Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

_mat-ma-tu-co-dien-den-luong-tu

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:13' 02-02-2026
Dung lượng: 10.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mật Mã
THE CODE BOOK. Tác giả Simon Singh
Copyright © 1999 By Simon Singh
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN DO THƯ VIỆN KHTH
TP.HCM THỰC HIỆN General Sciences Library Cataloging-in-Publication
Data
Singh, Simon
Mật mã - Từ cổ điển đến lượng tử / Simon Singh; ng. d. Phạm Văn Thiều,
Phạm Thu Hằng. Tái bản lần thứ 4 - T.P. Hồ Chí Minh : Trẻ, 2014.
552 tr. ; 20 cm.
Nguyên bản: The Code Book
1. Mật mã. I. Phạm Văn Thiều d. II. Phạm Thu Hằng d. III. Ts. IV. Ts:
The Code Book.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Table of Contents
Mật Mã
M ở đ ầ u
1 Bản mật mã của Nữ hoàng Mary xứ Scotland
Sự tiến hóa của thư từ bí mật
Các nhà phân tích mã ả Rập
Phân tích một văn bản mật mã
Phục hưng ở phương Tây
Âm mưu Babington
2 Le chiffre indéchiffrable[1]
Từ sự lãng quên Vigenère đến Người Đeo Mặt Nạ Sắt
Phòng Đen
Babbage và Mật mã Vigenère
Từ Cột nhắn tin đến Kho báu bí mật
3 Cơ giới hóa việc giữ bí mật
Báu vật của Khoa học mật mã
Sự phát triển của Máy mã - Từ Đĩa mã hóa đến máy Enigma
4 Công phá Enigma
Con ngỗng không bao giờ kêu quạc quạc
Đánh cắp sổ mã
Các nhà giải mã vô danh
5 Rào cản ngôn ngữ
Giải mã những ngôn ngữ đã biến mất và văn tự cổ
Bí mật của Linear B
Các âm tiết nối
Một sự lạc hướng vô nghĩa
6 Alice và Bob ra công khai
Thánh nhân đãi kẻ khù khờ
Sự ra đời của Mật mã chìa khóa công khai
Các số nguyên tố bước ra sân khấu
Câu chuyện khác về Mật mã chìa khóa công khai
7 Riêng tư tốt đẹp
Mã hóa trên diện rộng... hay không?
Sự phục hồi của Zimmermann
8 Bước nhảy lượng tử vào tương lai
Tương lai của giải mã
Mật mã lượng tử
Một thách thức giải mã: Mười bước tiến đến 15 ngàn đôla

Các quy tắc tranh giải chính thức đối với người đăng ký ở Mỹ và Canada
Bước 1: Mật mã thay thế đơn giản dùng một bảng chữ cái
Bước 2: Mật mã dịch chuyển Caesar
Bước 3: Mật mã dùng một bảng chữ cái kết hợp với các từ đồng âm
Bước 4: Mật mã Vigenère
Bước 5
Bước 6
Bước 7
Bước 8
Bước 9
Bước 10
thư ngắn:
thư dài:
Phụ Lục
Phụ Lục A
Phụ Lục B
Phụ Lục C
Phụ Lục D
Phụ Lục E
Phụ Lục F
Phụ Lục G
Phụ Lục H
Phụ Lục I
Phụ Lục J
Các trang WEB tham khảo
MẬT MÃ

Sự thôi thúc khám phá những bí mật đã ăn sâu vào bản chất của con
người; ngay cả bộ não ít tò mò nhất cũng bị kích thích trước hứa hẹn sẽ
được chia sẻ những thông tin bị che giấu từ người khác. Một số người
đủ may mắn tìm được một công việc mà bản thân nó đã là nhằm khám
phá những điều bí ẩn, còn hầu hết chúng ta buộc phải làm thăng hoa
những thôi thúc đó bằng việc ngồi giải những trò chơi ô chữ do con
người nghĩ ra để giải trí mà thôi. Những câu chuyện trinh thám hay trò
chơi ô chữ nhằm làm thỏa mãn cho đại đa số, còn việc giải những bản
mật mã thì có lẽ chỉ dành cho một số ít người theo đuổi.
John Chadwick
Giải mã Linear B

