Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

_phia-dong-vuon-dia-dang

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:33' 02-02-2026
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Bạn đang đọc ebook PHÍA ĐÔNG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG của tác giả John
Steinbeck do Bookaholic Club chế bản theo Dự án chế bản Ebook
(Making Ebook Project).
Mong rằng ebook này sẽ mang đến cho bạn một tác phẩm Văn học hay,
giàu giá trị biểu cảm và nhân văn, với chất lượng cao. Chúng tôi luôn cố
gắng mang đến những chế bản ebook tốt nhất, nếu trong quá trình chế bản có
lỗi sai sót nào mong bạn góp ý và cho chúng tôi biết những ebook mà đang
mong muốn.
Making Ebook Project của Bookaholic Club là một hoạt động phi lợi
nhuận, nhằm mục đích mang đến những chế bản ebook hay, có giá trị với
chất lượng tốt nhất mà chúng tôi có thể với Cộng đồng đọc – người Việt.
Tuy nhiên, nếu bạn có khả năng xin hãy đọc tác phẩm này bằng sách trước
hết vì lợi ích cho Nhà xuất bản, bản quyền tác giả và góp phần phát triển xây
dựng nền Văn hóa đọc.
Hãy chỉ đọc chế bản này trong điều kiện bạn không thể tìm đến ấn
phẩm sách.

Mục lục
LỜI GIỚI THIỆU
TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII
Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII
Chương XXIII

LỜI GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Cách đây mấy năm, tôi có dịp nói chuyện với một giáo sư người Mỹ. Ông
được giới thiệu là một nhà Việt Nam học. Trong lúc trò chuyện, tôi đặt một
câu hỏi: “Tôi không hiểu tại sao nhà văn John Steinbeck lại ngồi trên phi cơ
bay trên trời Việt Nam và ca ngợi những phi công ném bom nhân dân nước
tôi?” Ông trả lời: “Đừng nói đến John Steinbeck nữa. Bây giờ thanh niên Mỹ
không ai đọc ông ta nữa. Ông ta lẩm cẩm rồi”.
Nói thế, không biết vì muốn làm vui lòng tôi, hay vì là nhà Việt Nam học,
tự nhiên ông đứng về phía Việt Nam. Tôi chắc lý do thứ hai đúng hơn, ông
tỏ ra là một người thẳng thắn.
Nhưng câu trả lời không khiến tôi vui, mà làm tôi suy nghĩ. Tôi hiểu rằng
thanh niên Mỹ bây giờ không đọc John Steinbeck nữa không phải vì họ bất
bình về việc nhà văn ủng hộ ném bom Việt Nam. Chính ông giáo sư Việt
Nam học ấy đã nói thanh niên Mỹ thuộc thế hệ sau chiến tranh Việt Nam hầu
như không ai biết Việt Nam là gì. Vậy thì, không đọc John Steinbeck nữa, ấy
là vì họ cho rằng nhà văn đã cổ lỗ rồi, không hợp thời nữa. Thanh niên Mỹ
ưa chạy theo “mốt
Nếu đúng như thế, thật đáng buồn. Vì tác giả của Chùm nho uất hận,
Chuột và người và Phía đông vườn Địa đàng mà chúng ta đang đọc đây là
một nhà văn nhân văn chủ nghĩa. Các tác phẩm vừa kể mang giá trị nhân đạo
cao cả. Đó là những tác phẩm làm vinh dự cho dân tộc Mỹ. Nếu thanh niên
Mỹ bây giờ thấy những tư tưởng ấy là “lẩm cẩm” thì thật đó là một điều
không hay. Nhưng tôi không tin là có điều ấy. Tôi vẫn thấy tác giả Chùm
nho uất hận là đáng kính mến.
Bây giờ nói về Phía đông vườn Địa đàng.
Nghĩ về người Mỹ, người ta nghĩ ngay đến chủ nghĩa thực dụng. Phương
Tây cho là như thế. Đích thân người Mỹ cũng tự cho mình như thế. Tất
nhiên là có nhiều cách hiểu chủ nghĩa thực dụng khác nhau.
Ta thì nói: chủ nghĩa thực dụng Mỹ, với ý phê phán. Đại khái như thế
này: người Mỹ cái gì cũng tính toán bằng tiền. Ngồi với nhau, ai có thuốc lá
thì lấy ra hút, không mời người khác. Bàn việc, hỏi ngay phần tôi bao nhiêu,
phần anh bao nhiêu. Bố con mượn tiền nhau cũng là vay trả sòng phẳng. Đến
những việc lớn hơn, Mỹ sản xuất vũ khí, buôn bán vũ khí, chỉ nhằm thu lợi
nhuận, bất cần nhân nghĩa, đạo lý “sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi”. Đối

