_tu-beirut-toi-jerusalem-hanh-trinh-di-de-hieu-trung-dong-cua-mot-nguoi-my

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:54' 02-02-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:54' 02-02-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
THÔNG TIN EBOOK
THỬ THÁCH MỌT SÁCH - 2015
Bảng niên đại khu vực Trung đông
1. Mở đầu: Từ Minneapolis tới Beirut
2. Bạn muốn ăn luôn hay chờ đến khi ngừng bắn đã?
3. Beirut: Thành phố của những phiên bản
4. Luật Hama
5. Chiến binh Teflon
6. Bên trong chiếc kính vạn hoa: cuộc xâm lược của người Israel vào
Liban
7. Chơi Poker kiểu Beirut
8. Betty Crocker ở địa ngục của Dante
9. Kết thúc điều gì đó
10. Đã đến lúc phải đi
11. Những cơn gió tạt
12. Dù sao chăng nữa, thành phố này thuộc về ai?
https://thuviensach.vn
THÔNG TIN EBOOK
Tên Sách: Từ Beirut đến Jerusalem - Hành Trình “Đi Để Hiểu” Trung Đông
Của Một Người Mỹ
Thể loại: Political
Tác Giả: Thomas L. Friedman
Ebook: Hanhdb - TVE-4U
Read Freely - Think Freedom
Alphabook - Nhà xuất bản Công An Nhân Dân
https://thuviensach.vn
THỬ THÁCH MỌT SÁCH - 2015
Mỗi tuần chỉ cần thanh toán một cuốn, quá dễ dàng để có cả năm đầy ý
nghĩa. Là một người đọc chân chính, tôi và bạn phải có trách nhiệm phải
khuyến khích và chia sẻ về đam mê văn hóa đọc. Tôi tin tri thức là một
trong những cách tốt nhất để rút ngắn khoảng cách giữa người Việt với các
dân tộc khác. Thói quen đọc sẽ làm nên một con người trưởng thành, một
xã hội có văn hóa, một dân tộc hùng cường.
Topic: Thử thách mọt sách
Topic: Thể lệ thử thách mọt sách
https://thuviensach.vn
Bảng niên đại khu vực Trung đông
1882 Kết quả của việc bức hại người Do Thái ở Nga và Romani một
năm trước đó, cuộc nhập cư trên diện rộng đầu tiên của người Do Thái định
cư sang Palestine được tiến hành.
1891 Các nhân sĩ người Ả rập ở Jerusalem gửi đơn thỉnh cầu tới chính
quyền Ottoman ở Constantinople yêu cầu ngăn cấm việc nhập cư của người
Do Thái tới Palestine và việc mua bán đất của người Do Thái.
1896 Nhà báo người Áo, Theodor Herzl, người sáng lập của Chủ nghĩa
Phục quốc Do Thái hiện đại, xuất bản cuốn sách Nhà nước của người Do
Thái, trong đó lý luận rằng “Vấn đề của người Do Thái” có thể được giải
quyết chỉ bằng cách thiết lập một nhà nước Do Thái ở Palestine hoặc ở một
nơi nào đó, vì thế người Do Thái có thể sống tự do mà không còn lo sợ bị
bức hại. Một năm sau đó, Herzl tổ chức Đại hội Chủ nghĩa Phục quốc Do
Thái lần đầu ở Basel, Thụy Sĩ, để thúc đẩy việc nhập cư tới Palestine.
1908 Những tờ báo tiếng Ả rập của người Palestine đầu tiên xuất hiện:
Al-Quds ở Jerusalem và Al-Asma'i ở Jaffa.
1916 Anh, Pháp và Nga ký kết hiệp định Sykes-Picot, chia nhỏ Đế chế
Ottoman sau thất bại của nó tại Thế chiến thứ Nhất. Như quy định trong
Hiệp định, Anh sẽ giành quyền kiểm soát khu vực Palestine, còn Pháp là
khu vực bây giờ là Liban và Syria.
1917 Tuyên bố Balfour được Bộ trưởng Ngoại giao Anh, Arthur J.
Balfour ban hành, xác nhận ý tưởng thành lập một “quê hương bản quán”
cho dân tộc Do Thái ở Palestine.
1920 Sắc lệnh của người Pháp về việc thành lập Liban Lớn hơn, nối
vùng núi Liban với các khu vực Beirut, Tripoli, Sidon, Tyre, Akkar, và
Thung lũng Bekaa.
1936-1939 Bị ảnh hưởng bởi các phong trào chủ nghĩa dân tộc của các
nước Ả rập khác, người Ả rập ở Palestine nổi dậy với nỗ lực nhằm ngăn
chặn việc thành lập quê hương cho người Do Thái ở Palestine. Cả những
https://thuviensach.vn
người Do Thái định cư với các đơn vị quân đội của Anh đều rơi vào cuộc
tấn công.
1943 Các lãnh đạo Hồi giáo và Cơ đốc giáo của Liban thống nhất một
“Công ước Dân tộc” để chia sẻ quyền lực và cân bằng những khuynh hướng
giữa Ả rập và phương Tây ở Liban, cho phép quốc gia của họ trở thành một
nhà nước độc lập, không phụ thuộc vào nước Pháp.
1947 Liên Hợp Quốc biểu quyết phân chia Palestine thành hai nhà nước,
một cho người Do Thái và một cho người Ả rập Palestine, với Jerusalem trở
thành một vùng đất quốc tế.
1948 Anh rút khỏi Palestine. Thay vào đó là thi hành kế hoạch chia cắt
của Liên Hợp Quốc, các nhà nước Ả rập xung quanh kết hợp với người
Palestine ở địa phương cố gắng ngăn cản việc xuất hiện một nhà nước Do
Thái. Israel được thành lập bằng bất cứ giá nào; Jordan chiếm cứ Bờ Tây,
còn Ai Cập là Dải Gaza.
1956 Israel kết hợp cùng với lực lượng của Anh và Pháp tấn công Ai
Cập của Gamal Abdel Nasser, chiếm cứ hầu hết vùng Bán đảo Sinai. Dưới
áp lực của cả Liên Hợp Quốc và Liên bang Xô viết, sau đó Israel đã rút
quân.
1958 Cuộc nội chiến đầu tiên ở Liban nổ ra, và có khoảng 15 nghìn lính
Mỹ được gửi tới Beirut để giúp ổn định tình hình.
1964 Những người đứng đầu nhà nước Ả rập do Nasser lãnh đạo thành
lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) ở Cairo.
1967 Isarel lao vào một cuộc tấn công trước chống lại Ai cập, Syria, và
Jordan vì họ đang chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại nhà nước Do Thái.
Cuộc chiến Sáu ngày kết thúc với Israel chiếm cứ Bán đảo Sinai, Cao
nguyên Golan, Dải Gaza, và Bờ Tây.
1969 Yasir Arafat, lãnh đạo của tổ chức du kích al-Fatha, được bầu chọn
làm chủ tịch ủy ban chấp hành của PLO.
1970 Quân đội của vua Hussein đánh bại lực lượng du kích PLO của
Arafat trong một cuộc nội chiến nắm quyền kiểm soát Jordan.
1973 Ai Cập và Syria lao vào một cuộc tấn công bất ngờ chống lại Israel
để giành chiếm cứ Bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan.
https://thuviensach.vn
1974 Hội nghị thượng đỉnh Ả rập ở Rabat, Ma-rốc phê chuẩn PLO là
“đại diện hợp pháp và duy nhất” của người Palestine.
1975 Cuộc nội chiến bùng nổ một lần nữa ở Liban.
1977 Tổng thống Ai Cập, Anwar Sadat tới Jerusalem, phát biểu trước
nghị viện Israel, và đề nghị một nền hòa bình trọn vẹn đổi lại là Isreal phải
rút hoàn toàn ra khỏi Sinai.
1979 Ai Cập và Israel ký kết hiệp định hòa bình.
1982, Tháng Hai Chính phủ Syria tàn sát hàng nghìn thường dân trong
khi đàn áp cuộc nổi loạn của người Hồi giáo nổi dậy ở thị xã Hama.