M Ở Đ Ầ U
Trong hàng ngàn năm, vua chúa cũng như các tướng lĩnh đều dựa vào
mạng lưới thông tin liên lạc hiệu quả để cai trị đất nước và chỉ huy quân đội
của mình. Đồng thời, tất cả họ đều ý thức được những hậu quả của việc để
lọt thông tin của mình vào tay đối phương, để lộ những bí mật quý giá cho
các nước thù địch cũng như hậu quả của sự phản bội cung cấp thông tin sống
còn cho các lực lượng đối kháng. Chính nỗi lo sợ bị kẻ thù xem trộm đã thúc
đẩy sự ra đời và phát triển của mật mã: đó là những kỹ thuật nhằm che giấu,
ngụy trang thông tin, khiến cho chỉ những người cần được nhận mới có thể
đọc được.
Mong muốn giữ bí mật đã khiến các quốc gia thiết lập những cơ quan mật
mã, có nhiệm vụ đảm bảo an toàn cho thông tin liên lạc bằng việc phát minh
và sử dụng những mật mã tốt nhất có thể được. Trong khi đó, những người
phá mã của đối phương cũng lại cố gắng để giải mã và đánh cắp những bí
mật. Người giải mã là những nhà “giả kim thuật” về ngôn ngữ, một nhóm
người bí ẩn chuyên tìm cách phỏng đoán những từ ngữ có nghĩa từ những ký
hiệu vô nghĩa. Lịch sử của mật mã là câu chuyện về cuộc chiến kéo dài hàng
thế kỷ giữa người lập mã và người giải mã, một cuộc chạy đua vũ khí trí tuệ
đã có tác động rất to lớn đến tiến trình của lịch sử.
Khi viết cuốn Mật mã này, tôi có hai mục đích chính. Một là nhằm phác
họa sự tiến hóa của mật mã. Từ tiến hóa dùng ở đây là hoàn toàn thích hợp vì
sự phát triển của mật mã cũng có thể coi là một cuộc đấu tranh tiến hóa. Một
mật mã luôn bị người phá mã tấn công. Khi người phá mã đã tìm ra một vũ
khí mới để phát hiện điểm yếu của một mật mã thì mật mã đó không còn hữu
dụng nữa. Khi đó, hoặc nó sẽ bị xóa sổ hoặc nó sẽ được cải tiến thành một
loại mật mã mới, mạnh hơn. Đến lượt mình, mật mã mới này chỉ phát triển
mạnh mẽ cho tới khi người phá mã lại xác định được điểm yếu của nó, và cứ
tiếp tục mãi như vậy. Điều này cũng tương tự như tình huống đối mặt với
một giống vi khuẩn gây bệnh chẳng hạn. Vi khuẩn sống, phát triển mạnh và
tồn tại cho đến khi bác sĩ tìm ra chất kháng sinh làm lộ ra những điểm yếu
của vi khuẩn và tiêu diệt nó. Vi khuẩn buộc phải tiến hóa và lừa lại kháng

