_emily-tren-dai-cau-vong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:56' 02-02-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:56' 02-02-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Giới thiệu
“Mọi người không bao giờ đúng khi nói tôi là Anne.
Nhưng trên một số phương diện, họ sẽ đúng nếu cho rằng tôi là Emily.”
Một nữ nhà văn, chao ôi, Emily ao ước trở thành nhà văn hơn bất cứ điều gì khác trên đời. Tiếp tục
học lên cao ở thị trấn Shrewsbury chính là con đường thuận lợi hơn cả để tiến gần hơn tới mục tiêu ấy.
Nhưng đến Shrewsbury đồng nghĩa với việc phải rời xa trang trại Trăng Non yêu dấu, phải sống cùng
bác Ruth không bao giờ biết cười, và đáng sợ hơn tất thảy, phải ngừng sáng tác truyện trong ba năm.
Liệu Shrewsbury có phải là nơi thích hợp để Emily khởi nghiệp, nơi cô tìm thấy “ánh cầu vồng hạnh
phúc”, nơi vẻ đẹp đặc biệt của cô chạm đến trái tim của một chàng trai trẻ?
Emily trên dải cầu vồng mang đặc trưng của những tác phẩm đã trở thành kinh điển của L. M.
Montgomery: Lời văn tuyệt đẹp, hình ảnh nên thơ, nhân vật khác thường, truyện bên lề đáng yêu cùng
một chút sắc màu tình yêu trong sáng. Nhưng chính khát vọng được viết văn cháy bỏng của Emily
cùng lối khắc họa hiện thực không chút lảng tránh đã khiến bộ ba tiểu thuyết về Emily Byrd Starr trở
nên khác biệt, một vẻ đẹp sáng rỡ ngay cả trong những giờ khắc u buồn nhất.
Là sê-ri thứ hai về nhân vật kinh điển Emily của nhà văn Lucy Maud Montgomery, Emily trên dải
cầu vồng kể câu chuyện của cô gái này trong giai đoạn từ 13 đến 17 tuổi. Không còn là một cô nhóc
như trong Emily ở trang trại Trăng Non, trong tác phẩm này, Emily đã trưởng thành và hiểu chuyện
hơn, đồng thời, cô bắt đầu biết ước mơ. Một nữ nhà văn, chao ôi, đây chính là khao khát lớn nhất của
Emily...
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả
Lucy Maud Montgomery
Lucy Maud Montgomery (1874-1942) chào đời tại Clifton (hiện giờ là vùng New London), thuộc
đảo Hoàng tử Edward, Canada vào ngày 30 tháng 11 năm 1874. Cuốn đầu tiên của sê-ri kinh điển về
cô bé Anne Tóc đỏ đã đưa nhà văn Montgomery thành một trong những nhà văn bestseller của mọi
thời đại. Tính tới nay, bà đã viết khoảng 20 cuốn tiểu thuyết cùng với khoảng 500 truyện ngắn và thơ.
Năm 1908, bà xuất bản cuốn đầu tiên trong series kinh điển về cô bé Anne tóc đỏ và thu được
thành công vang dội. Đến nay, cuốn sách đã được xuất bản bằng hơn 30 ngôn ngữ, bán được tới 50
triệu bản, đưa Montgomery thành một trong những nhà văn bestseller của mọi thời đại.
Sau loạt truyện về Anne tóc đỏ, Montgomery chia tay Anne để sáng tạo nên một nhân vật mới,
Emily, cũng là cô bé mồ côi nhưng gần gũi hơn với đời thực, mang nhiều đặc điểm tính cách và cuộc
đời của chính tác giả. Bộ tiểu thuyết về Emily đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn, được
chuyển thể thành phim truyền hình năm 1998 và phim hoạt hình năm 2007.
Bộ ba tiểu thuyết viết về Emily do Nhã Nam xuất bản:
Emily ở trang trại Trăng Non
Emily trên Dải Cầu Vồng
Emily và Ngôi Nhà Không Còn Tuyệt Vọng
Mục lục
Chương 1: Dốc cạn tâm sự
Chương 2: Thời thanh xuân non nớt
Chương 3: Đêm thao thức
Chương 4: “Theo cách người khác nhìn chúng ta”
Chương 5: Thà ít còn hơn không
Chương 6: Những ngày đầu ở Shrewsbury
Chương 7: Chắp nhặt
Chương 8: Không đủ chứng cứ
Chương 9: Phút huy hoàng
Chương 10: Một giờ điên rồ
Chương 11: Cao và sâu
Chương 12: Trước dấu hiệu của đống cỏ khô
Chương 13: Bến cảng
Chương 14: Người phụ nữ từng đét mông đức vua
Chương 15: “Điều không thể”
Chương 16: Củi rề
Chương 17: “Nếu người hôn người”
Chương 18: Bằng chứng gián tiếp
Chương 19: “Những giọng nói từ trên cao”
Chương 20: Trong nhà cũ của John
Chương 21: Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Chương 22: Yêu ai yêu cả đường đi
Chương 23: Cánh cửa mở
Chương 24: Thung lũng ảo mộng
Chương 25: Tình yêu tháng Tư
Tặng
“Mục sư Felix”
với
lòng cảm kích sâu sắc
Chương 1: Dốc cạn tâm sự
Một đêm tháng Hai mưa gió bão bùng giữa những ngày xa xưa trước khi
cả thế giới bỗng nhiên đảo lộn, Emily Byrd Starr chỉ có một mình trong
phòng, tại ngôi nhà lâu đời trên trang trại Trăng Non ở làng Hồ Blair. Khi
ấy, cô bé đang ngập tràn niềm hạnh phúc tột cùng. Sau khi cân nhắc đến hơi
lạnh ban đêm, bà Elizabeth đã cho phép cô đốt lửa trong cái lò sưởi bé tí teo
– một ân huệ hiếm hoi. Ánh lửa rạng rỡ bập bùng tỏa luồng ánh sáng màu đỏ
vàng soi tỏ khắp căn phòng nhỏ sạch như li như lau với những đồ nội thất cổ
lỗ cùng mấy ô cửa sổ khoét sâu, bậu cửa rộng, chiếu lên những bông tuyết
đang níu chặt như các tràng hoa nhỏ trên mấy tấm kính màu trắng xanh bị
sương giá phủ mờ. Ánh lửa mang chiều sâu và sắc màu bí ẩn đến cho tấm
gương soi trên bức tường giờ đang phản chiếu hình ảnh Emily gập người
trên chiếc ghế đệm trước lò sưởi, viết vào “cuốn sổ Jimmy” mới toanh bìa
đen bóng láng vừa được ông Jimmy cho hôm ấy, dưới ánh sáng của hai cây
nến cao màu trắng – phương tiện chiếu sáng duy nhất được phép sử dụng ở
Trăng Non. Emily rất vui khi nhận được cuốn sổ này, vì cô bé đã viết kín
cuốn sổ được ông tặng hồi mùa thu năm ngoái, và hơn một tuần nay, cô bé
đã phải chịu đựng nỗi thống khổ vì bị kìm nén không thể viết vào một “cuốn
nhật ký” không hề tồn tại.
Nhật ký đã trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất trong những tháng ngày
niên thiếu căng tràn nhựa sống của Emily. Nó đã tiếp quản vai trò của những
“bức thư” cô bé viết suốt thời thơ ấu cho người cha quá cố, nơi cô bé có thói
quen “dốc cạn tâm sự” về các rắc rối và lo lắng của mình – vì ngay cả khi
đang trong quãng thời gian diệu huyền mới chập chững bước vào độ tuổi
mười bốn, người ta vẫn gặp nhiều rắc rối và lo lắng, đặc biệt khi ta phải sống
dưới sự cai quản nghiêm khắc, dù đầy thiện chí nhưng không hề chan chứa
dịu dàng của bà Elizabeth Murray. Đôi khi, Emily có cảm giác nếu không
nhờ cuốn nhật ký, rất có thể cô bé sẽ nổ tung bởi cứ phải âm thầm kìm giữ
mọi cảm xúc trong lòng.