1982 từ tháng Sáu tới tháng Chín Israel xâm lược Liban. Lãnh đạo lực
lượng quân đội của Phalange, Bashir Gemayel bị ám sát sau khi được bầu
làm Tổng thống Liban. Lực lượng quân đội Phalang đã tiêu diệt hàng trăm
người Palestine ở trong các trại tị nạn Sabra và Shatila ở Beirut, trong khi
lực lượng Isrel bao vây những trại tị nạn này. Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ tới
Beirut với vai trò là lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia.
1983 Đại sứ quán Hoa Kỳ và trụ sở của Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ ở
Beirut bị nổ tung do vụ đánh bom cảm tử bằng xe hơi.
1984, Tháng Hai Chính quyền Liban của Tổng thống Amin Gemayel bị
đập tan sau khi người Hồi giáo Shiite và Druse ở Tây Beirut lao vào một
cuộc nổi dậy chống lại quân đội Liban. Tổng thống Reagan từ bỏ hy vọng
tái lập Liban và ra lệnh cho lực lượng Lính thủy đánh bộ trở về nước.
1984, Tháng Chín Đảng Lao động và Đảng Likud của Israel cùng gia
nhập vào một chính quyền thống nhất quốc gia sau khi những cuộc bầu cử
tháng Bảy kết thúc trong bế tắc.
1985 Israel đơn phương rút lực lượng quân đội khỏi hầu hết các vùng ở
Liban.
1987, Tháng Mười hai Người Palestine nổi dậy, hay là intifada, bắt đầu ở
Bờ Tây và Dải Gaza.
1988, Tháng Mười hai Arafat thừa nhận quyền tồn tại của Israel. Bộ
trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, George P. Shultz cho phép mở một cuộc đối
thoại với PLO. Đảng Likud và Đảng Lao động cùng liên kết để thành lập
https://thuviensach.vn
một chính quyền thống nhất quốc gia khác ở Israel sau cuộc bầu cử không
có kết quả khác.
https://thuviensach.vn
1. Mở đầu: Từ Minneapolis tới Beirut
Tháng Sáu năm 1979, tôi và vợ tôi, Ann đáp chuyến bay của Hãng Hàng
không Trung Đông từ Geneva tới Beirut, mất bốn giờ bay trên chiếc máy
bay 707 màu đỏ trắng. Đó là khởi đầu cho chuyến đi gần mười năm ở Trung
Đông được nói tới trong cuốn sách này. Khởi đầu cũng như kết thúc, đều
bất ngờ.
Khi chúng tôi đứng xếp hàng lần lượt đi qua máy dò kim loại trước cửa
lên máy bay, chúng tôi chợt nhận ra mình đang đứng ngay sau ba người đàn
ông Liban vạm vỡ, râu ria um tùm. Cứ mỗi lúc tiến gần tới cái máy dò kim
loại thì nó lại càng kêu to và đèn đỏ sáng lòe, như thể là một chiếc máy trò
chơi pinball đang nhả đạn. Cảnh sát Thụy Sĩ lập tức lao vào kiểm soát các
vị hành khách của chúng ta, hóa ra đó không phải là những tên không tặc
mang đầy súng và dao, mặc dù họ mang theo vô vàn kim loại; đó chỉ là một
gia đình người Armeni chuyên nghề kim hoàn đem theo những thỏi vàng
quay trở lại Beirut. Mỗi chàng trai trong gia đình đeo một chiếc thắt lưng
đặc biệt có tới sáu thỏi vàng quanh bụng, và mỗi người cũng mang một hộp
giày đổ đầy kim loại quý. Trên máy bay, họ ngồi ngay cạnh tôi và Ann, và
suốt chuyến bay họ mang những thỏi vàng ra chơi trò tung hứng giải khuây.
Rốt cuộc rồi máy bay cũng hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Beirut, tôi
nhận thấy những ô cửa sổ bị vỡ của nhà chờ, những vết đạn nham nhở, và
những người lính gác có vũ khí đi lại, đầu gối tôi khởi sự run lên vì sợ hãi.
Ngay tức khắc tôi nhận ra rằng mặc dù có bỏ ra hàng năm trời chuẩn bị cho
thời khắc này – trở thành một phóng viên nước ngoài ở Trung Đông – thì
tôi cũng chưa thực sự sẵn sàng được theo cái cách đang bày ra trước mắt.
Ở Minneapolis, Minnesota, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi chẳng bao giờ
ngồi cạnh những người mang vàng ra mà tung hứng với nhau trong khoang
hạng phổ thông của hãng hàng không cả. Tôi cho rằng gia đình tôi là một
gia đình Do Thái lai Mỹ trung lưu điển hình có khá khẩm một chút. Bố tôi
chuyên bán vòng bi, mẹ tôi thì bếp núc và làm thủ thư bán thời gian. Khi
https://thuviensach.vn
còn nhỏ, tôi đã được gửi tới trường Do Thái năm ngày mỗi tuần, nhưng sau
lễ Bar Mitzvah năm mười ba tuổi thì hội đạo Do Thái chỉ hấp dẫn tôi đôi
chút; tôi trở thành một người Do Thái ba-ngày-một-năm – hai lần vào dịp
năm mới (Rosh Hashanah) và một lần vào Ngày Chuộc tội (Yom Kippur).
Năm 1968, chị cả tôi, Shelley, đang học ở Đại học Tel Aviv; đó cũng là năm
chiến thắng huy hoàng của Israel trong Cuộc chiến Sáu ngày – khoảng thời
gian mà Israel chiếm vị trí lớn lao trong những người Do Thái lai Mỹ trẻ
tuổi. Trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh năm 1968, bố mẹ đưa tôi tới Israel để
thăm chị gái tôi.
Chuyến đi đó đã thay đổi cuộc đời tôi. Lúc đó tôi mới mười lăm tuổi và
bắt đầu nhận biết về thế giới. Chuyến bay tới Jerusalem đánh dấu chuyến đi
đầu tiên của tôi qua biên giới Wisconsin và cũng là lần đầu tiên tôi được đi
máy bay. Tôi không biết có phải là bị sốc trước những điều mới mẻ, hay là
sự chờ đợi mê hoặc thôi thúc khám phá, nhưng có điều gì đó ở Israel và
Trung Đông đã chiếm giữ cả trái tim và tâm trí tôi. Tôi hoàn toàn bị dẫn dụ
bởi nơi này, bởi những người dân và mâu thuẫn của nó. Từ thời khắc đó, tôi
chẳng bao giờ bị thu hút bởi điều gì khác nữa. Quả là như thế, ngày đầu tiên
tôi bước dọc thành phố cổ có bức tường bao quanh của Jerusalem, hít thở
hương vị nơi này, và đắm mình trong dòng sông muôn màu của bao kiếp
người chảy qua những mê cung ngoắt nghoéo của nó, tôi cảm thấy như
đang ở nhà. Chắc hẳn, trong kiếp trước, có lẽ tôi đã là một người bán hàng
tạp hóa, hay một người lính Franks, hoặc một người Thổ Nhĩ Kỳ, hay chí ít
cũng là một tay chép sử biên niên người Do Thái thời Trung cổ. Có thể đó
chỉ là do đấy là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của tôi, nhưng năm 1968, tôi
biết rằng sau này và mãi mãi tôi thực sự gắn bó với Trung Đông, hơn cả
Minnesota.
Khi trở về nhà, tôi khởi sự đọc tất cả mọi thứ có trong tay về Israel.
Cũng năm đó, Hãng Thông tấn Do Thái của Israel cử một shaliach, một
kiểu đại sứ và thành viên lưu động, tới Minneapolis lần đầu tiên. Tôi trở
thành một trong những kẻ say mê hăng hái nhất của ông – tổ chức tất cả
mọi việc từ các hội chợ cho đến những cuộc biểu tình của người Do Thái.
Ông đã thu xếp để gửi tôi đến sống ở trường trung học tại Kibbutz
https://thuviensach.vn
Hahotrim cả ba kỳ nghỉ hè, đó là một nông trường tập thể của người Israel
nằm dọc bờ biển ở phía nam Haifa. Năm 1971, phục vụ cho dự án học tập
độc lập của mình ở năm cuối bậc trung học, tôi đã làm một buổi trình chiếu
về việc người Do Thái đã thắng trong Cuộc chiến Sáu ngày như thế nào.
