Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Nghìn năn văn hiến T3

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:33' 20-01-2026
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
https://thuviensach.vn

Bìa và minh họa: Vũ Xuân Đông
Trình bày bìa: Phạm Quốc Cường

https://thuviensach.vn

Phần 8
Triều Trần đổ nát Núi Lam Sơn dựng
cờ cứu nước
Sớ chém bảy người

https://thuviensach.vn

C

hu Văn An người làng Quang Liệt nay là xã Thanh Liệt huyện
Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội. Thuở nhỏ, An sớm là người có
nghị lực, ngày đêm chuyên cần học tập, lại chăm sửa mình cho
trong sạch, không cầu danh lợi. Lớn lên đi thi, Chu Văn An đậu Thái
học sinh (tiến sĩ) đời Trần. Vốn là người ham đọc sách hơn ham
mũ cao áo rộng nên ông không chịu ra làm quan mà lui về mở
trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, giáp làng Quang Liệt. Cái học của
ông chủ ở thực hành, cốt xét cho rõ lẽ, giữ ngay chính lòng mình, trừ
gian tà, bỏ thói bậy. Học trò trong nước nghe danh đổ về theo học
ông đông lắm. Trọng đạo làm thầy, giữ mình ngay thẳng, ông rất
nghiêm nghị với học trò. Nhiều người sau này thành đạt rồi, như
Phạm Sư Mạnh người ở Hiệp Sơn (Hải Dương) và Lê Quát người
huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) đều đỗ Thái học sinh, làm quan đến
chức Nhập nội hành khiển (Tể tướng) mà khi về thăm thầy cũng
phải quỳ lạy dưới giường. Hễ được thầy bảo ban cho mấy lời thì lấy
làm hân hạnh lắm. Bằng có điều gì không phải, thầy liền quở
trách ngay, có khi còn quát mắng đuổi đi, không cho vào gặp. Khắp

https://thuviensach.vn

thiên hạ từ quan đến dân đều tôn quý ông, kính trọng ông như bậc
thầy.
Tiếng tăm ông lừng lẫy động đến tận cung cấm. Vua Trần
Minh Tông hâm mộ, liền vời ông ra làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám,
giảng sử sách cho thái tử. Đáp lại thành lý của vua, ông đành rời
Huỳnh Cung vào kinh thành nhận chức. Khanh tướng trong triều,
nho sĩ bốn phương hay tin ấy đều hoan hỉ. Quan tư đồ Chương
Túc Hầu Trần Nguyên Đán(1) làm bài thơ mừng ông, trong có câu:
Học hải hồi lan tục tái thuần
Thượng trường Sơn Đẩu đắc tư nhân.
(Bể học xoay chiều sáng, phong tục trở lại thuần hậu.
Trường cao cấp nhất nước mời được ông thầy sáng như sao
Bắc Đẩu, vững tựa núi Thái Sơn).

https://thuviensach.vn

Vua Minh Tông mất, Trần Dụ Tông lên ngôi, chơi bời hư hỏng,
phung phí của kho, tàn hại sức dân. Năm Quý Mão (1363), Dụ Tông
sai đào hồ lớn ở vườn ngự nơi hậu cung; trong hồ chất đá giả làm
núi, bốn mặt khai sông cho nước chảy vào. Trên núi trồng tùng
trúc cùng nhiều thứ hoa thơm cỏ lạ, lại thả chim quý, thú hiếm.
Phía tây hồ trồng hai cây quế, lập một toà điện gọi là Lạc Thanh
điện và gọi hồ ấy là Lạc Thanh Trì. Lại đào một hồ nhỏ khác, bắt
nhân dân Hải Đông chở nước biển về đổ vào đó để nuôi các hải vật
như đồi mồi, ba ba, cá bể; buộc dân chúng Hoá Châu (Thừa Thiên)
chở cá sấu đem về thả. Dụ Tông còn dung túng bọn nịnh thần
lộng hành; nghe viên Ngự y Trâu Canh giết trẻ con lấy mật hoà với
rượu làm thuốc uống cho khoẻ người; rủ bọn hào phú Đình Bảng
(Bắc Ninh), Nga Đình (Hà Tây) vào cung đánh bạc mỗi tiếng bạc
đến ba trăm quan để mua vui. Khi ấy, dân bị lụt lội mất mùa,
người chết đói đầy đường. Thế mà Dụ Tông vẫn cứ nhơn nhơn,
miệt mài hoang chơi không hề lo nghĩ; lũ quyền thần ra sức che
đậy, bày trò mua vui xu nịnh nhà vua. Việc triều chính đổ nát, lòng
người li tán, dân tình oán hận, nhóm nhau nổi dậy như ong. Đau lòng
vì việc nước, Chu Văn An mấy phen mặc triều phục đội mũ, cầm
hốt đến trước bệ rồng giập đầu can ngăn. Dụ Tông vẫn không
mảy may động lòng, lại có ý lảng tránh, không cho gặp. Chu Văn An
bèn viết một tờ sớ dâng vua, xin chém bảy tên nịnh thần để trừ kẻ
lộng quyền, giữ yên phép nước. Người đời vẫn gọi biểu ấy là Thất
trảm sớ (sớ xin chém bảy người). Sớ đệ vào, Dụ Tông nể bảy người
quyền quý đó nên bỏ qua. Chu Văn An thất vọng liền treo trả áo
mũ vua ban ở ngoài cửa khuyết(2), bỏ về quê, mở lại trường dạy học.
Ít lâu sau, nhân ra chơi vùng Chí Linh (Hải Dương), thấy phong
cảnh núi Phượng Hoàng đẹp, ông dời nhà đến ở, tự mệnh danh là
Tiều Ẩn(3) làm thơ, dạy học.
Dụ Tông có lần tỏ ra hối tiếc, muốn mời ông lại trao cho chức
quyền. Ông thấy Dụ Tông vẫn hư hỏng thì cố từ chối, nhất định