Đối với cô bé, “cuốn sổ Jimmy” bìa đen dày cộp ấy không khác gì một
người bạn riêng tư, một bạn tâm giao đáng tin cậy để cô bé tâm sự về nhiều
vấn đề dù đang chất chứa đến ngột ngạt trong lòng nhưng lại quá dễ kích
động nên chẳng thể phó mặc rót vào tai bất cứ người nào. Ở trang trại Trăng
Non bây giờ, muốn tìm bất cứ thể loại sổ trắng nào cũng khó chẳng kém gì
bắc thang lên trời, và nếu không nhờ ông Jimmy thì chắc Emily chẳng thể
đào đâu ra cuốn nào. Chắc chắn bà Elizabeth sẽ không cho cô cô bé rồi – bà
Elizabeth vẫn cho rằng Emily đang lãng phí quá nhiều thời gian “cho cái thứ
chữ nghĩa mèo cào vớ vẩn” như thế - còn bà Laura lại không dám trái lời bà
Elizabeth trong chuyện này – thêm nữa chính bà Laura cũng thật tâm nghĩ
rằng có lẽ Emily nên tập trung vào công việc thì hơn. Bà Laura là một phụ
nữ đáng kính, nhưng vẫn có nhiều chuyện bà khó lòng hiểu nổi.
Ông Jimmy thì lại chẳng hề e sợ bà Elizabeth, và chỉ cần trong đầu ông
nảy ra suy nghĩ rằng rất có thể Emily đang muốn một “cuốn sổ trắng” khác
thì y như rằng cuốn sổ trắng đó sẽ ngay lập tức xuất hiện, bất chấp những
ánh mắt lườm nguýt của bà Elizabeth. Chỉ vì muốn kiếm được cuốn sổ ấy
mà ngày hôm đó ông đã lặn lội xuống tận Shrewsbury ngay giữa lúc cơn bão
ngược chiều bắt đầu quần thảo càng lúc càng hăng. Vậy nên, tắm mình trong
ánh sáng lò sưởi vừa huyền ảo vừa thân thiện, Emily vẫn dạt dào niềm hạnh
phúc dù gió đang thét gào hú huýt xuyên từ vườn cây lâu đời rộng mênh
mông cho tới tận mạn Bắc Trăng Non, tung những tràng hoa tuyết khổng lồ
chói lóa xoay tít văng từ đầu bên này sang đầu bên kia khu vườn trứ danh
của bác Jimmy, xô cái đồng hồ mặt trời dạt hẳn sang chỗ khác, và rít lên
những âm thanh kỳ quái xuyên khắp Ba Nàng Công Chúa – cách gọi quen
thuộc của Emily đối với ba cây dương Lombardy trong góc vườn.
“Nếu buổi tối không phải ra ngoài trời bão tố thì tôi rất yêu cơn bão giống
như cơn bão này,” Emily viết. “Bác Jimmy và tôi đã có một buổi tối tuyệt
vời lên kế hoạch cho khu vườn của hai bác cháu, chọn lựa cậy và hạt giống
từ tập danh mục. Đúng tại địa điểm đang bị quần thảo ghê gớm nhất, phía
sau nhà hóng mát, hai bác cháu dự định sẽ trồng một thảm cúc thúy hồng, và
hai bác cháu sẽ lấy những cây hạnh đang trổ hoa làm nền cho các nàng
Người Dát Vàng – tức đám thủy tiên hoa vàng giờ đây đang mơ màng dưới
cả mét tuyết. Tôi thích lên kế hoạch mùa hè như thế này, ngay giữa lúc bão
tố đang thét gào. Như vậy, tôi sẽ cảm thấy dường như mình đang giành chiến
thắng trước một thứ lớn lao hơn tôi gấp vạn lần, chỉ nhờ tôi có đầu óc hơn,
còn cơn bão chẳng là gì hết ngoài một thứ sức mạnh tàn nhẫn, mù quáng –
khủng khiếp đấy, nhưng lại mù quáng. Tôi cũng có cảm giác y như thế khi
ngồi đây bên cái lò sưởi ấm cúng thân thương của mình, lắng nghe cơn bão
cuồng nộ vần vũ bốn bề, và cười thẳng vào mặt nó. Và, có được điều đó là
nhờ hàng trăm năm trước, cụ cố Murray đã xây ngôi nhà này và xây một
cách vô cùng cẩn thận. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết một trăm năm sau,
liệu có ai giành được chiến thắng trước một thứ nào đấy nhờ vào cái gì đó
mà tôi đã để lại hay đã thực hiện không. Đây quả là một ý tưởng đầy hứng
khởi.
“Tôi chẳng kịp suy nghĩ gì mà đã cứ thế viết dòng chữ in nghiêng kia rồi.
Thầy Carpenter nói tôi sử dụng quá nhiều từ in nghiêng. Thầy nói đó là nỗi
ám ảnh đầu thời Victoria, và tôi phải cố gắng từ bỏ nó đi. Sau khi tra từ điển
thì tôi rút ra kết luận mình sẽ phải làm thế thôi, vì rõ ràng chẳng có gì hay ho
khi bị ám ảnh bởi thứ gì đó, mặc dù có vẻ như thà thế vẫn còn đỡ hơn là bị
mất tự chủ. Đấy, tôi lại thế rồi: nhưng tôi cảm thấy lần này sử dụng từ in
nghiêng là chính xác.
“Tôi đọc từ điển cả tiếng đồng hồ liền – cho tới tận khi bác Elizabeth nổi
ý nghi ngờ và cho rằng tốt hơn hết tôi nên mạng lại mấy cái tất rách của
mình đi. Bác ấy không thể lý giải xác đáng được có gì không ổn khi tôi cứ
mải mê nghiên cứu từ điển, nhưng bác ấy cảm thấy chắc chắn chuyện đó
chẳng đúng đắn gì cả, vì bác ấy có bao giờ muốn làm thế đâu. Tôi mê đọc từ
điển. (Vâng, sử dụng in nghiêng ở đây là hoàn toàn cần thiết, thưa thầy
Carpenter. Một từ 'mê' thông thường làm sao mà diễn tả được cảm xúc của
con chứ!) Ngôn ngữ thú vị đến thế đấy. (Lần này tôi mắc ở âm tiết đầu tiên!)
Âm thanh của một vài từ - chẳng hạn như 'ma ám', 'huyền bí' – đã mang ánh
chớp đến cho tôi. (Ôi chao! Nhưng tôi phải viết nghiêng từ ánh chớp. Nó có
bình thường đâu – nó là thứ đặc biệt nhất, tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi.
Khi nó xuất hiện, tôi dường như cảm thấy một cánh cửa vừa bật mở trên bức
tường trước mặt và giúp tôi thoáng nhìn thấy – đúng vậy đó, thấy thiên
đường. Lại viết nghiêng nữa rồi! Ôi, tôi đã hiểu tại sao thầy Carpenter lại la
rầy rồi! Tôi phải cố gắng bỏ cái thói quen này đi thôi.)
“Những từ đao to búa lớn chẳng bao giờ đẹp cả... 'buộc tội'... 'ngỗ
ngược'... 'quốc tế'... 'vi hiến'. Chúng làm tôi nghĩ đến những cây hoa cúc và
hoa thược dược to khủng khiếp mà bác Jimmy đã dẫn tôi đi xem hồi mùa thu
năm ngoài ở cuộc triển lãm tại Charlottetown. Hai bác cháu chẳng thấy
chúng có chút xíu dễ thương nào hết, ấy vậy nhưng có mấy người lại cứ cho
rằng chúng thật tuyệt vời. Những cây cúc vàng bé nhỏ của bác Jimmy, giống
như những vì sao mờ huyền ảo nhấp nháy trên vạt linh sam ở góc vườn phía
Tây Bắc, còn đẹp hơn gấp chục lần. Nhưng tôi lại lan man đi chệch khỏi chủ
đề của mình rồi – lại một thói quen xấu khác của tôi, theo lời thầy Carpenter.
Thầy nói tôi phải (lần này chính thầy mới là người dùng từ viết nghiêng
nhé!) học cách tập trung – lại một từ to tát khác và cũng là từ xấu xí không
để đâu cho hết.