Với bộ môn tâm lý học, tôi cùng cậu bạn Ken Greer đã làm các slide trình
chiếu về cuộc sống ở khu định cư của Israel, kết thúc bằng một cảnh xúc
động “Jesusalem của Giàu có” và các cảnh quay liên tiếp những cái nhìn
quyết liệt và tin tưởng của tất cả các thế hệ người Israel. Thực tế, giờ tôi rất
hổ thẹn khi nói về điều này, trường trung học đối với tôi chỉ là một lễ kỷ
niệm lớn về chiến thắng của người Do Thái với Cuộc chiến Sáu ngày.
Trong suốt khoảng thời gian đó, tôi hết trở thành một kẻ tiên phong với mơ
ước một ngày sẽ trở thành tay chơi gôn chuyên nghiệp đến trở thành một
chuyên gia đào tạo người Do Thái.
Tôi là một kẻ không tài nào chịu nổi. Khi người Syria bắt giữ mười ba
người Do Thái ở Đamat, tôi đã cài kín cúc cổ suốt một tuần để hô hào Trả
tự do cho 13 người Đamat, mà hầu hết bạn bè cùng lớp đều liên tưởng tới
một tổ chức bí mật của Chicago 7. Tôi nhớ là mẹ tôi đã nói với tôi rất nhẹ
nhàng rằng, “Điều đó có thật sự cần thiết không con?” khi tôi cài kín cúc cổ
vào sáng Chủ nhật để đi ăn bữa điểm tâm ở câu lạc bộ địa phương. Tôi trở
nên am tường về địa lý quân sự của Trung Đông đến nỗi khi ở trường trung
học có giáo viên thực tập môn địa lý từ Đại học Minnesota về dạy một
tháng, thầy giáo đó phát ốm lên vì bị tôi sửa lỗi khi thầy bắt tôi trình bày về
cao nguyên Golan và bán đảo Sinai lúc thầy ngồi vào bàn tôi. Năm 1968,
tôi viết bài báo đầu tiên như một nhà báo cho tờ báo ở trường trung học về
đề tài được đưa ra trong trường đại học Minnesota về một vị tướng Israel
không mấy tiếng tăm nào đó đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến
năm 1967, tên là Ariel Sharon.
Suốt cả mùa hè tôi ở Israel sau khi tốt nghiệp trung học, tôi quen biết vài
người Israel A-rập ở Nazareth, và cuộc chạm trán may rủi này đã truyền
cảm hứng cho tôi mua một cuốn từ điển thành ngữ A-rập và bắt đầu đọc về
thế giới A rập nói chung. Từ ngày đầu tiên bước chân vào đại học tôi theo
một khóa học về ngôn ngữ và văn học A-rập. Năm 1972, tôi đang học năm
https://thuviensach.vn
thứ hai, tôi đã có hai tuần ở Cairo trên đường tới Jerusalem cho học kỳ ở
nước ngoài của mình ở Đại học Hebrew. Cairo chật chội, bẩn thỉu, kỳ quặc,
và không tài nào chịu nổi – nhưng tôi thích nó. Tôi thích loại bánh mỳ ổ
dẹp có thể mua nóng hổi lúc vừa ra lò, tôi thích nụ cười dễ chịu của người
dân Ai cập, tôi thích những thánh đường Hồi giáo và những tháp chuông in
trên nền trời Cairo hình dáng đặc biệt của mình, thậm chí, tôi còn thích cả
cậu bé nhặt bóng ở Câu lạc bộ Thể thao Gezira, người đã mời chào bán cho
tôi cả bóng golf lẫn thuốc lá Hasit, và sẵn sàng cá bằng bất cứ giá nào rằng
tôi không thể vượt qua được 40 vòng đầu tiên trong suốt trận đấu. (Có hai
chú ngựa đua đã không vượt qua được vòng thứ chín ở giữa đường đua của
tôi, tôi có thể thắng được vụ cá cược này).
Vào mùa hè năm 1974, giữa năm thứ nhất và năm thứ hai ở trường
chuyên nghiệp, tôi quay trở lại Ai cập cho học kỳ của các khóa học ngôn
ngữ A-rập tại đại học Hoa Kỳ ở Cairo. Khi quay trở lại Brandeis, nơi tôi
đang học để lấy bằng cử nhân, tôi đã thực hiện một chủ đề bằng trình chiếu
về Ai cập. Một sinh viên tốt nghiệp người Do Thái trong đám khán giả đã
ngắt lời tôi liên tục bằng các câu hỏi, “Người Do Thái đang làm gì khi tới
Ai cập?” và “Sao anh lại dám thích thú những người này?” Tệ hơn, anh ta
còn làm tôi bối rối cực độ và khiến bài thuyết trình của tôi kết thúc thê thảm
mà tôi sẽ chẳng bao giờ quên. Nhưng cuộc đụng độ ấy đã cho tôi hai bài
học. Thứ nhất, khi tranh luận về Trung Đông, mọi người lập tức trở nên
điên cuồng, vì vậy nếu bạn định thuyết trình cho từ hai khán giả trở nên, tốt
nhất là bạn phải nắm vững được vấn đề. Thứ hai, một người Do Thái muốn
kiếm được việc làm hoặc nghiên cứu về Trung Đông sẽ luôn luôn đơn độc:
anh ta sẽ chẳng bao giờ nhận được sự chấp thuận hoặc tin tưởng tuyệt đối
của người A-rập, và cũng sẽ không bao giờ nhận được sự chấp thuận và tin
tưởng tuyệt đối của người Do Thái.
Sau khi tốt nghiệp ở Brandeis năm 1975, tôi quyết định học thạc sỹ về
Trung Đông học ở Anh. Tôi ghi danh vào trường St. Antony thuộc Đại học
Oxford, nơi tôi lấy được bằng thạc sỹ về lịch sử và chính trị về Trung Đông
hiện đại. St. Antony có tất cả những gì tôi hy vọng về cách thức đào tạo
chính thống, nhưng tôi học được nhiều không kém ở những hoạt động ngoại
https://thuviensach.vn
khóa cũng như trên lớp học. Là một trung tâm của Trung Đông học ở Anh,
St. Antony thu hút những sinh viên xuất sắc nhất từ khắp A-rập và Israel.
Khi đó chỉ có 125 sinh viên ở trường và chúng tôi ăn ba bữa cùng nhau mỗi
ngày, chúng tôi biết rất rõ về nhau. Ở Brandeis, tôi được coi như người hiểu
biết về Trung Đông, nhưng ở St. Antony đông đúc này thì tôi chỉ là một kẻ
ngu ngơ. Tôi trở thành kẻ biết lắng nghe, dẫu vậy thì vẫn còn quá nhiều
điều để nghe ngóng.
Những năm ở St. Antony của tôi trùng khớp với cuộc nội chiến Liban.
Tôi ở chung phòng với một người Liban Shiite thông minh sáng láng,
Mohammed Mattar, và ăn trưa cùng với những người Cơ đốc giáo Liban và
người Palestine; bạn thân của tôi ở St. Antony là một người Do Thái lai
Iraq, Yosef Sasoon, tôi gặp anh ta cùng vợ là Taffy ở phòng giặt đồ. Quan
sát bọn họ trong mối tương tác, tranh cãi, và thách thức lẫn nhau về các
môn học, và công kích người khác trong giờ ăn đã cho tôi thấy người Trung
Đông còn hơn cả người A-rập, chống lại người Do Thái nhiều đến mức nào.
Chỉ là một khán giả cho mối thù truyền kiếp của họ, một kẻ ngoài lề, tôi
xoay xở để giữ được tình bằng hữu với họ cũng như với những người Israel
trong khu học xá.
