Loi hieu trieu

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:25' 26-01-2026
Dung lượng: 1'016.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:25' 26-01-2026
Dung lượng: 1'016.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Lời Hiệu Triệu Của Cthulhu - H.P. Lovecraft
Nguyễn Thành Long dịch
≿————- ❈ ————-≾
Giới thiệu
“Cảm xúc cổ xưa và mạnh mẽ nhất của loài người là sợ hãi,
còn nỗi sợ hãi cổ xưa và mạnh mẽ nhất chính là nỗi sợ
những điều chưa biết.”
Hàng thiên niên kỉ trước, các Đại Cổ Thần cai trị hành tinh của
chúng ta. Rồi họ chìm vào cơn mơ kể từ thời điểm đó. Nhưng khi
cơn chấn động lớn ngoài biển làm thành phố đá cổ R'lyeh lộ diện
một lần nữa, các Đại Cổ Thần cuối cùng cũng thức tỉnh…
Hầu như không được biết đến trong suốt cuộc đời của mình, nhưng
H. P. Lovecraft giờ đây được coi là một trong những tượng đài của
thể loại truyện kinh dị. Ông đã vĩnh viễn thay đổi thể loại giả tưởng,
kinh dị, và khoa học viễn tưởng với một kho tàng những câu chuyện
đáng ghi nhớ có tầm ảnh hưởng rộng rãi tới nhiều nhà văn và nhà
sáng tạo đương đại nổi tiếng như Stephen King, Neil Gaiman,
Guillermo del Toro, Alan Moore, Junji Ito, Gou Tanabe…
Chỉ có trí tưởng tượng phong phú của H. P. Lovecraft mới có thể tạo
nên nỗi kinh hoàng lạnh gáy và sự lôi cuốn mà bạn sẽ tìm thấy trong
các trang sách của tuyển tập LỜI HIỆU TRIỆU CỦA CTHULHU độc
đáo này.
≿————- ❈ ————-≾
Về tác giả
HOWARD PHILLIPS LOVECRAFT sinh ngày 20 tháng Tám năm 1890
tại Providence, Rhode Island. Ông được coi là một trong những nhà
văn kinh dị người Mỹ có ảnh hưởng nhất mọi thời đại.
H. P. Lovecraft được ghi nhận là người đã sáng tạo ra Huyền tích
Cthulhu (Cthulhu Mythos) – vũ trụ hư cấu với các yếu tố cấu thành,
nhân vật, bối cảnh và chủ đề chung được Lovecraft xây dựng và các
nhà văn kinh dị khác sau này sử dụng. Ông đã giúp hình thành và
lan truyền dòng văn “kinh dị vũ trụ” (tức ý niệm rằng vũ trụ là một
nơi xa lạ và nguy hiểm, nằm ngoài khả năng lãnh hội đối với phần
lớn người bình thường). Ông cũng thường xuyên pha trộn các yếu tố
kinh dị và khoa học viễn tưởng vào nhau trong các tác phẩm của
mình.
H. P. Lovecraft là một thần đồng, có thể đọc thơ từ năm hai tuổi và
viết thơ khi lên sáu. Cha ông nhập viện sau khi bị loạn thần cấp tính
trong một chuyến công tác và qua đời năm năm sau đó, để
Lovecraft lại cho mẹ, dì và ông ngoại nuôi dưỡng. Người ông đã
khuyến khích Lovecraft viết lách, và niềm ham thích những thứ “dị”
của Lovecraft được cho là có thể đã xuất phát từ những câu chuyện
kinh dị kiểu Gothic mà Lovecraft được ông mình kể cho nghe hồi
nhỏ. Vì tuổi thơ thường xuyên ốm yếu cả về thể chất lẫn tinh thần,
Lovecraft hiếm khi đến trường lớp trong những năm đầu đời và đã
phải nghỉ học một năm hồi lên tám vì có bản tính vô kỉ luật và hay
cãi vã. Ông theo học toàn thời gian trở lại ở tuổi mười ba nhưng
không bao giờ nhận được bằng tốt nghiệp trung học do bị suy
nhược thần kinh ngay trước khi tốt nghiệp.