với Mỹ chẳng có gì thiêng liêng hết, họ đem tất cả ra làm quảng cáo, để bán
hàng v.v...
Ta nhìn nhận Mỹ như vậy là có lý do. Ta thù ghét Mỹ. Ta và Mỹ đã gặp
gỡ nhau trong những trường hợp không có gì vui vẻ. Những người Việt Nam
ở miền Bắc, ở các vùng kháng chiến miền Nam đã bị bom đạn Mỹ gây cho
biết bao nhiêu đau thương tang tóc. Những người trong các vùng đô thị thì
căm giận các cuộc bố ráp, những cuộc tra khảo, những tai nạn lính Mỹ gây
ra trên đường phố, những phụ nữ bị lính Mỹ xúc phạm đến nhân phẩm,
những thanh niên hư hỏng vì “lối sống Mỹ”.
Tất cả những cái đó ta quy tội cho chủ nghĩa thực dụng Mỹ. Nó đồng
nghĩa với bần tiện, tham lợi, tàn nhẫn, phi nhân. Cũng có thể đó là những
biểu hiện sai xấu của chủ nghĩa thực dụng nhưng không nên hiểu chủ nghĩa
thực dụng chỉ là như vậy.
Nói một cách cô đúc thì nội dung căn bản của chủ nghĩa thực dụng là ở
điểm, chỉ thừa nhận các chân lý của một lý thuyết sau khi đã thể nghiệm nó
trong ứng dụng vào thực tế. Nguyên lý này được dùng cho cả khoa, triết lý,
đạo đức, tôn giáo. Chỉ được coi là chân lý, một nền triết lý, một nền đạo đức,
một tôn giáo có tác dụng cải thiện cuộc sống.
Như vậy chủ nghĩa thực dụng là một triết học vị nhân sinh. Nước Mỹ là
một nước mới, lịch sử chỉ có hơn 200 năm. Những người dân ở Âu châu, Á
châu, Úc châu đến đây tổ chức một xã hội mới. Ở xứ sở của họ, họ sống
trong những khuôn khổ đã định hình từ bao nhiêu đời trước. Họ suy nghĩ
phán đoán theo những nếp cũ, theo truyền thống. Đến vùng đất mới này, mọi
cái đều mới mẻ. Những người đến đầu tiên tập mình làm trọng tài cho mình.
Họ không có cách nào khác là lấy hiệu quả để đánh giá những chủ trương,
những việc làm của mình và điều này trở thành một lối tư duy của người Mỹ.
Rõ ràng là trong tiểu thuyết Phía đông vườn Địa đàng John Steinbeck đã
chấp nhận lối tư duy ấy và khẳng định nó. Tác phẩm của ông đầy sức thuyết
phục.
Giả sử ông là triết gia và trình bày chủ nghĩa thực dụng bằng triết học
chưa chắc ông thuyết phục được mạnh mẽ. Nhưng ông là nhà văn, và tiểu
thuyết chính là bức tranh phản ánh cuộc sống cho nên chính cuộc sống
chứng minh và như thế không ai chối cãi được. Tuy nhiên, để điều vừa nói
không bị nghi ngờ, tôi cần phải nói về bút pháp của Steinbeck.
Tiểu thuyết Mỹ, chí ít là tác phẩm của tiểu thuyết gia tiêu biểu, thể hiện
một tính hiện thực rất trội. Có những cuốn có giá trị như một công trình
nghiên cứu xã hội học, nhân chủng học (tất nhiên là bằng văn chương cho
nên có thể còn rõ ràng hơn là khoa học nữa vì sinh động hơn, cụ thể hơn, tỉ

