Đại thắng mùa xuân năm 1975

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:44' 09-04-2025
Dung lượng: 895.2 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Văn Minh (trang riêng)
Ngày gửi: 20h:44' 09-04-2025
Dung lượng: 895.2 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
Văn Tiến Dũng
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
LỜI NÓI ĐẦU
Một năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm
1975 giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ách
thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Thời gian không làm phai nhạt mà chỉ càng làm rõ nét hơn chiến công vĩ
đại của qaân và dân ta. Đại thắng Mùa Xuân đã được khắc sâu vào lịch sử
bằng những chữ vàng chói lọi.
Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, với tốc độ "một ngày bằng 20 năm" với sức mạnh áp đảo cả
về quân sự và chính trị tích luỹ từ nhiều năm, quân và dân ta đã giành toàn
thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên
mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột;
Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền
Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia
Định để dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại của Nam Bộ. Hơn một triệu
quân nguỵ và tất cả bộ máy nguỵ quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới
được Mỹ dốc sức xây dựng trong hai chục năm sụp đổ hoàn toàn.
Tôi có may mắn được là một trong nhiều đồng chí nhận chỉ thị của Bộ
Chính trị Trung ương Đảng cử đi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
năm 1915 với cương vị Đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh
chỉ đạo trực tiếp trong Chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh Bộ chỉ huy
Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam,
báo Nhân dân đề nghị tôi kể lại một số chuyện trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 do đồng chí Hồng Hà ghi. Sau khi báo
Nhân dân đăng loạt bài kể chuyện nói trên, nhiều bạn đọc và nhiều nhà xuất
bản đề nghị cho in lại thành sách.
Mặc dù gặp khó khăn về thời gian, nhưng do yêu cầu cấp thiết của bạn
đọc, tôi viết lại và bổ sung thêm tài liệu để thành cuốn Đại thắng Mùa Xuân
https://thuviensach.vn
này.
Một sự kiện lịch sử vĩ đại như Đại thắng Mùa Xuân không một cuốn
sách riêng rẽ nào, không một đơn vị hoặc cá nhân nào có thể diễn tả lại
được đầy đủ. Việc sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, việc tổng kết kinh nghiệm
đòi hỏi nhiều năm, có khi hàng chục năm. Vì thế cuốn Đại thắng Mùa Xuân
chỉ là những nét phác thảo nhằm kịp thời giới thiệu với bạn đọc một số mẩu
chuyện về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 để thấy rõ
sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công,
tính độc lập tự chủ của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, những
cố gắng phi thường, những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cả nước.
Cuốn sách chủ yếu nhằm giới thiệu với bạn đọc những vấn đề thuộc về
sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung
ương, sự đấu lực và đấu trí rất thông minh của Đảng ta, nhân dân ta, quân
đội ta trong phạm vi chiến lược và chiến dịch để dẫn đến toàn thắng, không
đi sâu vào các hoạt động, thành tích và trận chiến đấu cụ thể của các quân
khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đơn vị, các địa phương và các
tầng lớp nhân dân.
Cuốn sách không sao nói hết được những ý nghĩ, sự phân tích của tập
thể Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và tập thể cơ quan Bộ Tổng tư lệnh
khi hạ quyết tâm chiến lược ở thời kỳ "nút" giải quyết cuộc chiến tranh
theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Không sao nhớ hết,
nói hết được những tính toán chiến lược của Đảng ta để đi đến tổ chức thực
hiện trên các chiến trường một cách sáng tạo, táo bạo, khẩn trương quyết
tâm của Bộ Chính trị để giành toàn thắng. Không sao nhớ hết, nói hết được
những hành động anh hùng của hàng trăm nghìn chiến sĩ và cán bộ trong
quân đội, của triệu triệu nhân dân ta từ Nam chí Bắc, sự đóng góp hết lòng,
hết sức của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân đê làm nên
thắng lợi tuyệt vời này. Đây là công việc của nhiều đồng chí, đồng bào, của
nhiều đơn vị, địa phương, của nhiều cuốn sách, bài báo, tác phẩm nghệ
thuật trong nhiều tháng tới và nhiều năm tới, tiếp tục cung cấp thêm nhiều
tài liệu để giới thiệu Đại thắng Mùa Xuân, cuốn sách này còn nhằm kịp thời
bác bỏ những luận điểm sai trái, phản động do những kẻ xuyên tạc lịch sử,
https://thuviensach.vn
những bọn cướp nước và bán nước thua trận đang dựng lên hòng bào chữa
cho thất bại thảm hại của chúng và hạ thấp chiến thắng của dân tộc ta.
Do tầm cỡ vĩ đại của chiến thắng, một người không thể nhìn bao quát
và do thời gian gấp rút, cuốn sách này không tránh khỏi có những thiếu sót,
mong bạn đọc thân mến bổ sung và góp ý kiến.
Tháng 5 năm 1976
Đại tướng Văn Tiến Dũng
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
Chương 1
Bạo lực cách mạng
Mùa xuân năm 1974, sau Tết Giáp Dần, Hội nghị cán bộ quân sự cao
cấp họp tại số nhà 33 phố Phạm Ngũ Lão - Hà Nội. Hội nghị có đủ đại biểu
các chiến trường, các quân chủng, binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn và
đại biểu các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh để thảo luận quán triệt Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 và phổ
biến Nghị quyết tháng 3 năm 1974 của Quân uỷ Trung ương đã được Bộ
Chính trị thông qua.
Đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ đến Hội nghị phổ biến Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 21. Cũng trong dịp này, Quốc hội quyết định thăng
quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội. Chủ tịch
Tôn Đức Thắng đã đến thăm, động viên và chỉ thị nhiệm vụ cho các cán bộ
cao cấp và cho toàn quân.
Mỗi cán bộ và chiến sĩ quân đội hết sức phấn khởi được Trung ương
Đảng chỉ cho thấy đường đi và triển vọng tươi sáng của cách mạng. Những
lời căn dặn của đồng chí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng, của Chủ tịch
Tôn Đức Thắng tại Hội nghị là mệnh lệnh của Đảng và Nhà nước cho toàn
quân tiến lên phía trước.
Hồi đó, Hiệp định Paris về Việt Nam ký đã được hơn một năm.
Theo Hiệp định, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt
Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trnng
các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân
dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự và can thỉệp vào nội
bộ miền Nam Việt Nam, thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai
chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.
Đó là thắng lợi lớn của nhân dân ta, là thất bại lớn của đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai, là kết quả 18 năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của quân và
https://thuviensach.vn
dân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Hiệp định Paris về Việt Nam
đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta, mở ra cho cách mạng miền Nam Việt Nam một giai đoạn mới:
giai đoạn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống
nhất nước nhà. Đó là thời kỳ cuối của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
nói chung và của chiến tranh cách mạng ở miền Nam nói riêng.
Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Paris về Việt
Nam một cách có kế hoạch và có hệ thống.
Tuy buộc phải ký Hiệp định, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ chính
sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện "học thuyết Níchxơn", áp
đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài
nước ta. Để thực hiện ý đồ nham hiểm đó, ngay từ đầu, Mỹ chủ trương vừa
ký Hiệp định, vừa giúp nguỵ quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh điên cuồng
phá hoại Hiệp định. Đế quốc Mỹ đã tiến hành ở miền Nam nước ta một
cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới bằng nhiều biện pháp thâm
độc.
Chúng tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho bọn nguỵ. Trước khi rút
quân ra, Mỹ đã đưa vào miền Nam gần 700 máy bay các loại, 500 khẩu
pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, dự kiến đưa thêm một
số lớn binh khí kỹ thuật, tăng dự trữ vật tư chiến tranh của quân nguỵ lên
mức tương đối cao, gần 2 triệu tấn.
Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập
lãnh thổ", tập trung lực lượng thực hiện "Kế hoạch bình định ba năm 19731975", "Kế hoạch bình định sáu tháng từ tháng 3-1973 đến tháng 8-1973",
"Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "Kế hoạch xây dựng quân đội từ
1974 đến 1979" nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng
của ta ở miền Nam.
Địch khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân nguỵ, nhất là
các quân chủng, binh chủng nhằm bảo đảm cho quân nguỵ đủ sức đối phó
với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt
khoảng 24 vạn lính, thu thập lại trên 13 vạn quân đào ngũ, rã ngũ và bị
thương, đưa tổng quân số của chúng lên tranh cách mạng để giành thắng lợi
https://thuviensach.vn
hoàn toàn". Và "Cách mạng miền Nam phải nắm vững tư tưởng chiến lược
tiến công. Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát
huy thế chủ động về mọi mặt của ta".