Sau lần suy nhược thần kinh vào năm 1908, Lovecraft dành ra năm
năm làm thơ và sống một kiếp đời gần như hoàn toàn ẩn dật, chỉ
giao du với mẹ mình. Ông gia nhập UAPA (Hiệp hội Báo chí Nghiệp
dư) vào năm 1914, sau khi Chủ tịch UAPA đọc thấy một bài tranh
luận Lovecraft đăng trong tờ tạp chí rẻ tiền The Argosy, bàn về sự
nhạt nhẽo của một câu chuyện do một nhà văn nổi tiếng của tờ tạp
chí ấy viết. Lovecraft đã đóng góp nhiều bài tiểu luận và thơ cho
UAPA nhưng lại quay sang viết tiểu thuyết vào năm 1917. Dagon –
tác phẩm đầu tiên được xuất bản chuyên nghiệp của ông được đăng
tải trên tờ Weird Tales vào năm 1923; và cũng chính qua tờ tạp chí
này, ông bắt đầu trao đổi thư từ với nhà văn kinh dị Robert E.
Howard.
Lovecraft gặp người vợ tương lai của mình – Sonia Greene, tại một
hội nghị nhà báo nghiệp dư ở Boston. Mẹ ông đã qua đời chỉ vài
tuần trước đấy, khi bị biến chứng do phẫu thuật túi mật trong cùng
bệnh viện mà cha của Lovecraft qua đời vì suy nhược thần kinh hai
năm trước. Sau khi kết hôn vào năm 1924, Lovecraft cùng người vợ
mới chuyển đến Brooklyn, thành phố New York, nhưng do thiếu việc
và tình hình kinh tế khó khăn, hai vợ chồng phải sống xa nhau để cố
gắng tìm việc làm. Vài năm sau, khi vẫn đang sống riêng, hai vợ
chồng họ cùng đồng ý li hôn – mặc dù vụ li hôn ấy chẳng bao giờ
được hoàn tất. Trong thập kỉ cuối đời mình, Lovecraft quay trở lại
Providence, và chính trong giai đoạn này, ông đã viết phần lớn
những câu chuyện nổi tiếng nhất của mình. Ông qua đời vào ngày
15 tháng Ba năm 1937 vì bệnh ung thư đường ruột và suy dinh
dưỡng, chưa đầy một năm sau khi người bạn Robert E. Howard của
ông tự sát.
Lúc sinh thời, H. P. Lovecraft không bao giờ có thể kiếm được tiền để
nuôi thân từ nghiệp viết văn. Các tác phẩm của ông thường sử dụng
những chủ đề như tri thức cấm đoán, ảnh hưởng của những thực
thể phi nhân đối với loài người và sự bất biến của định mệnh. H. P.
Lovecraft hầu như không được biết đến trong suốt cuộc đời của
mình, nhưng giờ đây lại được coi là một trong những tác giả quan
trọng nhất của thế kỉ 20 về thể loại truyện giả tưởng kinh dị siêu
nhiên. Vô số sản phẩm chuyển thể, lấy cảm hứng, hoặc chịu ảnh
hưởng từ các tác phẩm của Lovecraft với đa dạng loại hình khác
nhau (phim, kịch, tiểu thuyết, trò chơi điện tử, âm nhạc...) thường
xuyên xuất hiện. Các tác phẩm của H. P. Lovecraft đã truyền cảm
hứng và ảnh hưởng tới rất nhiều nhà văn và nhà sáng tạo đương đại
nổi tiếng như Stephen King, Neil Gaiman, Guillermo del Toro, Alan
Moore, Junji Ito, Gou Tanabe...
≿————- ❈ ————-≾
DAGON
TÔI VIẾT LẠI CÂU CHUYỆN NÀY TRONG TÌNH TRẠNG hết sức căng
thẳng, bởi vì đến tối nay, tôi sẽ không còn trên cõi đời này nữa.