https://thuviensach.vn

không chịu ra. Bà Huệ Từ Thái hậu biết chuyện, mới bảo Dụ Tông:
- Người ấy là bậc cao hiền. Nhà vua không thể bắt người ta làm
bề tôi được thì làm sao có thể giao chính sự cho người ta.
Vua giữ lòng kính trọng, thường sai người đem lễ vật đến ban
tặng. Ông đều kiếm cớ chối từ. Lần nào khó từ tạ phải nhận, ông
liền đem cho hết.
Năm Canh Tuất (1370), ông mất tại nhà riêng ở Chí Linh. Vua
Trần Nghệ Tông mới lên ngôi, nhưng vốn mến tài đức ông, nên
sai quan đại thần về tận quê ông để tế, lại ban tên thuỵ là Văn
Trinh và cho thờ ở Văn Miếu.

Bức thư vạn lời

N

ăm Canh Thìn (1400), Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần. Một
viên quan nhà Trần là Bùi Bá Kỳ, bỏ trốn sang nhà Minh,
Bá Kỳ xưng là Nam Triều Trung Nghĩa dâng tờ biểu lời lẽ
rất thống thiết xin đem quân sang cứu lập lại ngôi vua cho con
cháu họ Trần.
Bấy giờ vua Minh đang muốn thu phục cả thiên hạ, nay nhân cớ
ấy mới bảo bọn Chu Năng, Trương Phụ, Mộc Thạnh:

https://thuviensach.vn

- Cha con Hồ Đê(4) can tội bội nghịch, quỷ thần không dung.
Thế mà thần dân trong nước giấu giếm che chở, vậy thì tất cả
nước đều là kẻ có tội, không thể nào tha thứ được.
Chu Năng, Trương Phụ đều nói:
- Họ Trần được phong, đời đời lo giữ chức phận tiến công. Cha
con Hồ Đê làm việc thoán nghịch. Nạn của công thần không thể
không cứu; tội của cuồng tặc không thể không trị. Vì nghĩa mà xuất
binh, ai dám không theo! Vả chăng, dân nước Nam đời đời đội ơn họ
Trần, cái tình đang còn; nay ta ra hịch giúp Trần diệt Hồ, dân
Nam tất nhóm nhau bỏ theo thiên triều(5). Họ diệt Hồ xong, tìm
bọn kì lão trong nước xướng lên là họ Trần đã tuyệt, ta nhân đấy
mà nhập Giao Chỉ vào nội địa. Thế là tốn một công mà lợi hai việc
vậy.
Vua Minh thấy hợp ý bèn y lời. Cuối năm Bính Tuất (1406)
bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh dẫn hơn hai chục vạn quân ồ ạt vào
nước ta. Bùi Bá Kỳ cũng theo chân về. Đến ải Pha Luỹ, Trương Phụ
treo bảng kết tội Hồ Quý Ly giết vua, nêu danh diệt Hồ giúp
Trần, Phụ lại viết lời lẽ xảo trá ấy vào ván gỗ thả xuống sông cho
theo dòng về xuôi. Bởi thế, nhiều người nhẹ dạ đã ngã lòng tin
theo. Quân nhà Hồ tan vỡ, cha con họ Hồ đều bị bắt. Đầu năm
Đinh Hợi (1407), Trương Phụ vờ ra chiếu tìm con cháu họ Trần. Lũ
ngụy quan Mạc Thuý giả danh là kì lão nước ta làm tờ biểu tâu lên
vua Minh: “Họ Trần không còn ai nữa, mà đất An Nam vốn là
đất Giao Châu ngày xưa. Vậy xin đặt làm quận huyện như cũ”. Vua
Minh vội xuống chiếu đổi An Nam làm Giao Chỉ và sát nhập vào
bản đồ nhà Minh. Bùi Bá Kỳ thì được bổ chức Tham Nghị, làm quan
cai trị ở ty Bố Chính(6).
Việc bạo ngược ấy của giặc làm người nước ta ai nấy đều căm
giận. Khi ấy ở làng Mộ Trạch, phủ Bình Giang (Hải Dương) có một

