NGƯỜI THĂNG LONG

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:23' 30-01-2026
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:23' 30-01-2026
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
NGƯỜI THĂNG LONG
Tác giả: Hà Ân
Đánh máy: tieuboingoan
Ebook: motsachgia
16-07-2015
Giới thiệu
Người Thăng Long, bản trường ca hào hùng về các vị vương,
tướng nhà Trần trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai.
Với nhân vật trung tâm là Trần Nhật Duật, ông hoàng Sáu, một
người Thăng Long thanh lịch, tài hoa, không chỉ thông minh trí lự
chiến thắng giặc ngoại xâm mà còn thắng bản thân trong cuộc chiến
với những oán cừu của cuộc đời.
Người đọc như bị cuốn vào không khí náo nức sôi động của buổi
Hội thề, vui vẻ lạ lẫm của lễ cướp dâu, không khí căng thẳng trang
nghiêm của hội nghị Bình Than và trang trọng, hừng hực ý chí chiến
đấu của hội nghị Diên Hồng…
Và đó là khởi đầu của một khúc ca khải hoàn…
Nhà văn HÀ ÂN (1928-2011)
Tên thật là Hoàng Hiển Mô, quê ở Hà Nội.
Ông gia nhập Trung đoàn thủ đô liên khu I năm 1947, rồi làm
trưởng ty Hoa kiều vụ tỉnh Lào Cai năm 1948. Năm 1955, ông về
làm giáo viên văn hóa ở Trường Quân y và Hậu cần.
Từ năm 1964, ông làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Hà Nội…
Ông nổi tiếng với các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, truyện kể lịch
sử, dã sử và được tặng các giải thưởng: Giải C Giải văn học thành
phố Hà Nội cho tiểu thuyết lịch sử Ngàn năm Thăng Long; Giải bồ
câu vàng kịch bản phim hoạt hình Ông Trạng thả diều; Nhiều lần giải
A văn học thiếu nhi Trung ương Đoàn; Giải khuyến khích kịch bản
hoạt hình Ngựa thần Tây Sơn.
TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:
• Tướng quân Nguyễn Chích (truyện lịch sử, 1962)
• Quận He khởi nghĩa (truyện lịch sử, 1963)
• Nguyễn Trung Trực (truyện lịch sử, 1964)
• Phú Riềng đỏ (ký lịch sử, 1965)
• Bên bờ Thiên Mạc (truyện lịch sử, 1967)
• Tổ quốc kêu gọi (tiểu thuyết lịch sử, 1973)
• Trên sông truyền hịch (truyện lịch sử, 1973)
• Trăng nước Chương Dương (truyện lịch sử, 1975)
• Người Thăng Long (tiểu thuyết lịch sử, 1980)
• Lưỡi gươm nhân ái (truyện lịch sử, 1981)
• Ông Trạng thả diều (truyện lịch sử, 1982)
• Cái chum vàng (truyện lịch sử, 1986)
• Vụ án trầu cánh phượng (truyện lịch sử, 1990)
• Kho báu dưới gốc hoàng đào (truyện lịch sử, 1993)
• Mùa chim ngói (tập truyện, 1995)
• Khúc khải hoàn dang dở (tiểu thuyết lịch sử, 2002)
Chương 1
Trời đã về chiều. Rặng Yên Tử xa xa đã sẫm màu, một màu tím
mơ màng, bí mật. Một người cưỡi ngựa phi nước kiệu trên con đê
thấp viền dòng sông Lục Đầu, hai bên trồng một giống nhãn gốc to,
thân vặn cong xuống, tán thật thấp, lá cành loà xoà cả ra giữa mặt
đê. Những con chuồn chuồn “đi tu”, bay đứng im lìm trên không
trung, chỉ có đôi cánh khẽ run rẩy.
– Trời lại sắp trở gió. Không biết ta có về kịp Côn Sơn đêm nay
không?
Kị sĩ ngước lên nhìn trời dày đặc mây đen xám. Gió xuân đông
bắc vẫn dìu dặt thổi về chợt lạnh, chợt ấm đưa hương nhãn sực nức
không gian. Đến cái điếm hộ đê vắng teo, kị sĩ ghìm ngựa lại. Con
ngựa đang mải nước phi, bực dọc gục gặc cổ hầm hừ. Kị sĩ cả cười,
vỗ yêu lên cổ ngựa. Nó thật là một con tuấn mã. Màu lông đen
nhưng nhức, chỉ có một vệt trắng từ khấu đuôi đến lưng chừng bộ
lông đuôi cong lên đúng kiểu tướng ngựa tranh tiên nhưng cũng
không muốn có con ngựa nào khác chạy liền kế ngay sau mình.
Cái đầu con ngựa nhỏ, gầy, gân guốc, hai lỗ mũi nở rộng hếch
lên như hất lửa. Ức nó rộng, mông tròn, bốn vó dài, nhỏ như chân
hươu rê những chiếc móng tròn xoe dày lên, xéo lên những nụ hoa
nhãn rụng đầy mặt đất.
– Đừng nổi giận, đừng nổi giận, con trai yêu của ta. Rồi con sẽ
được phi cho thoả bốn vó đuổi gió của con mà. Nào đứng cho yên đi
con.
Kị sĩ ngọt ngào dỗ con ngựa quý. Anh ta ăn mặc quá ư xuềnh
xoàng, một bộ quần áo nâu đã bạc nhưng may chẽn. Đầu chít một
chiếc khăn màu tam giang bằng là, chiếc khăn chít thật khéo, hai
nếp đầu xếp chéo lên nhau thành một chữ nhân hơi lệch trên vầng
trán rám phong sương nom thật duyên dáng giang hồ. Ngang lưng
kị sĩ thắt một chiếc thắt lưng vải bình thường màu đen cài một thanh
kiếm ngắn vỏ gỗ có ken những khuyên bằng mây chẻ nhỏ. Kị sĩ đi
một đôi hia nhẹ bằng da dê núi, đế bằng nhưng mũi nhọn, chắc rằng
dưới lần da dê phải có mũi bằng sắt.
Kị sĩ buộc con ngựa vào gốc nhãn rồi đi sang mé đê bên kia. Từ
đây có thể nhìn thấy dễ dàng phong cảnh chung quanh Kiếp Bạc.
Một dãy núi đất năm ngọn không cao lắm chắn mặt sau thung lũng.
Mé trước có hai mỏm núi chắn hai đầu, chân núi ăn liền ra tới bờ
sông. Bên trong thung lũng, dựa lưng vào một quả đồi nhỏ, ẩn sau
những vòm cây ăn quả, những mái nhà của trang trại Vạn Kiếp phô
màu ngói đã cũ với thời gian. Từ đây về tới Côn Sơn, chỉ có nơi này
tiện ngay bên đường có thể nghỉ chân một đêm được. Chủ nhân
trang trại là đức ông Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng nổi
tiếng là người trọng hiền, hiếu khách...
– Nhưng... - kị sĩ vụt cười lớn: - nhưng ta không bao giờ muốn để
chân vào đất của các vương hầu, mặc dù trong thái ấp giàu sang kia
ta có một người bạn tri kỉ.
Lúc kị sĩ cười, người ta mới thấy tất cả vẻ đẹp phong trần của
một chàng trai trẻ nhưng đã sớm phiêu lãng nhiều năm. Chính lúc
cười kị sĩ mới tỏ ra mình chỉ mới hai mươi lăm tuổi là cùng.
– Chẳng thà ta ngủ ngồi, dựa lưng vào một gốc cây.
Kị sĩ lại cười lên ha hả. Bất chợt anh ta thôi cười. Anh ta vừa nhìn
thấy một đám người đang làm lụng bên một dòng suối nhỏ. Nhìn họ
làm, mặc dù công việc mới nửa chừng nhưng kị sĩ cũng hiểu rằng
họ đang lắp một cái cọn nước để lấy nước tưới cho những thửa
ruộng cao nằm sát chỏm núi ngoài cùng phía bắc.
– Đáng ra phải làm cái cọn ở trên mấy chục trượng nữa thì mới
dùng được cho cả những thửa ruộng kia... Hay là họ... họ còn định
làm thêm cái cọn nữa.
– Ô kìa!