Không một xu dính túi, và đến khi đã dùng hết sạch chỗ thuốc của
mình – thứ duy nhất giúp cho cuộc đời này còn đáng sống, tôi sẽ
không có khả năng chịu đựng nổi sự tra tấn nữa; và tôi sẽ gieo mình
từ trên cái cửa sổ gác này xuống con đường dơ bẩn bên dưới. Xin
đừng nghĩ rằng tôi là một kẻ yếu đuối hay suy đồi chỉ vì tôi là nô lệ
của morphine. Một khi đã đọc xong những trang chữ ngoáy viết vội
này, bạn sẽ có thể phỏng đoán được nguyên nhân tôi chỉ còn nước
quên lãng hoặc chết đi, dẫu cho bạn sẽ không bao giờ hiểu được
đầy đủ sự tình.
Tại một trong những vùng trống trải và ít người lai vãng nhất trên
Thái Bình Dương bao la, con tàu chở thư nơi tôi nắm giữ cương vị
quản lí hàng trở thành nạn nhân của đám cướp biển Đức. Thế Chiến
khi đó chỉ vừa mới vào giai đoạn bắt đầu, và các lực lượng trên biển
của người Hung vẫn còn chưa suy đồi hẳn như sau này. Thế nên tàu
của chúng tôi trở thành phần thưởng hợp pháp(1), trong khi thuỷ thủ
đoàn chúng tôi được đối đãi một cách công bằng và tôn trọng, theo
đúng những gì mà tù nhân hàng hải đáng được hưởng. Những kẻ
bắt giữ chúng tôi thả lỏng khuôn phép kỉ luật đến mức năm ngày
sau khi bị bắt, tôi đã một mình trốn thoát được trong một chiếc
thuyền nhỏ với đủ nước và nhu yếu phẩm để dùng trong một thời
gian dài.
(1) Theo luật hàng hải xưa, khi xảy ra xung đột vũ trang, các thiết bị, phương tiện, tàu
thuyền, và hàng hoá của phe đối nghịch bắt được có thể trao lại cho chính quyền sở tại để
đổi lấy phần thưởng một cách hợp pháp.
Khi cuối cùng cũng có thể tự do trôi dạt, tôi chẳng áng định được
mấy về khu vực xung quanh mình. Vì vốn chưa bao giờ là một hoa
tiêu giỏi, tôi chỉ có thể căn cứ vào mặt trời và các ngôi sao để áng
chừng mình bấy giờ đang ở đâu đó phía Nam xích đạo. Tôi không
biết là kinh độ nào cả, và không có hòn đảo hay đường bờ biển nào
trong tầm mắt hết. Thời tiết tiếp tục tốt lành, và suốt bao ngày, tôi
trôi dạt vô định dưới ánh mặt trời thiêu đốt; chờ đợi một con tàu
nào đó đi ngang qua, hoặc cập được vào bờ một mảnh đất có thể ở.
Nhưng cả tàu lẫn đất đều không xuất hiện, và trong tình cảnh cô
độc trên miền nước xanh dương mênh mông, dập dềnh, liền mạch
của mình, tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng.
Sự thay đổi xảy ra trong khi tôi ngủ. Tôi sẽ không bao giờ biết được
cụ thể nó xảy ra thế nào; vì mặc dù giấc ngủ của tôi trằn trọc và đầy
mộng mị, nó vẫn diễn ra liền một mạch. Khi cuối cùng cũng thức
dậy, tôi phát hiện ra bản thân gần như đã bị hút vào trong một bãi
bùn đen thẫm nhầy nhụa, ghê tởm, trải dài ngút tầm mắt khắp xung
quanh mình theo những dải trập trùng đơn điệu, và con thuyền của
tôi nằm mắc cạn cách đấy không xa.
Mặc dù hẳn ai cũng sẽ nghĩ rằng cảm giác đầu tiên của tôi là sửng
sốt khi thấy cảnh vật biến đổi phi thường và bất ngờ đến nhường ấy,
tôi thực chất thấy hãi hùng nhiều hơn là kinh ngạc. Bởi vì thấm đẫm
trong bầu không khí cũng như lớp đất thối rữa là một nét nham
hiểm làm tôi buốt lạnh đến tận cốt tuỷ.