“Nhưng lúc đọc cuốn từ điển ấy, tôi rất vui, vui hơn nhiều so với lúc dành
thời gian cho đám tất có gân kia. Giá như tôi có một đôi tất lụa, chỉ cần một
đôi thôi cũng được. Ilse có ba đôi. Giờ hễ bạn ấy thích thứ gì là lại được cha
cho ngay thứ nấy, vì bác ấy đã biết yêu thương bạn ấy rồi. Còn bác Elizabeth
thì bảo tất lụa là thứ phi đạo đức. Tôi không hiểu nổi tại sao nữa... nó cũng
có khác gì váy áo lụa đâu.
“Lại nói đến chuyện váy lụa, dì Janey Milburn ở Ao Thành Kiến – thật ra
bà ấy chẳng có quan hệ họ hàng gì cả, nhưng ai cũng gọi bà ấy như thế - đã
thề rằng bà ấy sẽ không bao giờ mặc váy lụa, trừ phi hết thảy thế giới ngoại
đạo đều cải theo Cơ Đốc hết. Chuyện đó rõ thật là hay. Tôi ước gì tôi cũng
có thể hay ho được như thế, nhưng đành chịu thôi, tôi yêu đồ lụa quá mất rồi.
Nó mới đẹp đẽ và rực rỡ làm sao chứ. Tôi muốn lúc nào cũng được mặc đồ
lụa, ấy là trong trường hợp tôi đủ dư dả để làm thế, nhưng có lẽ mỗi lần nghĩ
đến bà dì Janey yêu dấu và giới ngoại đạo vẫn chưa cải đạo, thể nào tôi cũng
sẽ thấy cắn rứt lương tâm cho xem. Nói vậy thôi chứ nếu có thật như thế thì
cũng còn phải mất nhiều năm nữa tôi mới có đủ tiền để mua dẫu chỉ là một
chiếc váy lụa, mà từ giờ đến lúc đó, hằng tháng tôi vẫn phải san một ít tiền
bán trứng của mình cho các hội truyền giáo. (Bây giờ tôi đang có năm con
gà, cả năm đều là con của nàng gà mái lông xám Perry tặng tôi nhân dịp sinh
nhật lần thứ mười hai.) Nếu sau này có thể mua được một chiếc váy lụa như
đã nói thì tôi biết rõ chiếc váy ấy trông sẽ như thế nào. Không phải màu đen,
nâu hay xanh nước biển, những thứ màu vừa bền vừa đứng đắn, đúng màu
truyền thống trang phục của nhà Murray ở Trăng Non – ôi, chao ôi, không
đâu! Nó sẽ là thứ lụa óng ánh, nhìn dưới ánh sáng này là màu xanh da trời,
nhìn dưới ánh sáng kia lại lấp lánh màu bạc, giống y như bầu trời nhấp nháy,
thấp thoáng qua khung kính cửa sổ đã mờ đi vì băng giá, và nó sẽ được điểm
xuyết những sóng đăng ten, như những sợi lông vũ mảnh mai kết từ những
bông tuyết cheo leo ngoài ô cửa sổ phòng tôi. Teddy bảo cậu ấy sẽ vẽ hình
tôi mặc bộ váy ấy và gọi bức tranh đó là 'Thiếu nữ băng tuyết', còn bác Laura
cười tủm tỉm rồi nói bằng giọng cực kỳ dịu dàng và nhún nhường, đúng cái
kiểu nói tôi rất ghét, cho dù người nói có là bác Laura yêu dấu chăng nữa,
“ 'Một cái váy như thế thì ích lợi gì với cháu chứ, Emily?'
“Có lẽ nó chẳng có ích lợi gì hết, nhưng khi khoác lên người bộ váy ấy,
tôi sẽ cảm thấy như thể nó chính là một phần bản thân mình, cảm thấy nó
gắn liền với tôi chứ không phải là món đồ chỉ được mua về rồi mặc vào
người. Tôi luôn ao ước có một bộ váy như thế trong đời. Và cả lớp váy lót
bằng lụa... rồi tất lụa nữa!
“Giờ thì Ilse đã có một chiếc váy lụa rồi, một chiếc váy màu hồng nhạt.
Bác Elizabeth nói bác sĩ Burnley cho Ilse ăn mặc quá già và quá sặc sỡ so
với một đứa trẻ. Nhưng bác Burnley chỉ muốn bù đắp lại hết thảy những năm
tháng bác ấy chẳng cho Ilse ăn mặc gì hết. (Tôi không có ý là bạn ấy trần
truồng chẳng mặc gì đâu, nhưng nếu chỉ dựa vào bác sĩ Burnley thì có khi
bạn ấy sẽ thành ra như thế cũng không chừng. Toàn người khác phải chăm lo
đến khoản quần áo của bạn ấy.) Giờ bạn ấy muốn gì bác ấy cũng chiều hết,
và bác ấy còn cho phép bạn ấy thích làm gì thì làm. Bác Elizabeth bảo như
vậy chẳng có gì hay ho cho Ilse cả, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn thấy ghen tị
với bạn ấy. Tôi biết thế là rất xấu tính, nhưng tôi chẳng kìm lòng được.
“Mùa thu năm sau, bác sĩ Burnley sẽ gửi Ilse đến trường trung học
Shrewsbury, và sau đó là tới Montreal để học diễn thuyết. Vậy nên tôi mới
ghen tị với bạn ấy, chứ không phải vì chiếc váy lụa. Tôi chỉ mong sao bác
Elizabeth cho phép tôi tới Shrewsbury, nhưng chỉ e là chẳng đời nào có
chuyện đó đâu. Vì mẹ tôi đã trốn nhà theo bố tôi nên bác ấy luôn cho rằng hễ
sểnh ra một cái không để mắt đến tôi được là đừng hòng tin tưởng vào tôi.
Nhưng đáng lẽ ra bác ấy chẳng cần phải lo sợ tôi sẽ trốn nhà theo tiếng gọi
tình yêu. Tôi đã hạ quyết tâm sẽ không bao giờ lấy chồng. Tôi sẽ gắn bó trọn
đời với nghệ thuật.
“Teddy muốn mùa thu tới sẽ đến Shrewsbury, nhưng mẹ cậu ấy sẽ không
đồng ý đâu. Nói thế không có nghĩa là bà ấy sợ Teddy bỏ nhà đi theo tiếng
gọi tình yêu, chỉ là bà ấy yêu thương cậu ấy quá đỗi nên không thể rời xa cậu
ấy được. Teddy muốn trở thành họa sĩ, và thầy Carpenter bảo rằng cậu ấy có
năng khiếu trời phú và nên được trao cho cơ hội, nhưng chẳng ai dám nói gì
với bà Kent cả. Bà ấy là một phụ nữ nhỏ nhắn-thật ra chẳng cao hơn tôi là
mấy, lặng lẽ và rụt rè - ấy vậy nhưng ai cũng sợ bà ấy. Tôi... sợ đến chết đi
được. Tôi luôn biết rõ bà ấy không thích mình-ngay từ ngày xửa ngày xưa
cái thời tôi và Ilse lần đầu tiên đến Vạt Cúc Ngải để chơi với Teddy. Nhưng
giờ thì bà ấy ghét tôi hẳn hoi – tôi dám chắc thế - chỉ vì Teddy quý tôi. Bà ấy
không thể chịu đựng được khi cậu ấy yêu quý bất kỳ ai hay bất kỳ thứ gì
khác ngoài bà ấy. Thậm chí, bà ấy còn ghen cả với tranh cậu ấy vẽ nữa. Vậy
nên cậu ấy chẳng có nhiều cơ hội để tới Shrewsbury đâu. Perry thì sẽ đi. Cậu
ấy chẳng có xu nào, nhưng dù gì cậu ấy cũng sẽ làm theo ý mình. Chính vì
vậy vậu ấy định sẽ tới Shrewsbury thay vì Học viện Queen. Cậu ấy vẫn đinh
ninh rằng ở Shrewsbury dễ kiếm việc làm thêm hơn, thêm nữa tiền trọ ở đấy
cũng rẻ hơn.
“ 'Bà bác Tom già lọm khọm của tớ cũng có ít tiền đấy,' cậu ấy bảo tôi,
'nhưng bà ấy sẽ chẳng cho tớ dù chỉ một xu... trừ phi... trừ phi...'
“Rồi cậu ấy nhìn tôi đầy ẩn ý.