Tinh thần của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục
chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng
chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiên
hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam.
Hội nghị Quân uỷ Trung ương không những vạch rõ phương châm
chung là "phản công và tiến công" mà còn nêu lên phương hướng vận dụng
phương châm đó trong từng vùng và những phương thức hoạt động trên
từng chiến trường. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho toàn quân: tích cực
tiến hành công tác chính trị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chính
trị toàn diện của các lực lượng vũ trang, tạo nên một sự chuyển biến mới
mạnh mẽ, cả về tư tưởng, tổ chức, năng lực, tác phong trong mọi đơn vị,
mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là nâng cao ý chí chiến đấu, tăng cường tổ chức
kỷ luật, bảo đảm cho ba thứ quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong
giai đoạn mới.
Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua.
Sau khi có Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu
cùng với Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, bắt tay ngay vào việc
nghiên cứu, lập những kế hoạch tác chiến chiến lược chung và kế hoạch tác
chiến từng chiến trường; khẩn trương tổ chức và huấn luyện các binh đoàn
chủ lực, các binh chủng kỹ thuật; vạch kế hoạch về các mặt công tác chuẩn
bị và công tác bảo đảm; đồng thời chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt
động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ
động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện cho
tiến công lớn, rộng khắp trong năm 1975.
Các địa phương và các đơn vị, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng
ven Sài Gòn - Gia Định, từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 10 năm 1974 đều
hoạt động mạnh lên, phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi
ngày càng lớn, với nhịp độ nhanh. Nơi nào quán triệt Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương, nắm vững quan
https://thuviensach.vn
điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng tiến công, thì nơi đó chẳng những phá
được kế hoạch "bình định" của địch, giữ vững được vùng giải phóng của ta
và các căn cứ trong vùng địch kiểm soát, mà còn mở rộng thêm được nhiều
vùng giải phóng, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó.
Chúng tôi đặc biệt chú ý đến kết quả trận tiêu diệt quận lỵ Thượng Đức
ở Khu 5. Đây là trận thử sức với lực lượng gọi là tinh nhuệ nhất của địch.
Ta tiêu diệt địch ở chi khu quận lỵ Thượng Đức, địch đưa cả sư đoàn lính
nhảy dù đến phản kích liên tục, dài ngày hòng chiếm lại, nhưng ta đã đánh
cho chúng thiệt hại nặng, giữ vững Thượng Đức, buộc địch phải "bỏ cuộc".
Từ trận Thượng Đức này và các trận tiêu diệt quân chủ lực địch ở Chư
Nghé, Đắc Pét trên Tây Nguyên, Bộ Tổng Tham mưu đi đến nhận định và
báo cáo với Quân uỷ Trung ương: khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực
cơ động của ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch. Chiến tranh đã
bước vào giai đoạn cuối, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch
yếu đi. Do đó ta có thể và cần phải chuyển từ đánh nhằm tiêu diệt sinh lực
địch là chính, sang đánh chẳng những tiêu diệt địch mà còn nhằm giải
phóng nhân dân và giữ đất, từ chỗ quân chủ lực ta lấy tiêu diệt quân chủ lực
địch trên chiến trường rừng núi là chủ yếu, sang tiêu diệt địch và giải phóng
nhân dân, giải phóng đất cả ở vùng giáp ranh, đồng bằng và thành phố.
Muốn đánh tiêu diệt lớn và giữ vững các vùng mới giải phóng thì việc chỉ
sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp không còn thích hợp nữa, mà
cần có những binh đoàn cơ động, binh chủng hợp thành lớn hơn, làm quả
đấm mạnh, được sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất, hoạt động
trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu nhằm tiêu
diệt lớn quân chủ lực địch.
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhất trí với nhận định này và chỉ
thị cần xúc tiến tổ chức ngay các binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư
lệnh. Từ tháng 10 năm 1973 trở đi, lần lượt các quân đoàn được thành lập
tập trung huấn luyện tác chiến hợp đồng binh chủng và bố trí trên các địa
bàn chiến lược cơ động nhất. Việc xây dựng các quân đoàn có đủ các thành
phần binh chủng kỹ thuật là một bước trưởng thành mới của quân đội ta,
làm cho ta có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy
https://thuviensach.vn
mô lớn gồm nhiều quân đoàn, sư đoàn, có sức đột kích lớn, cơ động cao,
sức chiến đấu liên tục, có khả năng đánh tiêu diệt quân địch trong các chiến
dịch có ý nghĩa chiến lược: Đi đôi với tổ chức lực lượng còn một việc cấp
bách khác là biên chế và thay đổi trang bị cho quân đội được tốt và hiện đại
hơn. Một khối lượng lớn hàng quân sự của ta như xe tăng, xe bọc thép, tên
lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ mà đế quốc Mỹ định phá huỷ trong đợt 12
ngày đêm ném bom miền Bắc bằng máy bay B.52 không được, nay lần lượt
được chuyển tới các chiến trường. Và lần đầu tiên pháo cơ giới tầm xa và
những xe tăng tốt của ta đã vào tận những rừng cao su Nam Bộ. Đây là một
bước trưởng thành lớn của quân đội ta, đồng thời cũng là bước chuẩn bị lực
lượng tích cực nhất cho cuộc tổng tiến công sau này.
Có lực lượng lớn, có trang bị hiện đại chưa đủ, còn phải tổ chức chiến
trường để có thể phát huy được hết sức mạnh của lực lượng lớn và trang bị
hiện đại đó. Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban
đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hợp đồng binh chủng để
tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh
vào đầu não chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ
quốc. Và như vậy phải có đủ đường giao thông, phương tiện vận chuyển cơ
giới mới có đủ lương thực, thực phẩm, đạn dược, vũ khí cho tiền tuyến.
Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình
xây dựng con đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm
1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn
trương nối hền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là
công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa
tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cả cũ và mới, làm trong
suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000km. Nhà nước và nhân dân ta đã dồn
sức dồn của rất lớn vào công trình này. Hàng nghìn xe máy các loại, hàng
chục nghìn bộ đội, công nhân, kỹ sư, thanh niên xung phong và dân công
vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ do khí hậu, thời tiết và bom đạn
địch gây ra, ngày đêm phá núi san đèo, chuyển đá đắp đường, xây cống,
dựng cầu, tạo ra một kỳ công rất tự hào ở phía Tây Tổ quốc. Đúng là
"Đường ta rộng thênh thang tám thước", các xe vận tải cỡ lớn, các xe chiến
https://thuviensach.vn
đấu loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm
hàm hở chuyển hàng trăm nghìn tấn vật chất các loại vào hệ thống kho tàng
cho các chiến trường để bảo đảm đánh lớn.
Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000km
đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh,
vượt sông cả, suối sâu, núì cao, có ngọn hơn 1.000 mét, đủ sức tiếp dầu cho
hàng chục nghìn xe các loại vào, ra trên đường.
Có thể nêu một hình ảnh đáng tự hào là trên vùng núi chót vót ở phía
tây Tổ quốc, hơn 20.000km đường chiến lược từ Bắc chí Nam và đường
chiến dịch từ Tây sang Đông như những chiếc thừng rất chắc đang từng
ngày từng giờ luồn dần vào cổ, vào chân tay con quái vật, chờ khi có lệnh
là siết chặt, kết liễu đời nó.
Đường dây thông tin hữu tuyến cũng đã kéo dài tới Lộc Ninh. Từ Hà
Nội đã nói chuyện thẳng được với nhiều chiến trường.
Giữa lúc nhân dân miền Nam đẩy lùi địch hầu khắp mọi nơi để giành
quyền làm chủ thì ở miền Bắc, từ các bản làng, khu phố, cơ quan, trường
học, xí nghiệp, hàng chục nghìn thanh niên nô nức vào bộ đội, lên đường ra
mặt trận theo tiếng gọi của Đảng và Tổ quốc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết
Quân uỷ Trung ương cùng sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị
đã làm chuyển biến cục, diện chiến trường có lợi cho ta và động viên được
sức mạnh cả nước hướng ra tiền tuyến.
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
Chương 2
Thời cơ
Trong các tháng 7, 8, 9, 10 năm 1974, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu làm
việc nhộn nhịp và căng thẳng. Các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và
Bộ Chính trị hàng ngày theo dõi tình hình và chỉ đạo việc nghiên cứu dự
thảo kế hoạch tác chiến chiến lược.
Lúc này, một luồng gió mát phấn chấn thổi qua toàn Đảng và toàn dân
ta: Cách mạng miền Nam đang trỗi dậy sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21
của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương tháng 3 năm
1974.
Cục diện chiến trường đang chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta
đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã
phản công và tiến công địch liên tục giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp
độ nhanh.