mỉ hơn). Chúng không chỉ khảo sát một quãng đời mà cả cuộc đời, có khi từ
đời nọ sang đời kia. Nhưng chẳng phải vì vậy mà chúng dày cộm, rậm rạp.
Và đấy chính là chủ nghĩa thực dụng áp dụng vào lĩnh vực viết văn. Trong
cuốn tiểu thuyết ta đang đọc đây Steinbeck theo dõi những nhân vật từ đời
cha đến đời con. Ông chú ý đến từng chi tiết rất nhỏ, nhiều khi người đọc
phải ngạc nhiên không biết ông làm thế nào mà quan sát được tinh tế như
thế. Nhưng ông lại bỏ qua rất nhiều hành động, lời nói, tình huống mà
thường thường nhiều tiểu thuyết gia đưa vào tác phẩm. Nghĩa là ông chọn
chi tiết trên hiệu quả thực tiễn mà nó mang lại. Sự chọn lọc này thật khe
khắt. Đọc sách, người ta thấy ông trình bày rất khách quan. Người ta không
thấy có dụng ý gì muốn lái độc giả theo hướng này hướng khác. Đôi khi ông
cũng phát biểu ngoài lề những ý kiến của ông. Nhưng những ý kiến ấy cũng
thật khách quan, đúng là cuộc sống như vậy, ông chỉ phiên dịch lại trung
Nhưng Steinbeck khách quan mà không khách quan chủ nghĩa. Tôi muốn
nói: người ta không thấy ở ông sự vô tình, thái độ trối kệ. Tôi phải so sánh
cho rõ ý: Đọc Cuốn theo chiều gió tôi thấy tác giả miêu tả rất trung thực,
nhưng tôi vẫn cảm thấy ngòi bút hiện thực ấy hơi tàn nhẫn. Thuyền trưởng
Butler có cái đầu óc thực tế rất hay, nhưng đối với Scarlett quả là ông đối xử
quá tàn nhẫn. Tác giả Những kẻ trần truồng và những người chết cũng rất
hiện thực, tôi không trách gì ông, nhưng ông cố ý phơi bày những mảng hiện
thực kinh tởm quá.
Vấn đề là nhìn hiện thực một cách hiện thực, nếu có thể nói như vậy.Cái
hiện thực mà John Steinbeck trình bày, không bị tàn phế, uốn nắn chút nào,
đầy những trầm luân khổ ải, nhưng nó không dọa nạt khủng bố người đọc
mà làm cho người ta chấp nhận được. Chẳng phải là trong thực tế người ta
vẫn sống được với đau khổ đó sao. Ta hãy nhớ lại bài thơ ngụ ngôn của La
Phông-Ten Tử thần và tiều phu. Những người Mỹ đứng đắn thường bày tỏ
thành thực cái ý muốn của họ làm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Nói
thế nghĩa là: cuộc sống không chỉ có hoa thơm trái ngọt đâu, rất nhiều cay
đắng nhưng có thể chịu đựng được. Và người Mỹ thường có một phương
châm, coi như một cách ngôn: Hãy giữ nụ cười. Cuộc sống là cuộc sống. Nó
như thế. Vậy thì nhăn nhó cau có cũng chẳng thay đổi được gì. Tốt hơn là
hãy giữ lấy nụ cười. Đó là chủ nghĩa thực dụng. Nó không phải dở, hay là
khác. John Steinbeck chọn hai nhân vật để thuyết minh cho tư tưởng của
ông. Hai con người bình thường.
Một là ông Samuel Hamilton nguồn gốc Ái nhĩ Lan nông dân, có nghề lò
rèn và kiêm nghề đào giếng.
Một là Lee nguồn gốc Trung Hoa, nấu bếp.