https://thuviensach.vn

người tên là Lê Cảnh Tuân. Cảnh Tuân ngày trước vốn chơi thân với
Bùi Bá Kỳ thấy vậy bèn viết một bức thư dài vạn lời gửi cho Kỳ.
Người đời quen gọi là Vạn ngôn thư. Thư đại lược viết:
1- Nhà Minh đã có sắc ban cho Các hạ(7) theo quân (Trương Phụ)
tiến đánh, đợi khi bắt được họ Hồ thì chọn lập con cháu họ Trần
làm vua; lại gia thêm tước cho Các hạ ở lại giúp nước. Thế mà nay họ
Hồ đã bị bắt, con cháu họ Trần không thấy lập, lại thấy đặt ti
Bố Chính, cho Các hạ làm quan cao; còn họ Trần thì chỉ được cái
đền thờ với mấy người đến quét tước đèn hương. Vậy Các hạ có thể
tâu lại với vua Minh nới lời của quan lại kì lão nước ta kể rằng con
cháu họ Trần chưa tuyệt, để nhà Minh ban chiếu sắc khác lập lại
ngôi nhà Trần: ấy là thượng sách(8).
2- Không thế nữa, xin Các hạ thôi quan chức quay về tình
nguyện làm viên quan coi giữ đền thờ họ Trần: ấy là trung sách.
3- Nhược bằng Các hạ cứ tham chức quan cao, tiếc bổng lộc
nhiều: ấy là hạ sách vậy.
Nếu như Các hạ theo thượng sách thì tôi đây tự ví như những vị
nhân sâm, cam thảo, chỉ xác, trần bì đựng trong giỏ thuốc, để tuỳ
Các hạ lấy dùng(9). Các hạ mà theo trung sách, tôi xin làm một kẻ
bưng khay chén đi theo để Các hạ sai bảo. Còn như Các hạ theo hạ
sách, thì tôi xin lui mà tìm nơi vắng vẻ để câu, kiếm chỗ thanh
nhàn để cày cho qua đi cái tuổi sống thừa… Bá Kỳ được thư thì giật
mình hổ thẹn. Nhưng Kỳ cũng không theo được như trong thơ của Lê
Cảnh Tuân để dâng biểu xin vua Minh lập lại nhà Trần. Tuy nhiên,
từ bấy giờ, Kỳ cũng không ra nha môn dự việc với bọn quan lại, chỉ ở
nhà, thu nạp các triều thần cũ nhà Trần phẫn chí đi ẩn. Tháng
Mười năm ấy (Đinh Hợi - 1407), Trần Nguyệt Hồ và Phạm Chấn
dấy quân xưng là con cháu nhà Trần, trương cờ Trung Nghĩa nổi
lên ở Bình Than (Hải Dương). Trương Phụ ngờ Bá Kỳ hai lòng ngầm

https://thuviensach.vn

giúp nghĩa quân, liền hạ lệnh tống ngục giải về Kim Lăng (Nam
Kinh). Quân Minh đến nhà Kỳ tịch biên gia sản, bắt được bức thư
của Lê Cảnh Tuân. Phụ lập tức sai truy lùng ráo riết. Cảnh Tuân phải
thay họ đổi tên trốn tránh.
Đến năm Giáp Ngọ (1414), nhà Minh đánh dẹp xong các cuộc
khởi binh của Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng, mới cho mở trường
học ở các phủ, huyện, châu để kén người cho làm nguỵ quan. Cảnh
Tuân muốn nhân cơ hội ấy tìm người xướng nghĩa, mưu việc phục
quốc, mới dấn thân ra làm chức giáo thụ. Chẳng ngờ, ít lâu sau,
việc làm của Cảnh Tuân không lọt qua mắt bọn tay chân giặc. Có kẻ
tìm đến cáo cấp với Trương Phụ:

