BÀI KIỂM TRA HỌC KÌ 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 09h:52' 31-05-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 215
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 09h:52' 31-05-2025
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 215
Số lượt thích:
0 người
MA TRẬN NỘI DUNG 1)
KIỂM TRA ĐỌC HIỂU,
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT – CUỐI HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 – 2025
---------- ---------N
À
MMạch kiến thức, kĩ năng
Số câu, Mức 1: Mức 2: Mức 3:
câu số, Nhận Kết nối
Vận Tổng
số điểm
biết
dụng
1. Đọc hiểu văn bản
a. Đọc hiểu văn bản văn học
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được những
chi tiết tiêu biểu và nội dung chính của văn
bản. Hiểu được nội dung hàm ẩn dễ nhận biết Số câu
của văn bản. Chỉ ra được mối liên hệ giữa các
chi tiết. Biết tóm tắt văn bản. Hiểu chủ đề của
văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được văn
bản viết theo tưởng tượng và văn bản viết về
người thật, việc thật. Nhận biết được thời
gian, địa điểm và tác dụng của chúng trong
câu chuyện. Hiểu từ ngữ, hình ảnh, biện pháp
so sánh, nhân hoá trong văn bản.
Câu số
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Biết nhận xét về
thời gian, địa điểm; hình dáng, tính cách nhân
vật qua hình ảnh trong truyện tranh hoặc phim
hoạt hình. Tìm được một cách kết thúc khác
cho câu chuyện. Nêu những điều học được từ
câu chuyện, bài thơ, màn kịch; lựa chọn điều
tâm đắc nhất và giải thích vì sao.
b. Đọc hiểu văn bản thông tin
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được những
chi tiết tiêu biểu và các thông tin chính của
văn bản. Dựa vào nhan đề và các đề mục lớn,
xác định được đề tài, thông tin chính của văn
bản. Nhận biết được mối liên hệ giữa các chi
tiết. Biết tóm tắt văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được mục
Số
đích và đặc điểm của văn bản giải thích về
điểm
một hiện tượng tự nhiên; văn bản giới thiệu
sách hoặc phim; văn bản quảng cáo, văn bản
chương trình hoạt động. Nhận biết được bố
cục (phần đầu, phần giữa (chính), phần cuối)
và các yếu tố (nhan đề, đoạn văn, câu chủ đề)
của một văn bản thông tin đơn giản. Nhận biết
được cách triển khai ý tưởng và thông tin
4
2
1
1, 2, 3,
4
5, 6
7
2
2
1
7
câu
5
điểm
trong văn bản theo trật tự thời gian hoặc theo
tầm quan trọng. Nhận biết được vai trò của
hình ảnh, kí hiệu hoặc số liệu trong việc thể
hiện thông tin chính của văn bản (văn bản in
hoặc văn bản điện tử).
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Nêu được những
thay đổi trong hiểu biết, tình cảm, cách ứng
xử của bản thân sau khi đọc văn bản.
2. Kiến thức tiếng Việt:
- Nhận biết và xác định được từ đồng nghĩa,
từ đa nghĩa. Đặt câu được với từ đồng nghĩa
và từ đa nghĩa.
Số câu
- Hiểu nghĩa và sử dụng được một số từ ngữ
(kể cả thành ngữ, tục ngữ, từ Hán Việt thông
dụng) thuộc các chủ điểm đã học.
- Biết cách sử dụng từ điển để tìm từ, tra
nghĩa của từ và tra cứu thông tin khác.
- Hiểu được đặc điểm và chức năng của đại
từ, kết từ.
Câu số
- Nêu được công dụng của dấu gạch ngang
(Dấu gạch ngang dùng để: Đánh dấu lời nói
trực tiếp của nhân vật. Đánh dấu các ý liệt kê.
Nối các từ ngữ trong một liên danh. Đánh dấu
bộ phận chú thích, giải thích trong câu.). Biết
dùng dấu gạch ngang đánh dấu bộ phận chú
thích, giải thích khi viết.
- Nhận biết được biện pháp điệp từ, điệp ngữ
Số
và tác dụng của việc sử dụng điệp từ, điệp
điểm
ngữ trong bài văn, bài thơ.
- Sử dụng đúng danh từ, động từ, tính từ, đại
từ, từ đồng nghĩa, từ đa nghĩa, kết từ trong
từng lời nói và câu văn cụ thể.
- Sử dụng được các dấu câu đã học.
- Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái
hay của những câu văn có sử dụng biện pháp
so sánh, nhân hóa; biết dùng biện pháp so
sánh, nhân hóa để viết được câu văn hay.
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
3
điểm
Số câu
6
3
2
11
câu
Số
điểm
3
3
2
8
điểm
Tổng
4
câu
MA TRẬN NỘI DUNG KIỂM TRA ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
CUỐI HỌC KÌ I - LỚP 5
Năm học: 2024 - 2025
---------- ----------
STT
1
2
Mạch kiến thức,
kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Số câu
Đọc hiểu văn bản
Câu số
Số điểm
Số câu
Kiến thức tiếng Việt Câu số
Số điểm
Tổng
Số câu
Số điểm
Các mức độ năng lực
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
Nhận biết
Kết nối Vận dụng
TN
T TN TL TN TL
L
4
2
1
1, 2, 3, 4
5, 6
7
2
2
1
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
6
3
2
3
3
2
Tổng
7 câu
5 điểm
4 câu
3 điểm
11 câu
8 điểm
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
Thứ ………….., ngày…… tháng ….. năm
---------- ---------202....
BÀI KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ I
Họ và tên:
Môn: Tiếng Việt - Lớp 5
…………………………………...
Năm học: 2024 – 2025
Lớp: ………………………………………....
(Thời gian làm bài: 90 phút)
Điểm
Nhận xét của giáo viên
Đọc:……………….
Viết:……………….
Chung:…………..
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm) - (35 phút)
Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:
QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển, đã
mọc lên một chùm đảo san hô nhiều màu. Đó là quần đảo Trường Sa, mảnh đất xa xôi
nhất của Tổ quốc ta.
Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. Mỗi đảo là một bông hoa
san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông.
Từ lâu Trường Sa đã là mảnh đất gần gụi với ông cha ta. Đảo Nam Yết và Sơn Ca
có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng cùi dày, cây lực lưỡng, cao vút. Trên đảo còn có những
cây bàng, quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín
vỏ ngả màu da cam. Gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng. Tán
bàng là những cái nón che bóng mát cho những hòn đảo nhiều nắng này. Bàng và dừa đều
đã cao tuổi, người lên đảo trồng cây chắc chắn phải từ rất xa xưa.
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng. Anh chiến sĩ quả quyết rằng những nét hoa văn
này y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng anh. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã đặt
chân lên đây, khi tìm báu vật, khi trồng cây để xanh tươi mãi cho tới hôm nay.
HÀ ĐÌNH CẨN
Trích “Quần đảo san hô”
* Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu dưới đây:
Câu 1 (0,5 điểm). Quần đảo Trường Sa nằm ở phía nào của nước ta?
A. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – bắc bờ biển.
B. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển.
C. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía tây – bắc bờ biển.
D. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía tây – nam bờ biển.
Câu 2 (0,5 điểm). Nối từng từ ngữ ở cột bên trái với từ ngữ ở cột bên phải để phù
hợp với nội dung của bài văn:
a, Quần đảo
là một bông hoa san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa
giữa mặt nước biển Đông xanh mênh mông.
(1)
b, Mỗi đảo
gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. (2)
Câu 3 (0,5 điểm). Trên đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca của quần đảo Trường Sa có
những giống cây gì đặc biệt?
A. Dừa đá và cây bàng
B. Dừa đá và cây sầu riêng
C. Mãng cầu và cây xoài
D. Chôm chôm và măng cụt
Câu 4 (0,5 điểm). Chi tiết “mảnh đồ gốm có nét hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi
rồng” giúp anh chiến sĩ biết điều gì?
A. Những nét hoa văn của mảnh đồ gốm trên đảo rất đẹp.
B. Đảo có rất nhiều đồ gốm với những nét hoa văn tinh xảo.
C. Người Việt Nam đã sống và gắn bó với đảo từ lâu đời.
D. Đảo có nhiều đồ cổ quý hiếm mà không nơi nào có.
Câu 5 (1 điểm). Tìm những chi tiết miêu tả những nét đặc biệt của cây cối trên đảo.
Câu 6 (1 điểm). Lời quả quyết của anh chiến sĩ về những nét hoa văn trên mảnh đồ
gốm anh xúc lên trong lần đào công sự “y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng
anh” đã chứng tỏ điều gì?
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên muốn nói với em điều gì? Em cần làm gì để bảo vệ
quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ của nước ta?
Câu 8 (0,5 điểm). Dấu gạch ngang trong câu dưới đây được dùng để làm gì?
Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển, đã
mọc lên một chùm đảo san hô nhiều màu.
A. Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
B. Đánh dấu các ý liệt kê.
C. Nối các từ ngữ trong một liên danh.
D. Đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
Câu 9 (0,5 điểm). Điệp từ trong đoạn văn sau là:
Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. Mỗi đảo là một bông hoa
san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông.
A. quần đảo
B. đảo, hoa
C. bông hoa
D. lẵng hoa
Câu 10 (1 điểm). Từ “đứng” trong câu: “Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo
hình vòng cung.” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Đặt 1 câu với từ
“đứng” được dùng với nghĩa gốc.
Câu 11 (1 điểm). Gạch dưới kết từ trong câu dưới đây và cho biết mỗi kết từ đó nối
những từ ngữ nào trong câu?