Cả khu vực bị xác cá phân huỷ làm cho bốc mùi thối hoăng, chưa kể
còn những thứ khác khó mô tả hơn mà tôi thấy nhô ra từ lớp bùn
tởm lợm của cánh đồng bất tận. Có lẽ tôi nên từ bỏ hi vọng sẽ
truyền tải được cái sự gớm guốc không bút nào tả xiết hiện đang
ngự trị trong im lặng tuyệt đối trên vùng đất hoang bát ngát này
bằng ngôn từ đơn thuần.
Không có âm thanh nào lọt vào tai, và chẳng có gì trong tầm mắt
ngoại trừ một mảng chất nhờn đen bao la. Ấy nhưng chính sự tĩnh
lặng và đồng nhất tột cùng của cảnh quan lại là thứ khiến tôi bị một
nỗi khiếp đảm phát mửa nặng đè.
Mặt trời bấy giờ đang soi rọi xuống từ một bầu trời không mây tàn
nhẫn, mà như tôi thấy thì gần như đen kịt; như thể phản chiếu cái
đầm mực dưới chân tôi. Khi bò vào chiếc thuyền bị mắc cạn, tôi
nhận ra rằng chỉ có một giả thuyết duy nhất đủ sức giải thích được
cho vị trí của tôi. Thông qua một biến động núi lửa vô tiền khoáng
hậu nào đấy, một phần đáy đại dương hẳn đã bị dâng lên bề mặt,
để lộ ra các vùng vốn được ẩn giấu dưới những tầng nước sâu khôn
lường bao triệu năm qua. Vùng đất mới đã trồi lên bên dưới tôi rộng
lớn đến nỗi tôi chẳng tài nào phát hiện ra nổi cả những âm thanh
mờ nhạt nhất của đại dương gợn sóng, bất chấp đã căng hết tai lên.
Cũng không có bất kì con chim biển nào ăn thịt những thứ đã chết.
Suốt mấy tiếng liền, tôi chỉ ngồi suy nghĩ hoặc ủ ê trên thuyền. Con
thuyền hiện đang nằm nghiêng và cung cấp cho tôi chút bóng râm
trong khi mặt trời di chuyển trên bầu trời. Khi ngày dần trôi qua,
mặt đất bớt lớp nhớp phần nào, và xem chừng đủ khô để đi lại trong
một thời gian ngắn. Đêm đó tôi chẳng ngủ nghê được mấy, và ngày
hôm sau tôi tự chế một túi đựng thức ăn và nước uống, chuẩn bị
cho hành trình trên đất liền nhằm tìm kiếm biển cả đã biến mất
cùng với khả năng có người giải cứu nữa.
Vào buổi sáng hôm thứ ba, tôi thấy đất đủ khô để đi lại dễ dàng.
Mùi cá chỉ khiến tôi muốn phát rồ; nhưng vì còn quá mải bận suy
nghĩ về những điều nghiêm trọng nên tôi chẳng buồn để bụng một
thứ tồi tệ vặt vãnh đến vậy, và chẳng buồn để bụng một thứ tồi tệ
vặt vãnh đến vậy, và hùng dũng lên đường tiến về phía một đích
đến không xác định.
Suốt cả ngày, tôi đều đặn đi về phía Tây, được dẫn lối bởi một cái gò
ở xa, vươn cao hơn bất cứ nơi nào khác trên cái sa mạc trập trùng
này. Đêm đó tôi dựng trại nghỉ, và ngày hôm sau vẫn tiếp tục đi về
phía cái gò, mặc dù cái vật đó dường như chẳng gần hơn chút nào
so với lần đầu tiên tôi trông thấy nó. Sang tối thứ tư, tôi đến được
chân của gò đất, và hoá ra nó cao hơn nhiều so với lúc nhìn từ đằng
xa, cảnh quan thung lũng làm nó trông nổi bật hẳn so với nền đất
chung. Quá mệt mỏi để leo lên cao, tôi ngủ trong bóng của gò đất.
Tôi không biết tại sao giấc mơ của mình lại hoang dại đến như vậy
vào đêm hôm đó. Nhưng trước khi vầng trăng khuyết tuyệt vời còn
chưa kịp nhô cao trên vùng đồng bằng phía Đông, tôi thức dậy
trong tình trạng ướt đẫm mồ hôi lạnh, và quyết định sẽ không ngủ
nữa. Những hình ảnh tôi đã trải nghiệm vượt quá sức chịu đựng của
bản thân.