Dường như John Steinbeck gửi gấm một ý nghĩ vào trong sự chọn lựa của
mình: một người đơn giản hồn nhiên kiểu trẻ thơ, và một người đã được thừa
kế, một gia tài khôn ngoan của một nền văn hóa lâu đời vào bậc nhất trên
hành tinh này. Hai người gặp nhau thống nhất với nhau trong một quan
niệm: chỉ có thực tiễn là chân lý. Thêm vào đó, tác giả lại viện dẫn Sáng thế
ký của Kinh Thánh mà ông cho là người Trung Hoa đã tìm ra nghĩa đúng
nhất. Đó là đem chúa Trời nói với Cain “Nếu người làm lành há chẳng
ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành thì tội lỗi rình đợi trước cửa
thềm người lắm, nhưng ngươi phải quản trị nó”. Phải quản trị nó trong
nguyên văn hê-brơ, là Timshel. Theo Lee Timshel dịch là quản trị hay kiềm
chế đều không đúng mà, phải dịch là ngươi có thể chế ngự nó.
Steinbeck dùng chi tiết này không phải do yêu cầu của nghĩa chữ mà
chính là để nêu lên một quan niệm xử thế như bàn dưới đây.
Hơn một thế kỷ nay, từ lúc các nước Phương Tây đi chiếm các thuộc địa
ở các nước phương Đông, có những triết gia, chính trị gia, nhà văn đặt câu
hỏi: Phương Tây và phương Đông có thể gặp được nhau không?
Trên thực tế, họ cũng gặp nhau rồi, đúng hơn là phương Tây đã gặp
phương Đông bằng thế mạnh 1 Câu hỏi đặt ra là muốn có sự gặp gỡ tự
nguyện kia.
Nhiều câu trả lời khác nhau. Về phía phương Tây có người bảo có thể
được. Có người bảo Tây là Tây, Đông là Đông không thể gặp nhau. Có
người đề xuất công thức: Phương Tây là thầy, phương Đông là trò.
Với nhân vật Lee, Steinbeck có câu trả lời độc đáo: Lee là đầy tớ trung
thành và là thầy dạy khôn cho chủ. Không rõ nhà văn có đọc các truyện xưa
của Trung Hoa không mà ông đã xây dựng nhân vật Lee như một quân sư,
một mưu sĩ, một môn khách? Steinbeck tỏ ra rất hiểu phương Đông, rất hiểu
cái thâm thúy của triết học, văn hóa Trung Hoa mà ông khâm phục. Nhân vật
Lee, nhà văn xây dựng thật hay.
Tim shel – ngươi có thể chế ngự nó: ấy là tư tưởng chỉ đạo của cuốn tiểu
thuyết.
Mỹ châu vốn là nơi tao ngộ của tứ hải anh hùng. Nói nôm na hơn và đúng
với sự thực: tìm đến lập nghiệp ở nước Mỹ là những người thuộc nhiều quốc
gia, nhiều màu da, có chung một cảnh ngộ bị thất cơ lỡ vận, không còn sống
ở quê hương xứ sở mình. Cái cảnh ngộ chung ấy dạy họ nên biết chấp nhận
những dị biệt của nhau, có khi những sự đối chọi nhau nữa, để chịu đựng, để
sống chung với nhau trên miếng đất có thừa điều kiện để nuôi tất cả.
Các nhà văn Mỹ thường có cái nhìn thực tế, nói là thực dụng cũng được