“Tôi chẳng thể kiềm chế được mà đỏ hết cả mặt, rồi sau đó lại giận điên
lên với chính mình vì tội đã đỏ mặt, và cả với Perry nữa... vì cậu ta đã nhắc
đến một chuyện mà tôi không muốn nghe chút nào... hồi xưa ấy, có lần bác
Tom của cậu ta đã gặp tôi ở rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn, và làm
tôi sợ đến chết đi được vì bà ấy cứ nằng nặc bắt tôi hứa sẽ cưới Perry khi
nào chúng tôi lớn, chỉ thế thì bà ấy mới chịu nuôi cậu ấy ăn học. Tôi chưa
từng kể với ai về chuyện đó – xấu hổ chết đi được – ngoài Ilse, và bạn ấy
bảo,
“ 'Nghĩ mà xem, bà Tom lại mong mỏi kiếm một người nhà Murray cho
Perry cơ đấy!'
“Nhưng sau đó, Ilse tỏ ra khắt khe khủng khiếp với Perry, suốt ngày cãi
cọ với cậu ấy, cả về những chuyện mà tôi chỉ thấy buồn cười thôi. Perry
chẳng bao giờ thích bị bất kỳ ai qua mặt về bất cứ chuyện gì. Tuần vừa rồi,
lúc chúng tôi đang dự tiệc ở nhà Amy Moore, chú của Amy đã kể cho chúng
tôi nghe về một con bê khá quái dị mà chú ấy từng nhìn thấy, nó chỉ có ba
chân thôi, vậy là Perry bảo,
“ 'Ôi dào, thế thì có là gì so với con vịt cháu từng nhìn thấy ở Na Uy chứ.'
“(Đúng là Perry từng ở Na Uy thật. Ngày xưa hồi còn nhỏ, cậu ấy từng
cùng cha mình dong buồm lênh đênh khắp mọi nơi. Nhưng tôi chẳng tin bất
cứ lời nào về con vịt đó. Cậu ấy không nói dối – cậu ấy chỉ bịa chuyện thôi.
Thầy Carpenter kính mến, con không thể không viết nghiêng được.)
“Theo lời Perry thì con vịt ấy có bốn chân, hai chân nằm ở vị trí bình
thường giống như những con vịt khác, còn hai chân nữa thì mọc ra sau lưng.
Vậy nên khi nào phát mệt vì đi bằng đôi chân bình thường rồi thì nó sẽ lật
ngửa mình lại đi bằng hai chân kia!
“Perry kể câu chuyện bịa này với vẻ mặt rất nghiêm túc, và ai cũng đều
phá lên cười, chú của Amy thì nói, 'Kể tiếp đi, Perry.' Nhưng Ilse lại giận
điên lên và suốt trên đường về nhà không thèm nói năng gì với cậu ấy. Bạn
ấy bảo cậu ấy đã tự biến mình thành một thằng ngốc, cố gắng 'ra vẻ ta đây'
bằng một câu chuyện ngu ngốc như thế, và chẳng quý ông nào lại cư xử theo
kiểu đó hết.
“Perry nói: 'Giờ tôi vẫn chưa phải một quý ông mà chỉ là cậu bé làm thuê
thôi, nhưng một ngày nào đó, tiểu thư Ilse ạ, tôi sẽ trở thành một quý ông
hào hoa phong nhã hơn bất kỳ ai cô biết cho mà xem.'
“ 'Có phải quý ông hay không,' Ilse nói đầy ác ý, 'thì từ khi sinh ra đã thế
rồi. Họ không thuộc kiểu người cố gắng thì sẽ thành, cậu biết đấy.'
“Ilse hầu như đã bỏ hẳn thói quen gọi người khác là đồ này đồ nọ, giống
như ngày xưa bạn ấy vẫn làm khi cãi lộn với Perry hoặc tôi, mà thay vào đó
là nói những điều độc ác, cay độc. Chúng còn khiến người ta tổn thương hơn
gấp nhiều lần so với bị gọi là đồ này đồ nọ, nhưng tôi thật tâm chẳng buồn
để ý đến chúng – không nhiều lắm – hay không lâu lắm – vì Ilse không chủ
tâm nói thế và thật ra bạn ấy cũng yêu quý tôi không kém gì tôi yêu quý bạn
ấy. Nhưng Perry thì bảo những lời ấy cứ đeo đẳng tâm trí cậu ấy. Từ lúc đó
cho tới tận khi đã về đến nhà, cậu ấy và Ilse chẳng nói năng gì với nhau nữa,
nhưng hôm sau, Ilse lại công kích cậu ấy vì chuyện dùng sai ngữ pháp và
không đứng dậy khi có một phu nhân bước vào phòng.
“ 'Tất nhiên người ta cũng chẳng thể trông chờ cậu biết điều đó được,' bạn
ấy nói bằng giọng cay độc hết mức, 'nhưng tôi dám chắc thầy Carpenter đã
nỗ lực hết sức để dạy ngữ pháp cho cậu.'
“Perry không nói một lời với Ilse mà chỉ quay sang nói với tôi.
“ 'Cậu sẽ chỉ cho tớ các lỗi sai chứ?' cậu ấy hỏi. 'Tớ không thấy khó chịu
nếu cậu làm thế đâu... khi chúng ta lớn lên thì không phải Ilse mà chính cậu
mới là người phải chịu đựng tớ.'
“Cậu ấy nói thế cốt làm Ilse giận, nhưng tôi còn giận hơn nhiều, vì nó
bóng gió về một chủ đề cấm kỵ. Vậy nên cả hai đứa tôi chẳng ai thèm nói
chuyện với cậu ấy trong suốt hai ngày, và cậu ấy bảo dù sao đi nữa thì cậu ấy
cũng nhẹ cả người vì tạm thời thoát được những lời chỉ trích gay gắt của Ilse.
“Perry không phải người duy nhất ở Trăng Non bị rơi vào tình huống
đáng xấu hổ. Tối qua tôi đã nói một điều ngu ngốc, khiến cho mỗi khi nhớ
lại tôi đều phải đỏ mặt. Hội Phụ nữ Cứu trợ đã họp mặt ở đây và bác
Elizabeth mời họ ăn tối, vậy là chồng của các bà các cô trong hội cũng đến
tham gia. Ilse và tôi đứng phục vụ ở bàn ăn bày biện trong bếp vì bàn phòng
khách không đủ rộng. Ban đầu thì mọi chuyện cũng khá vui, nhưng đến khi
mọi người đều đã được phụ vụ đồ ăn thức uống đầy đủ thì không khí có phần
tẻ nhạt dần, và tôi đứng bên cửa sổ, vừa phóng ánh mắt ra ngoài vườn, vừa
soạn trong đầu mấy vần thơ. Tôi say sưa với việc này đến nỗi chẳng mấy
chốc đã quên bẵng tất cả mọi thứ khác, cho tới khi đột nhiên tôi nghe thấy
bác Elizabeth gọi 'Emily' bằng giọng sắc lẻm, và rồi bác ấy hướng ánh mắt
đầy ẩn ý về phía ngài Johnson, mục sư mới của chúng tôi. Tôi bối rối chộp
lấy bình trà và kêu lên,
“ 'Ôi, ngài Tách, ngài có muốn châm thêm trà vào Johnson của ngài
không ạ?'
“Ai nấy đều phá lên cười, bác Elizabeth trông vô cùng cáu kỉnh và bác
Laura xấu hổ tột độ, còn tôi thì chỉ ước gì mình chui xuống đất cho xong.
Tôi trằn trọc gần hết một đêm vì cứ nghĩ mãi về chuyện này. Lạ một nỗi tôi
tin chắc nếu thực sự làm sai chuyện gì đó thì tôi cũng chẳng cảm thấy bứt rứt
và xấu hổ đến mức này. Tất nhiên đây là vấn đề về 'lòng kiêu hãnh của người
nhà Murray', và tôi cho rằng chuyện này rất tệ hại. Đôi khi, tôi chỉ sợ rằng
xét cho cùng, bà bác Ruth Dutton hóa ra đã đánh giá đúng về tôi.
“Không, bà ấy không đúng!
“Nhưng ở Trăng Non đã hình thành một truyền thống rằng những người
phụ nữ trong dòng họ cần phải có đủ khả năng đối phó với bất kỳ tình huống
nào và lúc nào cũng phải tỏ ra duyên dáng đường ho
“Mọi người không bao giờ đúng khi nói tôi là Anne.