Và trong ánh trăng, tôi nhận thấy mình đã thật thiếu khôn ngoan khi
di chuyển vào ban ngày. Nếu không vướng phải ánh sáng chói chang
của mặt trời, hành trình của tôi đáng lẽ đã tiêu tốn ít năng lượng
hơn. Bây giờ tôi thực sự cảm thấy mình hoàn toàn có thể thực hiện
chuyến leo từng khiến bản thân phải bỏ cuộc vào lúc hoàng hôn. Tôi
xách túi lên, bắt đầu leo về phía đỉnh gò đất cao.
Tôi ban nãy có nói rằng cái sự đơn điệu miên man của vùng đồng
bằng trập trùng này đã mang lại cho tôi một cảm giác hãi sợ mơ hồ.
Nhưng tôi tin cảm giác khiếp hãi của mình đã tăng lên gấp bội khi
leo đến đỉnh của gò đất và nhìn xuống phía bên kia, vào trong một
cái hố hay khe núi sâu khôn cùng, với những hốc đen mà mặt trăng
chưa lên đủ cao để soi tỏ.
Tôi cảm thấy mình như đang ở bên rìa thế giới; nhìn qua vành mép
vào một miền hỗn loạn ngoài sức lãnh hội của màn đêm vĩnh cửu.
Giữa lúc đang kinh hãi tột cùng, xuất hiện trong tâm trí tôi là những
hồi tưởng kì lạ về cuốn Thiên đường đã mất(1), và hành trình leo qua
các cõi tối tăm vô hình vô dạng đây gớm guốc của Satan.
(1) Paradise Lost: Thiên trường ca của thi sĩ người Anh thế kỉ 17 John Milton (1608-1674).
Khi mặt trăng nhô lên cao hơn trên bầu trời, tôi bắt đầu thấy rằng
các sườn dốc của thung lũng không đến mức dựng thẳng đứng như
mình lầm tưởng. Các gờ và mỏm đá cung cấp những mấu khá dễ
đặt chân cho một hành trình leo xuống, và sau khi leo xuống vài
chục mét, độ dốc trở nên rất thoải. Bị một thôi thúc không thể phân
tích cụ thể tác động, tôi khó nhọc trèo xuống những tảng đá và
đứng trên con dốc thoai thoải bên dưới, nhìn xuống vực sâu thê
lương nơi chưa tia sáng nào xuyên qua được.
Ngay lập tức, sự chú ý của tôi bị thu hút bởi một vật thể to lớn và kì
dị ở sườn dốc đối diện, vươn thẳng lên khoảng một trăm mét phía
trước mặt tôi. Một vật thể lấp lánh trắng dưới những tia sáng do
vầng trăng đang lên ban tặng. Tôi sớm tự trấn an bản thân rằng nó
chỉ đơn thuần là một mảnh đá khổng lồ; nhưng tôi cảm thấy một ấn
tượng rất rõ ràng rằng đường nét và vị trí của nó không hoàn toàn
do Tự Nhiên tạo thành.
Sau khi xem xét kĩ lưỡng hơn, tôi bị những cảm giác vô phương diễn
tả xâm chiếm. Bởi bất chấp kích thước khổng lồ của nó cũng như vị
trí trong một vực thẳm – nơi đã nằm dưới đáy biển từ thuở thế giới
hãy còn trong trứng nước, tôi tin chắc rằng cái vật thể kì lạ kia là
một tạo tác bằng đá nguyên khối với dáng hình tử tế, và tấm thân
đồ sộ của nó đã từng được những sinh vật sống và biết tư duy chạm
khắc ra, đồng thời có thể còn được sùng bái nữa.