https://thuviensach.vn

- Người ấy lời lẽ khác thường, không chịu rửa bỏ hết ý nghĩ cũ,
không phải là kẻ thực lòng quy phục. Nếu không tra xét rõ tông tích,
khám phá hết mưu đồ, e sau này khó tránh khỏi tai hoạ.
Phụ vội sai người ngầm lấy bút tích Cảnh Tuân để so, mới biết
Tuân chính là người viết bức Vạn ngôn thu. Phụ tức khắc cho quân
đến vây bắt giải sang Trung Quốc. Ba con Cảnh Tuân đưa cha
đến biên giới đều khóc xin được theo để hầu hạ báo hiếu. ông
ung dung gọi các con lại, bảo nhỏ:
- Thái Điên là con trưởng nên theo ta. Còn hai con Thúc Hiển và
Thiếu Đĩnh phải về phụng thờ tổ tiên mưu việc báo nước!
Thúc Hiển, Thiếu Đĩnh vâng lời, vái lạy cha và anh rồi quay về
Đông Quan(10), Thượng thư Hoàng Phúc coi cả hai ti Bố Chính và
Án Sát muốn thu phục Hiển và Đĩnh, bèn gọi đến cho đi học, hứa
nếu thực lòng theo sẽ trao cho chức tước làm quan. Thúc Hiển,
Thiếu Đĩnh bấm nhau giả nghe lời để tạm náu mình chờ đợi thời
cơ. Được vài năm, nghe tin Lê Lợi dấy binh, hai anh em lập tức bỏ
trốn vào Lam Sơn ứng nghĩa, lập được nhiều công.
Lê Cảnh Tuân và con là Thái Điên sang Kim Lăng. Nghe Lê Cảnh
Tuân, người viết bức Vạn ngôn thư, có tiếng là “trung quán nhật
nguyệt” (trong suốt cả hai vầng mặt trăng, mặt trời), vua Minh
muốn biết mặt liền cho gọi lên Yên Kinh (Bắc Kinh). Cảnh Tuân
vào gặp cứ đứng trân trân, nhất định không chịu quỳ lạy. Vua Minh
đỏ mặt quát hỏi:
- Ngươi xui Bá Kỳ lập con cháu họ Trần âm mưu làm phản, thế
nghĩa làm sao?
Cảnh Tuân điềm nhiên đáp:

https://thuviensach.vn

- Ta là người nước Nam, chỉ lúc nào cũng nghĩ là nước Nam còn!
Kẻ lạ vào nhà không phải là chủ thì chó phải cắn. Đó là lẽ đương
nhiên, còn hỏi làm gì nữa!
Vua Minh giận dữ, tức khắc ra lệnh tống Lê Cảnh Tuân và Thái
Điên xuống ngục Cẩm Y. Hai cha con mặt không biến sắc, ung
dung bước vào ngục tối, sau đều nhịn ăn mà chết.

Gác thù riêng báo đền nước

Đ

ặng Tất, người huyện Thiên Lộc, phủ Nghệ An (Cao Lộc, Hà
Tĩnh), có ba người con trai: Đặng Dung, Đặng Doãn, Đặng
Thiết. Tháng Mười năm Đinh Hợi (1407), con thứ vua Trần
Nghệ Tông là Trần Quỹ xưng là Giản Định Đế dấy quân ở Trường
Yên (Ninh Bình). Vừa nhóm binh, Quỹ liền bị quân Minh kéo đến
vây đánh phải chạy về Nghệ An. Đặng Tất vốn là quan nhà Hồ,
giặc bức bách quá phải trá hàng, nhận ra làm đại tri châu ở Hoá
Châu; nay nghe tin Quỹ khởi nghĩa liền giết sạch bọn quan lại nhà
Minh ở đất ấy, đem cả ba con cùng quân sĩ ra tôn phù. Tất gả con
gái cho Quỹ và được phong làm Quốc công. Một cựu thần nhà Hồ
khác là Nguyễn Cảnh Chân cũng hưởng ứng, đem con là Nguyễn
Cảnh Dị về theo. Bởi thế, quân lực của Trần Quỹ dần dần mạnh
lên. Năm sau, Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân cùng Trần Quỹ dẫn
quân tiến vào chiếm Thuận Hoá, trở ra lấy Tân Bình, Nghệ An,