Khu 9 nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành
quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn
400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn hơn 800 đồn bốt địch, giải
phóng thêm hơn 200 ấp với hơn 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công
địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía bắc
Sài Gòn. Vùng ven Sài Gòn đẩy mạnh các mặt đấu tranh giữ vững các lõm
giải phóng, đánh thiệt hại nặng quân địch phản kích. Khu 5 đã chuyển lên
thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn,
Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), đẩy mạnh đánh phá địch ở
đồng bằng, xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Ở
Tây Nguyên, ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng
Bút, Măng Đen, I-a-súp, mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược.
Ở Trị Thiên, tiếp tục giam chân sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ
động chiến lược của nguỵ, áp sát vùng giáp ranh và đẩy mạnh chống "bình
định" ở đồng bằng ngày càng có kết quả hơn.
https://thuviensach.vn
Địch thì bị động, sa sút toàn diện. Kế hoạch "bình định" lấn chiếm của
chúng bị đánh bại một bước quan trọng trên nhiều khu vực ở đồng bằng,
nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Tinh thần và sức chiến đấu của quân
nguỵ giảm sút rõ rệt: 170.000 tên đào ngũ, rã ngũ kể từ đầu năm. Tổng số
quân của chúng giảm 20.000 tên so với năm 1973; số quân chiến đấu giảm
xuống nhiều. Lực lượng cơ động chiến lược địch bị sa lầy (sư đoàn thuỷ
quân lục chiến ở Trị Thiên, sư đoàn dù ở Thượng Đức). Mỹ giảm viện trợ
làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân nguỵ không
thực hiện được theo ý muốn của chúng. Trong tài khoá 1972-1973, Mỹ viện
trợ cho nguỵ 1.614 triệu đôla về quân sự. Tài khoá 1973-1974 chỉ còn
1.026 triệu đôla và tài khoá 1974-1975 giảm xuống còn 700 triệu. Nguyễn
Văn Thiệu phải kêu gọi quân của hắn chuyển sang tác chiến "kiểu con nhà
nghèo": theo tài liệu của chúng thì chi viện hoả lực giảm sút gần 60% vì
thiếu bom, đạn; sức cơ động cũng giảm 50% vì thiếu máy bay, thiếu xe,
thiếu cả nhiên liệu. Tình trạng đó buộc chúng phải chuyển từ hành quân
lớn, tiến công nhảy sâu bằng máy bay lên thẳng, xe tăng sang phòng ngự
chốt, lấn dũi, lùng sục nhỏ.
Tóm lại, đặc điểm chủ yếu của tình hình miền Nam sau gần hai năm ta
đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris là: mặc dầu quân Mỹ và quân chư
hầu đã buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng ở đây vẫn đang diễn
ra một cuộc chiến tranh cách mạng của ta chống chiến tranh thực dân mới
của địch, kết hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị. Nổi bật là cuộc
đấu tranh đó diễn ra với quy mô ngày càng lớn mà ta thì ngày càng chủ
động và mạnh lên, địch ngày càng bị động và yếu đi, tạo thêm một bước
phát triển mới về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng.
Đi đôi với việc phát triển thế và lực trên chiến trường miền Nam, ta còn
ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh về mọi mặt, từng
bước khắc phục những hậu quả nghiêm trọng của hai cuộc chiến tranh phá
hoại.
Về sản xuất đạt xấp xỉ mức năm 1965, đời sống nhân dân được ổn định.
Trong hai năm 1973-1974, hàng chục vạn chiến sĩ đã được động viên ra
tiền tuyến, công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, chủ yếu là từ Khu 4 cũ
https://thuviensach.vn
trở vào và trong quân chủng Phòng không - Không quân được tiến hành rất
tích cực.
Tháng 10-1974, trời cuối thu bắt đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự
chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp đến. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung
ương họp nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến
lược.
Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị khá đầy đủ mọi mặt tình
hình địch và ta, diễn biến trên các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định
Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu, treo khắp bốn
bức tường trong phòng họp. Qua nghe báo cáo và thảo luận, hội nghị nhất
trí đánh giá tình hình miền Nam gọn trong năm điểm:
Một là, quân nguỵ ngày càng suy yếu cả về quân sự chính trị, kinh tế.
Lực lượng ta đã mạnh hơn địch ở miền Nam.
Hai là, Mỹ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong nước và trên thế giới,
khả năng viện trợ cho nguỵ ngày càng giảm bớt, cả về chính trị và kinh tế.
Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt viện trợ cho nguỵ mà còn khó có
khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa
cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn.
Ba là, ta đã tạo được một thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, đã
tăng cường được lực lượng và dự trữ vật chất, đã hoàn chỉnh được hệ thống
đường giao thông chiến lược và chiến dịch.
Bốn là, ở đô thị đã có phong trào đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ, độc
lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu.
Năm là, nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh
chính nghĩa của nhân dân ta.
Hội nghị lần này có một vấn đề được đặt ra và thảo luận sôi nổi: liệu
Mỹ có khả năng đưa quân trở lại miền Nam khi ta đánh lớn dẫn đến nguy
cơ sụp đổ của quân nguỵ không? Mọi người đều thấy rõ và rất chú ý là sau
khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, buộc phải rút ra khỏi miền Nam Việt
Nam, Mỹ lại càng khó khăn và bối rối hơn trước. Mâu thuẫn trong nội bộ
chính quyền Mỹ và giữa các đảng phái ở Mỹ lại càng gay gắt thêm. Vụ bê
bối Oatơghết giày vò cả nước Mỹ kéo theo sự từ chức của một tổng thống
https://thuviensach.vn
cực kỳ phản động: Níchxơn. Kinh tế Mỹ suy thoái, lạm phát tăng, nạn thất
nghiệp trở nên trầm trọng, khủng hoảng nhiên liệu đang tiếp diễn. Những
đồng minh của Mỹ cũng kèn cựa với Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ
cũng tìm cánh quẫy ra khỏi sự khống chế của Mỹ. Viện trợ của Mỹ cho
nguỵ quyền Sài Gòn theo hướng ngày càng giảm.
Đồng chí Lê Duẩn kết luận một nhận định quan trọng thành nghị quyết:
"Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam
và dù chúng can thiệp đến thế nào đi nữa thì cũng không thể cứu vãn được
nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn".
Khi thảo luận kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1975, một vấn đề rất
quan trọng nữa cũng được đặt ra là chọn chiến trường chủ yếu ở đâu? Trên
toàn chiến trường miền Nam, địch bố trí lực lượng theo thế "mạnh ở hai
đầu". Cụ thể là ở Quân khu 1 tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, địch
có 5 sư đoàn chủ lực; ở Quân khu 3, trong đó có tuyến phòng thủ vòng
ngoài bảo vệ Sài Gòn, địch có 3 sư đoàn chủ lực, nhưng chúng còn có thể
sẵn sàng cơ động 1 đến 2 sư đoàn chủ lực trong số 3 sư đoàn ở Quân khu 4
về. Còn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ
lực, lại phải rải ra vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh
duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây
Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển
về phía nam theo đường số 14 hoặc xuống phía đông theo các đường số 19,
7, 21. Địa hình ở đây là cao nguyên, độ cao chênh lệch không đáng kể, tiện
việc làm đường, các binh khí kỹ thuật cơ động thuận tiện, phát huy được
hết sức mạnh. Tóm lại, đứng về mặt chiến lược, đây là một địa bàn hết sức
quan trọng.
Hội nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn
chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến
công lớn và rộng khắp năm 1975.
Nhưng Bộ Chính trị thấy rằng, để đi đến quyết định cuối cùng về quyết
tâm chiến lược, còn phải nghiên cứu tình hình kỹ hơn nữa, bổ sung cho kế
hoạch tác chiến chiến lược đầy đủ hơn nữa. Đồng thời quyết định phải gấp
rút đẩy mạnh nhiều mặt công tác để thực hiện quyết tâm.
https://thuviensach.vn
Bộ Chính trị triệu tập các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường
ở miền Nam ra Hà Nội báo cáo tình hình và bàn kỹ để có sự nhất trí về
quyết tâm chiến lược.
Đầu tháng 12 năm 1974, các đồng chí Phạm Hùng, uỷ viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phan
Văn Đáng, uỷ viên Trung ương Đảng ở Nam Bộ và các đồng chí Võ Chí
Công, uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư khu uỷ Khu 5, Thượng tướng Chu
Huy Mân ở Khu 5 lần lượt đến Hà Nội.
Bộ Chính trị làm việc riêng với các đồng chí phụ trách từng chiến
trường, nghe báo cáo tình hình mọi mặt. Trong các ngày từ 3 đến 5-121974, Thường trực Quân uỷ Trung ương lần lượt nghe các đồng chí ở Nam
Bộ và Khu 5 báo cáo về ý định và kế hoạch tác chiến".