Nhưng trên một số phương diện, họ sẽ đúng nếu cho rằng tôi là Emily.”
Một nữ nhà văn, chao ôi, Emily ao ước trở thành nhà văn hơn bất cứ điều gì khác trên đời. Tiếp tục
học lên cao ở thị trấn Shrewsbury chính là con đường thuận lợi hơn cả để tiến gần hơn tới mục tiêu ấy.
Nhưng đến Shrewsbury đồng nghĩa với việc phải rời xa trang trại Trăng Non yêu dấu, phải sống cùng
bác Ruth không bao giờ biết cười, và đáng sợ hơn tất thảy, phải ngừng sáng tác truyện trong ba năm.
Liệu Shrewsbury có phải là nơi thích hợp để Emily khởi nghiệp, nơi cô tìm thấy “ánh cầu vồng hạnh
phúc”, nơi vẻ đẹp đặc biệt của cô chạm đến trái tim của một chàng trai trẻ?
Emily trên dải cầu vồng mang đặc trưng của những tác phẩm đã trở thành kinh điển của L. M.
Montgomery: Lời văn tuyệt đẹp, hình ảnh nên thơ, nhân vật khác thường, truyện bên lề đáng yêu cùng
một chút sắc màu tình yêu trong sáng. Nhưng chính khát vọng được viết văn cháy bỏng của Emily
cùng lối khắc họa hiện thực không chút lảng tránh đã khiến bộ ba tiểu thuyết về Emily Byrd Starr trở
nên khác biệt, một vẻ đẹp sáng rỡ ngay cả trong những giờ khắc u buồn nhất.
Là sê-ri thứ hai về nhân vật kinh điển Emily của nhà văn Lucy Maud Montgomery, Emily trên dải
cầu vồng kể câu chuyện của cô gái này trong giai đoạn từ 13 đến 17 tuổi. Không còn là một cô nhóc
như trong Emily ở trang trại Trăng Non, trong tác phẩm này, Emily đã trưởng thành và hiểu chuyện
hơn, đồng thời, cô bắt đầu biết ước mơ. Một nữ nhà văn, chao ôi, đây chính là khao khát lớn nhất của
Emily...
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Tác giả
Lucy Maud Montgomery
Lucy Maud Montgomery (1874-1942) chào đời tại Clifton (hiện giờ là vùng New London), thuộc
đảo Hoàng tử Edward, Canada vào ngày 30 tháng 11 năm 1874. Cuốn đầu tiên của sê-ri kinh điển về
cô bé Anne Tóc đỏ đã đưa nhà văn Montgomery thành một trong những nhà văn bestseller của mọi
thời đại. Tính tới nay, bà đã viết khoảng 20 cuốn tiểu thuyết cùng với khoảng 500 truyện ngắn và thơ.
Năm 1908, bà xuất bản cuốn đầu tiên trong series kinh điển về cô bé Anne tóc đỏ và thu được
thành công vang dội. Đến nay, cuốn sách đã được xuất bản bằng hơn 30 ngôn ngữ, bán được tới 50
triệu bản, đưa Montgomery thành một trong những nhà văn bestseller của mọi thời đại.
Sau loạt truyện về Anne tóc đỏ, Montgomery chia tay Anne để sáng tạo nên một nhân vật mới,
Emily, cũng là cô bé mồ côi nhưng gần gũi hơn với đời thực, mang nhiều đặc điểm tính cách và cuộc
đời của chính tác giả. Bộ tiểu thuyết về Emily đã khơi nguồn cảm hứng cho nhiều đạo diễn, được
chuyển thể thành phim truyền hình năm 1998 và phim hoạt hình năm 2007.
Bộ ba tiểu thuyết viết về Emily do Nhã Nam xuất bản:
Emily ở trang trại Trăng Non
Emily trên Dải Cầu Vồng
Emily và Ngôi Nhà Không Còn Tuyệt Vọng
Mục lục
Chương 1: Dốc cạn tâm sự
Chương 2: Thời thanh xuân non nớt
Chương 3: Đêm thao thức
Chương 4: “Theo cách người khác nhìn chúng ta”
Chương 5: Thà ít còn hơn không
Chương 6: Những ngày đầu ở Shrewsbury
Chương 7: Chắp nhặt
Chương 8: Không đủ chứng cứ
Chương 9: Phút huy hoàng
Chương 10: Một giờ điên rồ
Chương 11: Cao và sâu
Chương 12: Trước dấu hiệu của đống cỏ khô
Chương 13: Bến cảng
Chương 14: Người phụ nữ từng đét mông đức vua
Chương 15: “Điều không thể”
Chương 16: Củi rề
Chương 17: “Nếu người hôn người”
Chương 18: Bằng chứng gián tiếp
Chương 19: “Những giọng nói từ trên cao”
Chương 20: Trong nhà cũ của John
Chương 21: Một giọt máu đào hơn ao nước lã
Chương 22: Yêu ai yêu cả đường đi
Chương 23: Cánh cửa mở
Chương 24: Thung lũng ảo mộng
Chương 25: Tình yêu tháng Tư
Tặng
“Mục sư Felix”
với
lòng cảm kích sâu sắc
Chương 1: Dốc cạn tâm sự
Một đêm tháng Hai mưa gió bão bùng giữa những ngày xa xưa trước khi
cả thế giới bỗng nhiên đảo lộn, Emily Byrd Starr chỉ có một mình trong
phòng, tại ngôi nhà lâu đời trên trang trại Trăng Non ở làng Hồ Blair. Khi
ấy, cô bé đang ngập tràn niềm hạnh phúc tột cùng. Sau khi cân nhắc đến hơi
lạnh ban đêm, bà Elizabeth đã cho phép cô đốt lửa trong cái lò sưởi bé tí teo
– một ân huệ hiếm hoi. Ánh lửa rạng rỡ bập bùng tỏa luồng ánh sáng màu đỏ
vàng soi tỏ khắp căn phòng nhỏ sạch như li như lau với những đồ nội thất cổ
lỗ cùng mấy ô cửa sổ khoét sâu, bậu cửa rộng, chiếu lên những bông tuyết
đang níu chặt như các tràng hoa nhỏ trên mấy tấm kính màu trắng xanh bị
sương giá phủ mờ. Ánh lửa mang chiều sâu và sắc màu bí ẩn đến cho tấm
gương soi trên bức tường giờ đang phản chiếu hình ảnh Emily gập người
trên chiếc ghế đệm trước lò sưởi, viết vào “cuốn sổ Jimmy” mới toanh bìa
đen bóng láng vừa được ông Jimmy cho hôm ấy, dưới ánh sáng của hai cây
nến cao màu trắng – phương tiện chiếu sáng duy nhất được phép sử dụng ở
Trăng Non. Emily rất vui khi nhận được cuốn sổ này, vì cô bé đã viết kín
cuốn sổ được ông tặng hồi mùa thu năm ngoái, và hơn một tuần nay, cô bé
đã phải chịu đựng nỗi thống khổ vì bị kìm nén không thể viết vào một “cuốn
nhật ký” không hề tồn tại.
Nhật ký đã trở thành yếu tố quan trọng bậc nhất trong những tháng ngày
niên thiếu căng tràn nhựa sống của Emily. Nó đã tiếp quản vai trò của những
“bức thư” cô bé viết suốt thời thơ ấu cho người cha quá cố, nơi cô bé có thói
quen “dốc cạn tâm sự” về các rắc rối và lo lắng của mình – vì ngay cả khi
đang trong quãng thời gian diệu huyền mới chập chững bước vào độ tuổi
mười bốn, người ta vẫn gặp nhiều rắc rối và lo lắng, đặc biệt khi ta phải sống
dưới sự cai quản nghiêm khắc, dù đầy thiện chí nhưng không hề chan chứa
dịu dàng của bà Elizabeth Murray. Đôi khi, Emily có cảm giác nếu không
nhờ cuốn nhật ký, rất có thể cô bé sẽ nổ tung bởi cứ phải âm thầm kìm giữ
mọi cảm xúc trong lòng.