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ
em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
Đề 2: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
Bài làm
NÀ
M
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ, CHO ĐIỂM
BÀI KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI HỌC KÌ I
Lớp 5 - Năm học: 2024 – 2025
---------- ----------
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
* Nội dung kiểm tra:
+ Học sinh đọc một đoạn văn, bài thơ do giáo viên lựa chọn và chuẩn bị trước, ghi rõ
tên bài, đoạn đọc vào phiếu cho từng học sinh bốc thăm rồi đọc thành tiếng.
+ HS trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn đọc do giáo viên nêu ra.
* Thời gian kiểm tra: Giáo viên kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói đối
với từng học sinh trong khi kiểm tra phần Đọc – hiểu.
* Cách đánh giá, cho điểm:
Cách đánh giá
Điểm
1) Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng các văn bản truyện, bài thơ, bài văn miêu 0,5 điểm
tả, ... ; tốc độ đọc đạt yêu cầu (tốc độ đọc khoảng 90 - 100 tiếng/ phút).
2) - Đọc đúng tiếng, từ (không đọc sai quá 5 tiếng).
0,5 điểm
- Đọc diễn cảm (giọng đọc có biểu cảm) (nếu có)
3) Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa.
0,5 điểm
4) Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn/bài thơ đọc.
0,5 điểm
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 2 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
Nối a, - (2) ; b, - (1)
Câu 3 (0,5 điểm). Khoanh vào A.
Câu 4 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 5 (1 điểm). Chi tiết miêu tả những nét đặc biệt của cây cối trên đảo là:
Có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng cùi dày, cây lực lưỡng, cao vút; những cây bàng,
quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín vỏ ngả màu
da cam; gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng; được trồng từ rất xa
xưa.
Câu 6 (1 điểm). Lời quả quyết của anh chiến sĩ về những nét hoa văn trên mảnh đồ gốm
anh xúc lên trong lần đào công sự “y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng anh” đã
chứng tỏ: Người Việt Nam đã đến, sống ở quần đảo này từ rất lâu. Quần đảo Trường
Sa là của Việt Nam.
Câu 7 (1 điểm).
- Bài văn trên nêu vị trí và một số đặc điểm của quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ
của nước ta.
- HS liên hệ bản thân.
Chẳng hạn: Để bảo vệ quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ của nước ta, em cần
chăm chỉ học tập, rèn luyện thật tốt, theo bước ông cha bảo vệ, giữ vững chủ quyền
biển, đảo của Tổ quốc, không để cho đất nước nào xâm phạm, ...
Câu 8 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 9 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 10 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ “đứng” trong câu: “Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung.”
được dùng với nghĩa chuyển.
* Đặt 1 câu với từ “đứng” được dùng với nghĩa gốc.
Chẳng hạn:
+ Em bé đang tập đứng.
+ Chúng em đứng nghiêm trang chào cờ.
+ Chú bộ đội đang đứng gác.
+ Bạn Hùng nói chuyện riêng nên bị cô giáo gọi đứng lên.
Câu 11 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng.
* Kết từ trong câu trên đó là: từ “và”, “của”.
* Từ “của” nối “lưỡi xẻng” với “anh chiến sĩ”. Từ “và” nối “nâu” với “xanh”.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ
em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
Đề 2: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
STT
Tiêu chí đánh giá
Điểm
1
Bố cục, nội dung
5 điểm
2
Kĩ năng (Cách dùng từ, đặt câu, cách sắp xếp ý, liên kết ý,…)
3 điểm
3
Hình thức trình bày, chính tả, chữ viết
2 điểm
Cụ thể bài viết được đánh giá theo các tiêu chí sau:
Các mức độ năng lực
STT
Tiêu
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
chí/điểm
Nhận biết
Kết nối
Vận dụng
(3 điểm)
(4 điểm)
(5 điểm)
- Bố cục đoạn văn - Bố cục đoạn văn - Bố cục đoạn văn
chưa thật mạch lạc mạch lạc (Nội dung mạch lạc, chặt chẽ
(Nội dung chưa thể thể hiện rõ 3 phần: (Nội dung thể hiện rõ
hiện rõ 3 phần: Mở Mở đầu, Triển khai, 3 phần: Mở đầu, Triển
1 Bố
cục, đầu, Triển khai, Kết Kết thúc. Mở đầu, khai, Kết thúc, trong
nội dung thúc; hoặc thiếu Kết Kết thúc bài đáp ứng đó Mở đầu, Kết thúc
(5 điểm)
thúc hoặc viết Mở đúng yêu cầu cơ bản tạo được ấn tượng (có
đầu, Triển khai sơ của kiểu bài văn kể sự sáng tạo.
sài, chưa đúng yêu chuyện, ...).
cầu.
- Nội dung bài đáp - Nội dung đáp ứng - Nội dung phong phủ,
ứng yêu cầu tối đúng yêu cầu, đàm có những ý thể hiện
thiếu, ý còn sơ sài.
bảo các ý cần thiết.
suy nghĩ riêng, sáng
tạo.
Kĩ năng - Còn mắc 4-5 lỗi và - Còn mắc 2 – 3 lỗi Không mắc lỗi về kĩ
(Cách
kĩ năng (VD: lỗi và kĩ năng (VD: lỗi năng hoặc chỉ mắc một
dùng
từ, dùng từ, viết câu, dùng từ, viết câu, sắp chút lỗi nhỏ về dùng từ
2 đặt
câu, sắp xếp ý, liên kết ý, xếp ý, liên kết ý, ...). hoặc viết câu nhưng có
cách sắp ...).
sáng tạo trong việc lựa
xếp ý, liên
kết ý,…) (3
điểm)
3
Hình thức
trình bày,
chính tả,
chữ viết (2
điểm)
chọn từ ngữ, sử dụng
kiểu câu hoặc sắp xếp
ý, liên kết ý, ...)
- Còn mắc 4-5 lỗi - Còn mắc 2-3 lỗi - Bài làm không mắc
trong bài làm. (VD: trong bài làm. (VD: lỗi (chữ viết đúng
không trình bày rõ không trình bày rõ chính tả, trình bày bài
các phần theo bố các phần theo bố cục, sạch sẽ, rõ ràng.
cục, còn có chữ viết còn có chữ viết chưa
chưa đúng (thiếu, đúng (thiếu, thừa nét,
thừa nét, độ cao, độ độ cao, độ rộng,
rộng, khoảng cách khoảng cách các con
các con chữ, ...), chữ, ...), còn mắc lỗi
còn mắc lỗi chính chính tả, ...).
tả, ...).
Hướng dẫn chấm các đề như sau:
Đề 1:
- Nội dung: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài
thơ em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
+ Biết viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ em
đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò” theo trình tự phù hợp, bố cục rõ ràng, liên
kết các ý chặt chẽ; tình cảm, cảm xúc sâu sắc, chân thành.
+ Biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm, cảm xúc), viết câu văn ngắn
gọn, hay, gây xúc động, giàu sức biểu cảm, giúp người đọc dễ hình dung; các ý trong
đoạn văn sắp xếp hợp lí, diễn đạt rõ ý.
- Hình thức: Bài viết mạch lạc, đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
Đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện thường có 3 phần là: Mở
đầu, Triển khai, Kết thúc.
* Mở đầu: Giới thiệu tên câu chuyện, tên tác giả và nêu ấn tượng chung về câu
chuyện.
* Triển khai: Kể tóm tắt nội dung câu chuyện, nêu những điều yêu thích ở câu
chuyện (nhân vật, sự việc, ý nghĩa của câu chuyện,...) và thể hiện tình cảm, cảm xúc đối
với câu chuyện.
* Kết thúc: Khẳng định một lần nữa giá trị, ý nghĩa của câu chuyện hoặc nhấn mạnh
tình cảm, cảm xúc đối với câu chuyện.
Người viết cần thể hiện tình cảm, cảm xúc chân thật, nhẹ nhàng, phù hợp với nội
dung và tình tiết có trong câu chuyện. Đồng thời phải đồng cảm với nhân vật có trong
truyện.
Đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một bài thơ thường có 3 phần:
* Mở đầu: Giới thiệu tên bài thơ, tên tác giả và ấn tượng của em về bài thơ.
* Triển khai: Nêu những cái hay, cái đẹp của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, nhân vật, nội
dung, ý nghĩa,...) và biểu lộ tình cảm, cảm xúc của em đối với bài thơ.
* Kết thúc: Nhấn mạnh, khẳng định lại một lần nữa tình cảm, cảm xúc của em đối
với bài thơ.
