tính chất từng nhiệm vụ,vì vậy
rất cần sự linh hoạt khi sử dụng kĩ thuật giao nhiệm vụ)
- Bắt đầu tính giờ.
Ví dụ . Khi dạy về chủ đề “Sự truyền ánh sáng” (Vật lí 7)
Tôi tiến hành giao nhiệm vụ để yêu cầu HS tìm hiểu về hiện tượng nhật thực- nguyệt
thực, như sau:
Hoạt động của GV
- Giáo viên yêu cầu các nhóm HS (6 nhóm đã chia để làm
việc ở các nhiệm vụ học tập trước đó), trong 6 phút:
- Tìm hiểu thông tin SGK mục II và hình 3.3; 3.4 trang
11.
Hoạt động của HS
- Học sinh các nhóm
nhận nhiệm vụ
- Các nhóm đọc nội
dung trong sách giáo
Hãy vẽ hình mô tả vị trí của Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái
khoa và lắng nghe
Đất khi xảy ra hiện tượng nhật thực và nguyệt thực và trả hướng dẫn của giáo
lời các câu hỏi sau:
viên
1. Nhật thực toàn phần, nhật thực một phần xảy ra khi
nào?
9
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Giải thích vì sao đứng ở nơi có nhật thực toàn phần ta lại
không nhìn thấy Mặt Trời và thấy trời tối lại
- Vật nào là nguồn sáng, vật cản, màn chắn ?
2. Tại sao ban đêm khi đứng trên Trái Đất ta lại nhìn thấy
Mặt Trăng?
- Nguyệt thực xảy ra khi nào?
- Hãy chỉ ra, trên hình 3.4, Mặt Trăng ở vị trí nào thì
người đứng ở điểm A trên Trái Đất thấy trăng sáng, thấy
có nguyệt thực.
- Nguyệt thực xảy ra có thể xảy ra trong cả đêm không?
3. Nguyên nhân chung gây ra hiện tượng nhật thực và
nguyệt thực là gì?
3. Kĩ thuật theo dõi, đánh giá HS trong quá trình học tập
* Ngoài những con điểm kiểm tra thường xuyên và kiểm tra định kì, tôi còn có một con
điểm ý thức để đánh giá phương pháp học tập, rèn luyện và ý thức học tập của học sinh.
HS nào ngoan, tích cực học tập sẽ được điểm cộng, ngược lại sẽ bị điểm trừ.
Tôi đưa ra tiêu chí đánh giá ngay từ đầu năm học và được nhắc lại mỗi khi có HS nào
đó hay vi phạm hoặc ý thức học tập chưa tốt. Con điểm này tôi không sử dụng là con
điểm thành phần của điểm tổng kết, nhưng nó giống như một “cái ngàm”, một barie để
HS biết các ngưỡng và cần cố gắng hơn trong học tập môn Vật lí.
* Tôi luôn quan tâm tới việc đánh giá học sinh theo hướng phát triển phẩm chất, năng
lực, tôi luôn hướng tới quan điểm “đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập”
Ví dụ 1. Khi dạy tiết 26. Bài tập (Vật lí 7) bằng phương pháp dạy học theo hợp đồng Tôi
cho HS kí hợp đồng học tập và phát phiếu học tập cho HS. Ở hoạt động 1 (Ôn tập các
kiến thức cần thiết) tôi cho các em làm việc cá nhân trong thời gian 7 phút, khi thanh lí
hợp đồng ở hoạt động này, tôi trình chiếu đáp án để tự các em chấm điểm cho mình, rồi
tự đối chiếu với mức độ đăng kí lúc đầu trong hợp đồng để các em tự đánh giá mình và
tự rút ra những kinh nghiệm học tập cho bản thân.
Khi thanh lí hợp đồng hoạt động vẽ sơ đồ mạch điện theo yêu cầu, tôi yêu cầu HS chuyển
bài và chấm chéo bài cho nhau để thực hiện sự đánh giá đồng đẳng, đảm bảo HS nào
cũng được đánh giá và tự đánh giá.
Ví dụ 2. Khi dạy tiết 13. Luyện tập: Thí nghiệm với mạch điện than chì (Vật lí 9)
(Dạy học theo định hướng giáo dục STEM)
Khi trình chiếu sản phẩm học tập của mỗi nhóm, các nhóm còn lại sẽ theo dõi và chấm
điểm trên phiếu theo các tiêu chí mà tôi đã đưa ra từ trước đó.