https://thuviensach.vn

Diễn Châu, Thanh Hoá rồi ruổi binh ra Bắc. Dân các lộ đều nổi
lên, thanh thế to lắm.
Vua Minh vội điều động bốn vạn binh, sai Kiềm Quốc công
Mộc Thạnh, Binh bộ thượng thư Lưu Tuân sang cứu viện. Đặng Tất,
Cảnh Chân đắp luỹ rào chông ở hai bờ và đóng cọc giữa dòng sông
Bồ Cô (Ý Yên - Nam Định) để chờ giặc. Mộc Thạnh, Lưu Tuấn cùng
bọn Lữ Nghị, Hoàng Phúc đem đại quân thuỷ bộ xuống quyết
chiến một trận để phân thắng bại. Hai bên đánh nhau dữ dội suốt
một đêm một ngày. Cha con Đặng Tất, Cảnh Chân và các tướng đều
dốc lòng trổ sức cự địch, chém được đầu Đô ti Lữ Nghị, Thượng thư
Lưu Tuấn, Tham chinh Lưu Dục, Đô chỉ huy Liễu Tống. Mộc Thạnh
thua to, trốn thoát được vào tháng Chạp năm Mậu Tý (1408).
Trần Quỹ muốn tràn lên vây đánh Cổ Lộng rồi thẳng tiến về
Đông Quan, Đặng Tất can:
- Xưa Đường Thái Tông dùng binh hay lấy thế chẻ tre để giành
thắng lợi vì Thái Tông có quân đông tướng mạnh, binh sĩ được luyện
tập, chiến khí lương thực đầy kho. Nay nhà vua đem quân từ xa tới,
đánh giặc liền tay không nghỉ, người ngựa đều hao hụt, lương thực
vũ khí chưa tiếp tới, binh lính các lộ chưa nhóm xong. Lấy quân
mệt nhọc ngoài đường đánh quân liều chết trong thành sao tránh
khỏi thất bại! Xin hãy bắt hết giặc còn sống sót trốn tránh để
trừ hậu hoạ trước đã, rồi sau sẽ chỉnh đốn quân lực, sửa sang
chiến khí tiến ra Bắc cũng không muộn.
Vua tôi bàn cãi dùng dằng chưa quyết. Mộc Thạnh được viện
binh từ Đông Quan tới đón, liền bỏ thành Cổ Lộng chạy thoát. Việc
ấy làm Trần Quỹ phật ý, sinh ra nghi ngờ Đặng Tất và Nguyễn
Cảnh Chân. Dưới trướng Trần Quỹ bấy giờ có Nguyễn Quỹ và
Nguyễn Mộng Trang. Nguyễn Quỹ, Mộng Trang vốn là kẻ bất tài,
theo Trần Quỹ chỉ là hóng hớt hư danh nên bấy lâu vẫn có ý ghen

https://thuviensach.vn

ghét tị hiềm với Đặng Tất, Cảnh Chân. Nay nhân thế liền ỏn thót
gièm pha:
- Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân chuyên quyền định đoạt, nếu
không sớm tính liệu đi thì sau này khó mà chế(11) được.
Trần Quỹ là người hèn kém nhu nhược, chí khí thấp như ngọn
cỏ. Khi nhà Hồ bị diệt, Quỹ vội ra hàng nhà Minh. Nhưng vì Quỹ
cũng được họ Hồ phong tước vương nên lại sợ giặc Minh vin cớ đó
mà bắt giải về Kim Lăng, bèn bỏ trốn. May sau được Đặng Tất,
Nguyễn Cảnh Chân tôn phù, ra công giúp rập, Quỹ mới có được cơ
ngơi to lớn. Bởi thế, khi nghe bọn Quỹ, Trang nói vậy, Trần Quỹ
chợt lo sợ, vội nghe theo. Quỹ giả vờ mời Đặng Tất, Cảnh Chân đến
bàn việc quân. Tất, Chân lòng ngay dạ thẳng được vua gọi thì về.
Vừa vào đến thuyền, Trần Quỹ sai người mai phục sẵn, đổ ra
chém chết Đặng Tất ngay trên thuyền. Cảnh Chân đi sau, thấy
vậy kinh hoảng vội quay đầu chạy. Quỹ hô tay chân đuổi theo, giết
nốt.