Chẳng hạn:
Câu chuyện “Người thầy muôn đời” trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2,
trang 93-94 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) là một câu chuyện để lại trong lòng
em nhiều xúc động về truyền thống “tôn sư trọng đạo và tình cảm uống nước nhớ
nguồn” của con người Việt Nam. Câu chuyện kể về các môn sinh tề tựu trước sân nhà cụ
giáo Chu để mừng thọ cụ giáo Chu thật đông vui và cảm động, có đông đủ các thế hệ học
trò. Quà biếu thầy, mừng thầy là những cuốn sách quý và tất cả muốn dâng lên thầy một
tấm lòng biết ơn sâu sắc. Gặp lại môn sinh, cụ giáo Chu vui mừng hỏi thăm công việc của
từng học sinh cũ, bảo ban các học trò nhỏ. Sau khi nghe cụ giáo Chu nói đi thăm thầy
giáo cũ thì các môn sinh dạ ran. Cụ giáo đi trước, môn sinh lần lượt đi theo sau rất nền
nếp. Thầy giáo cũ nay đã trên 80 tuổi, râu tóc bạc phơ. Cử chỉ của cụ giáo Chu sáng ngời
đạo lí: “Chắp tay cung kính vái” thầy giáo cũ. Tất cả môn sinh đều làm theo. Lời nói của
cụ giáo Chu làm cho ai nghe cũng phải xúc động: “Lạy thầy! Hôm nay con đem tất cả
môn sinh đến tạ ơn thầy”. Đó là lời tri ân, là tình cảm uống nước nhớ nguồn. Vì thế, buổi
mừng thọ cụ giáo Chu năm ấy, tất cả học sinh cũ mới đều được thêm một bài học thấm
thía về nghĩa thầy trò. Câu chuyện này tuy ngắn nhưng vô cùng xúc động bởi ý nghĩa
nhân văn cao đẹp nhằm giáo dục các thế hệ học sinh cần phải kính trọng, biết ơn các thầy
cô đã từng dạy mình - đó là thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo” của ông cha ta. Gấp
trang sách lại, hình ảnh người thầy muôn đời này vẫn in đậm trong tâm trí em, nhắc nhở
em phải chăm chỉ học tập, rèn luyện thật tốt để không phụ lòng dạy dỗ của thầy cô. Câu
chuyện “Người thầy muôn đời” như đã bồi đắp lên tâm hồn em một bài học bổ ích về
đạo lí làm người. Trong tuổi thơ chúng ta, ai cũng nhớ mãi lời ru, tiếng hát:
“Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao?”.
Bài thơ “Cô giáo lớp em” trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 40-41 (Bộ
sách Kết nối tri thức với cuộc sống) của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã mang đến cho em
những cảm xúc ấm áp và trân trọng dành cho người thầy, người cô. Với những từ ngữ
mộc mạc, giản dị, lời thơ truyền cảm, nhẹ nhàng đã thể hiện những vẻ đẹp gần gũi của
người cô dành cho học sinh của mình. Hình ảnh cô giáo không chỉ là người truyền đạt
kiến thức mà còn là người dìu dắt tâm hồn học trò. Qua những câu thơ, em cảm nhận
được sự gần gũi, yêu thương của cô dành cho mỗi học sinh, từ ánh mắt ân cần đến những
lời động viên nhẹ nhàng. Hình ảnh “cô giáo như mẹ hiền” hiện lên thật đẹp, thể hiện sự
chăm sóc và che chở mà cô dành cho lớp học. Tác giả đặc biệt lưu giữ những kí ức đẹp về
người cô giáo thân yêu – người lái đò thầm lặng, đưa các thế hệ học sinh đến bến bờ tri
thức. Bài thơ “Cô giáo lớp em” là một bài thơ rất hay. Em rất thích đọc bài thơ này. Cảm
ơn nhà thơ Xuân Sanh đã viết bài thơ làm xúc động tâm hồn em! Bài thơ không chỉ tôn
vinh nghề giáo mà còn khẳng định vai trò quan trọng của cô giáo trong việc hình thành
nhân cách và sự lĩnh hội tri thức của học trò. Qua đó nhà thơ muốn nhắc nhở thế hệ học
sinh chúng ta phải luôn kính trọng, biết ơn và ghi nhớ công lao dạy dỗ của thầy cô, phải
chăm chỉ học tập và rèn luyện tốt để xứng đáng với công lao to lớn ấy. Tục ngữ có câu:
“Không thầy, đố mày làm nên.”.
Đề 2:
- Nội dung: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
+ Biết viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng được
xem theo trình tự phù hợp, bố cục đoạn văn rõ ràng, liên kết các ý chặt chẽ.
+ Biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm, cảm xúc), viết câu văn ngắn
gọn, hay, gây xúc động, giàu sức biểu cảm; sáng tạo trong việc dùng từ, viết câu giúp
người đọc dễ hình dung; các ý trong đoạn văn sắp xếp hợp lí, diễn đạt rõ ý.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
Đoạn văn giới thiệu một bộ phim thường có 3 phần:
* Mở đầu: Giới thiệu tên bộ phim, tên nhân vật, ... và nếu ấn tượng chung về bộ
phim.
* Triển khai: Kể tóm tắt nội dung bộ phim. Nêu những đặc điểm nổi bật về ngoại
hình, hoạt động, tính cách,... của nhân vật trong phim và thể hiện được tình cảm, cảm
xúc đối với bộ phim. (Lưu ý: Nên đưa dẫn chứng về chi tiết trong phim để làm nổi
bật đặc điểm của nhân vật.)
* Kết thúc: Khẳng định một lần nữa giá trị, ý nghĩa của của bộ phim hoặc nhấn mạnh
tình cảm, cảm xúc đối với bộ phim đó.
Chẳng hạn:
“Con yêu ơi, mong con luôn được bình yên.” – những lời ca thể hiện tình yêu
thương của đấng sinh thành trong bộ phim “Về nhà đi con” của đạo diễn Nguyễn Danh
Dũng, do Trung tâm sản xuất phim Truyền hình Việt Nam cung cấp để thấy được gia đình
là nơi con quay về, là nơi dang rộng vòng tay khi con bị đổ vỡ trong hôn nhân và thất bại
trong cuộc sống. Bộ phim mang đến những câu chuyện gia đình gần gũi, cảm động, với
sự hội tụ của nhiều gương mặt diễn viên được yêu thích trong các phim truyền hình đặc
sắc của Việt Nam: Nghệ sĩ Nhân dân Hoàng Dũng, Nghệ sĩ Ưu tú Trung Anh, diễn viên
Ngân Quỳnh, Thu Quỳnh, Bảo Thanh, Bảo Hân, Quốc Trường, Quang Anh, Tuấn Tú, ... .
Bộ phim “Về nhà đi con” là một câu chuyện kể về một gia đình có 4 người: ông bố Sơn
và 3 chị em gái Huệ, Thư, Dương, mất mẹ từ nhỏ. Mỗi người một tính cách, trải qua
nhiều biến cố riêng và chung, họ càng cảm thấy quý giá tình cảm cha con, chị em, càng
cố gắng đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người thân. Ở đó người xem bắt gặp một người
đàn ông góa vợ tên Sơn (NSƯT Trung Anh) khắc khổ, bảo thủ nhưng lại có một tình yêu
thương con vô bờ bến, luôn dõi theo nỗi niềm của các con gái và đau đáu: “Con yêu ơi,
mong con luôn được bình yên!”. Chị cả Huệ (Thu Quỳnh) dịu dàng, điềm đạm thay mẹ
nuôi dạy các em, chị hai Thư (Bảo Thanh) xinh đẹp, sắc sảo và thực dụng, chỉ mong kiếm
được chồng giàu có để phụng dưỡng bố và cô em út Ánh Dương (Bảo Hân) bộc trực,
thẳng thắn như con trai. Mỗi nhân vật khắc họa một kiểu người điển hình trong đời thực,
mỗi câu chuyện trong phim đều đại diện cho một mối quan hệ điển hình trong đời sống
ngày nay. Tiêu biểu nhất có thể nhắc tới cuộc hôn nhân của Huệ và Khải với câu chuyện
người chồng gia trưởng, một bà cô bên chồng lắm lời, hay muôn vàn tật xấu của đàn ông
trong xã hội hiện đại. Ngoài ra, bộ phim truyền tải đến người xem mối quan hệ giữa Thư
và Vũ, đại diện cho lớp trẻ trưởng thành, với những mối quan hệ chưa muốn có sự ràng
buộc, những toan tính được mất trong “Hợp đồng hôn nhân”, rồi cả những sai lầm không
thể cứu vãn được. Cuối cùng là cô em gái út Dương – cô nàng Ánh Dương cá tính, với
niềm đam mê Game và tính cách mạnh mẽ tạo dấu ấn đậm nét trong lòng khán giả. Bộ
phim “Về nhà đi con” được dàn dựng công phu, phim dài tập nhưng tập nào cũng rất
cuốn hút, có nội dung đa dạng, khác nhau, đem đến nhiều tình tiết thực tế, nhân văn, tôn
lên ý nghĩa và giá trị của một gia đình trong xã hội hiện đại. Với một đề tài rất cũ, chỉ
xoay quanh cuộc sống gia đình Việt Nam quen thuộc lại có thể trở thành món ăn tinh thần
của phần đông khán giả hâm mộ phim Truyền hình Việt Nam trong suốt thời gian phát
sóng và có sức nóng, độ phủ sóng mạnh mẽ trong nhiều năm. Bộ phim đã bắt trúng tâm
lý của người Việt: “Nhà là nơi để về.” – chỉ có gia đình mới có thể mang lại cho con cái
những sự bình yên, che chở và sự bao dung mỗi khi mệt mỏi hay thất bại trong cuộc
sống. Xem bộ phim này, em vô cùng xúc động và bị cuốn hút bởi sự diễn xuất tài tình của
các diễn viên. Bộ phim “Về nhà đi con”, một lần nữa khẳng định giá trị bất biến của hai
tiếng “gia đình”. Quay về nhà là quay về nơi bình yên, để vết thương lành lại, suy ngẫm,
có thêm dũng khí, sức lực để vững vàng đi tiếp con đường phía trước. Em rất thích xem
bộ phim này và vô cùng ấn tượng, ngưỡng mộ các diễn viên. Qua bộ phim này, nhà đạo
diễn tài ba muốn nhắn nhủ mọi người rằng: “Trong gia đình, chúng ta cần phải yêu
thương, đùm bọc, quan tâm lẫn nhau, đặc biệt những lúc xa cơ lỡ bước, phải có một
tấm lòng nhân hậu, lòng vị tha.”. Có như vậy, tình cảm gia đình của chúng ta mãi mãi
được vui vẻ, đầm ấm, hạnh phúc.