Choáng váng và sợ hãi, ấy nhưng pha trộn kèm cả sự phấn khích
tương tự như niềm vui của dân làm khoa học hoặc khảo cổ, tôi xem
xét kĩ lưỡng hơn cảnh vật xung quanh mình. Mặt trăng, hiện đang ở
gần thiên đỉnh, chiếu rọi sáng trưng đến kì lạ bên trên những sườn
dốc cao chót vót vây ép cái vực thẳm, để lộ ra một dòng nước lớn ở
dưới đáy, uốn lượn chảy khuất tầm mắt về cả hai hướng, và gần như
vỗ vào chân tôi trong lúc tôi đứng trên dốc.
Ở phía bên kia vực, những con sóng nhỏ vỗ lên chân khối đá nguyên
khối. Bây giờ, trên bề mặt của nó, tôi có thể nhìn thấy cả các câu
khắc lẫn những tạo tác điêu khắc thô. Các câu chữ được viết bằng
một hệ thống chữ tượng hình mà tôi không biết đến, và không giống
như bất cứ thứ gì tôi từng thấy trong sách vở; chủ yếu bao gồm các
biểu tượng thuỷ sinh giản thể như cá, lươn, bạch tuộc, động vật
giáp xác, động vật thân mềm, cá voi và những thứ tương tự. Vài kí
tự trông rõ ràng là đại diện cho những tạo vật của đại dương chưa
được thế giới hiện đại biết đến, nhưng tôi đã trông thấy mớ xác thối
rữa của chúng trên khu đồng bằng trồi lên từ đại dương.
Tuy nhiên, bức tranh khắc mới là thứ hớp hồn tôi mạnh mẽ nhất.
Nhờ kích thước khổng lồ, hiển hiện rõ ràng bên kia dòng nước ngăn
cách là một loạt các bức phù điêu, khắc hoạ những đề tài đủ khiến
cho Doré(1) phải ghen tị. Tôi nghĩ rằng chúng miêu tả con người –
hoặc ít nhất là một kiểu người nào đấy; mặc dù các sinh vật ấy được
khắc hoạ trong trạng thái nô giỡn hệt như cá sống dưới làn nước
của một hang động biển nào đó, hay tỏ lòng tôn kính tại một ngôi
đền nguyên khối xem chừng cũng nằm ngầm dưới làn sóng.
Tôi không dám tả chi tiết khuôn mặt và thân mình của chúng; bởi
chỉ cần đơn thuần nhớ lại thôi cũng đủ để làm tôi xây xẩm mặt mày
rồi. Với sự dị hợm mà ngay cả Poe(2) hay Bulwer(3) cũng chẳng đời
nào mường tượng ra nổi, chúng rõ ràng là con người về mặt ngoại
hình, bất chấp cặp tay chân có màng, đôi môi rộng và mọng nhũn
đến sững sờ, cặp mắt lồi, đờ đẫn, cùng với các đặc điểm khác đáng
khó chịu hơn khi nhớ lại.
(1) Gustave Doré (1832 - 1883): Hoạ sĩ, nhà điêu khắc người Pháp.
(2) Edgar Allan Poe (1809 - 1849): Nhà văn, biên tập viên, nhà phê bình văn học người Mỹ.
(3) Edward Bulwer-Litton (1803-1873): Nhà văn, chính trị gia người Anh.
Lạ lùng thay, chúng xem chừng được khắc với tương quan tỉ lệ lệch
lạc hẳn so với nền cảnh; bởi vì một trong những sinh vật ấy, kẻ được
khắc hoạ là đang giết một con cá voi, lại hơi nhỉnh hơn con cá một
chút. Như đã nói, tôi đã để ý đến sự gớm guốc cũng như kích thước
kì lạ của chúng, nhưng chỉ trong tích tắc đã rút ra kết luận rằng
chúng đơn thuần là những vị thần tưởng tượng của một bộ lạc đánh
cá hoặc đi biển nguyên thuỷ nào đấy – một bộ lạc với những hậu
duệ cuối cùng đã diệt vong trước khi tổ tiên đầu tiên của người
Piltdown (1) hay Neanderthal ra đời hàng bao niên đại.