sinh, và nếu thành công thì chúng sẽ lại phát triển mạnh mẽ và tái xác lập trở
lại. Vi khuẩn liên tục bị buộc phải tiến hóa để sống sót trước sự tấn công dữ
dội của các loại kháng sinh mới.
Cuộc chiến liên miên giữa người lập mã và người phá mã đã thúc đẩy
hàng loạt những đột phá khoa học đáng kể. Người lập mật mã đã liên tục cố
gắng xây dựng những loại mã mạnh hơn bao giờ hết để bảo vệ thông tin,
trong khi những người phá mã cũng lại kiên trì tìm ra những phương pháp
mạnh hơn nữa để phá vỡ chúng. Trong những cố gắng nhằm phá vỡ và bảo
vệ thông tin bí mật, cả hai phía đã phải huy động nhiều lĩnh vực chuyên môn
và công nghệ khác nhau, từ toán học cho tới ngôn ngữ học, từ lý thuyết
thông tin cho đến lý thuyết lượng tử. Đổi lại, những người lập mã và phá mã
cũng đã làm giàu thêm cho những lĩnh vực này và thành quả của họ đã đẩy
nhanh tốc độ phát triển công nghệ, mà đáng kể nhất là trong lĩnh vực máy
tính hiện đại.
Lịch sử được phân đoạn theo các loại mật mã. Chúng đã quyết định kết
cục của các cuộc chiến và dẫn đến cái chết của nhiều vị vua chúa và nữ
hoàng. Chính vì vậy mà tôi có thể sử dụng những câu chuyện về các âm mưu
chính trị và những truyền thuyết về cuộc sống và cái chết để minh họa cho
những bước ngoặt quan trọng trong quá trình tiến hóa của mật mã. Lịch sử
mật mã phong phú một cách kỳ lạ khiến tôi buộc phải bỏ bớt đi rất nhiều câu
chuyện hấp dẫn. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm những câu chuyện hoặc
những người phá mã mà bạn ưa thích, tôi xin giới thiệu với các bạn một
danh sách ở phần đọc thêm, nhằm giúp cho những ai muốn tìm hiểu vấn đề
này một cách chi tiết hơn.
Sau khi đã bàn luận về sự tiến hóa của mật mã và những tác động của nó
đến lịch sử, mục đích thứ hai của cuốn sách là nhằm chứng minh chủ đề này
ngày nay còn trở nên hợp thời hơn bao giờ hết. Vì thông tin trở thành một
loại hàng hóa có giá trị ngày một gia tăng và vì cuộc cách mạng về truyền
thông làm thay đổi cả xã hội nên quá trình mã hóa thông tin sẽ đóng một vị
trí ngày càng quan trọng trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Ngày nay,
các cuộc gọi điện thoại của chúng ta đều qua vệ tinh và các thư điện tử (email) đi qua nhiều máy tính khác nhau, đồng thời cả hai loại giao tiếp này
đều có thể bị nghe hoặc xem trộm khá dễ dàng, do vậy có nguy cơ làm tổn