Điểm chung của môn Tiếng Việt = (Điểm Đọc + Điểm Viết) : 2
(Làm tròn 0,5 thành 1)
Lưu ý: Chỉ làm tròn một lần. Ví dụ: Điểm thực tế của 2 bài kiểm tra Đọc và Viết
là 19, quy về thang điểm 10 là: 9,5 (làm tròn số thành 10).
PHIẾU KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG KẾT HỢP KIỂM TRA NGHE NÓI
---------- ----------
1. Bài “Ông Trạng thả diều” (SGK lớp 4 trang 104 - CTGDPT 2006).
ÔNG TRẠNG THẢ DIỀU
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên
là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu
hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn
có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào,
chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới
mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu,
nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong.
Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng
mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm
hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới
có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(Theo TRINH ĐƯỜNG)
Chú giải:
- Trạng: tức Trạng Nguyên, người đỗ đầu kì thi cao nhất thời xưa.
- Kinh ngạc: cảm thấy rất lạ trước điều hoàn toàn không ngờ.
a. Tìm những chi tiết nói lên tư chất thông minh của Nguyễn Hiền?
b. Nguyễn Hiền ham học và chịu khó như thế nào?
c. Vì sao chủ bé Hiền được gọi là “ông Trạng thả diều”?
d. Nội dung của bài văn trên muốn nói lên điều gì?
2. Bài đọc “Lớp học trên đường” trang 60-61 SGK Tiếng Việt 5 tập 1 - Bộ sách
“Chân trời sáng tạo”.
LỚP HỌC TRÊN ĐƯỜNG
Cụ Vi-ta-li nhặt trên đường một mảnh gỗ mỏng, dính đầy cát bụi. Cắt mảnh gỗ
thành nhiều miếng nhỏ, cụ bảo:
– Ta sẽ khắc trên mỗi miếng gỗ một chữ cái. Con sẽ học nhận mặt từng chữ, rồi
ghép các chữ ấy lại thành tiếng.
Từ hôm đó, lúc nào túi tôi cũng đầy những miếng gỗ dẹp. Không bao lâu, tôi đã
thuộc tất cả các chữ cái. Nhưng biết đọc là một chuyện khác. Không phải ngày một ngày
hai mà đọc được.
Khi dạy tôi, thầy Vi-ta-li nghĩ rằng cùng lúc có thể dạy cả chú chó Ca-pi để làm
xiếc. Dĩ nhiên, Ca-pi không đọc lên được những chữ nó thấy vì nó không biết nói, nhưng
nó biết lấy ra những chữ mà thầy tôi đọc lên.
Buổi đầu, tôi học tấn tới hơn Ca-pi nhiều. Nhưng nếu tôi thông minh hơn nó, thì nó
cũng có trí nhớ tốt hơn tôi. Cái gì đã vào đầu nó rồi thì nó không bao giờ quên.
Một hôm, tôi đọc sai, thầy tôi nói:
– Ca-pi sẽ biết đọc trước Rê-mi.
Con chó có lẽ hiểu nên đắc chí vẫy vẫy cái đuôi.
Từ đó, tôi không dám sao những một phút nào. Ít lâu sau, tôi đọc được, trong khi
con Ca-pi đáng thương chỉ biết “viết" tên nó bằng cách rút những chữ gỗ trong bảng chữ
cái.
Cụ Vi-ta-li hỏi tôi:
– Bây giờ con có muốn học nhạc không?
– Đấy là điều con thích nhất. Nghe thầy hát, có lúc con muốn cười, có lúc lại muốn
khóc. Có lúc tự nhiên còn nhớ đến mẹ con và tưởng như đang trông thấy mẹ con ở nhà.
Bằng một giọng cảm động, thầy bảo tôi:
– Con thật là một đứa trẻ có tâm hồn.
(Theo Héc-to Ma-lô, Hà Mai Anh dịch)
Chú giải:
- Mẩu chuyện trên được trích từ tiểu thuyết "Không gia đình" của nhà văn Pháp Héc-ta
Ma-lô viết về cuộc đời lưu lạc của chú bé Rê-mi. Bị bắt cóc và vứt ra lề đường từ lúc mới
sinh, Rê-mi được một gia đình nghèo nuôi, rồi được chủ một gánh xiếc rong là cụ Vi-ta-li
dìu dắt nên người. Trải bao thăng trầm, cuối cùng cậu đã tìm được gia đình và sống hạnh
phúc bên những người ruột thịt.
- Đắc chí: tỏ ra thích thú vì đạt được mong muốn.
- Sao nhãng: (nghĩa trong bài) không dồn công sức vào công việc chính phải làm, do chủ
quan.
a. Rê-mi được thầy Vi-ta-li dạy học trong hoàn cảnh nào?
b. Tìm những chi tiết cho thấy lớp học của Rê-mi khác lạ so với lớp học thông thường.
3. Bài đọc “Cậu bé say mê toán học” trang 57-58 SGK Tiếng Việt 5 tập 1 - Bộ sách
“Chân trời sáng tạo”.
CẬU BÉ SAY MÊ TOÁN HỌC
Ở thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, có một bạn nhỏ người dân
tộc Chăm tên là Đổng Trọng Nghĩa. Ở nhà, mọi người thường gọi Nghĩa là Ja Aok – tên
một chàng dũng sĩ trong truyện cổ tích Chăm – với ước mong cậu luôn khoẻ mạnh, thông
minh và tốt bụng.
Lên bốn tuổi, Nghĩa đã sớm bộc lộ năng khiếu toán học. Em tính nhẩm rất nhanh
và đặc biệt thích thú với những trò chơi đố vui về toán.
Em luôn tích cực truyền cảm hứng và khơi gợi hứng thú cho các bạn trong giờ học
toán. Không những thế, Nghĩa còn học đều tất cả các môn và rất tích cực tham gia các
hoạt động của trường, lớp.
Nhờ niềm say mê và không ngừng nỗ lực, năm học lớp Năm, em được chọn là một
trong sáu thí sinh đại diện cho Việt Nam tham dự cuộc thi “Toán trí tuệ Quốc tế” tại Thái
Lan. Cậu bé thông minh, lanh lợi ấy đã xuất sắc đoạt giải Nhì.
Nghĩa xem những trải nghiệm từ cuộc thi với hơn 1 000 thí sinh đến từ 22 quốc gia
là kinh nghiệm quý báu. Em luôn tự nhủ phải khiêm tốn và cố gắng học tập tốt hơn nữa
để trở thành một nhà sáng lập, tạo ra những trò chơi về toán học, mang lại niềm vui và
phát triển khả năng sáng tạo cho mọi người.
(Trọng Nhân tổng hợp)
a. Bố mẹ gửi gắm điều gì vào tên thường gọi ở nhà của Đổng Trọng Nghĩa?
b. Tìm những chi tiết cho thấy Nghĩa sớm bộc lộ năng khiếu toán học.
c. Mỗi thông tin sau giúp em hiểu thêm điều gì về bạn Nghĩa?
4. Bài “Buôn Chư Lênh đón cô giáo” (SGK lớp 5 trang 144 - CTGDPT 2006).
BUÔN CHƯ LÊNH ĐÓN CÔ GIÁO
Căn nhà sàn chật ních người mặc quần áo như đi hội. Mấy cô gái vừa lùi vừa trải
những tấm lông thú thẳng tắp từ đầu cầu thang tới cửa bếp giữa sàn. Bấy giờ, người già
mới ra hiệu dẫn Y Hoa bước lên lối đi bằng lông thú mịn như nhung. Buôn Chư Lênh đ...
KIỂM TRA ĐỌC HIỂU,
KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT – CUỐI HỌC KÌ I LỚP 5
Năm học: 2024 – 2025
---------- ---------N
À
MMạch kiến thức, kĩ năng
Số câu, Mức 1: Mức 2: Mức 3:
câu số, Nhận Kết nối
Vận Tổng
số điểm
biết
dụng
1. Đọc hiểu văn bản
a. Đọc hiểu văn bản văn học
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được những
chi tiết tiêu biểu và nội dung chính của văn
bản. Hiểu được nội dung hàm ẩn dễ nhận biết Số câu
của văn bản. Chỉ ra được mối liên hệ giữa các
chi tiết. Biết tóm tắt văn bản. Hiểu chủ đề của
văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được văn
bản viết theo tưởng tượng và văn bản viết về
người thật, việc thật. Nhận biết được thời
gian, địa điểm và tác dụng của chúng trong
câu chuyện. Hiểu từ ngữ, hình ảnh, biện pháp
so sánh, nhân hoá trong văn bản.
Câu số
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Biết nhận xét về
thời gian, địa điểm; hình dáng, tính cách nhân
vật qua hình ảnh trong truyện tranh hoặc phim
hoạt hình. Tìm được một cách kết thúc khác
cho câu chuyện. Nêu những điều học được từ
câu chuyện, bài thơ, màn kịch; lựa chọn điều
tâm đắc nhất và giải thích vì sao.
b. Đọc hiểu văn bản thông tin
* Đọc hiểu nội dung: Nhận biết được những
chi tiết tiêu biểu và các thông tin chính của
văn bản. Dựa vào nhan đề và các đề mục lớn,
xác định được đề tài, thông tin chính của văn
bản. Nhận biết được mối liên hệ giữa các chi
tiết. Biết tóm tắt văn bản.