Một tiếng reo bên tai làm cho kị sĩ giật mình quay lại. Một người
trẻ tuổi mặc áo lụa thâm lịch sự, vai đeo một chiếc hồ rượu, tay cầm
một chiếc sáo trúc đang trịnh trọng và thân mật vái chào:
– Trời ơi, đúng là hiền huynh rồi. Sáng nay tiểu đệ thấy cây lan
tiêu nở bông hoa cực đẹp, tiểu đệ đoán ngay rằng sẽ có khách quý
tới thăm. Nhưng tiểu đệ không ngờ rằng khách quý lại chính là hiền
huynh.
– Không đâu. Hiền đệ không lạ gì ta, chiếc thân phiêu bạt không
quen nghi lễ phiền toái đài các ở các thái ấp. Ta định đi Côn Sơn rồi
ta nhắn hiền đệ xuống đó cùng ta trèo núi Phượng Hoàng hái thuốc.
Cữ này mưa xuân, nhiều giống thuốc đang nở hoa, chính là lúc phải
hái để dùng dần.
Rồi kị sĩ lùi lại mấy bước ngắm người bạn:
– Trời ơi, ta thấy hiền đệ khác xa cái hôm hiền đệ cùng với ta
xem chọi trâu ở Đồ Sơn. Bữa ấy, nom hiền đệ... còn... lãng tử hơn
ta. Thế mà bây giờ thì...
– Thì sao hiền huynh?
– Thì đúng là khách công hầu rồi. Hiền đệ bây giờ thật đúng là
Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, vương tử thứ ba của đức
ông chúa thái ấp Vạn Kiếp kia kìa. Lại còn văn hài vóc thâm nữa
chứ. Đã hài vóc lại còn thêu bướm lượn bướm bay. Chết nỗi, ta đâm
sợ cho thân ta đã từng dám suồng sã với hiền đệ như hai kẻ du
đãng coi trời bằng vung.
Trần Quốc Tảng - chính là đức ông vương tử thứ ba của thái ấp
Vạn Kiếp - cũng cả cười:
– Qua sông phải luỵ đò thôi. Hiền huynh ơi, mặc dù hiền huynh
mắng mỏ thế nào tiểu đệ cũng phải chịu nhưng hôm nay thì hiền
huynh phải lưu lại đây cho tiểu đệ được hầu rượu.
– Rượu thì có bao giờ ta chê. Nhưng thôi, hiền đệ đừng bắt ta bỏ
lời nguyền cũ. Ta rất hiểu hiền đệ cho nên ta mới kết bạn tri kỉ với
hiền đệ. Hiền đệ có nhớ hôm gặp nhau lần đầu tiên không?
– Tiểu đệ quên làm sao được...
Trần Quốc Tảng vốn là một chàng trai quý tộc nhưng tính rất
phóng khoáng, ưa thích cuộc đời lãng du đầy những bất ngờ ở bốn
phương trời. Là một người văn võ toàn tài, Trần Quốc Tảng cứ một
ngựa, một kiếm ngắn ăn mặc xuềnh xoàng đi lang thang khắp nơi.
Xem hội, xem phong cảnh, vào núi sâu đàm đạo với các bậc cao
tăng, ẩn sĩ hoặc uống rượu trong một cái quán giữa đường cùng với
những kị sĩ du khách quen thói không nhà không cửa. Cách đây ba
năm, Trần Quốc Tảng ra chơi đảo Vân Đồn. Đúng vào cữ trăng
sáng. Trần Quốc Tảng lên dải đá lô xô ven đảo tìm ra một mỏm ở tít
ngoài xa. Anh định thưởng trăng một mình ở đó. Nào ngờ, đêm ấy
bọn buôn lậu Lôi Châu cũng hẹn gặp nhau để bàn bạc về chuyến
hàng sắp tới. Thấy có người lạ mặt, chúng định giết đi để khỏi lộ
chuyện. Trần Quốc Tảng là tay kiếm tuyệt luân nhưng bọn buôn lậu
đông hơn mười đứa, chúng cũng là bọn giỏi võ. Trận đánh diễn ra
trên những tảng đá bám đầy hà sắc như dao. Tiếng kiếm chạm nhau
chan chát, lửa toé ra rợn người. Sức đôi bên chênh lệch nên Trần
Quốc Tảng phải vừa đánh vừa lùi và lựa thế sao cho mình chỉ phải
đối phó với một, hai tên trước mặt. Anh đã chém ngã ba tên nhưng
không vì thế mà bớt phần nguy hiểm. Ngược lại, sức anh giảm sút
và bọn gian toả rộng ra vây tròn anh lại. Chính lúc nguy cấp ấy có
tiếng thét vang động: “Quân đạo tặc, sao dám lộng hành!”. Rồi một
người từ ngoài vòng vây xông vào giúp cho Trần Quốc Tảng nhảy
vọt khỏi vòng vây. Sau đó cả hai mau chóng chuyền nhảy trên
những mỏm đá chạy vào bãi cát. Trần Quốc Tảng về ngay đồn binh
của trấn quan Vân Đồn. Viên tướng trấn thủ lập tức đưa một số lính
tuyển phong chia thành nhiều đường vây bắt quân gian. Tới mờ
sáng bọn gian bị bắt giam hết.
Trần Quốc Tảng tìm ân nhân để cảm tạ nhưng người ấy đã bỏ đi
từ lâu. Anh hối hận mãi. May sao, chỉ ba hôm sau, trong phiên chợ
ngọc trai bên Hòn Én, Trần Quốc Tảng nhận ra ân nhân của mình
đang say mê nghe một người hát xẩm già chơi đàn bầu. Trần Quốc
Tảng đã chân thành cảm tạ. Chính vì sự chân thành đó mà người
kia bằng lòng kết bạn với Trần Quốc Tảng nhưng với một điều kiện:
không người nào được làm phiền người nào. Người ấy, xưng tên là
Đỗ Vỹ, không nói một li về gốc tích quê quán. Hai người mau chóng
trở thành bạn thân. Có lẽ đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng
trong đời, Trần Quốc Tảng gặp một người mà đức ông trẻ tuổi kiêu
hãnh ấy phải kính phục về tài năng, về tầm hiểu biết, về sự lịch lãm
việc đời, về cả tâm hồn sâu xa mà không độc ác, ôn hoà chính đính
mà không chấp nê. Hai người thân nhau tới mức mỗi khi có việc gì
cần tới sự giúp đỡ của Đỗ Vỹ, Trần Quốc Tảng chỉ cần nhắn người
báo tin là việc tất xong. Với con người hành tung kì bí như Đỗ Vỹ,
việc gì anh cũng làm dễ như trở bàn tay. Hình như anh quen đủ mọi
hạng người trong thiên hạ, kể cả những người ở bên kia biên giới
nữa, mà mức độ thân quen đến không từ nan việc gì hết.
– Sở dĩ ta xuống ngựa chỉ để ngắm xem thế đất nơi đây. Ta có
nghe nhiều người tin ở phong thuỷ nói kiểu đất này đẹp lắm.
– Thế hiền huynh cũng tin ở thuật phong thuỷ à?
– Không đâu, ngay kiểu đất mộ tổ dòng họ nhà hiền đệ ta cũng
đã ngó qua. Chẳng qua có những kẻ không vừa lòng với việc dòng
họ Trần giữ ngôi nước này nên họ đặt điều bêu xấu chứ sự thật có
như lời đồn đại đâu.
Nhắc tới chuyện kiểu đất mộ tổ, chắc chắn rằng Đỗ Vỹ không có
ý chế giễu, nhưng Trần Quốc Tảng dù là người khoáng đạt cũng
phải ngượng ngùng. Ngôi mộ này nằm ở địa phận xã Thái Đường
phủ Long Hưng. Mộ táng từ trước đây hàng bảy tám đời, từ cái thuở
dòng họ Trần mới chỉ là một dòng họ chuyên làm nghề chài cá và
buôn biển. Chắc chắn rằng khi đó táng ngôi mộ không ai nghĩ đến
đất này phát đế vương. Nhưng khi họ Trần lên thay nhà Lý nắm giữ
ngôi báu thì bỗng có tin đồn trong thiên hạ rằng sở dĩ như vậy là vì
ngôi mộ này kết phát. Người ta truyền tụng nhau: “Phấn đại dương
giao chiếu. Liên hoa đối diện sinh. Tha nhật dĩ sắc đắc thiên hạ”, có
nghĩa là: Phấn son chiếu về. Hoa sen nở trước mặt, ngày sau nhờ
sắc đẹp đàn bà mà lấy được thiên hạ.