(1) Hoá thạch người Piltdown là những mảnh vỡ gồm các bộ phận của hộp sọ và xương
hàm, được công bố là đã thu thập vào năm 1912 từ một mỏ sỏi ở Piltdown, Đông Sussex,
Anh Quốc. Các mảnh xương này đã được trưng bày như là hoá thạch của một người tiền sử
chưa từng được biết đến. Nhưng vào năm 1953, các nhà khoa học xác định mẫu vật này là
giả tạo, chỉ bao gồm xương hàm dưới của đười ươi cố tình kết hợp với hộp sọ của con
người hiện đại phát triển đầy đủ. Nhà văn H. P. Lovecraft viết truyện ngắn Dagon này vào
năm 1917 – thời điểm màn lừa đảo “hoá thạch người Piltdown" chưa bị phát giác.
Sững sờ vì bất ngờ được quan sát một quá khứ vượt xa ý niệm của
ngay cả những nhà nhân học táo bạo nhất, tôi đứng trầm ngâm
trong khi mặt trăng hắt những hình phản chiếu kì quái xuống con
kênh im lặng trước mặt mình.
Rồi đột nhiên tôi thấy nó. Với chỉ một chút khuấy động nước để
đánh dấu sự nổi lên bề mặt của mình, cái thứ ấy dâng vào tâm mắt,
bên trên làn nước tối. To lớn, chẳng khác nào vị thần khổng lồ một
mắt, và đầy ghê tởm, nó phóng tới chỗ khối đá như một con quái
vật khủng khiếp bước ra từ những cơn ác mộng, vung cánh tay có
vảy khổng lồ quanh đấy, trong khi cúi cái đầu gớm guốc của mình và
phát ra một số âm thanh đầy tính toán. Lúc ấy tôi cứ ngỡ mình phát
rồ mất rồi.
Tôi chẳng nhớ mấy về chuyến leo điên cuồng lên dốc và vách đá
hay hành trình mê sảng trở lại con thuyền bị mắc cạn của mình. Tôi
tin mình đã hát rất nhiều, và cười phá lên một cách quái đản khi
không thể hát được nữa. Tôi có những hồi ức không rõ ràng về một
cơn bão lớn, ập đến sau khi tôi về lại thuyền chưa được bao lâu. Dù
gì thì gì, tôi cũng biết rằng mình đã nghe thấy tiếng sấm sét và các
âm điệu khác mà Mẹ Thiên Nhiên chỉ phát ra trong những lúc đang
mang tâm trạng cực kì hoang dại.
Khi bước ra khỏi miền bóng tối, tôi thấy mình đang ở trong một
bệnh viện tại San Francisco; được đưa đến đấy bởi vị thuyền trưởng
của con tàu Mỹ đã cứu vớt thuyền tôi giữa đại dương. Tôi đã tiết lộ
nhiều điều trong cơn mê sảng, nhưng phát hiện ra rằng lời lẽ của
mình gần như chẳng được ai quan tâm đến. Những ân nhân của tôi
chẳng biết gì về bất cứ vụ biến động đất đai nào ở Thái Bình Dương;
và tôi cũng thấy không cần thiết phải khăng khăng kể lại một
chuyện mà tôi biết họ không thể tin được.
Đã có lần tôi tìm đến chỗ một nhà dân tộc học nổi tiếng, và đặt ra
cho ông ta những câu hỏi kì dị liên quan đến truyền thuyết cổ đại
của người Philistine (1) về Dagon – vị Thần Cá; nhưng sớm nhận ra
rằng ông ta tầm thường đến vô vọng, tôi không hỏi han thêm gì
nữa.
(1) Một dân tộc cổ đại sống tại bờ Nam của Canaan (ngày nay là Liban, Israel, Palestine,
phần phía Tây Jordan và Tây Nam Syria) từ thế kỉ 12 TCN đến năm 604 TCN.
Vào ban đêm, đặc biệt là khi mặt trăng khuyết, tôi lại trông thấy nó.
Tôi đã thử morphine; nhưng món thuốc chỉ mang lại những khoảng
lặng thoáng qua, lôi tôi vào nanh vuốt, và biến tôi như thành một kẻ
nô lệ vô vọng của nó.