Đặng Dung nghe tin dữ thì bưng mặt khóc oà lên ba tiếng rồi
lau ráo nước mắt, bảo tướng sĩ dưới quyền:

https://thuviensach.vn

- Vận nước không may, anh hùng ôm hận. Thương thay, thương
thay!
Tướng sĩ Hoá Châu nhiều người tức giận, muốn tính chuyện trả
thù cho chủ soái, nói:
- Việc nước chưa xong lại nghe lời xu nịnh mà giết bề tôi trung,
vua thế để sao được!
Đặng Dung nghiêm sắc mặt mắng:
- Hiếu nhưng phải lấy trung làm trọng. Nợ nước chưa đền, giặc
thù còn kia, sao lại xui ta nghĩ đến chuyện nhà mà quên nợ nước.
Thế sao gọi là hiếu được!
Đoạn dịu giọng bảo:
- Nhà vua cầm cương mà không biết ngựa nào là ngựa hay. Dẫu
có nhọc lòng đến mấy cũng chỉ tốn sức. Ta đi thôi, tìm minh
chúa(12) mà tôn phù!
Dứt lời, cùng hai em dẫn quân bản bộ bỏ đi ngay. Cảnh Dị cũng
kịp đến hợp quân theo về Nghệ An. Đầu năm Kỷ Sửu (1409),
Đặng Dung, Cảnh Dị ra Thanh Hoá rước cháu nội vua Trần Nghệ
Tông là Trần Quý Khoáng vào Chi La (Hà Tĩnh) và lập làm vua. Quý
Khoáng lên ngôi đặt niên hiệu là Trùng Quang Đế, phong Đặng
Dung làm Đồng binh Chương sự, Cảnh Dị làm Thái bảo, Nguyễn Suý
làm Thái phó. Bấy giờ, ngoài Bắc thì có Trần Quỹ, ở Nghệ An thì
có Trần Quý Khoáng. Thấy thế, Đặng Dung mới bàn với Cảnh Dị
và Nguyễn Suý:
- Một nước mà hai vua thì lòng người khó theo. Giản Định và
Trùng Quang tuy là hai nhưng đều là con cháu một họ Trần. Nên

https://thuviensach.vn

đưa Giản Định về hợp lại cùng lo toan việc nước cho dân biết mối
quy tụ mà chuyên tâm tôn phù.
Dị và Suý cũng nói:
- Giản Định là con thứ tiên đế, Trùng Quang là cháu nội. Ta nên
tôn Giản định làm Thái Thượng Hoàng, Trùng Quang thì giữ ngôi
vua. Thế là vừa đúng theo thường điển bản triều(13) lại vừa hợp với
tôn ti hoàng tộc.
Mọi người đều khen phải, cử Nguyễn Suý dẫn đoàn du binh đi
đường tắt ra Ngự Thiên (Thái Bình) bất ngờ đánh úp, bắt được
Giản Định Trần Quỹ đưa về Nghệ An. Đặng Dung, Cảnh Dị được
tin, vội đem quân ra ngoài thành lạy chào. Trần Quỹ thấy Đặng
Dung, Cảnh Dị mặc võ phục đeo gươm, oai phong lẫm liệt thì sợ hãi
không yên. Đặng Dung, Cảnh Dị biết ý, sau này mỗi khi có việc vào
chầu đều bỏ hết võ phục, khí giới không mang. Tướng sĩ biết
chuyện, ai cũng khen lắm.
Từ khi thu về một mối, quân lực nghĩa quân càng mạnh, thanh
thế càng lớn. Minh Thành Tổ phải hai lần cử Trương Phụ làm tổng
binh cầm bốn năm vạn quân sang cứu khốn cho Mộc Thạnh,
Hoàng Phúc. Đặng Dung khi thì giữ cửa Hàm Tử, cùng với Cảnh Dị
trấn ở Bình Than quyết chiến với giặc, khi lui về đóng cọc lấy đá
lấp cửa bể Thần Đầu để cự địch, lại hợp với Cảnh Dị nhiều phen
tung quân thuỷ ra Bắc đánh phá. Giặc Minh bị tổn hại rất nhiều,
vất vả và lao đao mà vẫn không làm gì được Đặng Dung, Cảnh Dị.
Bởi thế, khi bị vua Minh gọi về, Trương Phụ lo lắm, vội dâng biểu
tâu rằng: “Nay vì thủ lĩnh giặc là Trần Quý Khoáng, đảng giặc là
Nguyễn Suý, Hồ Cụ, Nguyễn Cảnh Dị còn ở Diễn Châu, Nghệ An
bức gần Thanh Hoá; Đặng Dung lãnh quân lấp cửa bể Thần
Đầu, cửa sông Phúc Thành, chiếm giữ các đường xung yếu ở
Thanh Hoá, ra vào cướp phá cửa bể Đại An. Nay điều hết quan