Trong khi học tập ở Anh, tôi tập tọng nghề làm báo. Một ngày tháng
Tám năm 1976, tôi rảo bước trên đường phố ở London và chú ý đến dòng
tít chạy trên tờ London Evening Standard: Carter hướng tới người Do Thái:
Nếu trúng cử tôi sẽ sa thải tiến sỹ K. Bài báo này nói về ứng cử viên Jimmy
Carter hứa hẹn sẽ sa thải ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger nếu đắc cử
Tổng thống. Kỳ thật đấy, tôi nhủ thầm, một ứng cử viên tranh cử chức tổng
thống có thể cầu cạnh những người Mỹ gốc Do Thái bằng việc hứa hẹn sa
thải ngoại trưởng người Mỹ gốc Do Thái trước tiên ư. Tôi quyết định viết
một bài Op Ed về sự trớ trêu này. Bạn gái chính là vợ tương lai của tôi, Ann
Bucksbaum, tình cờ lại thân thiết với biên tập viên của tờ Des Moines
Register, Gilbert Cranberg. Ann đưa cho anh ta bài báo. Anh ta khoái nó và
cho lên khuôn vào số ra ngày 23 tháng Tám năm 1976; bằng cách đó tôi đã
tìm được công việc là phóng viên về Trung Đông. Hai năm tiếp đó, tôi viết
https://thuviensach.vn
nhiều bài báo, và sau khi tốt nghiệp trường St. Antony tôi đã có một vốn
liếng nho nhỏ các bài về Op Ed.
Ngay sau khi rời Oxford vào tháng Sáu năm 1978, tôi nộp đơn xin việc
vào văn phòng tại London của Hãng Thông tấn Hoa Kỳ (United Press
International - UPI). Tôi quyết rằng mình sẽ không phải là một kẻ chỉ thuần
lý thuyết và rằng tôi có thể sẽ gắn mình với Trung Đông mãi mãi, tôi phải
sống ở đó và tận mắt trải nghiệm nơi này. May thay, Leon Daniel, trưởng
phòng UPI ở London, sẵn sàng cho tôi cơ hội đó – bất chấp thực tế là tôi
chưa bao giờ biết đến mùi súng đạn – và tôi được làm việc như một phóng
viên thực tập. Tôi khá căng thẳng trong tuần đầu tiên đến mức phải đổ cả
máu mũi và thậm chí còn phải đến bệnh viện, và trở thành trò tiêu khiển
cho mấy tay UPI già đời và chẳng mấy khi là không say xỉn, nhiều bận cười
vào mũi tôi mà rằng “thằng nhãi Oxford nghĩ mình có thể trở thành một nhà
báo kìa.” Câu chuyện đầu tiên của tôi về chết vì sử dụng thuốc quá liều của
Keith Moon, tay trống của nhóm nhạc rock The Who. Đó chẳng phải là loại
tin tức tôi hy vọng sẽ được lên trang nhất, nhưng cơ hội của tôi đã tới, sớm
hơn so với mong đợi.
Cuộc cách mạng của người Iran nổ ra ngay sau khi tôi làm việc tại UPI,
và tình hình dầu lửa thế giới trở thành đề tài chính. UPI không có chuyên
gia về dầu lửa, vì vậy tôi nhảy vào lấp chỗ trống. Mối liên hệ với dầu của
tôi ban đầu chỉ là thứ dùng để trộn salad và nhiên liệu cho chiếc ô tô của tôi
chạy mà thôi. May làm sao, tầng trên văn phòng UPI ở London là Viện
Khảo sát Kinh tế Trung Đông có một bản tin về dầu để tung tóe khắp nơi,
nên tôi đã nhặt lấy một tờ và thế là đủ các thuật ngữ chuyên môn để múa
bút về nó. Bước đột phá lớn của tôi đến vào mùa xuân năm 1979, khi UPI
bất ngờ mở một văn phòng tại Beirut. Nhà báo thứ hai được chỉ định quyết
rằng Liban không phải là chỗ của anh ta, sau khi bị đứt một bên tai vì đạn
lạc từ một người đàn ông cướp tiệm nữ trang. Công việc đã được đề nghị
với tôi bằng những lời đầy hiệu lực thế này, “Tom này, tay phóng viên trước
đã bị trúng đạn mất rồi, nhưng điều đó chẳng đáng ngại lắm đâu. Chúng tôi
nghĩ anh là lựa chọn hoàn hảo cho công việc này đấy.”
https://thuviensach.vn
Tuy nhiên, với nỗi tắc nghẹn trong cổ họng và nỗi niềm đè nặng trong
lòng, tôi lao vào cơ hội đó. Bạn bè và cả gia đình tôi đều nghĩ tôi điên rồi.
Một người Do Thái sống ở Beirut ư? Tôi không có câu trả lời thực sự cho
họ; tôi thực sự không biết điều gì đang chờ đợi mình. Tất cả những gì tôi
biết là khoảnh khắc đó của tôi là thật. Tôi đã bỏ ra sáu năm nghiên cứu về A
rập và Israel; nếu tôi không đi bây giờ, tôi sẽ chẳng bao giờ đi được. Vì vậy
tôi đã đi.
Liban được biết đến như một Thụy Sĩ của Trung Đông, một vùng đất của
núi non, tiền bạc, và nhiều nền văn hóa, tất cả đều bằng cách này hay cách
khác xoay xở thật lạ kỳ để chung sống hòa thuận cùng nhau. Chí ít đó cũng
là toàn cảnh trên tấm bưu thiếp. Đó không phải là Liban chào đón tôi và
Ann vào tháng Sáu năm 1979. Chúng tôi tới đất nước này trong vòng vây
của cuộc nội chiến bắt đầu từ năm 1975. Đêm đầu tiên chúng tôi ở khách
sạn Hải quân Beirut, tôi nhớ là đang nằm thì bị đánh thức bởi tiếng đấu
súng ngay dưới đường phố. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe thấy tiếng
súng.
Giống như hầu hết những phóng viên nước ngoài khác ở Liban, chúng
tôi kiếm một căn phòng ở khu vực người Hồi giáo phía Tây Beirut, nơi
phần lớn các trụ sở và đại sứ quán nước ngoài tọa lạc. Ann kiếm được việc
làm cho một ngân hàng thương mại địa phương, và sau đó là cho một tổ
chức nghiên cứu chính trị A-rập. Đó là “Những ngày phía Tây bão táp của
Tây Beirut”. Mặc dù cuộc nội chiến đang diễn ra rất ác liệt, ở đây khá yên
ổn. Những con đường thông suốt nối giữa Đông và Tây Beirut, nhiều vụ
làm ăn và mua bán vẫn tiếp tục giữa tất cả những phá hủy và bắt cóc ấy.
Sau hơn hai năm ở Beirut với UPI, tôi được The New York Times (Thời
báo New York) mời làm việc vào năm 1981 và bị buộc tới Manhattan để
học những cách thức bí hiểm của nghề làm báo. Tuy nhiên sau mười một
tháng ở New York, các biên tập viên của Thời báo quyết định đưa tôi trở lại
Beirut vào tháng Tư năm 1982 để làm phóng viên ở Liban.