hại đến những bí mật riêng tư của chúng ta. Cũng tương tự như vậy, vì ngày
càng có nhiều hoạt động kinh doanh được thực hiện qua Internet, nên sự bảo
mật phải được thực hiện để bảo vệ cho các công ty và khách hàng của họ.
Mã hóa là cách duy nhất để bảo vệ những bí mật riêng tư của chúng ta và
bảo đảm cho sự thành công của thị trường kỹ thuật số. Nghệ thuật truyền
thông bí mật, hay nói cách khác là khoa học mật mã, sẽ cung cấp cả khóa lẫn
chìa khóa của Thời đại Thông tin.
Tuy nhiên, nhu cầu ngày một tăng của xã hội đối với khoa học mật mã lại
mâu thuẫn với yêu cầu tuân thủ luật pháp và bí mật quốc gia. Trong nhiều
thập kỷ, cảnh sát và các cơ quan tình báo đã sử dụng biện pháp nghe trộm để
thu thập chứng cứ chống lại bọn khủng bố và các tập đoàn tội phạm có tổ
chức, song sự phát triển của những mã cực mạnh ngày nay đang đe dọa sẽ
làm mất đi giá trị của việc nghe trộm đó. Khi chúng ta đang bước vào thế kỷ
21, những người theo chủ nghĩa tự do cá nhân đang gây sức ép cho việc sử
dụng rộng rãi mã hóa để bảo vệ bí mật cá nhân. Đấu tranh cùng với họ là các
doanh nhân, những người đòi hỏi phải mã hóa mạnh để bảo vệ bí mật giao
dịch trong một thế giới phát triển chóng mặt của thương mại điện tử. Trong
khi đó, các lực lượng luật pháp và trật tự lại vận động chính phủ hạn chế việc
sử dụng mã hóa. Câu hỏi đặt ra là, chúng ta đánh giá cao việc nào hơn - bí
mật riêng tư của chúng ta hay một lực lượng cảnh sát có hiệu quả? Hay cần
phải có một sự thỏa hiệp?
Mặc dù mã hóa ngày nay có ảnh hưởng rất lớn đến các hoạt động dân sự,
thì cũng cần lưu ý rằng mã hóa trong quân sự cũng vẫn là một lĩnh vực quan
trọng. Người ta cho rằng Thế chiến thứ I là cuộc chiến tranh của các nhà hóa
học, bởi vì khí mù tạt và clo lần đầu tiên được sử dụng, còn Thế chiến thứ II
là chiến tranh của các nhà vật lý, vì bom nguyên tử đã được thả xuống.
Tương tự, người ta cho rằng Thế chiến thứ III sẽ là cuộc chiến tranh của các
nhà toán học bởi vì các nhà toán học sẽ điều khiển loại vũ khí vĩ đại tiếp theo
của chiến tranh - đó là thông tin. Các nhà toán học là những người chịu trách
nhiệm phát triển các loại mã mà ngày nay đang được sử dụng để bảo vệ
thông tin quân sự. Không có gì đáng ngạc nhiên khi chính các nhà toán học
cũng lại là những người tiên phong trong cuộc chiến phá các loại mật mã đó.
Trong khi mô tả sự tiến hóa của mật mã và tác động của chúng đến lịch

sử, tôi cũng tự cho phép mình đi lạc đề một chút. Chương 5 mô tả việc giải
mã những văn bản cổ khác nhau, trong đó có bản Linear B và chữ viết tượng
hình cổ Ai Cập. Về mặt kỹ thuật, mã hóa liên quan đến những cách truyền
thông tin được thiết kế một cách cẩn trọng nhằm giữ bí mật đối với kẻ thù,
trong khi đó thì những văn bản của các nền văn minh cổ đại lại hoàn toàn
không có ý định viết ra để cho không ai có thể đọc được: đó chỉ đơn giản là
do chúng ta đã mất khả năng diễn giải chúng mà thôi. Tuy nhiên, những kỹ
năng cần thiết để khám phá ý nghĩa của những văn bản khảo cổ học cũng có
quan hệ rất gần gũi với nghệ thuật giải mã. Ngay từ khi đọc cuốn Giải mã
Linear B của John Chadwick mô tả quá trình đọc một văn bản cổ được tìm
thấy ở Địa Trung hải, tôi đã bị cuốn hút bởi thành quả trí tuệ đáng kinh ngạc
của những người đã giải mã được các văn bản của tổ tiên chúng ta, nhờ đó
chúng ta mới biết được nền văn minh, tôn giáo và cuộc sống hằng ngày của
họ.
Đối với những người ưa chính xác, tôi xin được thứ lỗi vì tựa đề của cuốn
sách. Mật mã ở đây không chỉ nói riêng về mã từ (code). Thuật ngữ “mã từ”
hàm ý một dạng truyền thông bí mật rất cụ thể, một dạng mã đã lụi tàn qua
nhiều thế kỷ sử dụng. Ở mã từ, một từ hay một cụm từ được thay thế bởi một
từ, một con số hay một ký hiệu. Chẳng hạn, các điệp viên đều có bí danh, tức
là các từ được sử dụng thay cho tên thật nhằm che giấu nhân dạng của mình.
Tương tự, cụm từ Attack at dawn (Tấn công vào lúc bình minh) có thể được
thay thế bằng một từ mã là Jupiter, và từ này sẽ được gửi cho người chỉ huy
trận đánh như một cách gây khó khăn cho đối phương. Nếu sở chỉ huy và
viên tướng ngoài mặt trận đã thống nhất về mật mã trước đó, thì nghĩa của
Jupiter là rất rõ ràng đối với người nhận, nhưng sẽ chẳng có nghĩa gì với đối
phương khi chặn bắt được nó. Một cách tạo mã khác là mã thay thế chữ cái
(cipher), đây là một kỹ thuật thực hiện ở mức độ cơ bản hơn, bằng cách thay
thế các chữ cái chứ không phải là cả một từ hoặc cụm từ. Ví dụ, mỗi chữ cái
trong một cụm từ có thể được thay thế bằng chữ cái tiếp theo trong bảng chữ
cái, chẳng hạn như A được thay bằng B, B bằng C, v.v... Như vậy thì Attack
at dawn sẽ trở thành Buubdl bu ebxo. Mã chữ cái đóng vai trò không thể
thiếu trong khoa học mã hóa và vì vậy lẽ ra tên cuốn sách này phải là Mã từ
và mã chữ cái mới phải. Tuy nhiên, tôi đã bỏ qua sự quá chi li đó cho ngắn