* Đọc hiểu hình thức: Nhận biết được mục
Số
đích và đặc điểm của văn bản giải thích về
điểm
một hiện tượng tự nhiên; văn bản giới thiệu
sách hoặc phim; văn bản quảng cáo, văn bản
chương trình hoạt động. Nhận biết được bố
cục (phần đầu, phần giữa (chính), phần cuối)
và các yếu tố (nhan đề, đoạn văn, câu chủ đề)
của một văn bản thông tin đơn giản. Nhận biết
được cách triển khai ý tưởng và thông tin
4
2
1
1, 2, 3,
4
5, 6
7
2
2
1
7
câu
5
điểm
trong văn bản theo trật tự thời gian hoặc theo
tầm quan trọng. Nhận biết được vai trò của
hình ảnh, kí hiệu hoặc số liệu trong việc thể
hiện thông tin chính của văn bản (văn bản in
hoặc văn bản điện tử).
* Liên hệ, so sánh, kết nối: Nêu được những
thay đổi trong hiểu biết, tình cảm, cách ứng
xử của bản thân sau khi đọc văn bản.
2. Kiến thức tiếng Việt:
- Nhận biết và xác định được từ đồng nghĩa,
từ đa nghĩa. Đặt câu được với từ đồng nghĩa
và từ đa nghĩa.
Số câu
- Hiểu nghĩa và sử dụng được một số từ ngữ
(kể cả thành ngữ, tục ngữ, từ Hán Việt thông
dụng) thuộc các chủ điểm đã học.
- Biết cách sử dụng từ điển để tìm từ, tra
nghĩa của từ và tra cứu thông tin khác.
- Hiểu được đặc điểm và chức năng của đại
từ, kết từ.
Câu số
- Nêu được công dụng của dấu gạch ngang
(Dấu gạch ngang dùng để: Đánh dấu lời nói
trực tiếp của nhân vật. Đánh dấu các ý liệt kê.
Nối các từ ngữ trong một liên danh. Đánh dấu
bộ phận chú thích, giải thích trong câu.). Biết
dùng dấu gạch ngang đánh dấu bộ phận chú
thích, giải thích khi viết.
- Nhận biết được biện pháp điệp từ, điệp ngữ
Số
và tác dụng của việc sử dụng điệp từ, điệp
điểm
ngữ trong bài văn, bài thơ.
- Sử dụng đúng danh từ, động từ, tính từ, đại
từ, từ đồng nghĩa, từ đa nghĩa, kết từ trong
từng lời nói và câu văn cụ thể.
- Sử dụng được các dấu câu đã học.
- Nhận biết và bước đầu cảm nhận được cái
hay của những câu văn có sử dụng biện pháp
so sánh, nhân hóa; biết dùng biện pháp so
sánh, nhân hóa để viết được câu văn hay.
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
3
điểm
Số câu
6
3
2
11
câu
Số
điểm
3
3
2
8
điểm
Tổng
4
câu
MA TRẬN NỘI DUNG KIỂM TRA ĐỌC HIỂU, KIẾN THỨC TIẾNG VIỆT
CUỐI HỌC KÌ I - LỚP 5
Năm học: 2024 - 2025
---------- ----------
STT
1
2
Mạch kiến thức,
kĩ năng
Số câu,
câu số,
số điểm
Số câu
Đọc hiểu văn bản
Câu số
Số điểm
Số câu
Kiến thức tiếng Việt Câu số
Số điểm
Tổng
Số câu
Số điểm
Các mức độ năng lực
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
Nhận biết
Kết nối Vận dụng
TN
T TN TL TN TL
L
4
2
1
1, 2, 3, 4
5, 6
7
2
2
1
2
1
1
8, 9
10
11
1
1
1
6
3
2
3
3
2
Tổng
7 câu
5 điểm
4 câu
3 điểm
11 câu
8 điểm
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
Thứ ………….., ngày…… tháng ….. năm
---------- ---------202....
BÀI KIỂM TRA ĐỊNH KÌ CUỐI HỌC KÌ I
Họ và tên:
Môn: Tiếng Việt - Lớp 5
…………………………………...
Năm học: 2024 – 2025
Lớp: ………………………………………....
(Thời gian làm bài: 90 phút)
Điểm
Nhận xét của giáo viên
Đọc:……………….
Viết:……………….
Chung:…………..
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm) - (35 phút)
Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi:
QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA
Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển, đã
mọc lên một chùm đảo san hô nhiều màu. Đó là quần đảo Trường Sa, mảnh đất xa xôi
nhất của Tổ quốc ta.
Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. Mỗi đảo là một bông hoa
san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông.
Từ lâu Trường Sa đã là mảnh đất gần gụi với ông cha ta. Đảo Nam Yết và Sơn Ca
có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng cùi dày, cây lực lưỡng, cao vút. Trên đảo còn có những
cây bàng, quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín
vỏ ngả màu da cam. Gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng. Tán
bàng là những cái nón che bóng mát cho những hòn đảo nhiều nắng này. Bàng và dừa đều
đã cao tuổi, người lên đảo trồng cây chắc chắn phải từ rất xa xưa.
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng. Anh chiến sĩ quả quyết rằng những nét hoa văn
này y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng anh. Nhiều thế hệ người Việt Nam đã đặt
chân lên đây, khi tìm báu vật, khi trồng cây để xanh tươi mãi cho tới hôm nay.
HÀ ĐÌNH CẨN
Trích “Quần đảo san hô”
* Khoanh vào chữ cái trước câu trả lời đúng hoặc làm theo yêu cầu dưới đây:
Câu 1 (0,5 điểm). Quần đảo Trường Sa nằm ở phía nào của nước ta?
A. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – bắc bờ biển.
B. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển.
C. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía tây – bắc bờ biển.
D. Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía tây – nam bờ biển.
Câu 2 (0,5 điểm). Nối từng từ ngữ ở cột bên trái với từ ngữ ở cột bên phải để phù
hợp với nội dung của bài văn:
a, Quần đảo
là một bông hoa san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa
giữa mặt nước biển Đông xanh mênh mông.
(1)
b, Mỗi đảo
gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. (2)
Câu 3 (0,5 điểm). Trên đảo Nam Yết và đảo Sơn Ca của quần đảo Trường Sa có
những giống cây gì đặc biệt?
A. Dừa đá và cây bàng
B. Dừa đá và cây sầu riêng
C. Mãng cầu và cây xoài
D. Chôm chôm và măng cụt
Câu 4 (0,5 điểm). Chi tiết “mảnh đồ gốm có nét hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi
rồng” giúp anh chiến sĩ biết điều gì?
A. Những nét hoa văn của mảnh đồ gốm trên đảo rất đẹp.
B. Đảo có rất nhiều đồ gốm với những nét hoa văn tinh xảo.
C. Người Việt Nam đã sống và gắn bó với đảo từ lâu đời.
D. Đảo có nhiều đồ cổ quý hiếm mà không nơi nào có.
Câu 5 (1 điểm). Tìm những chi tiết miêu tả những nét đặc biệt của cây cối trên đảo.
Câu 6 (1 điểm). Lời quả quyết của anh chiến sĩ về những nét hoa văn trên mảnh đồ
gốm anh xúc lên trong lần đào công sự “y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng
anh” đã chứng tỏ điều gì?
Câu 7 (1 điểm). Bài văn trên muốn nói với em điều gì? Em cần làm gì để bảo vệ
quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ của nước ta?
Câu 8 (0,5 điểm). Dấu gạch ngang trong câu dưới đây được dùng để làm gì?
Cách Bà Rịa – Vũng Tàu khoảng năm trăm cây số về phía đông – nam bờ biển, đã
mọc lên một chùm đảo san hô nhiều màu.
A. Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
B. Đánh dấu các ý liệt kê.
C. Nối các từ ngữ trong một liên danh.
D. Đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu.
Câu 9 (0,5 điểm). Điệp từ trong đoạn văn sau là:
Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung. Mỗi đảo là một bông hoa
san hô rực rỡ góp thành một lẵng hoa giữa mặt nước Biển Đông xanh mênh mông.
A. quần đảo
B. đảo, hoa
C. bông hoa
D. lẵng hoa
Câu 10 (1 điểm). Từ “đứng” trong câu: “Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo
hình vòng cung.” được dùng với nghĩa gốc hay nghĩa chuyển? Đặt 1 câu với từ
“đứng” được dùng với nghĩa gốc.
Câu 11 (1 điểm). Gạch dưới kết từ trong câu dưới đây và cho biết mỗi kết từ đó nối
những từ ngữ nào trong câu?
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ
em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
Đề 2: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
Bài làm
NÀ
M
HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ, CHO ĐIỂM
BÀI KIỂM TRA MÔN TIẾNG VIỆT CUỐI HỌC KÌ I
Lớp 5 - Năm học: 2024 – 2025
---------- ----------
I. KIỂM TRA ĐỌC (10 điểm)
1. Kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói. (2 điểm)
* Nội dung kiểm tra:
+ Học sinh đọc một đoạn văn, bài thơ do giáo viên lựa chọn và chuẩn bị trước, ghi rõ
tên bài, đoạn đọc vào phiếu cho từng học sinh bốc thăm rồi đọc thành tiếng.
+ HS trả lời 1 câu hỏi về nội dung đoạn đọc do giáo viên nêu ra.
* Thời gian kiểm tra: Giáo viên kiểm tra đọc thành tiếng kết hợp kiểm tra nghe nói đối
với từng học sinh trong khi kiểm tra phần Đọc – hiểu.
* Cách đánh giá, cho điểm:
Cách đánh giá
Điểm
1) Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng các văn bản truyện, bài thơ, bài văn miêu 0,5 điểm
tả, ... ; tốc độ đọc đạt yêu cầu (tốc độ đọc khoảng 90 - 100 tiếng/ phút).
2) - Đọc đúng tiếng, từ (không đọc sai quá 5 tiếng).
0,5 điểm
- Đọc diễn cảm (giọng đọc có biểu cảm) (nếu có)
3) Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa.