Đây là những cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị hết sức quan trọng của
Bộ Chính trị kéo dài từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975.
Dự Hội nghị, ngoài các đồng chí trong Bộ Chính trị, còn có các đồng
chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ
Trung ương và các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác
chiến.
Tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị đều lần lượt phát biểu ý kiến và
thảo luận rất kỹ. Cần nói rằng trong thời gian 20 ngày của Hội nghị, việc
nhận định tình hình cũng như những ý kiến của Bộ Chính trị có sự phát
triển từng tuẩn, ngày càng rõ nét những ý định chiến lược lớn lao và ngày
càng thể hiện một quyết tâm sắt đá.
Giữa lúc Bộ Chính trị đang họp thì một tin vui lớn từ miền Nam đưa
tới: bộ đội chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa
phương mở chiến dịch đường số 14-Phước Long giành thắng lợi lớn. Trong
hơn 20 ngày ta đã diệt và bắt trên 3.000 tên địch, thu 3.000 súng các loại,
giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu
tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Chiến thắng này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân nguỵ.
Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải toả quy mô lớn
https://thuviensach.vn
để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các
địa bàn rừng núi và giáp ranh. Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế
quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào miền Nam Việt
Nam. Điều quan trọng hơn cả là chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng
to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta. Chiến thắng
đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong Hội nghị Bộ
Chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi có thời cơ.
Lúc đầu Mỹ hùng hổ cho tàu chở máy bay chạy bằng năng lượng
nguyên tử Intơpraidơ dẫn một lực lượng đặc biệt của hạm đội 7 từ Philíppin
tiến về phía bờ biển Việt Nam; ra lệnh đặt sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến
Mỹ ở Okinawa trong tình trạng báo động khẩn cấp. Bọn hiếu chiến ở Lầu
năm góc doạ ném bom trở lại miền Bắc.
Nhưng rồi cuối cùng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Slesinhgiơ buộc phải
bỏ qua "sự kiện Phước Long" và tuyên bố: "Đây, chưa phải là một cuộc tiến
công ồ ạt của miền Bắc Việt Nam". Hắn phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của
Thiệu. Đại sứ, Mỹ Matin ở Sài Gòn nói với Thiệu: "Việc yểm hộ của Mỹ
lúc này chưa được phép". Ngày nay Mỹ đã yếu thế đến mức không thể
muốn làm gì thì làm.
Hội nghị Bộ Chính trị phân tích sự suy yếu củạ địch báo hiệu một thời
cơ mới đang đến. Nhưng muốn tạo được thời cơ lớn phải có những trận
đánh tiêu diệt lớn, rung động lớn, làm cho địch bị tiêu diệt và tan rã lớn.
Tình hình lúc này đối với ta vô cùng thuận lợi. Ở miền Nam có thể sẽ
diễn ra một cuộc khủng hoảng đưa đến một thời cơ lớn cho ta. Nếu ta đánh
mạnh nhất, gọn nhất, nhanh nhất, thì nhất định sẽ dẫn đến sự sụp đổ của
chính quyền Sài Gòn sớm hơn ta dự kiến.
Ngày 8-1-1975, hai ngày sau chiến thắng Phước Long, đồng chí Lê
Duẩn kết luận Hội nghị. Đồng chí nói:
"Hội nghị chúng ta rất phấn khởi, nhất trí cao. Lần này có các đồng chí
ở Nam Bộ và Khu 5 ra dự. Tình hình đã sáng rõ. Chúng ta quyết tâm hoàn
thành kế hoạch hai năm.
Hai năm là ngắn và cũng là dài. Cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực
lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước. Bây giờ quân Mỹ đã
https://thuviensach.vn
rút ra rồi, quân đội ta đã có sẵn ở trong Nam, quần chúng lại có khí thế.
Đây là nội dung của thời cơ. Ta phải nắm vững và đẩy mạnh đấu tranh trên
ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, đó là đặc điểm Việt Nam.
Ở miền Nam ta có sức...
Văn Tiến Dũng
Chào mừng các bạn đón đọc đầu sách từ dự án sách cho thiết bị di động
Nguồn: http://vnthuquan.net
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
https://thuviensach.vn
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
Chương 1
Chương 2
Chương 3
Chương 4
Chương 5
Chương 6
Chương 7
Chương 8
Chương 9
Chương 10
Chương 11
Chương 12
Chương 13
Chương 14
Chương 15
Chương 16
Chương 17
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
LỜI NÓI ĐẦU
Một năm đã qua kể từ ngày cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm
1975 giành toàn thắng, đánh bại hoàn toàn chiến tranh xâm lược và ách
thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Thời gian không làm phai nhạt mà chỉ càng làm rõ nét hơn chiến công vĩ
đại của qaân và dân ta. Đại thắng Mùa Xuân đã được khắc sâu vào lịch sử
bằng những chữ vàng chói lọi.
Chỉ trong 55 ngày đêm, với quyết tâm thực hiện Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, với tốc độ "một ngày bằng 20 năm" với sức mạnh áp đảo cả
về quân sự và chính trị tích luỹ từ nhiều năm, quân và dân ta đã giành toàn
thắng bằng ba chiến dịch lớn: Chiến dịch giải phóng toàn bộ Tây Nguyên
mở đầu bằng trận đánh Buôn Ma Thuột;
Chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng, quét sạch địch ở ven biển miền
Trung và kết thúc là Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn - Gia
Định để dẫn tới giải phóng các tỉnh còn lại của Nam Bộ. Hơn một triệu
quân nguỵ và tất cả bộ máy nguỵ quyền bị đập tan, chế độ thực dân mới
được Mỹ dốc sức xây dựng trong hai chục năm sụp đổ hoàn toàn.
Tôi có may mắn được là một trong nhiều đồng chí nhận chỉ thị của Bộ
Chính trị Trung ương Đảng cử đi tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
năm 1915 với cương vị Đại diện Quân uỷ Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh
chỉ đạo trực tiếp trong Chiến dịch Tây Nguyên và Tư lệnh Bộ chỉ huy
Chiến dịch Hồ Chí Minh.
Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam,
báo Nhân dân đề nghị tôi kể lại một số chuyện trong cuộc Tổng tiến công
và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 do đồng chí Hồng Hà ghi. Sau khi báo
Nhân dân đăng loạt bài kể chuyện nói trên, nhiều bạn đọc và nhiều nhà xuất
bản đề nghị cho in lại thành sách.
Mặc dù gặp khó khăn về thời gian, nhưng do yêu cầu cấp thiết của bạn
đọc, tôi viết lại và bổ sung thêm tài liệu để thành cuốn Đại thắng Mùa Xuân
https://thuviensach.vn
này.
Một sự kiện lịch sử vĩ đại như Đại thắng Mùa Xuân không một cuốn
sách riêng rẽ nào, không một đơn vị hoặc cá nhân nào có thể diễn tả lại
được đầy đủ. Việc sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, việc tổng kết kinh nghiệm
đòi hỏi nhiều năm, có khi hàng chục năm. Vì thế cuốn Đại thắng Mùa Xuân
chỉ là những nét phác thảo nhằm kịp thời giới thiệu với bạn đọc một số mẩu
chuyện về cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân năm 1975 để thấy rõ
sự chỉ đạo với tài thao lược, tính kiên quyết, tư tưởng cách mạng tiến công,
tính độc lập tự chủ của tập thể Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương, những
cố gắng phi thường, những hy sinh to lớn của quân và dân ta trong cả nước.
Cuốn sách chủ yếu nhằm giới thiệu với bạn đọc những vấn đề thuộc về
sự lãnh đạo sáng suốt của Bộ Chính trị Trung ương Đảng và Quân uỷ Trung
ương, sự đấu lực và đấu trí rất thông minh của Đảng ta, nhân dân ta, quân
đội ta trong phạm vi chiến lược và chiến dịch để dẫn đến toàn thắng, không
đi sâu vào các hoạt động, thành tích và trận chiến đấu cụ thể của các quân
khu, quân đoàn, quân chủng, binh chủng, đơn vị, các địa phương và các
tầng lớp nhân dân.