đối với con người. Con người rất đa dạng, bao nhiêu người là bấy nhiêu mô
hình, không ai có quyền áp đặt cái mô hình của mình cho người khác. Con
người không phải là thần cũng không phải là quỷ, có cả xấu lẫn tốt, xấu hay
tốt đều là tương
Steinbeck cố ý đưa vào trong tiểu thuyết câu truyện trong Kinh Thánh về
hai anh em sinh đôi Abel và Cain một tốt, một xấu và đặt cho hai nhân vật
của ông là Aron và Cal cùng là anh em sinh đôi, hai cái tên gần giống như
trong Kinh Thánh. Phải chăng tác giả muốn nói Abel cũng là con người, và
Cain cũng là con người. Con người là cả Abel lẫn Cain, cái nghiệp dĩ là như
vậy, phải chấp nhận thôi. Hơn thế, nhà văn lại có ý dành tấm lòng ưu ái của
mình cho những người bị coi là xấu. Trong tiểu thuyết có hai tuyến nhân vật:
Tốt, xấu.
Adam, Aron được mô tả như những con người tốt. Họ muốn làm những
việc tốt, họ nuôi trong tâm trí một lý tưởng. Nhưng họ chỉ thu hoạch được
những thất bại mà chính khuynh hướng lý tưởng hóa là nguyên nhân.
Còn những nhân vật bị coi là xấu thì lại thành công trong mọi việc làm.
Bên cạnh Adam rất tốt là Cathy, vợ chàng, cực xấu. Cô lừa dối tất cả mọi
người và ai cũng bị lừa. Bên cạnh Aron luôn luôn hướng về mục đích thánh
thiện là người em Cal luôn luôn bị những ý tưởng xấu điều khiển và Cal bao
giờ cũng đạt kết quả.
Nhưng ta chớ vội tưởng Steinbeck chủ trương ác thắng thiện. Cuốn tiểu
thuyết cho ta thấy những thành công của Cathy, Cal đem lại cho họ không
phải sự sung sướng mà là sự đau khổ.
Nhà văn muốn nói với chúng ta rằng: Cuộc sống là cuộc sống, nó không
uốn theo những ý tốt của chúng ta đâu, đừng lý tưởng hóa. Bởi vì ta lý tưởng
hóa cho nên ta liệt người này người khác vào loại xấu. Thực ra họ chỉ là sản
phẩm khách quan của cuộc sống. Nếu ta biết nhìn họ một cách thực tế,
không định kiến thì ta sẽ thấy họ đều có khả năng chế ngự cái phần xấu ở họ.
Nhà văn đã nhờ người bếp Trung Hoa làm phát ngôn nhân cho ông. Lee
nói với Cal: “Chú đã nhận ra rằng những điều thiêng liêng đễ bị tiêu diệt,
trong khi điều ác lại cứ tồn tại và phát triển. Chú nghĩ rằng cơn thịnh nộ của
Thượng đế đã trút lửa từ nồi kim loại nấu lỏng xuống hủy diệt hết để làm
cho thanh khiết công trình nhỏ bé bằng bụi đất do ngài đã nặn ra... Mỗi
người trong mỗi thế hệ đều được tầy uể bằng lửa... Không một người nào
trên đời này tránh khỏi nguyên tắc đó nếu muốn trở nên một người hoàn
toàn”.
Mỗi người trong mỗi thế hệ đều cần được tẩy uế... cho nên cuộc sống yêu
cầu mỗi người phải khoan dung, độ lượng với đồng loại của mình. Sự khoan

dung độ lượng ấy là cần thiết, là yếu tố quyết định để mỗi người có thề vượt
qua thử thách và hoàn thiện mình.
Lee cần xin ông Adam: “Ông Adam, xin ông hãy tha thứ cho Cal. Đừng
để nó cô độc vì mặc cảm tội lỗi... Xin ông hãy giúp nó. Hãy cho nó một cơ
hội. Hãy giải tỏa mặc cảm cho nó. Nhờ đó nó sẽ vượt được mọi thử thách,
hãy giải thoát cho nó. Hãy tha thứ cho nó”.
Đó là mấu chốt của vấn đề. Nhà văn bày tỏ một quan niệm sống rất nhân
đạo, một chủ nghĩa nhân đạo không phải trên lý thuyết xa vời, đẹp thì có đẹp
nhưng vô ích vì không thể vươn tới được, mà một chủ nghĩa nhân đạo thực
tiễn, nói là thực đụng cũng được, phù hợp với kích thước, hoàn cảnh của con
người.
Phía đông vườn địa đàng là câu truyện của những người Mỹ, khoảng
những năm từ nửa cuối thế kỷ trước đến chiến tranh thế giới lần thứ nhất.
Tác giả cho nó diễn ra ở chính quê hương mình. Tiểu thuyết được xuất bản
năm 1952. Có thể là nhà văn đã thai nghén nó trong thời kỳ chiến tranh thế
giới lần thứ hai. Phải chăng cuộc “người tàn sát người” khủng khiếp ấy đã
làm cho Steinbeck băn khoăn về ý nghĩa cuộc sống, về bản chất của con
người và cố tìm ra lời đáp. Phía đông vườn Địa đàng, đây là cuốn truyện về
con người. Nhận vật trung tâm mang cái tên Adam, con người đầu tiên của
nhân loại. Với nó nhà văn muốn đặt cơ sở cho một chủ nghĩa nhân đạo hữu
hiệu. Steinbeck khẳng định niềm tin vào con người, vào cuộc sống, nhưng
không phải một niềm tin lý tưởng hóa. Niềm tin ấy phải là cái cây đứng
chắc, bắt rễ sâu vào miếng đất thực tế có cả đất màu mỡ lẫn sỏi đá, biết tránh
sỏi đá, hút màu mỡ mà sinh trái ngọt.
Trong phong trào đổi mới của ta hiện nay Phía đông vườn Địa đàng là
cuốn sách nên đọc.
9-1988