Đối với cô bé, “cuốn sổ Jimmy” bìa đen dày cộp ấy không khác gì một
người bạn riêng tư, một bạn tâm giao đáng tin cậy để cô bé tâm sự về nhiều
vấn đề dù đang chất chứa đến ngột ngạt trong lòng nhưng lại quá dễ kích
động nên chẳng thể phó mặc rót vào tai bất cứ người nào. Ở trang trại Trăng
Non bây giờ, muốn tìm bất cứ thể loại sổ trắng nào cũng khó chẳng kém gì
bắc thang lên trời, và nếu không nhờ ông Jimmy thì chắc Emily chẳng thể
đào đâu ra cuốn nào. Chắc chắn bà Elizabeth sẽ không cho cô cô bé rồi – bà
Elizabeth vẫn cho rằng Emily đang lãng phí quá nhiều thời gian “cho cái thứ
chữ nghĩa mèo cào vớ vẩn” như thế - còn bà Laura lại không dám trái lời bà
Elizabeth trong chuyện này – thêm nữa chính bà Laura cũng thật tâm nghĩ
rằng có lẽ Emily nên tập trung vào công việc thì hơn. Bà Laura là một phụ
nữ đáng kính, nhưng vẫn có nhiều chuyện bà khó lòng hiểu nổi.
Ông Jimmy thì lại chẳng hề e sợ bà Elizabeth, và chỉ cần trong đầu ông
nảy ra suy nghĩ rằng rất có thể Emily đang muốn một “cuốn sổ trắng” khác
thì y như rằng cuốn sổ trắng đó sẽ ngay lập tức xuất hiện, bất chấp những
ánh mắt lườm nguýt của bà Elizabeth. Chỉ vì muốn kiếm được cuốn sổ ấy
mà ngày hôm đó ông đã lặn lội xuống tận Shrewsbury ngay giữa lúc cơn bão
ngược chiều bắt đầu quần thảo càng lúc càng hăng. Vậy nên, tắm mình trong
ánh sáng lò sưởi vừa huyền ảo vừa thân thiện, Emily vẫn dạt dào niềm hạnh
phúc dù gió đang thét gào hú huýt xuyên từ vườn cây lâu đời rộng mênh
mông cho tới tận mạn Bắc Trăng Non, tung những tràng hoa tuyết khổng lồ
chói lóa xoay tít văng từ đầu bên này sang đầu bên kia khu vườn trứ danh
của bác Jimmy, xô cái đồng hồ mặt trời dạt hẳn sang chỗ khác, và rít lên
những âm thanh kỳ quái xuyên khắp Ba Nàng Công Chúa – cách gọi quen
thuộc của Emily đối với ba cây dương Lombardy trong góc vườn.
“Nếu buổi tối không phải ra ngoài trời bão tố thì tôi rất yêu cơn bão giống
như cơn bão này,” Emily viết. “Bác Jimmy và tôi đã có một buổi tối tuyệt
vời lên kế hoạch cho khu vườn của hai bác cháu, chọn lựa cậy và hạt giống
từ tập danh mục. Đúng tại địa điểm đang bị quần thảo ghê gớm nhất, phía
sau nhà hóng mát, hai bác cháu dự định sẽ trồng một thảm cúc thúy hồng, và
hai bác cháu sẽ lấy những cây hạnh đang trổ hoa làm nền cho các nàng
Người Dát Vàng – tức đám thủy tiên hoa vàng giờ đây đang mơ màng dưới
cả mét tuyết. Tôi thích lên kế hoạch mùa hè như thế này, ngay giữa lúc bão
tố đang thét gào. Như vậy, tôi sẽ cảm thấy dường như mình đang giành chiến
thắng trước một thứ lớn lao hơn tôi gấp vạn lần, chỉ nhờ tôi có đầu óc hơn,
còn cơn bão chẳng là gì hết ngoài một thứ sức mạnh tàn nhẫn, mù quáng –
khủng khiếp đấy, nhưng lại mù quáng. Tôi cũng có cảm giác y như thế khi
ngồi đây bên cái lò sưởi ấm cúng thân thương của mình, lắng nghe cơn bão
cuồng nộ vần vũ bốn bề, và cười thẳng vào mặt nó. Và, có được điều đó là
nhờ hàng trăm năm trước, cụ cố Murray đã xây ngôi nhà này và xây một
cách vô cùng cẩn thận. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết một trăm năm sau,
liệu có ai giành được chiến thắng trước một thứ nào đấy nhờ vào cái gì đó
mà tôi đã để lại hay đã thực hiện không. Đây quả là một ý tưởng đầy hứng
khởi.
“Tôi chẳng kịp suy nghĩ gì mà đã cứ thế viết dòng chữ in nghiêng kia rồi.
Thầy Carpenter nói tôi sử dụng quá nhiều từ in nghiêng. Thầy nói đó là nỗi
ám ảnh đầu thời Victoria, và tôi phải cố gắng từ bỏ nó đi. Sau khi tra từ điển
thì tôi rút ra kết luận mình sẽ phải làm thế thôi, vì rõ ràng chẳng có gì hay ho
khi bị ám ảnh bởi thứ gì đó, mặc dù có vẻ như thà thế vẫn còn đỡ hơn là bị
mất tự chủ. Đấy, tôi lại thế rồi: nhưng tôi cảm thấy lần này sử dụng từ in
nghiêng là chính xác.
“Tôi đọc từ điển cả tiếng đồng hồ liền – cho tới tận khi bác Elizabeth nổi
ý nghi ngờ và cho rằng tốt hơn hết tôi nên mạng lại mấy cái tất rách của
mình đi. Bác ấy không thể lý giải xác đáng được có gì không ổn khi tôi cứ
mải mê nghiên cứu từ điển, nhưng bác ấy cảm thấy chắc chắn chuyện đó
chẳng đúng đắn gì cả, vì bác ấy có bao giờ muốn làm thế đâu. Tôi mê đọc từ
điển. (Vâng, sử dụng in nghiêng ở đây là hoàn toàn cần thiết, thưa thầy
Carpenter. Một từ 'mê' thông thường làm sao mà diễn tả được cảm xúc của
con chứ!) Ngôn ngữ thú vị đến thế đấy. (Lần này tôi mắc ở âm tiết đầu tiên!)
Âm thanh của một vài từ - chẳng hạn như 'ma ám', 'huyền bí' – đã mang ánh
chớp đến cho tôi. (Ôi chao! Nhưng tôi phải viết nghiêng từ ánh chớp. Nó có
bình thường đâu – nó là thứ đặc biệt nhất, tuyệt vời nhất trong cuộc đời tôi.
Khi nó xuất hiện, tôi dường như cảm thấy một cánh cửa vừa bật mở trên bức
tường trước mặt và giúp tôi thoáng nhìn thấy – đúng vậy đó, thấy thiên
đường. Lại viết nghiêng nữa rồi! Ôi, tôi đã hiểu tại sao thầy Carpenter lại la
rầy rồi! Tôi phải cố gắng bỏ cái thói quen này đi thôi.)
“Những từ đao to búa lớn chẳng bao giờ đẹp cả... 'buộc tội'... 'ngỗ
ngược'... 'quốc tế'... 'vi hiến'. Chúng làm tôi nghĩ đến những cây hoa cúc và
hoa thược dược to khủng khiếp mà bác Jimmy đã dẫn tôi đi xem hồi mùa thu
năm ngoài ở cuộc triển lãm tại Charlottetown. Hai bác cháu chẳng thấy
chúng có chút xíu dễ thương nào hết, ấy vậy nhưng có mấy người lại cứ cho
rằng chúng thật tuyệt vời. Những cây cúc vàng bé nhỏ của bác Jimmy, giống
như những vì sao mờ huyền ảo nhấp nháy trên vạt linh sam ở góc vườn phía
Tây Bắc, còn đẹp hơn gấp chục lần. Nhưng tôi lại lan man đi chệch khỏi chủ
đề của mình rồi – lại một thói quen xấu khác của tôi, theo lời thầy Carpenter.
Thầy nói tôi phải (lần này chính thầy mới là người dùng từ viết nghiêng
nhé!) học cách tập trung – lại một từ to tát khác và cũng là từ xấu xí không
để đâu cho hết.
“Nhưng lúc đọc cuốn từ điển ấy, tôi rất vui, vui hơn nhiều so với lúc dành
thời gian cho đám tất có gân kia. Giá như tôi có một đôi tất lụa, chỉ cần một
đôi thôi cũng được. Ilse có ba đôi. Giờ hễ bạn ấy thích thứ gì là lại được cha
cho ngay thứ nấy, vì bác ấy đã biết yêu thương bạn ấy rồi. Còn bác Elizabeth
thì bảo tất lụa là thứ phi đạo đức. Tôi không hiểu nổi tại sao nữa... nó cũng
có khác gì váy áo lụa đâu.