0,5 điểm
4) Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn/bài thơ đọc.
0,5 điểm
2. Kiểm tra đọc hiểu kết hợp kiểm tra kiến thức tiếng Việt. (8 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 2 (0,5 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,25 điểm.
Nối a, - (2) ; b, - (1)
Câu 3 (0,5 điểm). Khoanh vào A.
Câu 4 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 5 (1 điểm). Chi tiết miêu tả những nét đặc biệt của cây cối trên đảo là:
Có giống dừa đá, trái nhỏ nhưng cùi dày, cây lực lưỡng, cao vút; những cây bàng,
quả vuông bốn cạnh, to bằng nửa chiếc bi đông, nặng bốn năm lạng, khi chín vỏ ngả màu
da cam; gốc bàng to, đường kính chừng hai mét, xòe một tán lá rộng; được trồng từ rất xa
xưa.
Câu 6 (1 điểm). Lời quả quyết của anh chiến sĩ về những nét hoa văn trên mảnh đồ gốm
anh xúc lên trong lần đào công sự “y như hoa văn trên hũ rượu thờ ở đình làng anh” đã
chứng tỏ: Người Việt Nam đã đến, sống ở quần đảo này từ rất lâu. Quần đảo Trường
Sa là của Việt Nam.
Câu 7 (1 điểm).
- Bài văn trên nêu vị trí và một số đặc điểm của quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ
của nước ta.
- HS liên hệ bản thân.
Chẳng hạn: Để bảo vệ quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ của nước ta, em cần
chăm chỉ học tập, rèn luyện thật tốt, theo bước ông cha bảo vệ, giữ vững chủ quyền
biển, đảo của Tổ quốc, không để cho đất nước nào xâm phạm, ...
Câu 8 (0,5 điểm). Khoanh vào C.
Câu 9 (0,5 điểm). Khoanh vào B.
Câu 10 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
* Từ “đứng” trong câu: “Quần đảo gồm nhiều đảo nhỏ, đứng theo hình vòng cung.”
được dùng với nghĩa chuyển.
* Đặt 1 câu với từ “đứng” được dùng với nghĩa gốc.
Chẳng hạn:
+ Em bé đang tập đứng.
+ Chúng em đứng nghiêm trang chào cờ.
+ Chú bộ đội đang đứng gác.
+ Bạn Hùng nói chuyện riêng nên bị cô giáo gọi đứng lên.
Câu 11 (1 điểm). Mỗi ý đúng cho 0,5 điểm.
Một sáng đào công sự, lưỡi xẻng của anh chiến sĩ xúc lên một mảnh đồ gốm có nét
hoa văn màu nâu và xanh, hình đuôi rồng.
* Kết từ trong câu trên đó là: từ “và”, “của”.
* Từ “của” nối “lưỡi xẻng” với “anh chiến sĩ”. Từ “và” nối “nâu” với “xanh”.
II. KIỂM TRA VIẾT (10 điểm)
Đề bài: Chọn 1 trong 2 đề dưới đây:
Đề 1: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ
em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
Đề 2: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
STT
Tiêu chí đánh giá
Điểm
1
Bố cục, nội dung
5 điểm
2
Kĩ năng (Cách dùng từ, đặt câu, cách sắp xếp ý, liên kết ý,…)
3 điểm
3
Hình thức trình bày, chính tả, chữ viết
2 điểm
Cụ thể bài viết được đánh giá theo các tiêu chí sau:
Các mức độ năng lực
STT
Tiêu
Mức 1:
Mức 2:
Mức 3:
chí/điểm
Nhận biết
Kết nối
Vận dụng
(3 điểm)
(4 điểm)
(5 điểm)
- Bố cục đoạn văn - Bố cục đoạn văn - Bố cục đoạn văn
chưa thật mạch lạc mạch lạc (Nội dung mạch lạc, chặt chẽ
(Nội dung chưa thể thể hiện rõ 3 phần: (Nội dung thể hiện rõ
hiện rõ 3 phần: Mở Mở đầu, Triển khai, 3 phần: Mở đầu, Triển
1 Bố
cục, đầu, Triển khai, Kết Kết thúc. Mở đầu, khai, Kết thúc, trong
nội dung thúc; hoặc thiếu Kết Kết thúc bài đáp ứng đó Mở đầu, Kết thúc
(5 điểm)
thúc hoặc viết Mở đúng yêu cầu cơ bản tạo được ấn tượng (có
đầu, Triển khai sơ của kiểu bài văn kể sự sáng tạo.
sài, chưa đúng yêu chuyện, ...).
cầu.
- Nội dung bài đáp - Nội dung đáp ứng - Nội dung phong phủ,
ứng yêu cầu tối đúng yêu cầu, đàm có những ý thể hiện
thiếu, ý còn sơ sài.
bảo các ý cần thiết.
suy nghĩ riêng, sáng
tạo.
Kĩ năng - Còn mắc 4-5 lỗi và - Còn mắc 2 – 3 lỗi Không mắc lỗi về kĩ
(Cách
kĩ năng (VD: lỗi và kĩ năng (VD: lỗi năng hoặc chỉ mắc một
dùng
từ, dùng từ, viết câu, dùng từ, viết câu, sắp chút lỗi nhỏ về dùng từ
2 đặt
câu, sắp xếp ý, liên kết ý, xếp ý, liên kết ý, ...). hoặc viết câu nhưng có
cách sắp ...).
sáng tạo trong việc lựa
xếp ý, liên
kết ý,…) (3
điểm)
3
Hình thức
trình bày,
chính tả,
chữ viết (2
điểm)
chọn từ ngữ, sử dụng
kiểu câu hoặc sắp xếp
ý, liên kết ý, ...)
- Còn mắc 4-5 lỗi - Còn mắc 2-3 lỗi - Bài làm không mắc
trong bài làm. (VD: trong bài làm. (VD: lỗi (chữ viết đúng
không trình bày rõ không trình bày rõ chính tả, trình bày bài
các phần theo bố các phần theo bố cục, sạch sẽ, rõ ràng.
cục, còn có chữ viết còn có chữ viết chưa
chưa đúng (thiếu, đúng (thiếu, thừa nét,
thừa nét, độ cao, độ độ cao, độ rộng,
rộng, khoảng cách khoảng cách các con
các con chữ, ...), chữ, ...), còn mắc lỗi
còn mắc lỗi chính chính tả, ...).
tả, ...).
Hướng dẫn chấm các đề như sau:
Đề 1:
- Nội dung: Viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài
thơ em đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò”.
+ Biết viết đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện hoặc một bài thơ em
đã nghe, đã đọc ca ngợi “tình cảm thầy trò” theo trình tự phù hợp, bố cục rõ ràng, liên
kết các ý chặt chẽ; tình cảm, cảm xúc sâu sắc, chân thành.
+ Biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm, cảm xúc), viết câu văn ngắn
gọn, hay, gây xúc động, giàu sức biểu cảm, giúp người đọc dễ hình dung; các ý trong
đoạn văn sắp xếp hợp lí, diễn đạt rõ ý.
- Hình thức: Bài viết mạch lạc, đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
Đoạn văn nêu tình cảm, cảm xúc về một câu chuyện thường có 3 phần là: Mở
đầu, Triển khai, Kết thúc.
* Mở đầu: Giới thiệu tên câu chuyện, tên tác giả và nêu ấn tượng chung về câu
chuyện.
* Triển khai: Kể tóm tắt nội dung câu chuyện, nêu những điều yêu thích ở câu
chuyện (nhân vật, sự việc, ý nghĩa của câu chuyện,...) và thể hiện tình cảm, cảm xúc đối
với câu chuyện.
* Kết thúc: Khẳng định một lần nữa giá trị, ý nghĩa của câu chuyện hoặc nhấn mạnh
tình cảm, cảm xúc đối với câu chuyện.
Người viết cần thể hiện tình cảm, cảm xúc chân thật, nhẹ nhàng, phù hợp với nội
dung và tình tiết có trong câu chuyện. Đồng thời phải đồng cảm với nhân vật có trong
truyện.
Đoạn văn thể hiện tình cảm, cảm xúc về một bài thơ thường có 3 phần:
* Mở đầu: Giới thiệu tên bài thơ, tên tác giả và ấn tượng của em về bài thơ.
* Triển khai: Nêu những cái hay, cái đẹp của bài thơ (từ ngữ, hình ảnh, nhân vật, nội
dung, ý nghĩa,...) và biểu lộ tình cảm, cảm xúc của em đối với bài thơ.
* Kết thúc: Nhấn mạnh, khẳng định lại một lần nữa tình cảm, cảm xúc của em đối
với bài thơ.