Cuốn sách không sao nói hết được những ý nghĩ, sự phân tích của tập
thể Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương và tập thể cơ quan Bộ Tổng tư lệnh
khi hạ quyết tâm chiến lược ở thời kỳ "nút" giải quyết cuộc chiến tranh
theo nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Không sao nhớ hết,
nói hết được những tính toán chiến lược của Đảng ta để đi đến tổ chức thực
hiện trên các chiến trường một cách sáng tạo, táo bạo, khẩn trương quyết
tâm của Bộ Chính trị để giành toàn thắng. Không sao nhớ hết, nói hết được
những hành động anh hùng của hàng trăm nghìn chiến sĩ và cán bộ trong
quân đội, của triệu triệu nhân dân ta từ Nam chí Bắc, sự đóng góp hết lòng,
hết sức của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân đê làm nên
thắng lợi tuyệt vời này. Đây là công việc của nhiều đồng chí, đồng bào, của
nhiều đơn vị, địa phương, của nhiều cuốn sách, bài báo, tác phẩm nghệ
thuật trong nhiều tháng tới và nhiều năm tới, tiếp tục cung cấp thêm nhiều
tài liệu để giới thiệu Đại thắng Mùa Xuân, cuốn sách này còn nhằm kịp thời
bác bỏ những luận điểm sai trái, phản động do những kẻ xuyên tạc lịch sử,
https://thuviensach.vn
những bọn cướp nước và bán nước thua trận đang dựng lên hòng bào chữa
cho thất bại thảm hại của chúng và hạ thấp chiến thắng của dân tộc ta.
Do tầm cỡ vĩ đại của chiến thắng, một người không thể nhìn bao quát
và do thời gian gấp rút, cuốn sách này không tránh khỏi có những thiếu sót,
mong bạn đọc thân mến bổ sung và góp ý kiến.
Tháng 5 năm 1976
Đại tướng Văn Tiến Dũng
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
Chương 1
Bạo lực cách mạng
Mùa xuân năm 1974, sau Tết Giáp Dần, Hội nghị cán bộ quân sự cao
cấp họp tại số nhà 33 phố Phạm Ngũ Lão - Hà Nội. Hội nghị có đủ đại biểu
các chiến trường, các quân chủng, binh chủng, các quân đoàn, sư đoàn và
đại biểu các cơ quan Bộ Tổng tư lệnh để thảo luận quán triệt Nghị quyết
Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng họp tháng 10 năm 1973 và phổ
biến Nghị quyết tháng 3 năm 1974 của Quân uỷ Trung ương đã được Bộ
Chính trị thông qua.
Đồng chí Lê Duẩn và đồng chí Lê Đức Thọ đến Hội nghị phổ biến Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 21. Cũng trong dịp này, Quốc hội quyết định thăng
quân hàm cấp tướng cho một số cán bộ cao cấp trong quân đội. Chủ tịch
Tôn Đức Thắng đã đến thăm, động viên và chỉ thị nhiệm vụ cho các cán bộ
cao cấp và cho toàn quân.
Mỗi cán bộ và chiến sĩ quân đội hết sức phấn khởi được Trung ương
Đảng chỉ cho thấy đường đi và triển vọng tươi sáng của cách mạng. Những
lời căn dặn của đồng chí Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng, của Chủ tịch
Tôn Đức Thắng tại Hội nghị là mệnh lệnh của Đảng và Nhà nước cho toàn
quân tiến lên phía trước.
Hồi đó, Hiệp định Paris về Việt Nam ký đã được hơn một năm.
Theo Hiệp định, đế quốc Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt
Nam, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam, cam kết tôn trnng
các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cam kết tôn trọng quyền tự quyết của nhân
dân miền Nam Việt Nam, chấm dứt dính líu quân sự và can thỉệp vào nội
bộ miền Nam Việt Nam, thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai
chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị.
Đó là thắng lợi lớn của nhân dân ta, là thất bại lớn của đế quốc Mỹ và
bè lũ tay sai, là kết quả 18 năm đấu tranh kiên cường và bền bỉ của quân và
https://thuviensach.vn
dân ta dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta. Hiệp định Paris về Việt Nam
đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đấu tranh cách mạng của
nhân dân ta, mở ra cho cách mạng miền Nam Việt Nam một giai đoạn mới:
giai đoạn hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống
nhất nước nhà. Đó là thời kỳ cuối của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
nói chung và của chiến tranh cách mạng ở miền Nam nói riêng.
Đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai ra sức phá hoại Hiệp định Paris về Việt
Nam một cách có kế hoạch và có hệ thống.
Tuy buộc phải ký Hiệp định, đế quốc Mỹ vẫn chưa chịu từ bỏ chính
sách cơ bản của chúng ở Việt Nam là thực hiện "học thuyết Níchxơn", áp
đặt chủ nghĩa thực dân mới kiểu Mỹ ở miền Nam, âm mưu chia cắt lâu dài
nước ta. Để thực hiện ý đồ nham hiểm đó, ngay từ đầu, Mỹ chủ trương vừa
ký Hiệp định, vừa giúp nguỵ quyền Sài Gòn tiếp tục chiến tranh điên cuồng
phá hoại Hiệp định. Đế quốc Mỹ đã tiến hành ở miền Nam nước ta một
cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới bằng nhiều biện pháp thâm
độc.
Chúng tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế cho bọn nguỵ. Trước khi rút
quân ra, Mỹ đã đưa vào miền Nam gần 700 máy bay các loại, 500 khẩu
pháo, 400 xe tăng, xe bọc thép và rất nhiều tàu chiến, dự kiến đưa thêm một
số lớn binh khí kỹ thuật, tăng dự trữ vật tư chiến tranh của quân nguỵ lên
mức tương đối cao, gần 2 triệu tấn.
Hiệp định ký chưa ráo mực, Nguyễn Văn Thiệu đã hò hét "tràn ngập
lãnh thổ", tập trung lực lượng thực hiện "Kế hoạch bình định ba năm 19731975", "Kế hoạch bình định sáu tháng từ tháng 3-1973 đến tháng 8-1973",
"Kế hoạch quân sự Lý Thường Kiệt", "Kế hoạch xây dựng quân đội từ
1974 đến 1979" nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang và tổ chức cách mạng
của ta ở miền Nam.
Địch khẩn trương củng cố và tăng cường xây dựng quân nguỵ, nhất là
các quân chủng, binh chủng nhằm bảo đảm cho quân nguỵ đủ sức đối phó
với quân chủ lực của ta trong mọi tình huống. Trong năm 1973, địch đã bắt
khoảng 24 vạn lính, thu thập lại trên 13 vạn quân đào ngũ, rã ngũ và bị
thương, đưa tổng quân số của chúng lên tranh cách mạng để giành thắng lợi
https://thuviensach.vn
hoàn toàn". Và "Cách mạng miền Nam phải nắm vững tư tưởng chiến lược
tiến công. Ta phải kiên quyết phản công và tiến công địch, giữ vững và phát
huy thế chủ động về mọi mặt của ta".
Tinh thần của Nghị quyết 21 là: Địch không thi hành Hiệp định, tiếp tục
chiến tranh Việt Nam hoá, thực chất là chiến tranh thực dân kiểu mới hòng
chiếm lấy cả miền Nam, thì ta không có con đường nào khác là phải tiên
hành chiến tranh cách mạng, tiêu diệt chúng, giải phóng miền Nam.
Hội nghị Quân uỷ Trung ương không những vạch rõ phương châm
chung là "phản công và tiến công" mà còn nêu lên phương hướng vận dụng
phương châm đó trong từng vùng và những phương thức hoạt động trên
từng chiến trường. Hội nghị còn đề ra nhiệm vụ cho toàn quân: tích cực
tiến hành công tác chính trị nhằm không ngừng nâng cao chất lượng chính
trị toàn diện của các lực lượng vũ trang, tạo nên một sự chuyển biến mới
mạnh mẽ, cả về tư tưởng, tổ chức, năng lực, tác phong trong mọi đơn vị,
mọi cán bộ, chiến sĩ, nhất là nâng cao ý chí chiến đấu, tăng cường tổ chức
kỷ luật, bảo đảm cho ba thứ quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ trong
giai đoạn mới.
Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương được Bộ Chính trị thông qua.
Sau khi có Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương, Bộ Tổng Tham mưu
cùng với Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần, bắt tay ngay vào việc
nghiên cứu, lập những kế hoạch tác chiến chiến lược chung và kế hoạch tác
chiến từng chiến trường; khẩn trương tổ chức và huấn luyện các binh đoàn
chủ lực, các binh chủng kỹ thuật; vạch kế hoạch về các mặt công tác chuẩn
bị và công tác bảo đảm; đồng thời chỉ đạo các chiến trường đẩy mạnh hoạt
động thực hiện các đợt tiến công và nổi dậy, giữ vững và phát triển thế chủ
động chiến lược, làm chuyển biến cục diện chiến trường, tạo điều kiện cho
tiến công lớn, rộng khắp trong năm 1975.