Chao ôi chỉ có những cái gò lổn nhổn bày biện chung quanh ngôi
mộ mà người này đoán là hoa sen, là phấn son còn người khác thì
lại đoán là thanh kiếm, cái ấn. Nhưng đoán là son phấn và hoa sen
thì quả là có ác ý. Chắc rằng họ ám chỉ đến sự việc cuối đời Lý có
loạn, thái tử Sảm phải bỏ kinh thành chạy về Long Hưng. Nhà dân
chài họ Trần đón thái tử về nuôi và che chở. Khi ấy họ Trần đã giàu
có lắm rồi. Trong họ lại nhiều người đi buôn biển nên lịch lãm giang
hồ, giỏi võ, giao thiệp rộng, nhìn cũng xa, mưu cũng lớn. Họ tính
chuyện buôn vua. Họ đem Trần Thị Dung, cô gái xinh nhất họ, gả
cho cái anh con vua đang chạy loạn thất cơ lỡ vận. Rồi họ Trần xuất
của nhà ra mộ lính hưng binh phò thái tử Sảm về kinh lên ngôi vua.
Sảm thành vua thì Trần Thị Dung dĩ nhiên phải trở thành hoàng hậu.
Giả sử không có chuyện hôn nhân trên thì làm sao họ Trần rời được
cái vạn chài Cửa Bố về được kinh nắm giữ hầu hết những chức vụ
quan trọng trong triều rồi thừa thời cơ mà nắm lấy ngôi vua được.
Vì triều Trần lập nên không từ một võ công dựng nước như các
dòng họ khác nên vẫn có nhiều người còn nhớ đến các vua Lý. Từ
chỗ bất phục dẫn đến đặt chuyện để giễu cợt chơi.
Không để ý đến vẻ mặt Trần Quốc Tảng, Đỗ Vỹ ngắm nghía
chăm chú thế đất Vạn Kiếp:
– Này hiền đệ xem, có đúng là: “Đầu gối ngũ nhạc chân đạp
phượng hoàng, tả có Bắc Đẩu, hữu có Nam Tào” không? Ta thì
không tin rằng thế đất này là thế đất làm tướng nhưng ta thấy đây
quả là đất dụng võ.
– Ấy thế mà thân phụ của tiểu đệ coi trọng việc trồng trọt trong
thung lũng này hơn đấy.
– Không phải là trọng hơn mà là tuỳ thời cơ đó thôi. Cái cọn nước
kia sở dĩ có vì bây giờ cần nhiều thóc lúa nuôi tráng đinh trong thái
ấp. Mà nếu phải dụng võ cũng phải nuôi quân no. Kìa, họ đã nghỉ
tay rồi sao?
– Không, đã xong thế nào được. Cọn dựng rồi còn phải buộc các
ống múc nữa cơ mà. Kìa, cái người mặc áo dài nâu kia chính là thân
phụ tiểu đệ.
Đỗ Vỹ nghển cổ nhìn. Anh cũng không ngờ một bậc vương gia
lừng lẫy như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng coi trọng nghề
nông tới mức đích thân coi sóc việc đặt một cái cọn nước. Đàng xa,
Trần Quốc Tuấn đang giơ tay giơ chân làm hiệu - chắc rằng ông
đang chỉ dẫn cho những gia nô đứng chung quanh. Họ đang nghỉ
tay nhưng quần áo xắn gọn vẫn để y nguyên, như vậy là họ còn làm
nữa. Trần Quốc Tảng còn đang chăm chú nhìn bố thì Đỗ Vỹ chợt
cười:
– Ta nói đúng mà. Ta đâu có phải là khách của thái ấp Vạn Kiếp,
khách quý của thái ấp ngày hôm nay đang đến kia kìa.
Trần Quốc Tảng nhìn theo tay chỉ của Đỗ Vỹ. Trên sông, ba chiếc
thuyền buồm đang rẽ sóng vào bến. Rõ ràng đây là những chiếc
quan thuyền. Chiếc thuyền nào cũng cắm cờ đỏ khé và thuỷ thủ mặc
nhung phục của lính trạo nhi. Trên mũi thuyền đi đầu có một văn
quan mặc áo màu đại hồng.
– Tại sao hiền huynh biết chắc rằng những người này đến thái ấp
Vạn Kiếp?
– Có gì là khó đoán đâu. Hiền đệ thử xem, trên mũi quan thuyền
thứ hai kia có cái biển gì sơn son, đúng là cái biển “Khâm sai truyền
chỉ” không? Rồi hiền đệ cố đoán xem quan khâm sai kia là ai?
– Ờ... quan học sĩ Đinh Củng Viên. Thế thì quả là họ vào chỗ
thân phụ của em rồi.
– Chứ còn đi đâu nữa. Cả một dải đông bắc này có nhà ai mà
hoàng thượng phải sai quan khâm sai đến truyền chỉ nào?
Đoàn quan thuyền đã vào bến. Những người lính dẫn lộ biển
“Khâm sai” đã lên bờ. Họ dàn những lá cờ đại đi trước rồi đến trống
mở đường. Hai chiếc lọng vàng che chênh vênh bên trên cái biển
sơn son chữ vàng. Quan khâm sai trịnh trọng đi ngay bên dưới biển,
hai bên ngài có hai ngũ lính ngự lâm vác kiếm tuốt trần hộ vệ.
– Kì này thì thân phụ của hiền đệ chắc chẳng còn thì giờ đâu mà
lo những chiếc cọn nước nữa.
– Tại sao vậy hiền huynh?
– Tại vì có việc trọng yếu tới mức phải cần đến đức ông Hưng
Đạo. Có thể một là phải tiếp sứ, hoặc hai là...
– Hai là sao cơ hiền huynh?
– Hai là sắp phải dụng binh. Mà ta nghĩ có lẽ vì cả hai lí do.
Tháng trước khi chơi bên bán đảo Lôi Châu, ta đã được chứng kiến
họ bắt lính dân chài và trưng dụng thuyền vận tải đường biển.
Đỗ Vỹ nhìn chăm chăm người bạn không phân biệt vị thế rồi tiếp:
– Có thể cả hiền đệ cũng sẽ không còn dịp đi chơi hội xuân này ở
vùng biển nữa đâu. Nếu đúng như phán đoán, nếu đến mức phải
triệu đến đức ông Hưng Đạo lên kinh cũng có nghĩa là phải cần đến
tất cả các đức ông chi Vạn Kiếp đó.
Bên dưới ruộng, những người làm cọn nước cũng được biết tin
có khách đến. Họ tất tả kéo nhau tắt cánh đồng chạy về trang trại
nằm dựa lưng vào núi Ngũ Nhạc.
Đỗ Vỹ cả cười:
– Nếu mai hiền đệ rảnh thì xuống Côn Sơn, còn nếu bận thì thôi.
Bây giờ thì ta đi đây.
Đỗ Vỹ cởi cương ngựa nhảy phắt lên yên. Con tuấn mã hí dài
trước khi sải vó phi nhanh. Đỗ Vỹ giơ cao roi ngựa chào từ biệt...
Chương 2
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật mới từ lộ Đà Giang về kinh
đêm hôm qua nhưng phủ Chiêu Văn đã nhộn nhạo quay cuồng như
một đàn ong động tổ. Gia tướng, thư nhi, thị nữ, gia nô, người nào
cũng tất bật để làm cho xong được quá nhiều mệnh lệnh của đức
ông hoàng Sáu. Hàng loạt rèm lụa màu cốm non bị tháo xuống, thay
vào đó là những tấm mành trúc nan vót cầu kì, sản phẩm tuyệt tác
của các cô gái sơn cước. Những người thị nữ chầu hầu hối hả trải
lên mặt những án thư, văn kỉ những tấm gấm thổ dệt cách ô đen đỏ.
Những lưỡi giáo Chiêm Thành gác trên vách cho đẹp cũng được gỡ
xuống. Người ta dùng lụa màu kết hoa mẫu đơn treo những chiếc
khèn lau, những lưỡi dao Lão Qua vỏ tre, một cái tù và sừng trâu
rừng bịt đồng thau thô sơ... Lính trạo nhi dùng xe trâu chở từ bến
Đông về phủ đệ những chậu cây quý lấy giống từ rừng đại ngàn.