gọn hơn.
Trước khi kết thúc phần giới thiệu, tôi phải lưu ý đến một vấn đề mà bất
kỳ tác giả nào viết về vấn đề khoa học mật mã cũng gặp phải: đó là khoa học
giữ bí mật, nhìn chung là một môn khoa học bí mật. Rất nhiều nhân vật trong
cuốn sách này chưa bao giờ có được sự công nhận thành quả lúc sinh thời, vì
những đóng góp đó không được công chúng biết đến rộng rãi, khi những
phát minh của họ vẫn còn có giá trị quân sự hay ngoại giao. Trong khi tìm
kiếm tư liệu để viết cuốn sách này, tôi đã được nói chuyện với nhiều chuyên
gia thuộc Tổng hành dinh Thông tin Liên lạc của Chính phủ Anh (GCHQ),
họ đã tiết lộ nhiều chi tiết về một nghiên cứu khác thường đã được thực hiện
trong những năm 1970, chỉ vừa mới được loại khỏi danh mục bí mật. Chính
nhờ sự công bố này mà ba trong số những nhà khoa học mật mã vĩ đại nhất
trên thế giới đã có được sự công nhận mà họ xứng đáng được hưởng. Tuy
nhiên, sự tiết lộ này cũng chỉ có tác dụng nhắc nhở tôi rằng vẫn có những
công trình lớn lao hơn đang được xúc tiến mà trong đó không một nhà văn
khoa học nào kể cả tôi ý thức được. Các tổ chức như GCHQ và Cơ quan An
ninh Quốc gia Mỹ vẫn không ngừng tiến hành những nghiên cứu bí mật về
khoa học mật mã, có nghĩa là những khám phá của họ vẫn bí mật và những
cá nhân làm ra chúng vẫn còn vô danh.
Mặc cho những vấn đề bí mật của chính phủ và những nghiên cứu còn
đang được giữ kín, tôi vẫn dành chương cuối cùng trong cuốn sách này để dự
đoán về tương lai của mật mã. Xét cho cùng, thì chương này là một cố gắng
để xem xem liệu chúng ta có thể dự đoán ai sẽ chiến thắng trong cuộc đấu
tranh tiến hóa giữa người tạo mã và người phá mã không. Liệu người lập mật
mã có thiết kế được loại mã không thể phá được và thành công trong cuộc
tìm kiếm cách giữ bí mật tuyệt đối của mình hay không? Hay những người
phá mã sẽ chế tạo được một cỗ máy có thể giải mã bất kỳ thông tin nào? Hãy
luôn nhớ rằng một số trong nhiều bộ não vĩ đại nhất hiện đang làm việc ở
những phòng thí nghiệm bí mật, và họ nhận được những khoản tài trợ nghiên
cứu khổng lồ, nên hiển nhiên là một vài tuyên bố của tôi trong chương cuối
cũng có thể không chính xác. Chẳng hạn, tôi cho rằng các máy tính lượng tử
- những máy tính có tiềm năng phá được tất cả loại mã đang dùng hiện nay hiện vẫn đang ở trong một giai đoạn cực kỳ sơ khai, song cũng có thể có ai

đó đã chế tạo được một cái rồi cũng nên. Những người duy nhất có thể chỉ ra
sai lầm của tôi cũng lại chính là những người không được quyền tự do tiết lộ
chúng.