Các địa phương và các đơn vị, từ Trị Thiên đến Tây Nam Bộ và vùng
ven Sài Gòn - Gia Định, từ tháng 4 năm 1974 đến tháng 10 năm 1974 đều
hoạt động mạnh lên, phản công và tiến công địch liên tục, giành thắng lợi
ngày càng lớn, với nhịp độ nhanh. Nơi nào quán triệt Nghị quyết Hội nghị
Trung ương lần thứ 21 và Nghị quyết Quân uỷ Trung ương, nắm vững quan
https://thuviensach.vn
điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng tiến công, thì nơi đó chẳng những phá
được kế hoạch "bình định" của địch, giữ vững được vùng giải phóng của ta
và các căn cứ trong vùng địch kiểm soát, mà còn mở rộng thêm được nhiều
vùng giải phóng, dồn địch vào thế lúng túng, bị động đối phó.
Chúng tôi đặc biệt chú ý đến kết quả trận tiêu diệt quận lỵ Thượng Đức
ở Khu 5. Đây là trận thử sức với lực lượng gọi là tinh nhuệ nhất của địch.
Ta tiêu diệt địch ở chi khu quận lỵ Thượng Đức, địch đưa cả sư đoàn lính
nhảy dù đến phản kích liên tục, dài ngày hòng chiếm lại, nhưng ta đã đánh
cho chúng thiệt hại nặng, giữ vững Thượng Đức, buộc địch phải "bỏ cuộc".
Từ trận Thượng Đức này và các trận tiêu diệt quân chủ lực địch ở Chư
Nghé, Đắc Pét trên Tây Nguyên, Bộ Tổng Tham mưu đi đến nhận định và
báo cáo với Quân uỷ Trung ương: khả năng chiến đấu của bộ đội chủ lực
cơ động của ta đã hơn hẳn quân chủ lực cơ động của địch. Chiến tranh đã
bước vào giai đoạn cuối, so sánh lực lượng đã thay đổi, ta mạnh lên, địch
yếu đi. Do đó ta có thể và cần phải chuyển từ đánh nhằm tiêu diệt sinh lực
địch là chính, sang đánh chẳng những tiêu diệt địch mà còn nhằm giải
phóng nhân dân và giữ đất, từ chỗ quân chủ lực ta lấy tiêu diệt quân chủ lực
địch trên chiến trường rừng núi là chủ yếu, sang tiêu diệt địch và giải phóng
nhân dân, giải phóng đất cả ở vùng giáp ranh, đồng bằng và thành phố.
Muốn đánh tiêu diệt lớn và giữ vững các vùng mới giải phóng thì việc chỉ
sử dụng các sư đoàn độc lập hoặc phối hợp không còn thích hợp nữa, mà
cần có những binh đoàn cơ động, binh chủng hợp thành lớn hơn, làm quả
đấm mạnh, được sử dụng vào những thời cơ quan trọng nhất, hoạt động
trên những hướng chủ yếu, giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu nhằm tiêu
diệt lớn quân chủ lực địch.
Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhất trí với nhận định này và chỉ
thị cần xúc tiến tổ chức ngay các binh đoàn cơ động trực thuộc Bộ Tổng tư
lệnh. Từ tháng 10 năm 1973 trở đi, lần lượt các quân đoàn được thành lập
tập trung huấn luyện tác chiến hợp đồng binh chủng và bố trí trên các địa
bàn chiến lược cơ động nhất. Việc xây dựng các quân đoàn có đủ các thành
phần binh chủng kỹ thuật là một bước trưởng thành mới của quân đội ta,
làm cho ta có khả năng tiến hành các chiến dịch hợp đồng binh chủng quy
https://thuviensach.vn
mô lớn gồm nhiều quân đoàn, sư đoàn, có sức đột kích lớn, cơ động cao,
sức chiến đấu liên tục, có khả năng đánh tiêu diệt quân địch trong các chiến
dịch có ý nghĩa chiến lược: Đi đôi với tổ chức lực lượng còn một việc cấp
bách khác là biên chế và thay đổi trang bị cho quân đội được tốt và hiện đại
hơn. Một khối lượng lớn hàng quân sự của ta như xe tăng, xe bọc thép, tên
lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ mà đế quốc Mỹ định phá huỷ trong đợt 12
ngày đêm ném bom miền Bắc bằng máy bay B.52 không được, nay lần lượt
được chuyển tới các chiến trường. Và lần đầu tiên pháo cơ giới tầm xa và
những xe tăng tốt của ta đã vào tận những rừng cao su Nam Bộ. Đây là một
bước trưởng thành lớn của quân đội ta, đồng thời cũng là bước chuẩn bị lực
lượng tích cực nhất cho cuộc tổng tiến công sau này.
Có lực lượng lớn, có trang bị hiện đại chưa đủ, còn phải tổ chức chiến
trường để có thể phát huy được hết sức mạnh của lực lượng lớn và trang bị
hiện đại đó. Quy luật chiến tranh cách mạng là từ những đơn vị nhỏ ban
đầu phát triển thành những binh đoàn lớn tác chiến hợp đồng binh chủng để
tiêu diệt lớn lực lượng địch và cuối cùng phải đánh vào thành phố, đánh
vào đầu não chính quyền địch, mới đánh gục được địch, giải phóng Tổ
quốc. Và như vậy phải có đủ đường giao thông, phương tiện vận chuyển cơ
giới mới có đủ lương thực, thực phẩm, đạn dược, vũ khí cho tiền tuyến.
Một vấn đề then chốt là phải có hệ thống đường cơ động tốt. Công trình
xây dựng con đường chiến lược phía Đông Trường Sơn bắt đầu từ năm
1973, hoàn thành đầu năm 1975 được xúc tiến với nhịp độ hết sức khẩn
trương nối hền từ đường số 9 (Quảng Trị) vào đến miền Đông Nam Bộ là
công trình lao động của hơn 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong, đưa
tổng số chiều dài đường chiến lược và chiến dịch, cả cũ và mới, làm trong
suốt cuộc chiến tranh lên hơn 20.000km. Nhà nước và nhân dân ta đã dồn
sức dồn của rất lớn vào công trình này. Hàng nghìn xe máy các loại, hàng
chục nghìn bộ đội, công nhân, kỹ sư, thanh niên xung phong và dân công
vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ do khí hậu, thời tiết và bom đạn
địch gây ra, ngày đêm phá núi san đèo, chuyển đá đắp đường, xây cống,
dựng cầu, tạo ra một kỳ công rất tự hào ở phía Tây Tổ quốc. Đúng là
"Đường ta rộng thênh thang tám thước", các xe vận tải cỡ lớn, các xe chiến
https://thuviensach.vn
đấu loại nặng chạy được hai chiều với tốc độ cao cả bốn mùa, đã ngày đêm
hàm hở chuyển hàng trăm nghìn tấn vật chất các loại vào hệ thống kho tàng
cho các chiến trường để bảo đảm đánh lớn.
Dọc theo đường chiến lược Đông Trường Sơn là hệ thống 5.000km
đường ống dẫn dầu kéo dài từ Quảng Trị qua Tây Nguyên tới Lộc Ninh,
vượt sông cả, suối sâu, núì cao, có ngọn hơn 1.000 mét, đủ sức tiếp dầu cho
hàng chục nghìn xe các loại vào, ra trên đường.
Có thể nêu một hình ảnh đáng tự hào là trên vùng núi chót vót ở phía
tây Tổ quốc, hơn 20.000km đường chiến lược từ Bắc chí Nam và đường
chiến dịch từ Tây sang Đông như những chiếc thừng rất chắc đang từng
ngày từng giờ luồn dần vào cổ, vào chân tay con quái vật, chờ khi có lệnh
là siết chặt, kết liễu đời nó.
Đường dây thông tin hữu tuyến cũng đã kéo dài tới Lộc Ninh. Từ Hà
Nội đã nói chuyện thẳng được với nhiều chiến trường.
Giữa lúc nhân dân miền Nam đẩy lùi địch hầu khắp mọi nơi để giành
quyền làm chủ thì ở miền Bắc, từ các bản làng, khu phố, cơ quan, trường
học, xí nghiệp, hàng chục nghìn thanh niên nô nức vào bộ đội, lên đường ra
mặt trận theo tiếng gọi của Đảng và Tổ quốc.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và Nghị quyết
Quân uỷ Trung ương cùng sự chỉ đạo đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị
đã làm chuyển biến cục, diện chiến trường có lợi cho ta và động viên được
sức mạnh cả nước hướng ra tiền tuyến.
https://thuviensach.vn
Văn Tiến Dũng
ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN
Chương 2
Thời cơ
Trong các tháng 7, 8, 9, 10 năm 1974, các cơ quan Bộ Tổng Tham mưu làm
việc nhộn nhịp và căng thẳng. Các đồng chí trong Quân uỷ Trung ương và
Bộ Chính trị hàng ngày theo dõi tình hình và chỉ đạo việc nghiên cứu dự
thảo kế hoạch tác chiến chiến lược.