Chẳng hạn:
Câu chuyện “Người thầy muôn đời” trong sách giáo khoa Tiếng Việt 5, tập 2,
trang 93-94 (Bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống) là một câu chuyện để lại trong lòng
em nhiều xúc động về truyền thống “tôn sư trọng đạo và tình cảm uống nước nhớ
nguồn” của con người Việt Nam. Câu chuyện kể về các môn sinh tề tựu trước sân nhà cụ
giáo Chu để mừng thọ cụ giáo Chu thật đông vui và cảm động, có đông đủ các thế hệ học
trò. Quà biếu thầy, mừng thầy là những cuốn sách quý và tất cả muốn dâng lên thầy một
tấm lòng biết ơn sâu sắc. Gặp lại môn sinh, cụ giáo Chu vui mừng hỏi thăm công việc của
từng học sinh cũ, bảo ban các học trò nhỏ. Sau khi nghe cụ giáo Chu nói đi thăm thầy
giáo cũ thì các môn sinh dạ ran. Cụ giáo đi trước, môn sinh lần lượt đi theo sau rất nền
nếp. Thầy giáo cũ nay đã trên 80 tuổi, râu tóc bạc phơ. Cử chỉ của cụ giáo Chu sáng ngời
đạo lí: “Chắp tay cung kính vái” thầy giáo cũ. Tất cả môn sinh đều làm theo. Lời nói của
cụ giáo Chu làm cho ai nghe cũng phải xúc động: “Lạy thầy! Hôm nay con đem tất cả
môn sinh đến tạ ơn thầy”. Đó là lời tri ân, là tình cảm uống nước nhớ nguồn. Vì thế, buổi
mừng thọ cụ giáo Chu năm ấy, tất cả học sinh cũ mới đều được thêm một bài học thấm
thía về nghĩa thầy trò. Câu chuyện này tuy ngắn nhưng vô cùng xúc động bởi ý nghĩa
nhân văn cao đẹp nhằm giáo dục các thế hệ học sinh cần phải kính trọng, biết ơn các thầy
cô đã từng dạy mình - đó là thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo” của ông cha ta. Gấp
trang sách lại, hình ảnh người thầy muôn đời này vẫn in đậm trong tâm trí em, nhắc nhở
em phải chăm chỉ học tập, rèn luyện thật tốt để không phụ lòng dạy dỗ của thầy cô. Câu
chuyện “Người thầy muôn đời” như đã bồi đắp lên tâm hồn em một bài học bổ ích về
đạo lí làm người. Trong tuổi thơ chúng ta, ai cũng nhớ mãi lời ru, tiếng hát:
“Cơm cha, áo mẹ, chữ thầy,
Nghĩ sao cho bõ những ngày ước ao?”.
Bài thơ “Cô giáo lớp em” trong sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1, trang 40-41 (Bộ
sách Kết nối tri thức với cuộc sống) của nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh đã mang đến cho em
những cảm xúc ấm áp và trân trọng dành cho người thầy, người cô. Với những từ ngữ
mộc mạc, giản dị, lời thơ truyền cảm, nhẹ nhàng đã thể hiện những vẻ đẹp gần gũi của
người cô dành cho học sinh của mình. Hình ảnh cô giáo không chỉ là người truyền đạt
kiến thức mà còn là người dìu dắt tâm hồn học trò. Qua những câu thơ, em cảm nhận
được sự gần gũi, yêu thương của cô dành cho mỗi học sinh, từ ánh mắt ân cần đến những
lời động viên nhẹ nhàng. Hình ảnh “cô giáo như mẹ hiền” hiện lên thật đẹp, thể hiện sự
chăm sóc và che chở mà cô dành cho lớp học. Tác giả đặc biệt lưu giữ những kí ức đẹp về
người cô giáo thân yêu – người lái đò thầm lặng, đưa các thế hệ học sinh đến bến bờ tri
thức. Bài thơ “Cô giáo lớp em” là một bài thơ rất hay. Em rất thích đọc bài thơ này. Cảm
ơn nhà thơ Xuân Sanh đã viết bài thơ làm xúc động tâm hồn em! Bài thơ không chỉ tôn
vinh nghề giáo mà còn khẳng định vai trò quan trọng của cô giáo trong việc hình thành
nhân cách và sự lĩnh hội tri thức của học trò. Qua đó nhà thơ muốn nhắc nhở thế hệ học
sinh chúng ta phải luôn kính trọng, biết ơn và ghi nhớ công lao dạy dỗ của thầy cô, phải
chăm chỉ học tập và rèn luyện tốt để xứng đáng với công lao to lớn ấy. Tục ngữ có câu:
“Không thầy, đố mày làm nên.”.
Đề 2:
- Nội dung: Viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng
được xem.
+ Biết viết đoạn văn giới thiệu một bộ phim Việt Nam em yêu thích mà em đã từng được
xem theo trình tự phù hợp, bố cục đoạn văn rõ ràng, liên kết các ý chặt chẽ.
+ Biết dùng từ ngữ thích hợp (chính xác, thể hiện tình cảm, cảm xúc), viết câu văn ngắn
gọn, hay, gây xúc động, giàu sức biểu cảm; sáng tạo trong việc dùng từ, viết câu giúp
người đọc dễ hình dung; các ý trong đoạn văn sắp xếp hợp lí, diễn đạt rõ ý.
- Hình thức: Bài viết đúng chính tả, chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.
Cụ thể bài viết đủ 3 phần như sau:
Đoạn văn giới thiệu một bộ phim thường có 3 phần:
* Mở đầu: Giới thiệu tên bộ phim, tên nhân vật, ... và nếu ấn tượng chung về bộ
phim.
* Triển khai: Kể tóm tắt nội dung bộ phim. Nêu những đặc điểm nổi bật về ngoại
hình, hoạt động, tính cách,... của nhân vật trong phim và thể hiện được tình cảm, cảm
xúc đối với bộ phim. (Lưu ý: Nên đưa dẫn chứng về chi tiết trong phim để làm nổi
bật đặc điểm của nhân vật.)
* Kết thúc: Khẳng định một lần nữa giá trị, ý nghĩa của của bộ phim hoặc nhấn mạnh
tình cảm, cảm xúc đối với bộ phim đó.
Chẳng hạn:
“Con yêu ơi, mong con luôn được bình yên.” – những lời ca thể hiện tình yêu
thương của đấng sinh thành trong bộ phim “Về nhà đi con” của đạo diễn Nguyễn Danh
Dũng, do Trung tâm sản xuất phim Truyền hình Việt Nam cung cấp để thấy được gia đình
là nơi con quay về, là nơi dang rộng vòng tay khi con bị đổ vỡ trong hôn nhân và thất bại
trong cuộc sống. Bộ phim mang đến những câu chuyện gia đình gần gũi, cảm động, với
sự hội tụ của nhiều gương mặt diễn viên được yêu thích trong các phim truyền hình đặc
sắc của Việt Nam: Nghệ sĩ Nhân dân Hoàng Dũng, Nghệ sĩ Ưu tú Trung Anh, diễn viên
Ngân Quỳnh, Thu Quỳnh, Bảo Thanh, Bảo Hân, Quốc Trường, Quang Anh, Tuấn Tú, ... .
Bộ phim “Về nhà đi con” là một câu chuyện kể về một gia đình có 4 người: ông bố Sơn
và 3 chị em gái Huệ, Thư, Dương, mất mẹ từ nhỏ. Mỗi người một tính cách, trải qua
nhiều biến cố riêng và chung, họ càng cảm thấy quý giá tình cảm cha con, chị em, càng
cố gắng đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người thân. Ở đó người xem bắt gặp một người
đàn ông góa vợ tên Sơn (NSƯT Trung Anh) khắc khổ, bảo thủ nhưng lại có một tình yêu
thương con vô bờ bến, luôn dõi theo nỗi niềm của các con gái và đau đáu: “Con yêu ơi,
mong con luôn được bình yên!”. Chị cả Huệ (Thu Quỳnh) dịu dàng, điềm đạm thay mẹ
nuôi dạy các em, chị hai Thư (Bảo Thanh) xinh đẹp, sắc sảo và thực dụng, chỉ mong kiếm
được chồng giàu có để phụng dưỡng bố và cô em út Ánh Dương (Bảo Hân) bộc trực,
thẳng thắn như con trai. Mỗi nhân vật khắc họa một kiểu người điển hình trong đời thực,
mỗi câu chuyện trong phim đều đại diện cho một mối quan hệ điển hình trong đời sống
ngày nay. Tiêu biểu nhất có thể nhắc tới cuộc hôn nhân của Huệ và Khải với câu chuyện
người chồng gia trưởng, một bà cô bên chồng lắm lời, hay muôn vàn tật xấu của đàn ông
trong xã hội hiện đại. Ngoài ra, bộ phim truyền tải đến người xem mối quan hệ giữa Thư
và Vũ, đại diện cho lớp trẻ trưởng thành, với những mối quan hệ chưa muốn có sự ràng
buộc, những toan tính được mất trong “Hợp đồng hôn nhân”, rồi cả những sai lầm không
thể cứu vãn được. Cuối cùng là cô em gái út Dương – cô nàng Ánh Dương cá tính, với
niềm đam mê Game và tính cách mạnh mẽ tạo dấu ấn đậm nét trong lòng khán giả. Bộ
phim “Về nhà đi con” được dàn dựng công phu, phim dài tập nhưng tập nào cũng rất
cuốn hút, có nội dung đa dạng, khác nhau, đem đến nhiều tình tiết thực tế, nhân văn, tôn
lên ý nghĩa và giá trị của một gia đình trong xã hội hiện đại. Với một đề tài rất cũ, chỉ
xoay quanh cuộc sống gia đình Việt Nam quen thuộc lại có thể trở thành món ăn tinh thần
của phần đông khán giả hâm mộ phim Truyền hình Việt Nam trong suốt thời gian phát
sóng và có sức nóng, độ phủ sóng mạnh mẽ trong nhiều năm. Bộ phim đã bắt trúng tâm
lý của người Việt: “Nhà là nơi để về.” – chỉ có gia đình mới có thể mang lại cho con cái
những sự bình yên, che chở và sự bao dung mỗi khi mệt mỏi hay thất bại trong cuộc
sống. Xem bộ phim này, em vô cùng xúc động và bị cuốn hút bởi sự diễn xuất tài tình của
các diễn viên. Bộ phim “Về nhà đi con”, một lần nữa khẳng định giá trị bất biến của hai
tiếng “gia đình”. Quay về nhà là quay về nơi bình yên, để vết thương lành lại, suy ngẫm,
có thêm dũng khí, sức lực để vững vàng đi tiếp con đường phía trước. Em rất thích xem
bộ phim này và vô cùng ấn tượng, ngưỡng mộ các diễn viên. Qua bộ phim này, nhà đạo
diễn tài ba muốn nhắn nhủ mọi người rằng: “Trong gia đình, chúng ta cần phải yêu
thương, đùm bọc, quan tâm lẫn nhau, đặc biệt những lúc xa cơ lỡ bước, phải có một
tấm lòng nhân hậu, lòng vị tha.”. Có như vậy, tình cảm gia đình của chúng ta mãi mãi
được vui vẻ, đầm ấm, hạnh phúc.