1. BẢN MẬT MÃ CỦA NỮ HOÀNG MARY XỨ
SCOTLAND
Buổi sáng thứ bảy, ngày 15 tháng Mười năm 1586, Nữ hoàng Mary bước
vào phòng xử án chật ních người tại Lâu đài Fotheringhay. Những năm tù
đày và sự hành hạ của căn bệnh phong thấp đã có những ảnh hưởng nhất
định nhưng trông bà vẫn rất tôn quý, điềm tĩnh và uy nghi một cách không
thể phủ nhận. Được dìu bởi người thầy thuốc của mình, bà đi qua các quan
tòa, các vị chức sắc và những người chứng kiến, rồi tiến đến ngai vàng được
đặt ở giữa căn phòng hẹp và dài. Mary đã tưởng chiếc ngai vàng đó như là
một cử chỉ tôn kính đối với bà, nhưng bà đã lầm. Ngai vàng đó tượng trưng
cho Nữ hoàng Elizabeth vắng mặt, kẻ thù và cũng là người xét xử Mary.
Mary đã được người ta nhã nhặn dẫn đi khỏi ngai vàng về phía đối diện của
căn phòng, tới chỗ ngồi của bị cáo, một chiếc ghế bọc nhung màu đỏ thẫm.


Hình 1 Nữ hoàng Mary xứ Scotland.

Nữ hoàng Mary của Scotland đã bị mang ra xét xử vì mưu đồ tạo phản.
Bà bị buộc tội đã âm mưu ám sát Nữ hoàng Elizabeth để cướp lấy vương
miện nước Anh. Ngài Francis Walsingham, quan Thượng thư của triều đình
Elizabeth, đã cho bắt những kẻ đồng phạm, lấy lời khai và đã hành quyết Nữ
hoàng Mary xứ Scotland họ. Giờ đây ông ta dự định sẽ chứng minh Mary