Lúc này, một luồng gió mát phấn chấn thổi qua toàn Đảng và toàn dân
ta: Cách mạng miền Nam đang trỗi dậy sau Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21
của Trung ương Đảng và Nghị quyết của Quân uỷ Trung ương tháng 3 năm
1974.
Cục diện chiến trường đang chuyển biến có lợi cho ta. Quân và dân ta
đã chủ động đưa thế và lực cách mạng tiến lên từng bước vững chắc, đã
phản công và tiến công địch liên tục giành thắng lợi ngày càng lớn với nhịp
độ nhanh.
Khu 9 nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công, đánh bại các cuộc hành
quân lấn chiếm của địch, xoá hẳn hơn 2.000 đồn bốt địch, giải phóng hơn
400 ấp với gần 800.000 dân. Khu 8 xoá hẳn hơn 800 đồn bốt địch, giải
phóng thêm hơn 200 ấp với hơn 130.000 dân. Khu 7 duy trì thế tiến công
địch, đánh bại cuộc hành quân giải toả của địch, giữ vững bàn đạp phía bắc
Sài Gòn. Vùng ven Sài Gòn đẩy mạnh các mặt đấu tranh giữ vững các lõm
giải phóng, đánh thiệt hại nặng quân địch phản kích. Khu 5 đã chuyển lên
thế tiến công ngày càng mạnh, mở rộng bàn đạp vùng giáp ranh (Nông Sơn,
Thượng Đức, Tuy Phước, Minh Long, Giá Vụt), đẩy mạnh đánh phá địch ở
đồng bằng, xoá hẳn gần 800 đồn bốt, giải phóng 250 ấp với 200.000 dân. Ở
Tây Nguyên, ta tiến công tiêu diệt và bức rút Đắc Pét, Chư Nghé, Măng
Bút, Măng Đen, I-a-súp, mở rộng vùng giải phóng và hành lang chiến lược.
Ở Trị Thiên, tiếp tục giam chân sư đoàn thuỷ quân lục chiến, sư đoàn cơ
động chiến lược của nguỵ, áp sát vùng giáp ranh và đẩy mạnh chống "bình
định" ở đồng bằng ngày càng có kết quả hơn.
https://thuviensach.vn
Địch thì bị động, sa sút toàn diện. Kế hoạch "bình định" lấn chiếm của
chúng bị đánh bại một bước quan trọng trên nhiều khu vực ở đồng bằng,
nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long. Tinh thần và sức chiến đấu của quân
nguỵ giảm sút rõ rệt: 170.000 tên đào ngũ, rã ngũ kể từ đầu năm. Tổng số
quân của chúng giảm 20.000 tên so với năm 1973; số quân chiến đấu giảm
xuống nhiều. Lực lượng cơ động chiến lược địch bị sa lầy (sư đoàn thuỷ
quân lục chiến ở Trị Thiên, sư đoàn dù ở Thượng Đức). Mỹ giảm viện trợ
làm cho kế hoạch tác chiến và xây dựng lực lượng của quân nguỵ không
thực hiện được theo ý muốn của chúng. Trong tài khoá 1972-1973, Mỹ viện
trợ cho nguỵ 1.614 triệu đôla về quân sự. Tài khoá 1973-1974 chỉ còn
1.026 triệu đôla và tài khoá 1974-1975 giảm xuống còn 700 triệu. Nguyễn
Văn Thiệu phải kêu gọi quân của hắn chuyển sang tác chiến "kiểu con nhà
nghèo": theo tài liệu của chúng thì chi viện hoả lực giảm sút gần 60% vì
thiếu bom, đạn; sức cơ động cũng giảm 50% vì thiếu máy bay, thiếu xe,
thiếu cả nhiên liệu. Tình trạng đó buộc chúng phải chuyển từ hành quân
lớn, tiến công nhảy sâu bằng máy bay lên thẳng, xe tăng sang phòng ngự
chốt, lấn dũi, lùng sục nhỏ.
Tóm lại, đặc điểm chủ yếu của tình hình miền Nam sau gần hai năm ta
đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Paris là: mặc dầu quân Mỹ và quân chư
hầu đã buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, nhưng ở đây vẫn đang diễn
ra một cuộc chiến tranh cách mạng của ta chống chiến tranh thực dân mới
của địch, kết hợp tiến công quân sự và đấu tranh chính trị. Nổi bật là cuộc
đấu tranh đó diễn ra với quy mô ngày càng lớn mà ta thì ngày càng chủ
động và mạnh lên, địch ngày càng bị động và yếu đi, tạo thêm một bước
phát triển mới về so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng.
Đi đôi với việc phát triển thế và lực trên chiến trường miền Nam, ta còn
ra sức xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa vững mạnh về mọi mặt, từng
bước khắc phục những hậu quả nghiêm trọng của hai cuộc chiến tranh phá
hoại.
Về sản xuất đạt xấp xỉ mức năm 1965, đời sống nhân dân được ổn định.
Trong hai năm 1973-1974, hàng chục vạn chiến sĩ đã được động viên ra
tiền tuyến, công tác chuẩn bị, sẵn sàng chiến đấu, chủ yếu là từ Khu 4 cũ
https://thuviensach.vn
trở vào và trong quân chủng Phòng không - Không quân được tiến hành rất
tích cực.
Tháng 10-1974, trời cuối thu bắt đầu lạnh, gợi cho các cán bộ quân sự
chúng tôi nhớ đến mùa chiến dịch sắp đến. Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung
ương họp nghe Bộ Tổng Tham mưu trình bày kế hoạch tác chiến chiến
lược.
Cục tác chiến Bộ Tổng Tham mưu chuẩn bị khá đầy đủ mọi mặt tình
hình địch và ta, diễn biến trên các chiến trường từ sau khi ký Hiệp định
Paris bằng những bản đồ, biểu đồ, bảng so sánh các số liệu, treo khắp bốn
bức tường trong phòng họp. Qua nghe báo cáo và thảo luận, hội nghị nhất
trí đánh giá tình hình miền Nam gọn trong năm điểm:
Một là, quân nguỵ ngày càng suy yếu cả về quân sự chính trị, kinh tế.
Lực lượng ta đã mạnh hơn địch ở miền Nam.
Hai là, Mỹ ngày càng gặp nhiều khó khăn trong nước và trên thế giới,
khả năng viện trợ cho nguỵ ngày càng giảm bớt, cả về chính trị và kinh tế.
Do đó, Mỹ chẳng những phải giảm bớt viện trợ cho nguỵ mà còn khó có
khả năng nhảy vào lại miền Nam và dù chúng có can thiệp thế nào đi nữa
cũng không thể cứu vãn được nguy cơ sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn.
Ba là, ta đã tạo được một thế chiến lược liên hoàn từ Bắc vào Nam, đã
tăng cường được lực lượng và dự trữ vật chất, đã hoàn chỉnh được hệ thống
đường giao thông chiến lược và chiến dịch.
Bốn là, ở đô thị đã có phong trào đòi hoà bình, dân sinh, dân chủ, độc
lập dân tộc, đòi lật đổ Thiệu.
Năm là, nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh
chính nghĩa của nhân dân ta.
Hội nghị lần này có một vấn đề được đặt ra và thảo luận sôi nổi: liệu
Mỹ có khả năng đưa quân trở lại miền Nam khi ta đánh lớn dẫn đến nguy
cơ sụp đổ của quân nguỵ không? Mọi người đều thấy rõ và rất chú ý là sau
khi ký Hiệp định Paris về Việt Nam, buộc phải rút ra khỏi miền Nam Việt
Nam, Mỹ lại càng khó khăn và bối rối hơn trước. Mâu thuẫn trong nội bộ
chính quyền Mỹ và giữa các đảng phái ở Mỹ lại càng gay gắt thêm. Vụ bê
bối Oatơghết giày vò cả nước Mỹ kéo theo sự từ chức của một tổng thống
https://thuviensach.vn
cực kỳ phản động: Níchxơn. Kinh tế Mỹ suy thoái, lạm phát tăng, nạn thất
nghiệp trở nên trầm trọng, khủng hoảng nhiên liệu đang tiếp diễn. Những
đồng minh của Mỹ cũng kèn cựa với Mỹ và các nước phụ thuộc vào Mỹ
cũng tìm cánh quẫy ra khỏi sự khống chế của Mỹ. Viện trợ của Mỹ cho
nguỵ quyền Sài Gòn theo hướng ngày càng giảm.