Khi quay trở lại Beirut, tôi nhận thấy thành phố rộn lên hai luồng tin đồn
đại. Một liên quan đến việc bùng nổ bạo lực ở trong những người Syria,
điều này đã xảy ra rồi, còn một là bùng nổ bạo lực từ những người Israel,
https://thuviensach.vn
chuyện này đang được trông đợi sẽ xảy ra bất cứ lúc nào. Về phía những
người Syria mà ban đầu hầu hết mọi người đều khó lòng tin tưởng, tuyên bố
rằng chính quyền Syria đã đàn áp một cuộc nổi dậy ở thành phố lớn thứ tư
của nó – Hama – cướp đi 20 nghìn sinh mạng của dân đen ở đây. Những
câu chuyện của người Israel thì xoay quanh việc thủ lĩnh lực lượng dân
quân Phalange – Bashir Gemayel, đã tiến tới một thỏa thuận với Thủ tướng
Chính phủ Israel – Manachem Begin, hướng về một nỗ lực chung nhằm
đuổi PLO và những người Syria ra khỏi Lib
Table of Contents
THÔNG TIN EBOOK
THỬ THÁCH MỌT SÁCH - 2015
Bảng niên đại khu vực Trung đông
1. Mở đầu: Từ Minneapolis tới Beirut
2. Bạn muốn ăn luôn hay chờ đến khi ngừng bắn đã?
3. Beirut: Thành phố của những phiên bản
4. Luật Hama
5. Chiến binh Teflon
6. Bên trong chiếc kính vạn hoa: cuộc xâm lược của người Israel vào
Liban
7. Chơi Poker kiểu Beirut
8. Betty Crocker ở địa ngục của Dante
9. Kết thúc điều gì đó
10. Đã đến lúc phải đi
11. Những cơn gió tạt
12. Dù sao chăng nữa, thành phố này thuộc về ai?
https://thuviensach.vn
THÔNG TIN EBOOK
Tên Sách: Từ Beirut đến Jerusalem - Hành Trình “Đi Để Hiểu” Trung Đông
Của Một Người Mỹ
Thể loại: Political
Tác Giả: Thomas L. Friedman
Ebook: Hanhdb - TVE-4U
Read Freely - Think Freedom
Alphabook - Nhà xuất bản Công An Nhân Dân
https://thuviensach.vn
THỬ THÁCH MỌT SÁCH - 2015
Mỗi tuần chỉ cần thanh toán một cuốn, quá dễ dàng để có cả năm đầy ý
nghĩa. Là một người đọc chân chính, tôi và bạn phải có trách nhiệm phải
khuyến khích và chia sẻ về đam mê văn hóa đọc. Tôi tin tri thức là một
trong những cách tốt nhất để rút ngắn khoảng cách giữa người Việt với các
dân tộc khác. Thói quen đọc sẽ làm nên một con người trưởng thành, một
xã hội có văn hóa, một dân tộc hùng cường.
Topic: Thử thách mọt sách
Topic: Thể lệ thử thách mọt sách
https://thuviensach.vn
Bảng niên đại khu vực Trung đông
1882 Kết quả của việc bức hại người Do Thái ở Nga và Romani một
năm trước đó, cuộc nhập cư trên diện rộng đầu tiên của người Do Thái định
cư sang Palestine được tiến hành.
1891 Các nhân sĩ người Ả rập ở Jerusalem gửi đơn thỉnh cầu tới chính
quyền Ottoman ở Constantinople yêu cầu ngăn cấm việc nhập cư của người
Do Thái tới Palestine và việc mua bán đất của người Do Thái.
1896 Nhà báo người Áo, Theodor Herzl, người sáng lập của Chủ nghĩa
Phục quốc Do Thái hiện đại, xuất bản cuốn sách Nhà nước của người Do
Thái, trong đó lý luận rằng “Vấn đề của người Do Thái” có thể được giải
quyết chỉ bằng cách thiết lập một nhà nước Do Thái ở Palestine hoặc ở một
nơi nào đó, vì thế người Do Thái có thể sống tự do mà không còn lo sợ bị
bức hại. Một năm sau đó, Herzl tổ chức Đại hội Chủ nghĩa Phục quốc Do
Thái lần đầu ở Basel, Thụy Sĩ, để thúc đẩy việc nhập cư tới Palestine.
1908 Những tờ báo tiếng Ả rập của người Palestine đầu tiên xuất hiện:
Al-Quds ở Jerusalem và Al-Asma'i ở Jaffa.
1916 Anh, Pháp và Nga ký kết hiệp định Sykes-Picot, chia nhỏ Đế chế
Ottoman sau thất bại của nó tại Thế chiến thứ Nhất. Như quy định trong
Hiệp định, Anh sẽ giành quyền kiểm soát khu vực Palestine, còn Pháp là
khu vực bây giờ là Liban và Syria.
1917 Tuyên bố Balfour được Bộ trưởng Ngoại giao Anh, Arthur J.
Balfour ban hành, xác nhận ý tưởng thành lập một “quê hương bản quán”
cho dân tộc Do Thái ở Palestine.
1920 Sắc lệnh của người Pháp về việc thành lập Liban Lớn hơn, nối
vùng núi Liban với các khu vực Beirut, Tripoli, Sidon, Tyre, Akkar, và
Thung lũng Bekaa.
1936-1939 Bị ảnh hưởng bởi các phong trào chủ nghĩa dân tộc của các
nước Ả rập khác, người Ả rập ở Palestine nổi dậy với nỗ lực nhằm ngăn
chặn việc thành lập quê hương cho người Do Thái ở Palestine. Cả những
https://thuviensach.vn
người Do Thái định cư với các đơn vị quân đội của Anh đều rơi vào cuộc
tấn công.
1943 Các lãnh đạo Hồi giáo và Cơ đốc giáo của Liban thống nhất một
“Công ước Dân tộc” để chia sẻ quyền lực và cân bằng những khuynh hướng
giữa Ả rập và phương Tây ở Liban, cho phép quốc gia của họ trở thành một
nhà nước độc lập, không phụ thuộc vào nước Pháp.
1947 Liên Hợp Quốc biểu quyết phân chia Palestine thành hai nhà nước,
một cho người Do Thái và một cho người Ả rập Palestine, với Jerusalem trở
thành một vùng đất quốc tế.
1948 Anh rút khỏi Palestine. Thay vào đó là thi hành kế hoạch chia cắt
của Liên Hợp Quốc, các nhà nước Ả rập xung quanh kết hợp với người
Palestine ở địa phương cố gắng ngăn cản việc xuất hiện một nhà nước Do
Thái. Israel được thành lập bằng bất cứ giá nào; Jordan chiếm cứ Bờ Tây,
còn Ai Cập là Dải Gaza.
1956 Israel kết hợp cùng với lực lượng của Anh và Pháp tấn công Ai
Cập của Gamal Abdel Nasser, chiếm cứ hầu hết vùng Bán đảo Sinai. Dưới
áp lực của cả Liên Hợp Quốc và Liên bang Xô viết, sau đó Israel đã rút
quân.
1958 Cuộc nội chiến đầu tiên ở Liban nổ ra, và có khoảng 15 nghìn lính
Mỹ được gửi tới Beirut để giúp ổn định tình hình.
1964 Những người đứng đầu nhà nước Ả rập do Nasser lãnh đạo thành
lập Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) ở Cairo.
1967 Isarel lao vào một cuộc tấn công trước chống lại Ai cập, Syria, và
Jordan vì họ đang chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại nhà nước Do Thái.
Cuộc chiến Sáu ngày kết thúc với Israel chiếm cứ Bán đảo Sinai, Cao
nguyên Golan, Dải Gaza, và Bờ Tây.
1969 Yasir Arafat, lãnh đạo của tổ chức du kích al-Fatha, được bầu chọn
làm chủ tịch ủy ban chấp hành của PLO.
1970 Quân đội của vua Hussein đánh bại lực lượng du kích PLO của
Arafat trong một cuộc nội chiến nắm quyền kiểm soát Jordan.
1973 Ai Cập và Syria lao vào một cuộc tấn công bất ngờ chống lại Israel
để giành chiếm cứ Bán đảo Sinai và Cao nguyên Golan.
https://thuviensach.vn
1974 Hội nghị thượng đỉnh Ả rập ở Rabat, Ma-rốc phê chuẩn PLO là
“đại diện hợp pháp và duy nhất” của người Palestine.
1975 Cuộc nội chiến bùng nổ một lần nữa ở Liban.
1977 Tổng thống Ai Cập, Anwar Sadat tới Jerusalem, phát biểu trước
nghị viện Israel, và đề nghị một nền hòa bình trọn vẹn đổi lại là Isreal phải
rút hoàn toàn ra khỏi Sinai.
1979 Ai Cập và Israel ký kết hiệp định hòa bình.
1982, Tháng Hai Chính phủ Syria tàn sát hàng nghìn thường dân trong
khi đàn áp cuộc nổi loạn của người Hồi giáo nổi dậy ở thị xã Hama.