BIỂU ĐIỂM CHẤM (theo thang điểm 20)
1. Nội dung thực hành (10 điểm):
10
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
Cụ thể: + Thí nghiệm thành công (đèn sáng): 1 điểm
+ Rút ra nhận xét cần thiết sau khi làm thí nghiệm: 4 điểm
+ Làm đầy đủ 3 loại thí nghiệm: 5 điểm
2. Kiến thức đúng: 5 điểm
3. Thuyết minh (trình bày sản phẩm): khoa học, đẹp mắt, làm bật được vấn đề cần nghiên
cứu : 3 điểm
4. Hợp tác khi làm việc nhóm: 1 điểm
5. Thể hiện tính sáng tạo: 1 điểm
PHIẾU CHẤM ĐIỂM
STT
ĐIỂM
NHÓM 1
NHÓM 2
NHÓM 3
NHÓM 4
NHÓM 5
NHÓM 6
NHÓM 7
NHÓM 8
NHÓM 9
NHÓM 10
NHÓM 11
NHÓM 12
Ví dụ 3. Khi dạy tiết 9. “Ôn tập chương I. Quang học” (Vật lí 7) tôi chia lớp thành 3
nhóm bằng cách chọn màu quân bài Uno, mỗi nhóm có nhiệm vụ ôn tập, hệ thống kiến
thức của từng chủ đề dưới dạng sơ đồ tư duy.
- Khi một nhóm trình bày xong, đặt câu hỏi cho nhóm khác trả lời, các nhóm khác có
quyền đặt câu hỏi ngược lại cho nhóm đó. Các nhóm khác lắng nghe, thảo luận về kết
quả và đánh giá vào phiếu chấm.
- Tiếp đến, các nhóm đánh giá chéo về kính vạn hoa do mỗi nhóm tự làm.
Biểu điểm chấm
1. Sơ đồ tư duy
- Nội dung: + Đảm bảo đúng kiến thức: 30 điểm
+ Đảm bảo tính logic của mạch kiến thức : 10 điểm.
- Hình thức: Đẹp, bắt mắt, phối màu hợp lí: 10 điểm
2. Thuyết trình
- Phong thái tự tin, chững chạc, nói to rõ ràng: 5 điểm
- Thuyết trình theo đúng mạch kiến thức: 5 điểm
3. Kĩ thuật đặt câu hỏi và trả lời
- Nội dung câu hỏi rõ ràng + đáp án đưa ra đúng: 5 điểm + 5 điểm
- Trả lời đúng nội dung câu hỏi: 10 điểm
4. Kính vạn hoa
11
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Kính được gắn chắc chắn giữa khối gương với ống vỏ bên ngoài : 5 điểm
- Hình thức trang trí đẹp : 5 điểm
- Kính tạo ra những hoa văn đẹp :10 điểm
Hình
Thuyết
Đặt câu
Trả lời
Làm
Nội
Tổng
thức
trình
hỏi giao câu hỏi kính vạn
dung
điểm
STT
(10
(10
lưu
giao lưu
hoa
(40
(100
điểm)
điểm)
(10
(10
(20
điểm)
điểm)
điểm)
điểm)
điểm)
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
- GV chấm điểm cho cả 3 nhóm theo phiếu trên, tổng hợp điểm chấm vào phiếu sau :
PHIẾU TỔNG HỢP ĐIỂM CỦA CÁC NHÓM
Nhóm 1 chấm
Nhóm 2 chấm
Nhóm 3 chấm
GV chấm
Tổng
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 3
Điều đáng nói ở đây, điểm đánh giá của GV cũng chỉ hệ số 1 như điểm đánh giá lẫn
nhau giữa các HS.
4. Kĩ thuật “Sơ đồ tư duy”
* Tôi thường dùng kĩ thuật sơ đồ tư duy khi dạy các bài tổng kết chương hoặc cho các
em hệ thống lại kiến thức của một bài học/chủ đề, nhằm:
- Giúp HS xâu chuỗi được kiến thức và nắm được kiến thức một cách hệ thống.
- Rèn luyện cho HS tinh thần tập thể, tính đoàn kết hợp tác khi làm việc nhóm .