chính là chủ mưu và vì vậy bà cũng là kẻ phạm tội và cũng sẽ phải nhận án
tử hình.
Walsingham biết rằng trước khi có thể xử tử Mary, ông phải thuyết phục
được Nữ hoàng Elizabeth về sự phạm tội của bà ta. Mặc dù Elizabeth rất
khinh ghét Mary, song bà ta cũng có một số lý do để lưỡng lự trong việc xử
tội chết với Mary. Thứ nhất, Mary là một Nữ hoàng của xứ Scotland và sẽ có
nhiều người đặt câu hỏi liệu một tòa án Anh có thẩm quyền để xử tử một
người đứng đầu một quốc gia nước ngoài hay không. Thứ hai, xử tử Mary có
thể sẽ tạo ra một tiền lệ xấu - nếu nhà nước cho phép giết một Nữ hoàng thì
sau này có thể những kẻ nổi loạn sẽ ít e dè hơn khi giết một người khác, ấy
là Elizabeth. Thứ ba, Elizabeth và Mary là chị em họ, nên mối ràng buộc
huyết thống khiến Elizabeth còn khó khăn hơn trong việc ra lệnh xử tử
Mary. Tóm lại, Elizabeth sẽ chuẩn y xử tử Mary chỉ khi Walsingham có thể
chứng minh được một cách chắc chắn rằng bà ta có tham gia trong âm mưu
phản nghịch.
Những kẻ mưu phản là một nhóm những nhà quý tộc Anh trẻ tuổi theo
Thiên chúa giáo, họ dự định lật đổ Elizabeth, người theo đạo Tin lành, và để
Mary, cũng theo đạo Thiên chúa, lên thay. Điều rõ ràng đối với phiên tòa là
Mary đúng là thủ lĩnh của nhóm mưu phản, nhưng lại chưa có bằng chứng là
bà đã chấp thuận tham gia âm mưu này. Thực tế Mary là chủ mưu. Thách
thức đối với Walsingham là phải chứng minh được mối liên hệ không thể
chối cãi giữa Mary và những kẻ mưu phản.
Vào buổi sáng xét xử, Mary mặc một chiếc áo nhung đen sầu não, ngồi
một mình trên ghế bị cáo. Trong những vụ án phản nghịch, bị cáo bị cấm
không được có cố vấn và không được phép gọi nhân chứng. Tuy nhiên, cảnh
ngộ của bà cũng không phải là vô vọng vì bà đã rất thận trọng đảm bảo để tất
cả thư từ của bà với những kẻ mưu phản đều đã được viết bằng mật mã. Mật
mã đã biến lời lẽ của bà thành dãy những ký hiệu vô nghĩa, và Mary tin rằng
ngay cả khi Walsingham có bắt được những lá thư đó thì ông ta cũng chẳng
hiểu được ý nghĩa của chúng. Nếu nội dung những lá thư này vẫn còn là điều
bí ẩn thì chúng sẽ không thể được sử dụng làm bằng chứng chống lại bà
được. Tuy nhiên, toàn bộ điều này còn tùy thuộc vào giả định rằng mật mã
của bà không bị phá vỡ.

Thật không may cho Mary, Walsingham không chỉ đơn thuần là một quan
Thượng thư, ông ta còn là một thám tử bậc thầy của nước Anh. Ông ta đã bắt
được thư từ của Mary gửi cho những kẻ mưu phản và ông biết chính xác ai
là người có khả năng giải mã chúng. Thomas Phelippes là một chuyên gia
hàng đầu quốc gia về việc giải mã và trong nhiều năm, ông đã giải mã được
thư từ của những kẻ âm mưu chống lại Nữ hoàng Elizabeth, nhờ đó đã cung
cấp những bằng chứng cần thiết để kết tội họ. Nếu ông ta có thể giải mã
được những lá thư tội lỗi giữa Mary và đồng phạm thì cái chết của bà là
không thể tránh khỏi. Nói cách khác, nếu mật mã của Mary đủ mạnh để che
giấu được bí mật của mình thì bà sẽ có cơ may sống sót. Đây không phải là
lần đầu tiên mạng sống của một người phụ thuộc vào sức mạnh của một mật
mã.