Các thư nhi tất bật đo đạc ngoài vườn, trồng lại vườn theo ý của
Trần Nhật Duật. Đức ông hoàng Sáu treo giải thưởng thật hậu cho
những ai tìm được những tên đẹp, tên hay để đặt tên cho những
giống cây lạ mới đem về hôm trước. Dưới bếp còn tíu tít hơn nữa. Ai
cũng biết rằng khi Trần Nhật Duật có mặt ở phủ đệ kinh kì ngày nào
là ngày ấy ông thết tiệc. Khách công hầu, khách văn chương, khách
nước ngoài đang vì việc công hoặc việc riêng mà có mặt ở Thăng
Long đều lui tới vương phủ Chiêu Văn. Trần Nhật Duật nổi tiếng
hiếu khách. Ông tiếp họ rất niềm nở đậm đà, có khi hết sức chí tình
nếu như người khách đó chỉ là một hàn sĩ. Sau những ngày vắng
người chủ hào hoa, vương phủ Chiêu Văn bận rộn tíu tít...
Nhưng trong lúc đó, Trần Nhật Duật đang mải mê xem ngựa ở
tàu ngựa mé sau phủ đệ. Đức ông có một tàu ngựa riêng mấy chục
con tuấn mã. Con ngựa này bền sức để đi đường xa, con này gân
guốc linh hoạt chuyên dùng để cưỡi đi săn đuổi, con này ngoan
dùng để đi chơi phố phường đông người, con này để cưỡi khi đánh
phết, con này dạn khói lửa để cưỡi ra trận. Mỗi con một nết, mỗi con
một sở trường, mỗi con một sắc lông mà con nào cũng đẹp như
ngựa vẽ trong tranh. Ngay ông Tô Nghĩa Đông nổi tiếng là tay xem
tướng ngựa sành nhất hai nước Tống- Việt cũng khó mà kiếm được
một tật để chê ngựa của đức ông hoàng Sáu, Ấy thế mà hôm nay
Trần Nhật Duật và bọn thị mã gia tướng phải ngắm không rời mắt
một con ngựa mới. Con ngựa này do một người buôn biển, dân
châu Ô cực nam, biếu Trần Nhật Duật làm lễ ra mắt khi đoàn thuyền
buôn của ông ta cập bến Đông và được Trần Nhật Duật chỉ bảo cho
cách thức trình báo với ty Đại an phủ sứ coi quản mọi công việc ở
kinh thành. Con ngựa mới hai tuổi, gầy, bộ lông đen xù lên và xơ
xác nhưng nó rất cao, mình trường, bốn vó dài mảnh và bộ lông
đuôi cong ngay từ khấu nom như đuôi gà trống. Có lẽ người Thăng
Long chưa từng nhìn thấy con ngựa nào cao và trường mình đến
thế. Ngay cái vệt vá trắng dọc từ trán xuống đến mũi nó cũng rất lạ.
Con ngựa bây giờ xấu mã nhưng chắc chắn chăm vỗ vài tháng sẽ
thành một con vật mà tất cả khách phong lưu mã thượng kinh thành
phải thèm thuồng tuyệt vọng.
Trần Nhật Duật bẻ một nắm thân cây mía non dứ con ngựa:
– Ăn đi! Ăn đi! Này bọn bay, đã có lần ta gặp một con ngựa cũng
màu lông ô như thế này. Đó thật là một con tuấn mã. Chỉ khác là nó
có một vệt trắng từ khấu đến lưng chừng đuôi. Con ngựa ấy tuyệt
hảo nhưng nó còn không cao và không trường mình bằng con này.
Một thị mã thường được tuỳ tùng Trần Nhật Duật trong những lần
đi xa kinh thành hỏi:
– Thưa đức ông, có phải con ngựa mà đức ông trả giá hai trăm
quan tiền và các luôn cả thanh kiếm quý Bạch Lộ không ạ?
– Ừ, đúng đó. Mà ta chưa hề thấy thằng cha nào cao ngạo như
cái thằng chủ con ngựa ấy. Mi có nhớ hắn hỏi ta câu gì để thay câu
trả lời không?... Hắn hỏi thế này chứ: “Nếu túc hạ có may mắn làm
chủ một con ngựa như thế này thì túc hạ có đem bán nó đi không?”
– Thế thì tôi nhớ ra rồi. Khi ấy đức ông hỏi vặn hắn rằng: “Thế thì
tại sao túc hạ có nó được?”. Hắn ta trả lời: “Tại vì người ta quý kẻ
hèn này mà tặng thôi.”
– Ừ đúng rồi, ta tức lắm nhưng ta phải nhận hắn nói đúng. Tuấn
mã nhường ấy chỉ có tặng nhau chứ đâu có đem bán. Nhưng này, đức ông hỏi các thị mã, - đặt tên cho con ngựa này là gì nào?
Thị mã cận vệ Hoàng Mãnh, viên gia tướng trẻ thân cận tranh nói
ngay:
– Bẩm đức ông, em muốn gọi tên nó là Hắc Long Câu.
– Hừ. Ngựa đen đuôi rồng! Thường quá! Con ngựa đánh phết
của đức ông Chiêu Quốc cũng đã được đặt tên là Hồng Long Câu
rồi mà.
Hoàng Mãnh vốn cùng tuổi với Trần Nhật Duật, anh đã được Nội
cung chọn theo hầu đức ông hoàng Sáu từ khi đức ông mới lẫm
chẫm biết đi. Thực ra Mãnh là bạn chơi đùa, cùng học, cùng tập côn
quyền, cùng ăn, cùng ngủ với Trần Nhật Duật. Khi Trần Nhật Duật
lớn lên được phong vương, vua cha đưa ông ra khỏi hoàng thành
mở phủ Chiêu Văn cho hoàng tử ở, Hoàng Mãnh cũng được đi theo.
Nhưng vị thế hai người bây giờ khác nhau như nước với lửa. Tuy cả
hai người đều phải giữ lễ nhưng thực ra Trần Nhật Duật vẫn coi
Hoàng Mãnh như một người em đồng nhũ đồng tuế, một người bạn
tâm phúc tương tri. Những lúc vắng người hai anh em vẫn thường
suồng sã với nhau. Bây giờ cũng vậy, Hoàng Mãnh buột miệng:
– Thế thì mình gọi quách... Bẩm đức ông, hay ta đặt cho nó một
cái tên nôm.
– Ừ, các ngươi cùng nghĩ thử xem.
Các thị mã ồn lên tranh nhau nói. Người thì muốn ngựa mang tên
là Ô Lĩnh, nhưng người khác thì chỉ muốn gọi là Ô không thôi.
Người thì khen con ngựa có tầm cao như thế thì phải đặt tên nó là
Nêu Tết. Có người thì bảo nó có cái vệt trắng ở mũi sao không đặt
tên nó là con Vá làm cho tất cả cười ồ lên chế giễu anh ta lầm ngựa
thành chó.
Trần Nhật Duật vỗ lên ót ngựa và cảm thấy gân thịt nó rắn đanh.
Ông hoàng trẻ thốt reo lên:
– Phải rồi! Nó là con ngựa ta sẽ cưỡi đi trận. Ta sẽ gọi nó là con
Bão Đêm.
Mấy anh thị mã trong bụng có anh thích có anh không thích
nhưng đều đồng thanh rú lên:
– Bão Đêm! Hay quá, Bão Đêm, mạnh, dữ, ác liệt và bí mật như
cơn Bão Đêm.
Con mắt Hoàng Mãnh tinh nghịch loé sáng lên liếc ngang:
– Bẩm đức ông! Ta thách đức ông Chiêu Quốc để trả nợ lần
trước.
Nghe đến thi ngựa, Trần Nhật Duật mặt sa sầm xuống. Ông
hoàng trẻ nhớ lại lần thi ngựa mấy tháng trước đây ngoài bãi sông
Cơ Xá với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Trần Nhật Duật và Trần
Ích Tắc là hai anh em cùng một mẹ sinh ra. Ích Tắc tuy chỉ hơn Nhật
Duật một tuổi nhưng bao giờ cũng là người đầu têu các trò nghịch
ngợm lúc nhỏ tuổi, khi lớn lên vẫn là người dẫn đầu việc học võ, học
văn, việc chiêu nạp tân khách, thủ hạ, việc mở hội bình văn cho đến
việc ăn mặc, việc bày biện trang trí trong phủ đệ. Có thể nói từ lễ
nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, làm thơ, đến các món tạp kĩ như đánh
cờ tướng, đá cầu, luyện ngựa, luyện chó săn, nuôi chim, vẽ tranh
sơn thuỷ, nghề nào Ích Tắc cũng giỏi, cũng hay hoặc cũng có một
chút gì dị biệt để chỉ dẫn cho Trần Nhật D
Tác giả: Hà Ân
Đánh máy: tieuboingoan
Ebook: motsachgia
16-07-2015
Giới thiệu
Người Thăng Long, bản trường ca hào hùng về các vị vương,
tướng nhà Trần trong cuộc chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai.