“Lại nói đến chuyện váy lụa, dì Janey Milburn ở Ao Thành Kiến – thật ra
bà ấy chẳng có quan hệ họ hàng gì cả, nhưng ai cũng gọi bà ấy như thế - đã
thề rằng bà ấy sẽ không bao giờ mặc váy lụa, trừ phi hết thảy thế giới ngoại
đạo đều cải theo Cơ Đốc hết. Chuyện đó rõ thật là hay. Tôi ước gì tôi cũng
có thể hay ho được như thế, nhưng đành chịu thôi, tôi yêu đồ lụa quá mất rồi.
Nó mới đẹp đẽ và rực rỡ làm sao chứ. Tôi muốn lúc nào cũng được mặc đồ
lụa, ấy là trong trường hợp tôi đủ dư dả để làm thế, nhưng có lẽ mỗi lần nghĩ
đến bà dì Janey yêu dấu và giới ngoại đạo vẫn chưa cải đạo, thể nào tôi cũng
sẽ thấy cắn rứt lương tâm cho xem. Nói vậy thôi chứ nếu có thật như thế thì
cũng còn phải mất nhiều năm nữa tôi mới có đủ tiền để mua dẫu chỉ là một
chiếc váy lụa, mà từ giờ đến lúc đó, hằng tháng tôi vẫn phải san một ít tiền
bán trứng của mình cho các hội truyền giáo. (Bây giờ tôi đang có năm con
gà, cả năm đều là con của nàng gà mái lông xám Perry tặng tôi nhân dịp sinh
nhật lần thứ mười hai.) Nếu sau này có thể mua được một chiếc váy lụa như
đã nói thì tôi biết rõ chiếc váy ấy trông sẽ như thế nào. Không phải màu đen,
nâu hay xanh nước biển, những thứ màu vừa bền vừa đứng đắn, đúng màu
truyền thống trang phục của nhà Murray ở Trăng Non – ôi, chao ôi, không
đâu! Nó sẽ là thứ lụa óng ánh, nhìn dưới ánh sáng này là màu xanh da trời,
nhìn dưới ánh sáng kia lại lấp lánh màu bạc, giống y như bầu trời nhấp nháy,
thấp thoáng qua khung kính cửa sổ đã mờ đi vì băng giá, và nó sẽ được điểm
xuyết những sóng đăng ten, như những sợi lông vũ mảnh mai kết từ những
bông tuyết cheo leo ngoài ô cửa sổ phòng tôi. Teddy bảo cậu ấy sẽ vẽ hình
tôi mặc bộ váy ấy và gọi bức tranh đó là 'Thiếu nữ băng tuyết', còn bác Laura
cười tủm tỉm rồi nói bằng giọng cực kỳ dịu dàng và nhún nhường, đúng cái
kiểu nói tôi rất ghét, cho dù người nói có là bác Laura yêu dấu chăng nữa,
“ 'Một cái váy như thế thì ích lợi gì với cháu chứ, Emily?'
“Có lẽ nó chẳng có ích lợi gì hết, nhưng khi khoác lên người bộ váy ấy,
tôi sẽ cảm thấy như thể nó chính là một phần bản thân mình, cảm thấy nó
gắn liền với tôi chứ không phải là món đồ chỉ được mua về rồi mặc vào
người. Tôi luôn ao ước có một bộ váy như thế trong đời. Và cả lớp váy lót
bằng lụa... rồi tất lụa nữa!
“Giờ thì Ilse đã có một chiếc váy lụa rồi, một chiếc váy màu hồng nhạt.
Bác Elizabeth nói bác sĩ Burnley cho Ilse ăn mặc quá già và quá sặc sỡ so
với một đứa trẻ. Nhưng bác Burnley chỉ muốn bù đắp lại hết thảy những năm
tháng bác ấy chẳng cho Ilse ăn mặc gì hết. (Tôi không có ý là bạn ấy trần
truồng chẳng mặc gì đâu, nhưng nếu chỉ dựa vào bác sĩ Burnley thì có khi
bạn ấy sẽ thành ra như thế cũng không chừng. Toàn người khác phải chăm lo
đến khoản quần áo của bạn ấy.) Giờ bạn ấy muốn gì bác ấy cũng chiều hết,
và bác ấy còn cho phép bạn ấy thích làm gì thì làm. Bác Elizabeth bảo như
vậy chẳng có gì hay ho cho Ilse cả, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn thấy ghen tị
với bạn ấy. Tôi biết thế là rất xấu tính, nhưng tôi chẳng kìm lòng được.
“Mùa thu năm sau, bác sĩ Burnley sẽ gửi Ilse đến trường trung học
Shrewsbury, và sau đó là tới Montreal để học diễn thuyết. Vậy nên tôi mới
ghen tị với bạn ấy, chứ không phải vì chiếc váy lụa. Tôi chỉ mong sao bác
Elizabeth cho phép tôi tới Shrewsbury, nhưng chỉ e là chẳng đời nào có
chuyện đó đâu. Vì mẹ tôi đã trốn nhà theo bố tôi nên bác ấy luôn cho rằng hễ
sểnh ra một cái không để mắt đến tôi được là đừng hòng tin tưởng vào tôi.
Nhưng đáng lẽ ra bác ấy chẳng cần phải lo sợ tôi sẽ trốn nhà theo tiếng gọi
tình yêu. Tôi đã hạ quyết tâm sẽ không bao giờ lấy chồng. Tôi sẽ gắn bó trọn
đời với nghệ thuật.
“Teddy muốn mùa thu tới sẽ đến Shrewsbury, nhưng mẹ cậu ấy sẽ không
đồng ý đâu. Nói thế không có nghĩa là bà ấy sợ Teddy bỏ nhà đi theo tiếng
gọi tình yêu, chỉ là bà ấy yêu thương cậu ấy quá đỗi nên không thể rời xa cậu
ấy được. Teddy muốn trở thành họa sĩ, và thầy Carpenter bảo rằng cậu ấy có
năng khiếu trời phú và nên được trao cho cơ hội, nhưng chẳng ai dám nói gì
với bà Kent cả. Bà ấy là một phụ nữ nhỏ nhắn-thật ra chẳng cao hơn tôi là
mấy, lặng lẽ và rụt rè - ấy vậy nhưng ai cũng sợ bà ấy. Tôi... sợ đến chết đi
được. Tôi luôn biết rõ bà ấy không thích mình-ngay từ ngày xửa ngày xưa
cái thời tôi và Ilse lần đầu tiên đến Vạt Cúc Ngải để chơi với Teddy. Nhưng
giờ thì bà ấy ghét tôi hẳn hoi – tôi dám chắc thế - chỉ vì Teddy quý tôi. Bà ấy
không thể chịu đựng được khi cậu ấy yêu quý bất kỳ ai hay bất kỳ thứ gì
khác ngoài bà ấy. Thậm chí, bà ấy còn ghen cả với tranh cậu ấy vẽ nữa. Vậy
nên cậu ấy chẳng có nhiều cơ hội để tới Shrewsbury đâu. Perry thì sẽ đi. Cậu
ấy chẳng có xu nào, nhưng dù gì cậu ấy cũng sẽ làm theo ý mình. Chính vì
vậy vậu ấy định sẽ tới Shrewsbury thay vì Học viện Queen. Cậu ấy vẫn đinh
ninh rằng ở Shrewsbury dễ kiếm việc làm thêm hơn, thêm nữa tiền trọ ở đấy
cũng rẻ hơn.
“ 'Bà bác Tom già lọm khọm của tớ cũng có ít tiền đấy,' cậu ấy bảo tôi,
'nhưng bà ấy sẽ chẳng cho tớ dù chỉ một xu... trừ phi... trừ phi...'
“Rồi cậu ấy nhìn tôi đầy ẩn ý.