1982 từ tháng Sáu tới tháng Chín Israel xâm lược Liban. Lãnh đạo lực
lượng quân đội của Phalange, Bashir Gemayel bị ám sát sau khi được bầu
làm Tổng thống Liban. Lực lượng quân đội Phalang đã tiêu diệt hàng trăm
người Palestine ở trong các trại tị nạn Sabra và Shatila ở Beirut, trong khi
lực lượng Isrel bao vây những trại tị nạn này. Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ tới
Beirut với vai trò là lực lượng gìn giữ hòa bình đa quốc gia.
1983 Đại sứ quán Hoa Kỳ và trụ sở của Lính thủy đánh bộ Hoa Kỳ ở
Beirut bị nổ tung do vụ đánh bom cảm tử bằng xe hơi.
1984, Tháng Hai Chính quyền Liban của Tổng thống Amin Gemayel bị
đập tan sau khi người Hồi giáo Shiite và Druse ở Tây Beirut lao vào một
cuộc nổi dậy chống lại quân đội Liban. Tổng thống Reagan từ bỏ hy vọng
tái lập Liban và ra lệnh cho lực lượng Lính thủy đánh bộ trở về nước.
1984, Tháng Chín Đảng Lao động và Đảng Likud của Israel cùng gia
nhập vào một chính quyền thống nhất quốc gia sau khi những cuộc bầu cử
tháng Bảy kết thúc trong bế tắc.
1985 Israel đơn phương rút lực lượng quân đội khỏi hầu hết các vùng ở
Liban.
1987, Tháng Mười hai Người Palestine nổi dậy, hay là intifada, bắt đầu ở
Bờ Tây và Dải Gaza.
1988, Tháng Mười hai Arafat thừa nhận quyền tồn tại của Israel. Bộ
trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, George P. Shultz cho phép mở một cuộc đối
thoại với PLO. Đảng Likud và Đảng Lao động cùng liên kết để thành lập
https://thuviensach.vn
một chính quyền thống nhất quốc gia khác ở Israel sau cuộc bầu cử không
có kết quả khác.
https://thuviensach.vn
1. Mở đầu: Từ Minneapolis tới Beirut
Tháng Sáu năm 1979, tôi và vợ tôi, Ann đáp chuyến bay của Hãng Hàng
không Trung Đông từ Geneva tới Beirut, mất bốn giờ bay trên chiếc máy
bay 707 màu đỏ trắng. Đó là khởi đầu cho chuyến đi gần mười năm ở Trung
Đông được nói tới trong cuốn sách này. Khởi đầu cũng như kết thúc, đều
bất ngờ.
Khi chúng tôi đứng xếp hàng lần lượt đi qua máy dò kim loại trước cửa
lên máy bay, chúng tôi chợt nhận ra mình đang đứng ngay sau ba người đàn
ông Liban vạm vỡ, râu ria um tùm. Cứ mỗi lúc tiến gần tới cái máy dò kim
loại thì nó lại càng kêu to và đèn đỏ sáng lòe, như thể là một chiếc máy trò
chơi pinball đang nhả đạn. Cảnh sát Thụy Sĩ lập tức lao vào kiểm soát các
vị hành khách của chúng ta, hóa ra đó không phải là những tên không tặc
mang đầy súng và dao, mặc dù họ mang theo vô vàn kim loại; đó chỉ là một
gia đình người Armeni chuyên nghề kim hoàn đem theo những thỏi vàng
quay trở lại Beirut. Mỗi chàng trai trong gia đình đeo một chiếc thắt lưng
đặc biệt có tới sáu thỏi vàng quanh bụng, và mỗi người cũng mang một hộp
giày đổ đầy kim loại quý. Trên máy bay, họ ngồi ngay cạnh tôi và Ann, và
suốt chuyến bay họ mang những thỏi vàng ra chơi trò tung hứng giải khuây.
Rốt cuộc rồi máy bay cũng hạ cánh xuống Sân bay Quốc tế Beirut, tôi
nhận thấy những ô cửa sổ bị vỡ của nhà chờ, những vết đạn nham nhở, và
những người lính gác có vũ khí đi lại, đầu gối tôi khởi sự run lên vì sợ hãi.
Ngay tức khắc tôi nhận ra rằng mặc dù có bỏ ra hàng năm trời chuẩn bị cho
thời khắc này – trở thành một phóng viên nước ngoài ở Trung Đông – thì
tôi cũng chưa thực sự sẵn sàng được theo cái cách đang bày ra trước mắt.
Ở Minneapolis, Minnesota, nơi tôi sinh ra và lớn lên, tôi chẳng bao giờ
ngồi cạnh những người mang vàng ra mà tung hứng với nhau trong khoang
hạng phổ thông của hãng hàng không cả. Tôi cho rằng gia đình tôi là một
gia đình Do Thái lai Mỹ trung lưu điển hình có khá khẩm một chút. Bố tôi
chuyên bán vòng bi, mẹ tôi thì bếp núc và làm thủ thư bán thời gian. Khi
https://thuviensach.vn
còn nhỏ, tôi đã được gửi tới trường Do Thái năm ngày mỗi tuần, nhưng sau
lễ Bar Mitzvah năm mười ba tuổi thì hội đạo Do Thái chỉ hấp dẫn tôi đôi
chút; tôi trở thành một người Do Thái ba-ngày-một-năm – hai lần vào dịp
năm mới (Rosh Hashanah) và một lần vào Ngày Chuộc tội (Yom Kippur).
Năm 1968, chị cả tôi, Shelley, đang học ở Đại học Tel Aviv; đó cũng là năm
chiến thắng huy hoàng của Israel trong Cuộc chiến Sáu ngày – khoảng thời
gian mà Israel chiếm vị trí lớn lao trong những người Do Thái lai Mỹ trẻ
tuổi. Trong dịp nghỉ lễ Giáng sinh năm 1968, bố mẹ đưa tôi tới Israel để
thăm chị gái tôi.
Chuyến đi đó đã thay đổi cuộc đời tôi. Lúc đó tôi mới mười lăm tuổi và
bắt đầu nhận biết về thế giới. Chuyến bay tới Jerusalem đánh dấu chuyến đi
đầu tiên của tôi qua biên giới Wisconsin và cũng là lần đầu tiên tôi được đi
máy bay. Tôi không biết có phải là bị sốc trước những điều mới mẻ, hay là
sự chờ đợi mê hoặc thôi thúc khám phá, nhưng có điều gì đó ở Israel và
Trung Đông đã chiếm giữ cả trái tim và tâm trí tôi. Tôi hoàn toàn bị dẫn dụ
bởi nơi này, bởi những người dân và mâu thuẫn của nó. Từ thời khắc đó, tôi
chẳng bao giờ bị thu hút bởi điều gì khác nữa. Quả là như thế, ngày đầu tiên
tôi bước dọc thành phố cổ có bức tường bao quanh của Jerusalem, hít thở
hương vị nơi này, và đắm mình trong dòng sông muôn màu của bao kiếp
người chảy qua những mê cung ngoắt nghoéo của nó, tôi cảm thấy như
đang ở nhà. Chắc hẳn, trong kiếp trước, có lẽ tôi đã là một người bán hàng
tạp hóa, hay một người lính Franks, hoặc một người Thổ Nhĩ Kỳ, hay chí ít
cũng là một tay chép sử biên niên người Do Thái thời Trung cổ. Có thể đó
chỉ là do đấy là chuyến đi nước ngoài đầu tiên của tôi, nhưng năm 1968, tôi
biết rằng sau này và mãi mãi tôi thực sự gắn bó với Trung Đông, hơn cả
Minnesota.
Khi trở về nhà, tôi khởi sự đọc tất cả mọi thứ có trong tay về Israel.
Cũng năm đó, Hãng Thông tấn Do Thái của Israel cử một shaliach, một
kiểu đại sứ và thành viên lưu động, tới Minneapolis lần đầu tiên. Tôi trở
thành một trong những kẻ say mê hăng hái nhất của ông – tổ chức tất cả
mọi việc từ các hội chợ cho đến những cuộc biểu tình của người Do Thái.
Ông đã thu xếp để gửi tôi đến sống ở trường trung học tại Kibbutz
https://thuviensach.vn
Hahotrim cả ba kỳ nghỉ hè, đó là một nông trường tập thể của người Israel
nằm dọc bờ biển ở phía nam Haifa. Năm 1971, phục vụ cho dự án học tập
độc lập của mình ở năm cuối bậc trung học, tôi đã làm một buổi trình chiếu
về việc người Do Thái đã thắng trong Cuộc chiến Sáu ngày như thế nào.