TÁC GIẢ VÀ TÁC PHẨM

Tuy xuất bản rất nhiều tác phẩm từ xã hội đến hoạt kê qua tình cảm, John
Steinbeck tuyên bố rằng “Phía Đông Vườn Địa Đàng”, là tác phẩm quan
trọng nhất của ông. Quan điểm đó cũng được nhiều nhà phê bình đồng ý.
Sau ngày xuất bản “East of Eden” cho đến khi ông được trao tặng giải
Nobel về Văn Chương năm 1962, không có tác phẩm nào quan trọng hơn tác
phẩm này.
“East of Eden” sau khi xuất bản, đã được đạo diễn kiêm văn sĩ Elia
Kazan quay thành phim và do James Dean, nam tài tử lừng danh quốc tế
đóng vai chính cùng nữ tài tử Pier Angeli, mối thất vọng lớn của James
Dean, khiến anh phóng xe đua hết tốc lực đến ngộ nạn tử thương; gây
thương tiếc cho giới trẻ mộ điệu một dạo.
Ở Mỹ, “East of Eden”, đã được tái bản gần bốn mươi lần và đã được
dịch ra nhiều thứ tiếng nước ngoài.
NGƯỜI DỊCH

Chương I
Thung lũng Salinas ở về phía Bắc tiểu bang California là một dải đất dài
và hẹp nằm giữa hai dãy núi và con sông Salinas ngoằn ngoèo uốn khúc ở
chính giữa cho đến khi đổ thẳng ra vịnh Monterey.
Tôi còn nhớ tên các loài kỳ hoa dị thảo buổi ấu thời. Tôi cũng còn nhớ rõ
những hang hóc nào lũ cóc nhái thường trú ẩn, vào mùa hạ chim chóc thức
dậy vào giờ nào – cả mùi hương riêng của từng thứ cây trong từng mùa –
những người dân trông ra sao, đi đứng cách nào và có mùi gì. Ký ức về các
mùi hương thật phong phú.
Tôi nhớ rõ hình ảnh dãy núi Gabilan nằm về phía đông của thung lũng là
một dãy núi tươi sáng, luôn luôn chan hòa ánh mặt trời thật đáng yêu và đầy
vẻ mời gọi đến nỗi chúng ta chỉ muốn leo ngay lên các ngọn đồi ấm áp dưới
chân nó như đứa con bé muốn leo ngồi vào lòng người mẹ yêu dấu. Chúng
đầy vẻ quyến rũ đối với dãy núi chỉ có toàn cỏ nâu. Rặng Santa Lucias đứng
sừng sửng nổi bật trên nền trời phía tây, ngăn cách thung lũng với biển cả.
Dãy núi này tối tăm âm u, lạnh lùng và đầy vẻ đe dọa.
Từ hai bên sườn thung lũng, những dòng suối nhỏ từ các sườn đồi chảy
xuống đổ vào lòng sông Salinas. Vào mùa đông những năm ướt át, các con
suối hoạt động hăng hái, đổ nước xuống dòng sông thật nhiều đến nỗi, đôi
khi làm cho con sông phẫn nộ sôi sục, nước tràn lên hai bờ, phá vỡ những
đường đê của các vùng đất trồng trọt cuốn trôi mất nhiều mẫu đất. Rồi khi
mùa xuân chậm trễ đến, con sông rút xuống mức cũ và bãi cát ven bờ lai
hiện ra. Đến mùa hạ, dòng sông cạn xợt, chỉ còn một ít nước bày cả đáy
sông. Sông Salinas chỉ là một con sông có nước theo từng mùa.
Trải nhiều dặm bao la của thung lũng, lớp đất trên cùng rất màu mỡ,
những thứ hoa xuân vào những năm ướt át thì phong phú vô kể. Khắp thung
lũng, kể cả những ngọn đồi thấp dưới chân núi hoa lapine và hoa anh túc nở
đầy như thảm hoa. Khi các loại hoa này tàn rụng hết mùa, thì loại hoa cải
hoang màu vàng tươi mọc lên, thật cao. Lúc ông tôi ghé đến thung lũng, thì
loại cải hoang này đã lên cao đến nỗi một người ngồi trên ngựa cũng chỉ cao
hơn những đóa hoa vàng tươi được cái đầu thôi.
Vào tháng sáu, các loại cỏ rũ xuống và ngã màu vàng úa. Gió lùa qua
thung lũng, thổi tốc cát bụi và rơm rạ lên mỗi lúc một dữ dội và cuồng bạo
hơn trên đường xuống phương Nam. Đó là một thứ gió chướng thật khó
chịu, bắn những hạt cát nhỏ làm nhức cả da thịt và rát cả mắt. Những người
làm việc ngoài đồng ruộng phải mang kiếng che kín quanh mắt và buộc khăn
tay quanh mũi để ngăn bụi.