https://thuviensach.vn

quân về, sợ rằng Kiềm Quốc công Mộc Thạnh binh ít không
địch nổi”.
Mãi sau này, xong việc Bắc chinh đánh Thát Đát (Mông Cổ),
đầu năm Quý Tỵ (1413), Trương Phụ mới dồn hết đại binh cùng
bọn Mộc Thạnh, Hoàng Phúc, Phương Chính, Tiết Tụ, Chu Vinh,
Trần Húc, Chu Quảng, Hoa Anh, Sư Hựu, Dương Hồng, quân đông
tướng mạnh chia hai đường thuỷ bộ đánh tràn vào Thanh Hoá, Nghệ
An, Hoá Châu. Nghĩa quân tan vỡ dần. Đặng Dung, Cảnh Dị,
Nguyễn Suý rước Quý Khoáng lui về Thuận Châu (Quảng Trị), bày
trận ở sông Ái Tử (một nhánh sông Thạch Hãn) để cự địch. Giặc tung
hết quân kị, quân thuỷ bộ ồ ạt tiến đánh. Quân ta chống lại
quyết liệt. Một đêm, Đặng Dung dẫn quân cảm tử dùng thuyền nhỏ
tiến thẳng vào đại bản doanh của Trương Phụ đánh úp. Quân Dung
phóng lửa đốt thuyền giặc rồi vác dao kiếm trèo lên chém giết.
Dung cưỡi một chiếc thuyền nhẹ xông trận, dùng cung tên bắn
ngã nhiều tên. Thấy một chiếc thuyền rất to, trên có lá cờ suý,
biết là thuyền Trương Phụ, Đặng Dung xách gươm nhảy sang định
bắt sống. Tiếc thay, Đặng Dung không nhận được mặt Trương
Phụ. Trong lúc Đặng Dung đang ngợ tìm, Trương Phụ nhanh chân lẻn
ra, nhảy vội xuống một chiếc thuyền con trốn thoát.
Sau bữa đó, Phụ căm tức thấu xương, càng thúc quân cố chết
mà đánh. Nghĩa quân thế yếu, quân ít, sau tan vỡ hết, bị bắt bị
giết rất nhiều. Đặng Thiết, em Đặng Dung cũng bị giặc bắt ở
trận ấy. Đến tháng Chín, Trương Phụ xua quân đánh dồn nghĩa
quân lên rừng sâu. Quân Trương Phụ bổ vây bốn phía, Đặng Dung
và em là Đặng Doãn, Nguyễn Cảnh Dị và Nguyễn Suý liều chết phá
vây, song không thành, đều lần lượt bị giặc bắt. Cảnh Dị bị thương
nặng vẫn chỉ vào mặt Trương Phụ mắng:
- Chính ta muốn giết ngươi bây giờ lại bị ngươi bắt!

https://thuviensach.vn

Đoạn, không ngớt lời chửi Trương Phụ. Phụ tức điên người bèn sai
moi gan, chặt đầu Cảnh Dị để trả thù. Ít lâu sau, Quý Khoáng cũng
bị bắt nốt. Trương Phụ đưa tất cả về Đông Quan.
Tháng Tư năm Giáp Ngọ (1414), Phụ sai người giải Quý Kháng,
Đặng Dung, Nguyễn Suý sang Yên Kinh. Giữa đường, đánh lừa quân
canh, Quý Khoáng nhảy xuống sông tự tử. Đặng Dung cũng gieo
mình theo xuống nước. Còn Nguyễn Suý, quân canh thấy thế thì
giữ chặt. Nguyễn Suý bị giam cầm ngặt quá, không làm gì được bèn
giả bộ thản nhiên nói cười, ngày ngày cùng quân canh đánh cờ vui vẻ.
Dần dần quen nhờn, quân canh vô ý, Suý vác bàn cờ đập vỡ đầu
quân canh rồi cũng trẫm mình xuống dòng nước.
Trước đó ít lâu, sau mấy trận giao phong thất bại, thấy việc
nước khó thoát khỏi cảnh đắm chìm, Đặng Dung ngậm ngùi gửi nỗi
hận vào thơ:
Thù nước chưa xong đầu đã bạc
Gươm mài mấy độ bóng trăng soi.