Với nhân vật trung tâm là Trần Nhật Duật, ông hoàng Sáu, một
người Thăng Long thanh lịch, tài hoa, không chỉ thông minh trí lự
chiến thắng giặc ngoại xâm mà còn thắng bản thân trong cuộc chiến
với những oán cừu của cuộc đời.
Người đọc như bị cuốn vào không khí náo nức sôi động của buổi
Hội thề, vui vẻ lạ lẫm của lễ cướp dâu, không khí căng thẳng trang
nghiêm của hội nghị Bình Than và trang trọng, hừng hực ý chí chiến
đấu của hội nghị Diên Hồng…
Và đó là khởi đầu của một khúc ca khải hoàn…
Nhà văn HÀ ÂN (1928-2011)
Tên thật là Hoàng Hiển Mô, quê ở Hà Nội.
Ông gia nhập Trung đoàn thủ đô liên khu I năm 1947, rồi làm
trưởng ty Hoa kiều vụ tỉnh Lào Cai năm 1948. Năm 1955, ông về
làm giáo viên văn hóa ở Trường Quân y và Hậu cần.
Từ năm 1964, ông làm biên tập viên tại Nhà xuất bản Hà Nội…
Ông nổi tiếng với các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử, truyện kể lịch
sử, dã sử và được tặng các giải thưởng: Giải C Giải văn học thành
phố Hà Nội cho tiểu thuyết lịch sử Ngàn năm Thăng Long; Giải bồ
câu vàng kịch bản phim hoạt hình Ông Trạng thả diều; Nhiều lần giải
A văn học thiếu nhi Trung ương Đoàn; Giải khuyến khích kịch bản
hoạt hình Ngựa thần Tây Sơn.
TÁC PHẨM ĐÃ XUẤT BẢN:
• Tướng quân Nguyễn Chích (truyện lịch sử, 1962)
• Quận He khởi nghĩa (truyện lịch sử, 1963)
• Nguyễn Trung Trực (truyện lịch sử, 1964)
• Phú Riềng đỏ (ký lịch sử, 1965)
• Bên bờ Thiên Mạc (truyện lịch sử, 1967)
• Tổ quốc kêu gọi (tiểu thuyết lịch sử, 1973)
• Trên sông truyền hịch (truyện lịch sử, 1973)
• Trăng nước Chương Dương (truyện lịch sử, 1975)
• Người Thăng Long (tiểu thuyết lịch sử, 1980)
• Lưỡi gươm nhân ái (truyện lịch sử, 1981)
• Ông Trạng thả diều (truyện lịch sử, 1982)
• Cái chum vàng (truyện lịch sử, 1986)
• Vụ án trầu cánh phượng (truyện lịch sử, 1990)
• Kho báu dưới gốc hoàng đào (truyện lịch sử, 1993)
• Mùa chim ngói (tập truyện, 1995)
• Khúc khải hoàn dang dở (tiểu thuyết lịch sử, 2002)
Chương 1
Trời đã về chiều. Rặng Yên Tử xa xa đã sẫm màu, một màu tím
mơ màng, bí mật. Một người cưỡi ngựa phi nước kiệu trên con đê
thấp viền dòng sông Lục Đầu, hai bên trồng một giống nhãn gốc to,
thân vặn cong xuống, tán thật thấp, lá cành loà xoà cả ra giữa mặt
đê. Những con chuồn chuồn “đi tu”, bay đứng im lìm trên không
trung, chỉ có đôi cánh khẽ run rẩy.
– Trời lại sắp trở gió. Không biết ta có về kịp Côn Sơn đêm nay
không?
Kị sĩ ngước lên nhìn trời dày đặc mây đen xám. Gió xuân đông
bắc vẫn dìu dặt thổi về chợt lạnh, chợt ấm đưa hương nhãn sực nức
không gian. Đến cái điếm hộ đê vắng teo, kị sĩ ghìm ngựa lại. Con
ngựa đang mải nước phi, bực dọc gục gặc cổ hầm hừ. Kị sĩ cả cười,
vỗ yêu lên cổ ngựa. Nó thật là một con tuấn mã. Màu lông đen
nhưng nhức, chỉ có một vệt trắng từ khấu đuôi đến lưng chừng bộ
lông đuôi cong lên đúng kiểu tướng ngựa tranh tiên nhưng cũng
không muốn có con ngựa nào khác chạy liền kế ngay sau mình.
Cái đầu con ngựa nhỏ, gầy, gân guốc, hai lỗ mũi nở rộng hếch
lên như hất lửa. Ức nó rộng, mông tròn, bốn vó dài, nhỏ như chân
hươu rê những chiếc móng tròn xoe dày lên, xéo lên những nụ hoa
nhãn rụng đầy mặt đất.
– Đừng nổi giận, đừng nổi giận, con trai yêu của ta. Rồi con sẽ
được phi cho thoả bốn vó đuổi gió của con mà. Nào đứng cho yên đi
con.
Kị sĩ ngọt ngào dỗ con ngựa quý. Anh ta ăn mặc quá ư xuềnh
xoàng, một bộ quần áo nâu đã bạc nhưng may chẽn. Đầu chít một
chiếc khăn màu tam giang bằng là, chiếc khăn chít thật khéo, hai
nếp đầu xếp chéo lên nhau thành một chữ nhân hơi lệch trên vầng
trán rám phong sương nom thật duyên dáng giang hồ. Ngang lưng
kị sĩ thắt một chiếc thắt lưng vải bình thường màu đen cài một thanh
kiếm ngắn vỏ gỗ có ken những khuyên bằng mây chẻ nhỏ. Kị sĩ đi
một đôi hia nhẹ bằng da dê núi, đế bằng nhưng mũi nhọn, chắc rằng
dưới lần da dê phải có mũi bằng sắt.
Kị sĩ buộc con ngựa vào gốc nhãn rồi đi sang mé đê bên kia. Từ
đây có thể nhìn thấy dễ dàng phong cảnh chung quanh Kiếp Bạc.
Một dãy núi đất năm ngọn không cao lắm chắn mặt sau thung lũng.
Mé trước có hai mỏm núi chắn hai đầu, chân núi ăn liền ra tới bờ
sông. Bên trong thung lũng, dựa lưng vào một quả đồi nhỏ, ẩn sau
những vòm cây ăn quả, những mái nhà của trang trại Vạn Kiếp phô
màu ngói đã cũ với thời gian. Từ đây về tới Côn Sơn, chỉ có nơi này
tiện ngay bên đường có thể nghỉ chân một đêm được. Chủ nhân
trang trại là đức ông Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng nổi
tiếng là người trọng hiền, hiếu khách...
– Nhưng... - kị sĩ vụt cười lớn: - nhưng ta không bao giờ muốn để
chân vào đất của các vương hầu, mặc dù trong thái ấp giàu sang kia
ta có một người bạn tri kỉ.
Lúc kị sĩ cười, người ta mới thấy tất cả vẻ đẹp phong trần của
một chàng trai trẻ nhưng đã sớm phiêu lãng nhiều năm. Chính lúc
cười kị sĩ mới tỏ ra mình chỉ mới hai mươi lăm tuổi là cùng.
– Chẳng thà ta ngủ ngồi, dựa lưng vào một gốc cây.
Kị sĩ lại cười lên ha hả. Bất chợt anh ta thôi cười. Anh ta vừa nhìn
thấy một đám người đang làm lụng bên một dòng suối nhỏ. Nhìn họ
làm, mặc dù công việc mới nửa chừng nhưng kị sĩ cũng hiểu rằng
họ đang lắp một cái cọn nước để lấy nước tưới cho những thửa
ruộng cao nằm sát chỏm núi ngoài cùng phía bắc.
– Đáng ra phải làm cái cọn ở trên mấy chục trượng nữa thì mới
dùng được cho cả những thửa ruộng kia... Hay là họ... họ còn định
làm thêm cái cọn nữa.
– Ô kìa!
Một tiếng reo bên tai làm cho kị sĩ giật mình quay lại. Một người
trẻ tuổi mặc áo lụa thâm lịch sự, vai đeo một chiếc hồ rượu, tay cầm
một chiếc sáo trúc đang trịnh trọng và thân mật vái chào:
– Trời ơi, đúng là hiền huynh rồi. Sáng nay tiểu đệ thấy cây lan
tiêu nở bông hoa cực đẹp, tiểu đệ đoán ngay rằng sẽ có khách quý
tới thăm. Nhưng tiểu đệ không ngờ rằng khách quý lại chính là hiền
huynh.