Thế nên bây giờ tôi sẽ chấm hết tất cả, sau khi đã viết lại đầy đủ
câu chuyện để những người đồng loại của mình có thêm thông tin,
hoặc một trò tiêu khiển để họ khinh miệt thưởng thức. Tôi thường
xuyên tự hỏi có khi nào tất cả mọi thứ chỉ là một ảo mộng thuần tuý
hay không – một cơn sốt khi tôi nằm say nắng và mê sảng lảm
nhảm trên chiếc thuyền sau khi thoát khỏi con tàu chiến của Đức.
Tôi tự hỏi mình điều này, nhưng bao giờ cũng vậy, một hình ảnh cực
kì sống động luôn xuất hiện trước mắt tôi thay cho lời đáp. Tôi
không thể nghĩ về biển sâu mà không rùng mình trước những thứ vô
danh có thể ngay lúc này đây đang trườn bò và lượn lờ dưới cái đáy
nhầy nhụa của nó, tôn thờ những pho tượng thần cổ của mình và
khắc diện mạo đáng ghê tởm của bản thân lên những toà tháp đá
hoa cương sũng nước ngầm dưới đại dương. Tôi mơ về cái ngày
chúng có thể trồi lên trên những con sóng để kéo tuột các tàn dư
hèn mọn, kiệt sức vì chiến tranh của nhân loại xuống trong bộ vuốt
hôi thối của mình – về cái ngày khi mặt đất chìm xuống, và đáy đại
dương tối tăm sẽ trỗi dậy giữa thời loạn lạc bao trùm khắp mọi nơi.
Hồi kết đã gần kề. Tôi nghe thấy tiếng động ở cửa, như thể một tấm
thân trơn trượt khổng lồ đang lầm lũi đè vào. Nó sẽ không thể tìm
được tôi đâu. Chúa ơi, cái bàn tay đó! Cửa sổ! Cửa sổ!
≿————- ❈ ————-≾
(Tìm thấy trong các giấy tờ của Francis Wayland
Thurston quá cố, tại Boston.)
"Trong số những thế lực hay thực thể hùng mạnh trên đời, không
loại trừ khả năng vẫn còn tồn tại... một thời đại cực kì cổ xưa. Trong
thời đại ấy... có thể tâm trí từng khoác trên mình những dáng hình
và dạng thức đã biến mất từ rất lâu, nhường chỗ cho sự trỗi dậy của
con người... những dáng hình mà chỉ còn thơ ca và truyền thuyết là
còn loáng thoáng nhớ, và đã gọi chúng là các vị thần, những con
quái vật, sinh vật kì bí thuộc đủ thể loại..."
- Algernon Blackwood.
-IKHỐI ĐẤT SÉT KINH HOÀNG
TÔI TIN ĐIỀU NHÂN TỪ NHẤT TRẦN ĐỜI LÀ VIỆC TÂM trí con
người vô phương xâu chuỗi nổi tất cả những gì thế giới chứa đựng
lại với nhau. Chúng ta sống trên một hòn đảo vô minh đầy tĩnh lặng
giữa những đại dương vô tận đen ngòm, và dong buồm ra ngoài
khơi xa không phải là định mệnh của ta. Khoa học cho đến nay chưa
gây tổn hại gì mấy cho ta, vì mỗi ngành đều gồng mình phát triển
theo hướng riêng rẽ. Nhưng một ngày nào đó, khi các tri thức rời
rạc được tích hợp lại với nhau, những khung cảnh đẩy hãi hùng của
thực tại cũng như vị thế sởn gai ốc của chúng ta trong thực tại ấy sẽ
được hé lộ, và ta hoặc sẽ hoá điên trước phát hiện của mình, hoặc
là chạy trốn khỏi cái quầng sáng chết chóc kia để chui tọt vào trong
cái miền thanh bình và an toàn của một thời kì đen tối mới.
Giới thần trí học đã đưa ra các phỏng đoán về sự kì vĩ phi thường
của vòng chu kì vũ trụ, và trong đó thì thể giới của chúng ta cũng
như loài người chỉ là những đốm phù du. Họ ám chỉ đến những tồn
tại dị thường đến độ cần phải đắp thêm cho nó một lớp mã lạc quan
đầ
 









Các ý kiến mới nhất