“Tôi chẳng thể kiềm chế được mà đỏ hết cả mặt, rồi sau đó lại giận điên
lên với chính mình vì tội đã đỏ mặt, và cả với Perry nữa... vì cậu ta đã nhắc
đến một chuyện mà tôi không muốn nghe chút nào... hồi xưa ấy, có lần bác
Tom của cậu ta đã gặp tôi ở rừng cây bụi nhà ông John Ngạo Mạn, và làm
tôi sợ đến chết đi được vì bà ấy cứ nằng nặc bắt tôi hứa sẽ cưới Perry khi
nào chúng tôi lớn, chỉ thế thì bà ấy mới chịu nuôi cậu ấy ăn học. Tôi chưa
từng kể với ai về chuyện đó – xấu hổ chết đi được – ngoài Ilse, và bạn ấy
bảo,
“ 'Nghĩ mà xem, bà Tom lại mong mỏi kiếm một người nhà Murray cho
Perry cơ đấy!'
“Nhưng sau đó, Ilse tỏ ra khắt khe khủng khiếp với Perry, suốt ngày cãi
cọ với cậu ấy, cả về những chuyện mà tôi chỉ thấy buồn cười thôi. Perry
chẳng bao giờ thích bị bất kỳ ai qua mặt về bất cứ chuyện gì. Tuần vừa rồi,
lúc chúng tôi đang dự tiệc ở nhà Amy Moore, chú của Amy đã kể cho chúng
tôi nghe về một con bê khá quái dị mà chú ấy từng nhìn thấy, nó chỉ có ba
chân thôi, vậy là Perry bảo,
“ 'Ôi dào, thế thì có là gì so với con vịt cháu từng nhìn thấy ở Na Uy chứ.'
“(Đúng là Perry từng ở Na Uy thật. Ngày xưa hồi còn nhỏ, cậu ấy từng
cùng cha mình dong buồm lênh đênh khắp mọi nơi. Nhưng tôi chẳng tin bất
cứ lời nào về con vịt đó. Cậu ấy không nói dối – cậu ấy chỉ bịa chuyện thôi.
Thầy Carpenter kính mến, con không thể không viết nghiêng được.)
“Theo lời Perry thì con vịt ấy có bốn chân, hai chân nằm ở vị trí bình
thường giống như những con vịt khác, còn hai chân nữa thì mọc ra sau lưng.
Vậy nên khi nào phát mệt vì đi bằng đôi chân bình thường rồi thì nó sẽ lật
ngửa mình lại đi bằng hai chân kia!
“Perry kể câu chuyện bịa này với vẻ mặt rất nghiêm túc, và ai cũng đều
phá lên cười, chú của Amy thì nói, 'Kể tiếp đi, Perry.' Nhưng Ilse lại giận
điên lên và suốt trên đường về nhà không thèm nói năng gì với cậu ấy. Bạn
ấy bảo cậu ấy đã tự biến mình thành một thằng ngốc, cố gắng 'ra vẻ ta đây'
bằng một câu chuyện ngu ngốc như thế, và chẳng quý ông nào lại cư xử theo
kiểu đó hết.
“Perry nói: 'Giờ tôi vẫn chưa phải một quý ông mà chỉ là cậu bé làm thuê
thôi, nhưng một ngày nào đó, tiểu thư Ilse ạ, tôi sẽ trở thành một quý ông
hào hoa phong nhã hơn bất kỳ ai cô biết cho mà xem.'
“ 'Có phải quý ông hay không,' Ilse nói đầy ác ý, 'thì từ khi sinh ra đã thế
rồi. Họ không thuộc kiểu người cố gắng thì sẽ thành, cậu biết đấy.'
“Ilse hầu như đã bỏ hẳn thói quen gọi người khác là đồ này đồ nọ, giống
như ngày xưa bạn ấy vẫn làm khi cãi lộn với Perry hoặc tôi, mà thay vào đó
là nói những điều độc ác, cay độc. Chúng còn khiến người ta tổn thương hơn
gấp nhiều lần so với bị gọi là đồ này đồ nọ, nhưng tôi thật tâm chẳng buồn
để ý đến chúng – không nhiều lắm – hay không lâu lắm – vì Ilse không chủ
tâm nói thế và thật ra bạn ấy cũng yêu quý tôi không kém gì tôi yêu quý bạn
ấy. Nhưng Perry thì bảo những lời ấy cứ đeo đẳng tâm trí cậu ấy. Từ lúc đó
cho tới tận khi đã về đến nhà, cậu ấy và Ilse chẳng nói năng gì với nhau nữa,
nhưng hôm sau, Ilse lại công kích cậu ấy vì chuyện dùng sai ngữ pháp và
không đứng dậy khi có một phu nhân bước vào phòng.
“ 'Tất nhiên người ta cũng chẳng thể trông chờ cậu biết điều đó được,' bạn
ấy nói bằng giọng cay độc hết mức, 'nhưng tôi dám chắc thầy Carpenter đã
nỗ lực hết sức để dạy ngữ pháp cho cậu.'
“Perry không nói một lời với Ilse mà chỉ quay sang nói với tôi.
“ 'Cậu sẽ chỉ cho tớ các lỗi sai chứ?' cậu ấy hỏi. 'Tớ không thấy khó chịu
nếu cậu làm thế đâu... khi chúng ta lớn lên thì không phải Ilse mà chính cậu
mới là người phải chịu đựng tớ.'
“Cậu ấy nói thế cốt làm Ilse giận, nhưng tôi còn giận hơn nhiều, vì nó
bóng gió về một chủ đề cấm kỵ. Vậy nên cả hai đứa tôi chẳng ai thèm nói
chuyện với cậu ấy trong suốt hai ngày, và cậu ấy bảo dù sao đi nữa thì cậu ấy
cũng nhẹ cả người vì tạm thời thoát được những lời chỉ trích gay gắt của Ilse.
“Perry không phải người duy nhất ở Trăng Non bị rơi vào tình huống
đáng xấu hổ. Tối qua tôi đã nói một điều ngu ngốc, khiến cho mỗi khi nhớ
lại tôi đều phải đỏ mặt. Hội Phụ nữ Cứu trợ đã họp mặt ở đây và bác
Elizabeth mời họ ăn tối, vậy là chồng của các bà các cô trong hội cũng đến
tham gia. Ilse và tôi đứng phục vụ ở bàn ăn bày biện trong bếp vì bàn phòng
khách không đủ rộng. Ban đầu thì mọi chuyện cũng khá vui, nhưng đến khi
mọi người đều đã được phụ vụ đồ ăn thức uống đầy đủ thì không khí có phần
tẻ nhạt dần, và tôi đứng bên cửa sổ, vừa phóng ánh mắt ra ngoài vườn, vừa
soạn trong đầu mấy vần thơ. Tôi say sưa với việc này đến nỗi chẳng mấy
chốc đã quên bẵng tất cả mọi thứ khác, cho tới khi đột nhiên tôi nghe thấy
bác Elizabeth gọi 'Emily' bằng giọng sắc lẻm, và rồi bác ấy hướng ánh mắt
đầy ẩn ý về phía ngài Johnson, mục sư mới của chúng tôi. Tôi bối rối chộp
lấy bình trà và kêu lên,
“ 'Ôi, ngài Tách, ngài có muốn châm thêm trà vào Johnson của ngài
không ạ?'
“Ai nấy đều phá lên cười, bác Elizabeth trông vô cùng cáu kỉnh và bác
Laura xấu hổ tột độ, còn tôi thì chỉ ước gì mình chui xuống đất cho xong.
Tôi trằn trọc gần hết một đêm vì cứ nghĩ mãi về chuyện này. Lạ một nỗi tôi
tin chắc nếu thực sự làm sai chuyện gì đó thì tôi cũng chẳng cảm thấy bứt rứt
và xấu hổ đến mức này. Tất nhiên đây là vấn đề về 'lòng kiêu hãnh của người
nhà Murray', và tôi cho rằng chuyện này rất tệ hại. Đôi khi, tôi chỉ sợ rằng
xét cho cùng, bà bác Ruth Dutton hóa ra đã đánh giá đúng về tôi.
“Không, bà ấy không đúng!
“Nhưng ở Trăng Non đã hình thành một truyền thống rằng những người
phụ nữ trong dòng họ cần phải có đủ khả năng đối phó với bất kỳ tình huống
nào và lúc nào cũng phải tỏ ra duyên dáng đường ho
 









Các ý kiến mới nhất