– Không đâu. Hiền đệ không lạ gì ta, chiếc thân phiêu bạt không
quen nghi lễ phiền toái đài các ở các thái ấp. Ta định đi Côn Sơn rồi
ta nhắn hiền đệ xuống đó cùng ta trèo núi Phượng Hoàng hái thuốc.
Cữ này mưa xuân, nhiều giống thuốc đang nở hoa, chính là lúc phải
hái để dùng dần.
Rồi kị sĩ lùi lại mấy bước ngắm người bạn:
– Trời ơi, ta thấy hiền đệ khác xa cái hôm hiền đệ cùng với ta
xem chọi trâu ở Đồ Sơn. Bữa ấy, nom hiền đệ... còn... lãng tử hơn
ta. Thế mà bây giờ thì...
– Thì sao hiền huynh?
– Thì đúng là khách công hầu rồi. Hiền đệ bây giờ thật đúng là
Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng, vương tử thứ ba của đức
ông chúa thái ấp Vạn Kiếp kia kìa. Lại còn văn hài vóc thâm nữa
chứ. Đã hài vóc lại còn thêu bướm lượn bướm bay. Chết nỗi, ta đâm
sợ cho thân ta đã từng dám suồng sã với hiền đệ như hai kẻ du
đãng coi trời bằng vung.
Trần Quốc Tảng - chính là đức ông vương tử thứ ba của thái ấp
Vạn Kiếp - cũng cả cười:
– Qua sông phải luỵ đò thôi. Hiền huynh ơi, mặc dù hiền huynh
mắng mỏ thế nào tiểu đệ cũng phải chịu nhưng hôm nay thì hiền
huynh phải lưu lại đây cho tiểu đệ được hầu rượu.
– Rượu thì có bao giờ ta chê. Nhưng thôi, hiền đệ đừng bắt ta bỏ
lời nguyền cũ. Ta rất hiểu hiền đệ cho nên ta mới kết bạn tri kỉ với
hiền đệ. Hiền đệ có nhớ hôm gặp nhau lần đầu tiên không?
– Tiểu đệ quên làm sao được...
Trần Quốc Tảng vốn là một chàng trai quý tộc nhưng tính rất
phóng khoáng, ưa thích cuộc đời lãng du đầy những bất ngờ ở bốn
phương trời. Là một người văn võ toàn tài, Trần Quốc Tảng cứ một
ngựa, một kiếm ngắn ăn mặc xuềnh xoàng đi lang thang khắp nơi.
Xem hội, xem phong cảnh, vào núi sâu đàm đạo với các bậc cao
tăng, ẩn sĩ hoặc uống rượu trong một cái quán giữa đường cùng với
những kị sĩ du khách quen thói không nhà không cửa. Cách đây ba
năm, Trần Quốc Tảng ra chơi đảo Vân Đồn. Đúng vào cữ trăng
sáng. Trần Quốc Tảng lên dải đá lô xô ven đảo tìm ra một mỏm ở tít
ngoài xa. Anh định thưởng trăng một mình ở đó. Nào ngờ, đêm ấy
bọn buôn lậu Lôi Châu cũng hẹn gặp nhau để bàn bạc về chuyến
hàng sắp tới. Thấy có người lạ mặt, chúng định giết đi để khỏi lộ
chuyện. Trần Quốc Tảng là tay kiếm tuyệt luân nhưng bọn buôn lậu
đông hơn mười đứa, chúng cũng là bọn giỏi võ. Trận đánh diễn ra
trên những tảng đá bám đầy hà sắc như dao. Tiếng kiếm chạm nhau
chan chát, lửa toé ra rợn người. Sức đôi bên chênh lệch nên Trần
Quốc Tảng phải vừa đánh vừa lùi và lựa thế sao cho mình chỉ phải
đối phó với một, hai tên trước mặt. Anh đã chém ngã ba tên nhưng
không vì thế mà bớt phần nguy hiểm. Ngược lại, sức anh giảm sút
và bọn gian toả rộng ra vây tròn anh lại. Chính lúc nguy cấp ấy có
tiếng thét vang động: “Quân đạo tặc, sao dám lộng hành!”. Rồi một
người từ ngoài vòng vây xông vào giúp cho Trần Quốc Tảng nhảy
vọt khỏi vòng vây. Sau đó cả hai mau chóng chuyền nhảy trên
những mỏm đá chạy vào bãi cát. Trần Quốc Tảng về ngay đồn binh
của trấn quan Vân Đồn. Viên tướng trấn thủ lập tức đưa một số lính
tuyển phong chia thành nhiều đường vây bắt quân gian. Tới mờ
sáng bọn gian bị bắt giam hết.
Trần Quốc Tảng tìm ân nhân để cảm tạ nhưng người ấy đã bỏ đi
từ lâu. Anh hối hận mãi. May sao, chỉ ba hôm sau, trong phiên chợ
ngọc trai bên Hòn Én, Trần Quốc Tảng nhận ra ân nhân của mình
đang say mê nghe một người hát xẩm già chơi đàn bầu. Trần Quốc
Tảng đã chân thành cảm tạ. Chính vì sự chân thành đó mà người
kia bằng lòng kết bạn với Trần Quốc Tảng nhưng với một điều kiện:
không người nào được làm phiền người nào. Người ấy, xưng tên là
Đỗ Vỹ, không nói một li về gốc tích quê quán. Hai người mau chóng
trở thành bạn thân. Có lẽ đây là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng
trong đời, Trần Quốc Tảng gặp một người mà đức ông trẻ tuổi kiêu
hãnh ấy phải kính phục về tài năng, về tầm hiểu biết, về sự lịch lãm
việc đời, về cả tâm hồn sâu xa mà không độc ác, ôn hoà chính đính
mà không chấp nê. Hai người thân nhau tới mức mỗi khi có việc gì
cần tới sự giúp đỡ của Đỗ Vỹ, Trần Quốc Tảng chỉ cần nhắn người
báo tin là việc tất xong. Với con người hành tung kì bí như Đỗ Vỹ,
việc gì anh cũng làm dễ như trở bàn tay. Hình như anh quen đủ mọi
hạng người trong thiên hạ, kể cả những người ở bên kia biên giới
nữa, mà mức độ thân quen đến không từ nan việc gì hết.
– Sở dĩ ta xuống ngựa chỉ để ngắm xem thế đất nơi đây. Ta có
nghe nhiều người tin ở phong thuỷ nói kiểu đất này đẹp lắm.
– Thế hiền huynh cũng tin ở thuật phong thuỷ à?
– Không đâu, ngay kiểu đất mộ tổ dòng họ nhà hiền đệ ta cũng
đã ngó qua. Chẳng qua có những kẻ không vừa lòng với việc dòng
họ Trần giữ ngôi nước này nên họ đặt điều bêu xấu chứ sự thật có
như lời đồn đại đâu.
Nhắc tới chuyện kiểu đất mộ tổ, chắc chắn rằng Đỗ Vỹ không có
ý chế giễu, nhưng Trần Quốc Tảng dù là người khoáng đạt cũng
phải ngượng ngùng. Ngôi mộ này nằm ở địa phận xã Thái Đường
phủ Long Hưng. Mộ táng từ trước đây hàng bảy tám đời, từ cái thuở
dòng họ Trần mới chỉ là một dòng họ chuyên làm nghề chài cá và
buôn biển. Chắc chắn rằng khi đó táng ngôi mộ không ai nghĩ đến
đất này phát đế vương. Nhưng khi họ Trần lên thay nhà Lý nắm giữ
ngôi báu thì bỗng có tin đồn trong thiên hạ rằng sở dĩ như vậy là vì
ngôi mộ này kết phát. Người ta truyền tụng nhau: “Phấn đại dương
giao chiếu. Liên hoa đối diện sinh. Tha nhật dĩ sắc đắc thiên hạ”, có
nghĩa là: Phấn son chiếu về. Hoa sen nở trước mặt, ngày sau nhờ
sắc đẹp đàn bà mà lấy được thiên hạ.