Đồng chí Lê Duẩn kết luận một nhận định quan trọng thành nghị quyết:
"Mỹ đã rút ra khỏi miền Nam thì khó có khả năng nhảy vào lại miền Nam
và dù chúng can thiệp đến thế nào đi nữa thì cũng không thể cứu vãn được
nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn".
Khi thảo luận kế hoạch tác chiến chiến lược năm 1975, một vấn đề rất
quan trọng nữa cũng được đặt ra là chọn chiến trường chủ yếu ở đâu? Trên
toàn chiến trường miền Nam, địch bố trí lực lượng theo thế "mạnh ở hai
đầu". Cụ thể là ở Quân khu 1 tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, địch
có 5 sư đoàn chủ lực; ở Quân khu 3, trong đó có tuyến phòng thủ vòng
ngoài bảo vệ Sài Gòn, địch có 3 sư đoàn chủ lực, nhưng chúng còn có thể
sẵn sàng cơ động 1 đến 2 sư đoàn chủ lực trong số 3 sư đoàn ở Quân khu 4
về. Còn ở Quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên, địch chỉ có 2 sư đoàn chủ
lực, lại phải rải ra vừa giữ các tỉnh Tây Nguyên, vừa phải bảo vệ các tỉnh
duyên hải Nam Trung Bộ từ Bình Định đến Bình Thuận. Nhưng Tây
Nguyên là một chiến trường hết sức cơ động, có nhiều lợi thế để phát triển
về phía nam theo đường số 14 hoặc xuống phía đông theo các đường số 19,
7, 21. Địa hình ở đây là cao nguyên, độ cao chênh lệch không đáng kể, tiện
việc làm đường, các binh khí kỹ thuật cơ động thuận tiện, phát huy được
hết sức mạnh. Tóm lại, đứng về mặt chiến lược, đây là một địa bàn hết sức
quan trọng.
Hội nghị nhất trí thông qua phương án của Bộ Tổng Tham mưu, chọn
chiến trường Tây Nguyên làm hướng chiến trường chủ yếu trong cuộc tiến
công lớn và rộng khắp năm 1975.
Nhưng Bộ Chính trị thấy rằng, để đi đến quyết định cuối cùng về quyết
tâm chiến lược, còn phải nghiên cứu tình hình kỹ hơn nữa, bổ sung cho kế
hoạch tác chiến chiến lược đầy đủ hơn nữa. Đồng thời quyết định phải gấp
rút đẩy mạnh nhiều mặt công tác để thực hiện quyết tâm.
https://thuviensach.vn
Bộ Chính trị triệu tập các đồng chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường
ở miền Nam ra Hà Nội báo cáo tình hình và bàn kỹ để có sự nhất trí về
quyết tâm chiến lược.
Đầu tháng 12 năm 1974, các đồng chí Phạm Hùng, uỷ viên Bộ Chính
trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Thượng tướng Trần Văn Trà, Phan
Văn Đáng, uỷ viên Trung ương Đảng ở Nam Bộ và các đồng chí Võ Chí
Công, uỷ viên Trung ương Đảng, Bí thư khu uỷ Khu 5, Thượng tướng Chu
Huy Mân ở Khu 5 lần lượt đến Hà Nội.
Bộ Chính trị làm việc riêng với các đồng chí phụ trách từng chiến
trường, nghe báo cáo tình hình mọi mặt. Trong các ngày từ 3 đến 5-121974, Thường trực Quân uỷ Trung ương lần lượt nghe các đồng chí ở Nam
Bộ và Khu 5 báo cáo về ý định và kế hoạch tác chiến".
Đây là những cuộc họp chuẩn bị cho Hội nghị hết sức quan trọng của
Bộ Chính trị kéo dài từ ngày 18-12-1974 đến ngày 8-1-1975.
Dự Hội nghị, ngoài các đồng chí trong Bộ Chính trị, còn có các đồng
chí lãnh đạo và chỉ huy các chiến trường, các đồng chí trong Quân uỷ
Trung ương và các đồng chí Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách tác
chiến.
Tất cả các đồng chí trong Bộ Chính trị đều lần lượt phát biểu ý kiến và
thảo luận rất kỹ. Cần nói rằng trong thời gian 20 ngày của Hội nghị, việc
nhận định tình hình cũng như những ý kiến của Bộ Chính trị có sự phát
triển từng tuẩn, ngày càng rõ nét những ý định chiến lược lớn lao và ngày
càng thể hiện một quyết tâm sắt đá.
Giữa lúc Bộ Chính trị đang họp thì một tin vui lớn từ miền Nam đưa
tới: bộ đội chủ lực của miền Đông Nam Bộ phối hợp với lực lượng của địa
phương mở chiến dịch đường số 14-Phước Long giành thắng lợi lớn. Trong
hơn 20 ngày ta đã diệt và bắt trên 3.000 tên địch, thu 3.000 súng các loại,
giải phóng thị xã Phước Long và toàn tỉnh Phước Long. Đây là tỉnh đầu
tiên ở miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng lớn có ý nghĩa hết sức quan
trọng. Chiến thắng này đánh dấu một bước suy sụp mới của quân nguỵ.
Quân chủ lực của chúng không còn đủ sức hành quân giải toả quy mô lớn
https://thuviensach.vn
để lấy lại các vùng, các căn cứ và thị xã quan trọng mà ta đã chiếm trên các
địa bàn rừng núi và giáp ranh. Chiến thắng này còn cho thấy rõ hơn về đế
quốc Mỹ trong ý đồ và khả năng can thiệp của chúng vào miền Nam Việt
Nam. Điều quan trọng hơn cả là chiến dịch đường số 14-Phước Long thắng
to đã nói lên những khả năng mới rất lớn của quân và dân ta. Chiến thắng
đó củng cố thêm quyết tâm chiến lược được xác định trong Hội nghị Bộ
Chính trị và bổ sung cho phương án giành thắng lợi lớn khi có thời cơ.
Lúc đầu Mỹ hùng hổ cho tàu chở máy bay chạy bằng năng lượng
nguyên tử Intơpraidơ dẫn một lực lượng đặc biệt của hạm đội 7 từ Philíppin
tiến về phía bờ biển Việt Nam; ra lệnh đặt sư đoàn 3 thuỷ quân lục chiến
Mỹ ở Okinawa trong tình trạng báo động khẩn cấp. Bọn hiếu chiến ở Lầu
năm góc doạ ném bom trở lại miền Bắc.
Nhưng rồi cuối cùng Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Slesinhgiơ buộc phải
bỏ qua "sự kiện Phước Long" và tuyên bố: "Đây, chưa phải là một cuộc tiến
công ồ ạt của miền Bắc Việt Nam". Hắn phớt lờ lời kêu gọi thảm thiết của
Thiệu. Đại sứ, Mỹ Matin ở Sài Gòn nói với Thiệu: "Việc yểm hộ của Mỹ
lúc này chưa được phép". Ngày nay Mỹ đã yếu thế đến mức không thể
muốn làm gì thì làm.
Hội nghị Bộ Chính trị phân tích sự suy yếu củạ địch báo hiệu một thời
cơ mới đang đến. Nhưng muốn tạo được thời cơ lớn phải có những trận
đánh tiêu diệt lớn, rung động lớn, làm cho địch bị tiêu diệt và tan rã lớn.
Tình hình lúc này đối với ta vô cùng thuận lợi. Ở miền Nam có thể sẽ
diễn ra một cuộc khủng hoảng đưa đến một thời cơ lớn cho ta. Nếu ta đánh
mạnh nhất, gọn nhất, nhanh nhất, thì nhất định sẽ dẫn đến sự sụp đổ của
chính quyền Sài Gòn sớm hơn ta dự kiến.
Ngày 8-1-1975, hai ngày sau chiến thắng Phước Long, đồng chí Lê
Duẩn kết luận Hội nghị. Đồng chí nói:
"Hội nghị chúng ta rất phấn khởi, nhất trí cao. Lần này có các đồng chí
ở Nam Bộ và Khu 5 ra dự. Tình hình đã sáng rõ. Chúng ta quyết tâm hoàn
thành kế hoạch hai năm.
Hai năm là ngắn và cũng là dài. Cuộc chiến đấu ở miền Nam được thực
lực mạnh ở miền Bắc dấy lên thành sức mạnh cả nước. Bây giờ quân Mỹ đã
https://thuviensach.vn
rút ra rồi, quân đội ta đã có sẵn ở trong Nam, quần chúng lại có khí thế.
Đây là nội dung của thời cơ. Ta phải nắm vững và đẩy mạnh đấu tranh trên
ba mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, đó là đặc điểm Việt Nam.
Ở miền Nam ta có sức...
 









Các ý kiến mới nhất