Điểm chung của môn Tiếng Việt = (Điểm Đọc + Điểm Viết) : 2
(Làm tròn 0,5 thành 1)
Lưu ý: Chỉ làm tròn một lần. Ví dụ: Điểm thực tế của 2 bài kiểm tra Đọc và Viết
là 19, quy về thang điểm 10 là: 9,5 (làm tròn số thành 10).
PHIẾU KIỂM TRA ĐỌC THÀNH TIẾNG KẾT HỢP KIỂM TRA NGHE NÓI
---------- ----------
1. Bài “Ông Trạng thả diều” (SGK lớp 4 trang 104 - CTGDPT 2006).
ÔNG TRẠNG THẢ DIỀU
Vào đời vua Trần Thái Tông, có một gia đình nghèo sinh được cậu con trai đặt tên
là Nguyễn Hiền. Chú bé rất ham thả diều. Lúc còn bé, chú đã biết làm lấy diều để chơi.
Lên sáu tuổi, chú học ông thầy trong làng. Thầy phải kinh ngạc vì chú học đến đâu
hiểu ngay đến đó và có trí nhớ lạ thường. Có hôm, chú thuộc hai mươi trang sách mà vẫn
có thì giờ chơi diều.
Sau vì nhà nghèo quá, chú phải bỏ học. Ban ngày, đi chăn trâu, dù mưa gió thế nào,
chú cũng đứng ngoài lớp học nghe giảng nhờ. Tối đến, chú đợi bạn học thuộc bài mới
mượn vở về học. Đã học thì cũng phải đèn sách như ai nhưng sách của chú là lưng trâu,
nền cát, bút là ngón tay hay mảnh gạch vỡ; còn đèn là vỏ trứng thả đom đóm vào trong.
Bận làm, bận học như thế mà cánh diều của chú vẫn bay cao, tiếng sáo vẫn vi vút tầng
mây. Mỗi lần có kì thi ở trường, chú làm bài vào lá chuối khô và nhờ bạn xin thầy chấm
hộ. Bài của chú chữ tốt văn hay, vượt xa các học trò của thầy.
Thế rồi, vua mở khoa thi. Chú bé thả diều đỗ Trạng nguyên. Ông Trạng khi ấy mới
có mười ba tuổi. Đó là Trạng nguyên trẻ nhất của nước Nam ta.
(Theo TRINH ĐƯỜNG)
Chú giải:
- Trạng: tức Trạng Nguyên, người đỗ đầu kì thi cao nhất thời xưa.
- Kinh ngạc: cảm thấy rất lạ trước điều hoàn toàn không ngờ.
a. Tìm những chi tiết nói lên tư chất thông minh của Nguyễn Hiền?
b. Nguyễn Hiền ham học và chịu khó như thế nào?
c. Vì sao chủ bé Hiền được gọi là “ông Trạng thả diều”?
d. Nội dung của bài văn trên muốn nói lên điều gì?
2. Bài đọc “Lớp học trên đường” trang 60-61 SGK Tiếng Việt 5 tập 1 - Bộ sách
“Chân trời sáng tạo”.
LỚP HỌC TRÊN ĐƯỜNG
Cụ Vi-ta-li nhặt trên đường một mảnh gỗ mỏng, dính đầy cát bụi. Cắt mảnh gỗ
thành nhiều miếng nhỏ, cụ bảo:
– Ta sẽ khắc trên mỗi miếng gỗ một chữ cái. Con sẽ học nhận mặt từng chữ, rồi
ghép các chữ ấy lại thành tiếng.
Từ hôm đó, lúc nào túi tôi cũng đầy những miếng gỗ dẹp. Không bao lâu, tôi đã
thuộc tất cả các chữ cái. Nhưng biết đọc là một chuyện khác. Không phải ngày một ngày
hai mà đọc được.
Khi dạy tôi, thầy Vi-ta-li nghĩ rằng cùng lúc có thể dạy cả chú chó Ca-pi để làm
xiếc. Dĩ nhiên, Ca-pi không đọc lên được những chữ nó thấy vì nó không biết nói, nhưng
nó biết lấy ra những chữ mà thầy tôi đọc lên.
Buổi đầu, tôi học tấn tới hơn Ca-pi nhiều. Nhưng nếu tôi thông minh hơn nó, thì nó
cũng có trí nhớ tốt hơn tôi. Cái gì đã vào đầu nó rồi thì nó không bao giờ quên.
Một hôm, tôi đọc sai, thầy tôi nói:
– Ca-pi sẽ biết đọc trước Rê-mi.
Con chó có lẽ hiểu nên đắc chí vẫy vẫy cái đuôi.
Từ đó, tôi không dám sao những một phút nào. Ít lâu sau, tôi đọc được, trong khi
con Ca-pi đáng thương chỉ biết “viết" tên nó bằng cách rút những chữ gỗ trong bảng chữ
cái.
Cụ Vi-ta-li hỏi tôi:
– Bây giờ con có muốn học nhạc không?
– Đấy là điều con thích nhất. Nghe thầy hát, có lúc con muốn cười, có lúc lại muốn
khóc. Có lúc tự nhiên còn nhớ đến mẹ con và tưởng như đang trông thấy mẹ con ở nhà.
Bằng một giọng cảm động, thầy bảo tôi:
– Con thật là một đứa trẻ có tâm hồn.
(Theo Héc-to Ma-lô, Hà Mai Anh dịch)
Chú giải:
- Mẩu chuyện trên được trích từ tiểu thuyết "Không gia đình" của nhà văn Pháp Héc-ta
Ma-lô viết về cuộc đời lưu lạc của chú bé Rê-mi. Bị bắt cóc và vứt ra lề đường từ lúc mới
sinh, Rê-mi được một gia đình nghèo nuôi, rồi được chủ một gánh xiếc rong là cụ Vi-ta-li
dìu dắt nên người. Trải bao thăng trầm, cuối cùng cậu đã tìm được gia đình và sống hạnh
phúc bên những người ruột thịt.
- Đắc chí: tỏ ra thích thú vì đạt được mong muốn.
- Sao nhãng: (nghĩa trong bài) không dồn công sức vào công việc chính phải làm, do chủ
quan.
a. Rê-mi được thầy Vi-ta-li dạy học trong hoàn cảnh nào?
b. Tìm những chi tiết cho thấy lớp học của Rê-mi khác lạ so với lớp học thông thường.
3. Bài đọc “Cậu bé say mê toán học” trang 57-58 SGK Tiếng Việt 5 tập 1 - Bộ sách
“Chân trời sáng tạo”.
CẬU BÉ SAY MÊ TOÁN HỌC
Ở thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, có một bạn nhỏ người dân
tộc Chăm tên là Đổng Trọng Nghĩa. Ở nhà, mọi người thường gọi Nghĩa là Ja Aok – tên
một chàng dũng sĩ trong truyện cổ tích Chăm – với ước mong cậu luôn khoẻ mạnh, thông
minh và tốt bụng.
Lên bốn tuổi, Nghĩa đã sớm bộc lộ năng khiếu toán học. Em tính nhẩm rất nhanh
và đặc biệt thích thú với những trò chơi đố vui về toán.
Em luôn tích cực truyền cảm hứng và khơi gợi hứng thú cho các bạn trong giờ học
toán. Không những thế, Nghĩa còn học đều tất cả các môn và rất tích cực tham gia các
hoạt động của trường, lớp.
Nhờ niềm say mê và không ngừng nỗ lực, năm học lớp Năm, em được chọn là một
trong sáu thí sinh đại diện cho Việt Nam tham dự cuộc thi “Toán trí tuệ Quốc tế” tại Thái
Lan. Cậu bé thông minh, lanh lợi ấy đã xuất sắc đoạt giải Nhì.
Nghĩa xem những trải nghiệm từ cuộc thi với hơn 1 000 thí sinh đến từ 22 quốc gia
là kinh nghiệm quý báu. Em luôn tự nhủ phải khiêm tốn và cố gắng học tập tốt hơn nữa
để trở thành một nhà sáng lập, tạo ra những trò chơi về toán học, mang lại niềm vui và
phát triển khả năng sáng tạo cho mọi người.
(Trọng Nhân tổng hợp)
a. Bố mẹ gửi gắm điều gì vào tên thường gọi ở nhà của Đổng Trọng Nghĩa?
b. Tìm những chi tiết cho thấy Nghĩa sớm bộc lộ năng khiếu toán học.
c. Mỗi thông tin sau giúp em hiểu thêm điều gì về bạn Nghĩa?
4. Bài “Buôn Chư Lênh đón cô giáo” (SGK lớp 5 trang 144 - CTGDPT 2006).
BUÔN CHƯ LÊNH ĐÓN CÔ GIÁO
Căn nhà sàn chật ních người mặc quần áo như đi hội. Mấy cô gái vừa lùi vừa trải
những tấm lông thú thẳng tắp từ đầu cầu thang tới cửa bếp giữa sàn. Bấy giờ, người già
mới ra hiệu dẫn Y Hoa bước lên lối đi bằng lông thú mịn như nhung. Buôn Chư Lênh đ...
 








Các ý kiến mới nhất