Chao ôi chỉ có những cái gò lổn nhổn bày biện chung quanh ngôi
mộ mà người này đoán là hoa sen, là phấn son còn người khác thì
lại đoán là thanh kiếm, cái ấn. Nhưng đoán là son phấn và hoa sen
thì quả là có ác ý. Chắc rằng họ ám chỉ đến sự việc cuối đời Lý có
loạn, thái tử Sảm phải bỏ kinh thành chạy về Long Hưng. Nhà dân
chài họ Trần đón thái tử về nuôi và che chở. Khi ấy họ Trần đã giàu
có lắm rồi. Trong họ lại nhiều người đi buôn biển nên lịch lãm giang
hồ, giỏi võ, giao thiệp rộng, nhìn cũng xa, mưu cũng lớn. Họ tính
chuyện buôn vua. Họ đem Trần Thị Dung, cô gái xinh nhất họ, gả
cho cái anh con vua đang chạy loạn thất cơ lỡ vận. Rồi họ Trần xuất
của nhà ra mộ lính hưng binh phò thái tử Sảm về kinh lên ngôi vua.
Sảm thành vua thì Trần Thị Dung dĩ nhiên phải trở thành hoàng hậu.
Giả sử không có chuyện hôn nhân trên thì làm sao họ Trần rời được
cái vạn chài Cửa Bố về được kinh nắm giữ hầu hết những chức vụ
quan trọng trong triều rồi thừa thời cơ mà nắm lấy ngôi vua được.
Vì triều Trần lập nên không từ một võ công dựng nước như các
dòng họ khác nên vẫn có nhiều người còn nhớ đến các vua Lý. Từ
chỗ bất phục dẫn đến đặt chuyện để giễu cợt chơi.
Không để ý đến vẻ mặt Trần Quốc Tảng, Đỗ Vỹ ngắm nghía
chăm chú thế đất Vạn Kiếp:
– Này hiền đệ xem, có đúng là: “Đầu gối ngũ nhạc chân đạp
phượng hoàng, tả có Bắc Đẩu, hữu có Nam Tào” không? Ta thì
không tin rằng thế đất này là thế đất làm tướng nhưng ta thấy đây
quả là đất dụng võ.
– Ấy thế mà thân phụ của tiểu đệ coi trọng việc trồng trọt trong
thung lũng này hơn đấy.
– Không phải là trọng hơn mà là tuỳ thời cơ đó thôi. Cái cọn nước
kia sở dĩ có vì bây giờ cần nhiều thóc lúa nuôi tráng đinh trong thái
ấp. Mà nếu phải dụng võ cũng phải nuôi quân no. Kìa, họ đã nghỉ
tay rồi sao?
– Không, đã xong thế nào được. Cọn dựng rồi còn phải buộc các
ống múc nữa cơ mà. Kìa, cái người mặc áo dài nâu kia chính là thân
phụ tiểu đệ.
Đỗ Vỹ nghển cổ nhìn. Anh cũng không ngờ một bậc vương gia
lừng lẫy như Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn cũng coi trọng nghề
nông tới mức đích thân coi sóc việc đặt một cái cọn nước. Đàng xa,
Trần Quốc Tuấn đang giơ tay giơ chân làm hiệu - chắc rằng ông
đang chỉ dẫn cho những gia nô đứng chung quanh. Họ đang nghỉ
tay nhưng quần áo xắn gọn vẫn để y nguyên, như vậy là họ còn làm
nữa. Trần Quốc Tảng còn đang chăm chú nhìn bố thì Đỗ Vỹ chợt
cười:
– Ta nói đúng mà. Ta đâu có phải là khách của thái ấp Vạn Kiếp,
khách quý của thái ấp ngày hôm nay đang đến kia kìa.
Trần Quốc Tảng nhìn theo tay chỉ của Đỗ Vỹ. Trên sông, ba chiếc
thuyền buồm đang rẽ sóng vào bến. Rõ ràng đây là những chiếc
quan thuyền. Chiếc thuyền nào cũng cắm cờ đỏ khé và thuỷ thủ mặc
nhung phục của lính trạo nhi. Trên mũi thuyền đi đầu có một văn
quan mặc áo màu đại hồng.
– Tại sao hiền huynh biết chắc rằng những người này đến thái ấp
Vạn Kiếp?
– Có gì là khó đoán đâu. Hiền đệ thử xem, trên mũi quan thuyền
thứ hai kia có cái biển gì sơn son, đúng là cái biển “Khâm sai truyền
chỉ” không? Rồi hiền đệ cố đoán xem quan khâm sai kia là ai?
– Ờ... quan học sĩ Đinh Củng Viên. Thế thì quả là họ vào chỗ
thân phụ của em rồi.
– Chứ còn đi đâu nữa. Cả một dải đông bắc này có nhà ai mà
hoàng thượng phải sai quan khâm sai đến truyền chỉ nào?
Đoàn quan thuyền đã vào bến. Những người lính dẫn lộ biển
“Khâm sai” đã lên bờ. Họ dàn những lá cờ đại đi trước rồi đến trống
mở đường. Hai chiếc lọng vàng che chênh vênh bên trên cái biển
sơn son chữ vàng. Quan khâm sai trịnh trọng đi ngay bên dưới biển,
hai bên ngài có hai ngũ lính ngự lâm vác kiếm tuốt trần hộ vệ.
– Kì này thì thân phụ của hiền đệ chắc chẳng còn thì giờ đâu mà
lo những chiếc cọn nước nữa.
– Tại sao vậy hiền huynh?
– Tại vì có việc trọng yếu tới mức phải cần đến đức ông Hưng
Đạo. Có thể một là phải tiếp sứ, hoặc hai là...
– Hai là sao cơ hiền huynh?
– Hai là sắp phải dụng binh. Mà ta nghĩ có lẽ vì cả hai lí do.
Tháng trước khi chơi bên bán đảo Lôi Châu, ta đã được chứng kiến
họ bắt lính dân chài và trưng dụng thuyền vận tải đường biển.
Đỗ Vỹ nhìn chăm chăm người bạn không phân biệt vị thế rồi tiếp:
– Có thể cả hiền đệ cũng sẽ không còn dịp đi chơi hội xuân này ở
vùng biển nữa đâu. Nếu đúng như phán đoán, nếu đến mức phải
triệu đến đức ông Hưng Đạo lên kinh cũng có nghĩa là phải cần đến
tất cả các đức ông chi Vạn Kiếp đó.
Bên dưới ruộng, những người làm cọn nước cũng được biết tin
có khách đến. Họ tất tả kéo nhau tắt cánh đồng chạy về trang trại
nằm dựa lưng vào núi Ngũ Nhạc.
Đỗ Vỹ cả cười:
– Nếu mai hiền đệ rảnh thì xuống Côn Sơn, còn nếu bận thì thôi.
Bây giờ thì ta đi đây.
Đỗ Vỹ cởi cương ngựa nhảy phắt lên yên. Con tuấn mã hí dài
trước khi sải vó phi nhanh. Đỗ Vỹ giơ cao roi ngựa chào từ biệt...
Chương 2
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật mới từ lộ Đà Giang về kinh
đêm hôm qua nhưng phủ Chiêu Văn đã nhộn nhạo quay cuồng như
một đàn ong động tổ. Gia tướng, thư nhi, thị nữ, gia nô, người nào
cũng tất bật để làm cho xong được quá nhiều mệnh lệnh của đức
ông hoàng Sáu. Hàng loạt rèm lụa màu cốm non bị tháo xuống, thay
vào đó là những tấm mành trúc nan vót cầu kì, sản phẩm tuyệt tác
của các cô gái sơn cước. Những người thị nữ chầu hầu hối hả trải
lên mặt những án thư, văn kỉ những tấm gấm thổ dệt cách ô đen đỏ.
Những lưỡi giáo Chiêm Thành gác trên vách cho đẹp cũng được gỡ
xuống. Người ta dùng lụa màu kết hoa mẫu đơn treo những chiếc
khèn lau, những lưỡi dao Lão Qua vỏ tre, một cái tù và sừng trâu
rừng bịt đồng thau thô sơ... Lính trạo nhi dùng xe trâu chở từ bến
Đông về phủ đệ những chậu cây quý lấy giống từ rừng đại ngàn.