Với bộ môn tâm lý học, tôi cùng cậu bạn Ken Greer đã làm các slide trình
chiếu về cuộc sống ở khu định cư của Israel, kết thúc bằng một cảnh xúc
động “Jesusalem của Giàu có” và các cảnh quay liên tiếp những cái nhìn
quyết liệt và tin tưởng của tất cả các thế hệ người Israel. Thực tế, giờ tôi rất
hổ thẹn khi nói về điều này, trường trung học đối với tôi chỉ là một lễ kỷ
niệm lớn về chiến thắng của người Do Thái với Cuộc chiến Sáu ngày.
Trong suốt khoảng thời gian đó, tôi hết trở thành một kẻ tiên phong với mơ
ước một ngày sẽ trở thành tay chơi gôn chuyên nghiệp đến trở thành một
chuyên gia đào tạo người Do Thái.
Tôi là một kẻ không tài nào chịu nổi. Khi người Syria bắt giữ mười ba
người Do Thái ở Đamat, tôi đã cài kín cúc cổ suốt một tuần để hô hào Trả
tự do cho 13 người Đamat, mà hầu hết bạn bè cùng lớp đều liên tưởng tới
một tổ chức bí mật của Chicago 7. Tôi nhớ là mẹ tôi đã nói với tôi rất nhẹ
nhàng rằng, “Điều đó có thật sự cần thiết không con?” khi tôi cài kín cúc cổ
vào sáng Chủ nhật để đi ăn bữa điểm tâm ở câu lạc bộ địa phương. Tôi trở
nên am tường về địa lý quân sự của Trung Đông đến nỗi khi ở trường trung
học có giáo viên thực tập môn địa lý từ Đại học Minnesota về dạy một
tháng, thầy giáo đó phát ốm lên vì bị tôi sửa lỗi khi thầy bắt tôi trình bày về
cao nguyên Golan và bán đảo Sinai lúc thầy ngồi vào bàn tôi. Năm 1968,
tôi viết bài báo đầu tiên như một nhà báo cho tờ báo ở trường trung học về
đề tài được đưa ra trong trường đại học Minnesota về một vị tướng Israel
không mấy tiếng tăm nào đó đã giữ một vai trò quan trọng trong cuộc chiến
năm 1967, tên là Ariel Sharon.
Suốt cả mùa hè tôi ở Israel sau khi tốt nghiệp trung học, tôi quen biết vài
người Israel A-rập ở Nazareth, và cuộc chạm trán may rủi này đã truyền
cảm hứng cho tôi mua một cuốn từ điển thành ngữ A-rập và bắt đầu đọc về
thế giới A rập nói chung. Từ ngày đầu tiên bước chân vào đại học tôi theo
một khóa học về ngôn ngữ và văn học A-rập. Năm 1972, tôi đang học năm
https://thuviensach.vn
thứ hai, tôi đã có hai tuần ở Cairo trên đường tới Jerusalem cho học kỳ ở
nước ngoài của mình ở Đại học Hebrew. Cairo chật chội, bẩn thỉu, kỳ quặc,
và không tài nào chịu nổi – nhưng tôi thích nó. Tôi thích loại bánh mỳ ổ
dẹp có thể mua nóng hổi lúc vừa ra lò, tôi thích nụ cười dễ chịu của người
dân Ai cập, tôi thích những thánh đường Hồi giáo và những tháp chuông in
trên nền trời Cairo hình dáng đặc biệt của mình, thậm chí, tôi còn thích cả
cậu bé nhặt bóng ở Câu lạc bộ Thể thao Gezira, người đã mời chào bán cho
tôi cả bóng golf lẫn thuốc lá Hasit, và sẵn sàng cá bằng bất cứ giá nào rằng
tôi không thể vượt qua được 40 vòng đầu tiên trong suốt trận đấu. (Có hai
chú ngựa đua đã không vượt qua được vòng thứ chín ở giữa đường đua của
tôi, tôi có thể thắng được vụ cá cược này).
Vào mùa hè năm 1974, giữa năm thứ nhất và năm thứ hai ở trường
chuyên nghiệp, tôi quay trở lại Ai cập cho học kỳ của các khóa học ngôn
ngữ A-rập tại đại học Hoa Kỳ ở Cairo. Khi quay trở lại Brandeis, nơi tôi
đang học để lấy bằng cử nhân, tôi đã thực hiện một chủ đề bằng trình chiếu
về Ai cập. Một sinh viên tốt nghiệp người Do Thái trong đám khán giả đã
ngắt lời tôi liên tục bằng các câu hỏi, “Người Do Thái đang làm gì khi tới
Ai cập?” và “Sao anh lại dám thích thú những người này?” Tệ hơn, anh ta
còn làm tôi bối rối cực độ và khiến bài thuyết trình của tôi kết thúc thê thảm
mà tôi sẽ chẳng bao giờ quên. Nhưng cuộc đụng độ ấy đã cho tôi hai bài
học. Thứ nhất, khi tranh luận về Trung Đông, mọi người lập tức trở nên
điên cuồng, vì vậy nếu bạn định thuyết trình cho từ hai khán giả trở nên, tốt
nhất là bạn phải nắm vững được vấn đề. Thứ hai, một người Do Thái muốn
kiếm được việc làm hoặc nghiên cứu về Trung Đông sẽ luôn luôn đơn độc:
anh ta sẽ chẳng bao giờ nhận được sự chấp thuận hoặc tin tưởng tuyệt đối
của người A-rập, và cũng sẽ không bao giờ nhận được sự chấp thuận và tin
tưởng tuyệt đối của người Do Thái.
Sau khi tốt nghiệp ở Brandeis năm 1975, tôi quyết định học thạc sỹ về
Trung Đông học ở Anh. Tôi ghi danh vào trường St. Antony thuộc Đại học
Oxford, nơi tôi lấy được bằng thạc sỹ về lịch sử và chính trị về Trung Đông
hiện đại. St. Antony có tất cả những gì tôi hy vọng về cách thức đào tạo
chính thống, nhưng tôi học được nhiều không kém ở những hoạt động ngoại
https://thuviensach.vn
khóa cũng như trên lớp học. Là một trung tâm của Trung Đông học ở Anh,
St. Antony thu hút những sinh viên xuất sắc nhất từ khắp A-rập và Israel.
Khi đó chỉ có 125 sinh viên ở trường và chúng tôi ăn ba bữa cùng nhau mỗi
ngày, chúng tôi biết rất rõ về nhau. Ở Brandeis, tôi được coi như người hiểu
biết về Trung Đông, nhưng ở St. Antony đông đúc này thì tôi chỉ là một kẻ
ngu ngơ. Tôi trở thành kẻ biết lắng nghe, dẫu vậy thì vẫn còn quá nhiều
điều để nghe ngóng.
Những năm ở St. Antony của tôi trùng khớp với cuộc nội chiến Liban.
Tôi ở chung phòng với một người Liban Shiite thông minh sáng láng,
Mohammed Mattar, và ăn trưa cùng với những người Cơ đốc giáo Liban và
người Palestine; bạn thân của tôi ở St. Antony là một người Do Thái lai
Iraq, Yosef Sasoon, tôi gặp anh ta cùng vợ là Taffy ở phòng giặt đồ. Quan
sát bọn họ trong mối tương tác, tranh cãi, và thách thức lẫn nhau về các
môn học, và công kích người khác trong giờ ăn đã cho tôi thấy người Trung
Đông còn hơn cả người A-rập, chống lại người Do Thái nhiều đến mức nào.
Chỉ là một khán giả cho mối thù truyền kiếp của họ, một kẻ ngoài lề, tôi
xoay xở để giữ được tình bằng hữu với họ cũng như với những người Israel
trong khu học xá.