- Rèn luyện cho HS tư duy trừu tượng (cần sắp xếp mạch kiến thức như thế nào, đâu là
nhánh chính cấp 1, đâu là nhánh cấp 2, 3, ... , sử dụng màu sắc thế nào cho hợp lí, đẹp
mắt, vv ...)
- Rèn luyện cho HS kĩ năng thuyết trình một vấn đề trước đám đông.
- Góp phần hoàn thiện và phát triển nhân cách, bồi dưỡng năng khiếu và tài năng sáng
tạo của HS.
12
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
5. Kĩ thuật “Đặt câu hỏi”
Thông thường, GV hay đặt câu hỏi để HS trả lời. Nhưng theo tôi, chúng ta nên tạo điều
kiện để HS được đặt câu hỏi cho GV, đặt câu hỏi cho bạn để các em rèn luyện năng lực
phát triển ngôn ngữ, năng lực giao tiếp.
Ví dụ, khi dạy các tiết ôn tập chương, tôi hay chia nhóm và cho HS nhóm này, đặt câu
hỏi cho các nhóm khác trả lời, qua đó giúp các em vừa ôn tập kiến thức, vừa rèn luyện
năng lực ngôn ngữ, năng lực giao tiếp. GV đóng vai trò là trọng tài trong phần học đó.
6. Kĩ thuật “Trình bày một phút”
Ví dụ 1: Khi dạy xong tiết 13. Luyện tập: Thí nghiệm với mạch điện than chì (Vật lí 9)
(Dạy học theo định hướng giáo dục STEM), tôi đặt câu hỏi: Qua cách học của buổi hôm
nay, em đã được luyện tập hay học tập thêm được những điều gì?
- Hầu hết HS viết: Em đã được ôn lại các kiến thức về sự phụ thuộc của điện trở vật dẫn
vào các yếu tố: chiều dài, tiết diện, vật liệu làm dây dẫn và tính dẫn điện của than chì
(Điều đó chứng tỏ GV đã hoàn tất mục tiêu kiến thức của bài dạy!)
- Rất nhiều HS viết: Em học được cách tự mình thiết kế và thực hiện thí nghiệm; em
được học cách cầm máy để quay video, học được cách tìm góc quay sao cho hợp lí, em
học được cách dàn dựng một video; em học được cách edit chữ vào video để dùng kênh
chữ thay cho kênh tiếng khi thuyết trình; em học thêm được cách thiết kế một bài Power
point hợp lí và bắt mắt, vv ... (Điều này chứng tỏ tiết học đã đi đúng theo định hướng
giáo dục STEM)
7. Kĩ thuật “Hoàn tất một nhiệm vụ”
Tôi thường dùng kĩ thuật này vào hoạt động luyện tập trong buổi học, hoặc sau khi học
xong các đơn vị kiến thức có tính tương quan để giúp các em tổng hợp kiến thức.
- Khi thực hiện trên lớp, để không ảnh hưởng đến thời lượng của những phần sau, tôi
thường cung cấp biểu bảng/mẫu sẵn để HS/nhóm HS hoàn thiện kiến thức vào đó.
Sau đây tôi xin được minh họa bằng một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: HS lớp 6 bước đầu làm quen với các đại lượng Vật lí, ngay sau khi HS học
xong bài đầu tiên với chủ đề đo độ dài, tôi hướng dẫn các em lập bảng và hệ thống lại
các kiến thức cần thiết:
STT
1.
Đại lượng Vật lí
Độ dài
Kí hiệu
Đơn vị đo
Dụng cụ đo
l
m
Thước
13
Giáo viên: Nguyễn Thị Loan – Trường THCS Vinh Tân – TP Vinh
SKKN: “Vận dụng linh hoạt các kĩ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo của học sinh trong các tiết học môn Vật lí THCS”
- Cuối những tiết học tiếp theo, tôi lại yêu cầu các em viết tiếp vào bảng tổng hợp đó
những kiến thức về các đại lượng Vật lí khác, như: thể tích, khối lượng, lực.
- Khi học đến trọng lượng, tôi hướng dẫn các em kẻ thêm cột công thức để viết công
thức trọng lượng P = 10.m
- Cứ như vậy, khi thêm được m...
 








Các ý kiến mới nhất