Các thư nhi tất bật đo đạc ngoài vườn, trồng lại vườn theo ý của
Trần Nhật Duật. Đức ông hoàng Sáu treo giải thưởng thật hậu cho
những ai tìm được những tên đẹp, tên hay để đặt tên cho những
giống cây lạ mới đem về hôm trước. Dưới bếp còn tíu tít hơn nữa. Ai
cũng biết rằng khi Trần Nhật Duật có mặt ở phủ đệ kinh kì ngày nào
là ngày ấy ông thết tiệc. Khách công hầu, khách văn chương, khách
nước ngoài đang vì việc công hoặc việc riêng mà có mặt ở Thăng
Long đều lui tới vương phủ Chiêu Văn. Trần Nhật Duật nổi tiếng
hiếu khách. Ông tiếp họ rất niềm nở đậm đà, có khi hết sức chí tình
nếu như người khách đó chỉ là một hàn sĩ. Sau những ngày vắng
người chủ hào hoa, vương phủ Chiêu Văn bận rộn tíu tít...
Nhưng trong lúc đó, Trần Nhật Duật đang mải mê xem ngựa ở
tàu ngựa mé sau phủ đệ. Đức ông có một tàu ngựa riêng mấy chục
con tuấn mã. Con ngựa này bền sức để đi đường xa, con này gân
guốc linh hoạt chuyên dùng để cưỡi đi săn đuổi, con này ngoan
dùng để đi chơi phố phường đông người, con này để cưỡi khi đánh
phết, con này dạn khói lửa để cưỡi ra trận. Mỗi con một nết, mỗi con
một sở trường, mỗi con một sắc lông mà con nào cũng đẹp như
ngựa vẽ trong tranh. Ngay ông Tô Nghĩa Đông nổi tiếng là tay xem
tướng ngựa sành nhất hai nước Tống- Việt cũng khó mà kiếm được
một tật để chê ngựa của đức ông hoàng Sáu, Ấy thế mà hôm nay
Trần Nhật Duật và bọn thị mã gia tướng phải ngắm không rời mắt
một con ngựa mới. Con ngựa này do một người buôn biển, dân
châu Ô cực nam, biếu Trần Nhật Duật làm lễ ra mắt khi đoàn thuyền
buôn của ông ta cập bến Đông và được Trần Nhật Duật chỉ bảo cho
cách thức trình báo với ty Đại an phủ sứ coi quản mọi công việc ở
kinh thành. Con ngựa mới hai tuổi, gầy, bộ lông đen xù lên và xơ
xác nhưng nó rất cao, mình trường, bốn vó dài mảnh và bộ lông
đuôi cong ngay từ khấu nom như đuôi gà trống. Có lẽ người Thăng
Long chưa từng nhìn thấy con ngựa nào cao và trường mình đến
thế. Ngay cái vệt vá trắng dọc từ trán xuống đến mũi nó cũng rất lạ.
Con ngựa bây giờ xấu mã nhưng chắc chắn chăm vỗ vài tháng sẽ
thành một con vật mà tất cả khách phong lưu mã thượng kinh thành
phải thèm thuồng tuyệt vọng.
Trần Nhật Duật bẻ một nắm thân cây mía non dứ con ngựa:
– Ăn đi! Ăn đi! Này bọn bay, đã có lần ta gặp một con ngựa cũng
màu lông ô như thế này. Đó thật là một con tuấn mã. Chỉ khác là nó
có một vệt trắng từ khấu đến lưng chừng đuôi. Con ngựa ấy tuyệt
hảo nhưng nó còn không cao và không trường mình bằng con này.
Một thị mã thường được tuỳ tùng Trần Nhật Duật trong những lần
đi xa kinh thành hỏi:
– Thưa đức ông, có phải con ngựa mà đức ông trả giá hai trăm
quan tiền và các luôn cả thanh kiếm quý Bạch Lộ không ạ?
– Ừ, đúng đó. Mà ta chưa hề thấy thằng cha nào cao ngạo như
cái thằng chủ con ngựa ấy. Mi có nhớ hắn hỏi ta câu gì để thay câu
trả lời không?... Hắn hỏi thế này chứ: “Nếu túc hạ có may mắn làm
chủ một con ngựa như thế này thì túc hạ có đem bán nó đi không?”
– Thế thì tôi nhớ ra rồi. Khi ấy đức ông hỏi vặn hắn rằng: “Thế thì
tại sao túc hạ có nó được?”. Hắn ta trả lời: “Tại vì người ta quý kẻ
hèn này mà tặng thôi.”
– Ừ đúng rồi, ta tức lắm nhưng ta phải nhận hắn nói đúng. Tuấn
mã nhường ấy chỉ có tặng nhau chứ đâu có đem bán. Nhưng này, đức ông hỏi các thị mã, - đặt tên cho con ngựa này là gì nào?
Thị mã cận vệ Hoàng Mãnh, viên gia tướng trẻ thân cận tranh nói
ngay:
– Bẩm đức ông, em muốn gọi tên nó là Hắc Long Câu.
– Hừ. Ngựa đen đuôi rồng! Thường quá! Con ngựa đánh phết
của đức ông Chiêu Quốc cũng đã được đặt tên là Hồng Long Câu
rồi mà.
Hoàng Mãnh vốn cùng tuổi với Trần Nhật Duật, anh đã được Nội
cung chọn theo hầu đức ông hoàng Sáu từ khi đức ông mới lẫm
chẫm biết đi. Thực ra Mãnh là bạn chơi đùa, cùng học, cùng tập côn
quyền, cùng ăn, cùng ngủ với Trần Nhật Duật. Khi Trần Nhật Duật
lớn lên được phong vương, vua cha đưa ông ra khỏi hoàng thành
mở phủ Chiêu Văn cho hoàng tử ở, Hoàng Mãnh cũng được đi theo.
Nhưng vị thế hai người bây giờ khác nhau như nước với lửa. Tuy cả
hai người đều phải giữ lễ nhưng thực ra Trần Nhật Duật vẫn coi
Hoàng Mãnh như một người em đồng nhũ đồng tuế, một người bạn
tâm phúc tương tri. Những lúc vắng người hai anh em vẫn thường
suồng sã với nhau. Bây giờ cũng vậy, Hoàng Mãnh buột miệng:
– Thế thì mình gọi quách... Bẩm đức ông, hay ta đặt cho nó một
cái tên nôm.
– Ừ, các ngươi cùng nghĩ thử xem.
Các thị mã ồn lên tranh nhau nói. Người thì muốn ngựa mang tên
là Ô Lĩnh, nhưng người khác thì chỉ muốn gọi là Ô không thôi.
Người thì khen con ngựa có tầm cao như thế thì phải đặt tên nó là
Nêu Tết. Có người thì bảo nó có cái vệt trắng ở mũi sao không đặt
tên nó là con Vá làm cho tất cả cười ồ lên chế giễu anh ta lầm ngựa
thành chó.
Trần Nhật Duật vỗ lên ót ngựa và cảm thấy gân thịt nó rắn đanh.
Ông hoàng trẻ thốt reo lên:
– Phải rồi! Nó là con ngựa ta sẽ cưỡi đi trận. Ta sẽ gọi nó là con
Bão Đêm.
Mấy anh thị mã trong bụng có anh thích có anh không thích
nhưng đều đồng thanh rú lên:
– Bão Đêm! Hay quá, Bão Đêm, mạnh, dữ, ác liệt và bí mật như
cơn Bão Đêm.
Con mắt Hoàng Mãnh tinh nghịch loé sáng lên liếc ngang:
– Bẩm đức ông! Ta thách đức ông Chiêu Quốc để trả nợ lần
trước.
Nghe đến thi ngựa, Trần Nhật Duật mặt sa sầm xuống. Ông
hoàng trẻ nhớ lại lần thi ngựa mấy tháng trước đây ngoài bãi sông
Cơ Xá với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc. Trần Nhật Duật và Trần
Ích Tắc là hai anh em cùng một mẹ sinh ra. Ích Tắc tuy chỉ hơn Nhật
Duật một tuổi nhưng bao giờ cũng là người đầu têu các trò nghịch
ngợm lúc nhỏ tuổi, khi lớn lên vẫn là người dẫn đầu việc học võ, học
văn, việc chiêu nạp tân khách, thủ hạ, việc mở hội bình văn cho đến
việc ăn mặc, việc bày biện trang trí trong phủ đệ. Có thể nói từ lễ
nhạc, bắn cung, cưỡi ngựa, làm thơ, đến các món tạp kĩ như đánh
cờ tướng, đá cầu, luyện ngựa, luyện chó săn, nuôi chim, vẽ tranh
sơn thuỷ, nghề nào Ích Tắc cũng giỏi, cũng hay hoặc cũng có một
chút gì dị biệt để chỉ dẫn cho Trần Nhật D
 








Các ý kiến mới nhất