Trong khi học tập ở Anh, tôi tập tọng nghề làm báo. Một ngày tháng
Tám năm 1976, tôi rảo bước trên đường phố ở London và chú ý đến dòng
tít chạy trên tờ London Evening Standard: Carter hướng tới người Do Thái:
Nếu trúng cử tôi sẽ sa thải tiến sỹ K. Bài báo này nói về ứng cử viên Jimmy
Carter hứa hẹn sẽ sa thải ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger nếu đắc cử
Tổng thống. Kỳ thật đấy, tôi nhủ thầm, một ứng cử viên tranh cử chức tổng
thống có thể cầu cạnh những người Mỹ gốc Do Thái bằng việc hứa hẹn sa
thải ngoại trưởng người Mỹ gốc Do Thái trước tiên ư. Tôi quyết định viết
một bài Op Ed về sự trớ trêu này. Bạn gái chính là vợ tương lai của tôi, Ann
Bucksbaum, tình cờ lại thân thiết với biên tập viên của tờ Des Moines
Register, Gilbert Cranberg. Ann đưa cho anh ta bài báo. Anh ta khoái nó và
cho lên khuôn vào số ra ngày 23 tháng Tám năm 1976; bằng cách đó tôi đã
tìm được công việc là phóng viên về Trung Đông. Hai năm tiếp đó, tôi viết
https://thuviensach.vn
nhiều bài báo, và sau khi tốt nghiệp trường St. Antony tôi đã có một vốn
liếng nho nhỏ các bài về Op Ed.
Ngay sau khi rời Oxford vào tháng Sáu năm 1978, tôi nộp đơn xin việc
vào văn phòng tại London của Hãng Thông tấn Hoa Kỳ (United Press
International - UPI). Tôi quyết rằng mình sẽ không phải là một kẻ chỉ thuần
lý thuyết và rằng tôi có thể sẽ gắn mình với Trung Đông mãi mãi, tôi phải
sống ở đó và tận mắt trải nghiệm nơi này. May thay, Leon Daniel, trưởng
phòng UPI ở London, sẵn sàng cho tôi cơ hội đó – bất chấp thực tế là tôi
chưa bao giờ biết đến mùi súng đạn – và tôi được làm việc như một phóng
viên thực tập. Tôi khá căng thẳng trong tuần đầu tiên đến mức phải đổ cả
máu mũi và thậm chí còn phải đến bệnh viện, và trở thành trò tiêu khiển
cho mấy tay UPI già đời và chẳng mấy khi là không say xỉn, nhiều bận cười
vào mũi tôi mà rằng “thằng nhãi Oxford nghĩ mình có thể trở thành một nhà
báo kìa.” Câu chuyện đầu tiên của tôi về chết vì sử dụng thuốc quá liều của
Keith Moon, tay trống của nhóm nhạc rock The Who. Đó chẳng phải là loại
tin tức tôi hy vọng sẽ được lên trang nhất, nhưng cơ hội của tôi đã tới, sớm
hơn so với mong đợi.
Cuộc cách mạng của người Iran nổ ra ngay sau khi tôi làm việc tại UPI,
và tình hình dầu lửa thế giới trở thành đề tài chính. UPI không có chuyên
gia về dầu lửa, vì vậy tôi nhảy vào lấp chỗ trống. Mối liên hệ với dầu của
tôi ban đầu chỉ là thứ dùng để trộn salad và nhiên liệu cho chiếc ô tô của tôi
chạy mà thôi. May làm sao, tầng trên văn phòng UPI ở London là Viện
Khảo sát Kinh tế Trung Đông có một bản tin về dầu để tung tóe khắp nơi,
nên tôi đã nhặt lấy một tờ và thế là đủ các thuật ngữ chuyên môn để múa
bút về nó. Bước đột phá lớn của tôi đến vào mùa xuân năm 1979, khi UPI
bất ngờ mở một văn phòng tại Beirut. Nhà báo thứ hai được chỉ định quyết
rằng Liban không phải là chỗ của anh ta, sau khi bị đứt một bên tai vì đạn
lạc từ một người đàn ông cướp tiệm nữ trang. Công việc đã được đề nghị
với tôi bằng những lời đầy hiệu lực thế này, “Tom này, tay phóng viên trước
đã bị trúng đạn mất rồi, nhưng điều đó chẳng đáng ngại lắm đâu. Chúng tôi
nghĩ anh là lựa chọn hoàn hảo cho công việc này đấy.”
https://thuviensach.vn
Tuy nhiên, với nỗi tắc nghẹn trong cổ họng và nỗi niềm đè nặng trong
lòng, tôi lao vào cơ hội đó. Bạn bè và cả gia đình tôi đều nghĩ tôi điên rồi.
Một người Do Thái sống ở Beirut ư? Tôi không có câu trả lời thực sự cho
họ; tôi thực sự không biết điều gì đang chờ đợi mình. Tất cả những gì tôi
biết là khoảnh khắc đó của tôi là thật. Tôi đã bỏ ra sáu năm nghiên cứu về A
rập và Israel; nếu tôi không đi bây giờ, tôi sẽ chẳng bao giờ đi được. Vì vậy
tôi đã đi.
Liban được biết đến như một Thụy Sĩ của Trung Đông, một vùng đất của
núi non, tiền bạc, và nhiều nền văn hóa, tất cả đều bằng cách này hay cách
khác xoay xở thật lạ kỳ để chung sống hòa thuận cùng nhau. Chí ít đó cũng
là toàn cảnh trên tấm bưu thiếp. Đó không phải là Liban chào đón tôi và
Ann vào tháng Sáu năm 1979. Chúng tôi tới đất nước này trong vòng vây
của cuộc nội chiến bắt đầu từ năm 1975. Đêm đầu tiên chúng tôi ở khách
sạn Hải quân Beirut, tôi nhớ là đang nằm thì bị đánh thức bởi tiếng đấu
súng ngay dưới đường phố. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe thấy tiếng
súng.
Giống như hầu hết những phóng viên nước ngoài khác ở Liban, chúng
tôi kiếm một căn phòng ở khu vực người Hồi giáo phía Tây Beirut, nơi
phần lớn các trụ sở và đại sứ quán nước ngoài tọa lạc. Ann kiếm được việc
làm cho một ngân hàng thương mại địa phương, và sau đó là cho một tổ
chức nghiên cứu chính trị A-rập. Đó là “Những ngày phía Tây bão táp của
Tây Beirut”. Mặc dù cuộc nội chiến đang diễn ra rất ác liệt, ở đây khá yên
ổn. Những con đường thông suốt nối giữa Đông và Tây Beirut, nhiều vụ
làm ăn và mua bán vẫn tiếp tục giữa tất cả những phá hủy và bắt cóc ấy.
Sau hơn hai năm ở Beirut với UPI, tôi được The New York Times (Thời
báo New York) mời làm việc vào năm 1981 và bị buộc tới Manhattan để
học những cách thức bí hiểm của nghề làm báo. Tuy nhiên sau mười một
tháng ở New York, các biên tập viên của Thời báo quyết định đưa tôi trở lại
Beirut vào tháng Tư năm 1982 để làm phóng viên ở Liban.
Khi quay trở lại Beirut, tôi nhận thấy thành phố rộn lên hai luồng tin đồn
đại. Một liên quan đến việc bùng nổ bạo lực ở trong những người Syria,
điều này đã xảy ra rồi, còn một là bùng nổ bạo lực từ những người Israel,
https://thuviensach.vn
chuyện này đang được trông đợi sẽ xảy ra bất cứ lúc nào. Về phía những
người Syria mà ban đầu hầu hết mọi người đều khó lòng tin tưởng, tuyên bố
rằng chính quyền Syria đã đàn áp một cuộc nổi dậy ở thành phố lớn thứ tư
của nó – Hama – cướp đi 20 nghìn sinh mạng của dân đen ở đây. Những
câu chuyện của người Israel thì xoay quanh việc thủ lĩnh lực lượng dân
quân Phalange – Bashir Gemayel, đã tiến tới một thỏa thuận với Thủ tướng
Chính phủ Israel – Manachem Begin, hướng về một nỗ lực chung nhằm
đuổi PLO và những người Syria ra khỏi Lib
 









Các ý kiến mới nhất