Sự tiến hóa của thư từ bí mật
Một số bản chữ viết bí mật đầu tiên có từ thời Herodotus, mà theo nhà
triết học và chính khách La mã Cicero, thì ông là “cha đẻ của lịch sử”. Trong
cuốn Lịch sử, Herodotus đã ghi lại theo niên đại những xung đột giữa Hy
Lạp và Ba Tư ở thế kỷ thứ 5 trước công nguyên (CN), mà ông coi như là sự
đối nghịch giữa tự do và nô lệ, giữa nền độc lập của nhà nước Hy Lạp và sự
áp bức của người Ba Tư. Theo Herodotus, chính nghệ thuật viết thư bí mật
đã cứu người Hy Lạp thoát khỏi sự thống trị của Xerxes, Vua của các vị
Vua, tên bạo chúa của người Ba Tư.
Mối cừu hận kéo dài giữa Hy Lạp và Ba Tư đi đến hồi kết ngay sau khi
Xerxes bắt đầu xây dựng một thành phố tại Perspolis, kinh đô mới của
vương quốc ông ta. Những cống vật và quà tặng được gửi đến từ khắp mọi
miền của vương quốc và những nước láng giềng, ngoại trừ Athens và Sparta.
Quyết định báo thù cho sự lăng nhục này, Xerxes bắt đầu huy động lực
lượng, và tuyên bố rằng “chúng ta sẽ mở rộng đế chế Ba Tư đến nơi mà biên
giới của nó là bầu trời riêng của Chúa, mặt trời sẽ không bao giờ chiếu sáng
trên bất kỳ miền đất nào nằm ngoài biên giới của Ba Tư”. Ông đã dành 5
năm sau đó để tập hợp một cách bí mật đội quân chiến đấu lớn nhất trong
lịch sử, và sau đó, năm 480 trước CN, ông đã sẵn sàng tung ra một cuộc tấn
công bất ngờ.
Tuy nhiên, việc xây dựng quân đội Ba Tư đã bị Demaratus, một người Hy
Lạp bị trục xuất khỏi quê hương và đang sinh sống tại thành phố Susa của
người Ba Tư, chứng kiến. Mặc dù bị trục xuất song ông vẫn trung thành với
đất nước Hy Lạp, ông đã quyết định gửi thư báo cho người Sparta biết về kế
hoạch tấn công của Xerxes. Khó khăn là ở chỗ làm thế nào để gửi thư đi mà
không bị lính gác Ba Tư chặn bắt. Herodotus viết:
Vì sự nguy hiểm bị phát hiện là rất lớn, nên chỉ có một cách mà theo
ông có thể làm cho bức thư lọt qua được, đó là cạo lớp sáp bên ngoài
hai thanh gỗ dầy, viết trên gỗ những gì Xerxes dự định làm, rồi phủ một
lớp sáp ra ngoài. Bằng cách này, những thanh gỗ, trông rõ ràng là sạch

trơn, sẽ không gặp phải khó khăn gì với bọn lính gác trên suốt đường đi.
Khi thông báo đến nơi, không ai đoán ra điều bí mật, cho đến khi, theo
tôi hiểu, con gái của Cleomenes là Gogo, vợ của Lenoidas, đã đoán
được và nói với những người khác rằng nếu cạo lớp sáp đi, họ sẽ thấy
những gì viết trên gỗ phía bên dưới. Và người ta đã làm như vậy; bức
thông báo lộ ra, được đọc và sau đó được chuyển tới những người Hy
Lạp khác.
Nhờ có sự báo trước, những người Hy Lạp đến lúc đó còn chưa phòng bị
gì, giờ bắt đầu hối hả tự vũ trang. Lợi nhuận từ những mỏ bạc thuộc sở hữu
của nhà nước, thường vẫn đem chia cho dân chúng thì nay được chuyển hết
cho quân đội để chế tạo hai trăm tàu chiến.
Xerxes đã đánh mất yếu tố sống còn là sự bất ngờ và, ngày 23 tháng Chín
năm 480 trước CN, khi tàu chiến của Ba Tư tiến vào Vịnh Salamis gần
Athens, thì người Hy Lạp đã sẵn sàng chống trả. Mặc dù Xerxes tin rằng ông
ta đã bao vây hải quân của Hy Lạp, song người Hy Lạp đã khôn ngoan nhử
cho tàu Ba Tư vào trong vịnh. Người Hy Lạp biết rằng tàu của họ, nhỏ hơn
và ít hơn về số lượng, sẽ bị đập tan ngoài biển rộng, nhưng họ tin rằng bên
trong ranh giới của vịnh, họ có thể thắng thế nhờ khôn ngoan hơn người Ba
Tư. Vì gió đổi hướng, người Ba Tư nhận thấy họ đang bị đẩy vào vịnh và bị
buộc phải chiến đấu theo những điều kiện của người Hy Lạp. Công chúa Ba
Tư là Artemisia bị bao vây từ ba phía và cố gắng quay đầu ra biển nhưng lại
đâm sầm vào một chiếc tàu của phía mình. Thế là cơn hoảng loạn bắt đầu.
Càng lúc càng nhiều tàu Ba Tư đâm vào
 
Gửi ý kiến