Ăn cỗ đầu người

https://thuviensach.vn

B

ấy giờ là vào mùa hạ năm Quý Tỵ (1413), Trương Phụ cùng lũ
Mộc Thạnh, Trần Húc, Dương Hồng, Chu Quảng… dồn hết
quân hùng tướng mạnh vào đánh Nghệ An. Thanh thế giặc lớn
lắm. Quân ta địch không lại. Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị. Nguyễn
Suý phải rước vua Trùng Quang lui về Hoá Châu (Quảng Bình) định
dựa vào thế hiểm trở của đất ấy mà cố thủ. Trương Phụ chiếm
Nghệ An nhưng chỉ được toà thành không, còn vua tôi Trùng Quang
thì đã cao bay xa chạy nên Phụ tức lắm, quyết đuổi theo vây bắt.
Mộc Thạnh can:
- Hoá Châu núi cao biển rộng, chưa dễ mà lấy được.
Trần Húc cũng bàn thêm:
- Từ khi thủ lĩnh giặc là Quý Khoáng nổi lên, quan quân đã mấy
lần vào đánh dẹp, chưa lần nào chiếm được Hoá Châu vì chỗ ấy
đất hiểm, dễ bị phục binh.
Trương Phụ vẫn khăng khăng:

https://thuviensach.vn

- Tôi sống được là ở Hoá Châu, tôi có chết cũng là ở Hoá Châu.
Hoá Châu chưa bình xong thì tôi còn mặt mũi nào trông thấy Chúa
thượng nữa.
Khi ấy, dưới trướng Phụ có tên ngụy quan là Phan Liêu, con Phan
Quý Hựu. Hựu trước cũng vác gươm theo hầu Trùng Quang được
phong làm Thiếu bảo. Đến năm Nhâm Thìn (1412), Hựu làm phản,
đem Liêu ra hàng. Cha chết, Liêu được Trương Phụ cho thay cha
làm tri phủ Nghệ An. Nay thấy bọn Mộc Thạnh, Trần Húc can
ngăn, Liêu sợ Phụ nghe theo mà rút quân về Bắc, nghĩa quân từ
Hoá Châu lại ra, tất Liêu không thoát khỏi tội mất đầu như bọn
Trần Nhật Chiêu, Phạm Thế Căng năm nọ. Liêu vội vàng đem tất
cả binh tình của nghĩa quân và địa thế núi sông miền Thuận Hoá
nói hết với Trương Phụ. Bởi thế, Phụ càng nhất định đánh Hoá
Châu.
Tin Trương Phụ đang sửa soạn gấp để tràn tới Hoá Châu làm
kinh động vua tôi Trần Trùng Quang. Nhà vua vội triệu tướng sĩ lại
bảo:
- Việc nước phải khi bất lợi, quân số hao hụt, mười phần không
còn đến ba bốn, lương thực khí giới đều vơi cạn. Tình thế bức
bách, các khanh có kế gì cứu nguy, cứ nói.
Thái bảo Nguyễn Cảnh Dị tâu:
- Bấy lâu Minh Thành Tổ vẫn có ý muốn chiêu dụ. Nay nên cử
người đi sứ dâng biểu cầu phong, giả xin thần phục làm kế hoãn
binh để nới bớt sự kiềm chế của Trương Phụ.
Vua hỏi:
- Ai vì ta làm việc ấy?

https://thuviensach.vn

Quần thần đang chọn người để tiến cử thì một viên quan bước
ra nói:
- Thần tuy bất tài, nhưng cũng xin được làm việc ấy.
Mọi người đều nhìn xem ai, hoá ra Nguyễn Biểu. Biểu là người xã
Bình Hồ, huyện Chi La, phủ Nghệ An (Đức Thọ, Hà Tĩnh) đậu Thái
học sinh cuối đời Trần, làm quan đến chức Điện tiền thị ngự sử.
Giặc Minh sang cướp nước, Biểu lui về quê nhà ngấm ngầm chiêu
mộ hương binh chờ dịp dấy quân. Năm Kỷ Sửu (1409), nghe tin
Đặng Dung, Cảnh Dị lập cháu Trần Nghệ Tông là Trần Quý
Khoáng làm Trùng Quang Đế, xướng nghĩa cần vương ở huyện
nhà, Biểu tức khắc dẫn hương binh đến hưởng ứng. Từ bấy giờ
Biểu luôn ở bên vua dốc sức giúp rập, một lòng trung trinh báo đền
nợ nước. Trùng Quang thấy Biểu nhận đi s
 
Gửi ý kiến