Đất đai trong thung lũng thì trũng và màu mỡ, nhưng các ngọn đồi thấp
dưới chân hai dãy núi chỉ có một lớp đất mỏng trên mặt không sâu hơn lớp
rễ cỏ.
Càng lên các ngọn đồi cao hơn, lớp đất càng mỏng dần, rải rác những
viên đá lửa bám sâu cho đến một độ nào đó, chỉ toàn một loại đá sỏi khô
cứng phản ảnh ánh mạt trời chói chang hơi nóng.
Lịch sử của thung lũng Salinas cũng giống như lịch sử tất cả những vùng
khác của cả tiểu bang.
Đầu tiên là dân da đỏ, thuộc giống thấp kém, chỉ sống bằng loại côn
trùng, châu chấu và sò hến tôm cua dễ bắt chứ họ rất lười biếng không đánh
cá để ăn. Rồi người Tây Ban Nha đến. Ho là bọn người thực tế và nhiều
tham vọng. Ho thèm khát vàng và truyền bá đạo Thiên Chúa.
Họ vừa sưu tập các linh hồn vừa sưu tập vàng bạc. Những địa danh đầu
tiên trong thung lũng là các tên thánh hoặc tên các ngày lễ tôn giáo.
Sau đó là người Hoa Kỳ kéo đến. Họ càng ham hố hơn vì họ đông. Họ
chiếm đất đai, sửa lại luật lệ để hợp lý hóa việc chiếm đoạt của ho. Các nông
trại mọc lên khắp nơi, lúc đầu chỉ ở trong các thung lũng, sau đến các sườn
đồi thấp. Những ngôi nhà bằng gỗ nhỏ nhắn, có rào quanh một khoảnh bằng
những trụ cây cách quãng làm nơi nuôi súc vật, loại phong lữ thảo và loại
hường được trồng ở sân trước. Những cánh đồng trồng bắp, lúa mạch và lúa
mì viền quanh bằng loại cải vàng. Dọc theo đường chính, cứ cách khoảng
mười dặm, có một hiệu tạp hóa lớn và một lò rèn. Đó là trung tâm điểm cho
các thị trấn nhỏ như Bradley, King City, Greenfield.
Gió thường thổi lồng lộng qua các khu cư trú đó về buổi chiều. Các chủ
nông trại đã phải lo trồng những cây khuynh diệp dài hàng dặm để ngăn lớp
đất trên cùng có thể trồng trọt được khỏi bị thổi tốc đi hết. Ông tôi đã đem
vợ đến cư ngụ trên các ngọn đồi thấp ở về phía Đông thành phố King City,
giữa lúc thung lũng Salinas đang ở trong thời kỳ ấy.
Chàng trai trẻ Samuel Hamilton gốc gác ở miền Bắc Ái nhĩ Lan. Tại sao
ông phải rời bỏ quê cha đất tổ thì tôi không được rõ. Theo lời đồn đãi trong
gia đình tôi, thì ông ra đi vì một chuyện tình, không phải là chuyện tình giữa
ông và bà vợ mà ông kết hôn.
Ông đã đến thung lũng Salinas với tất cả sự hăm hở và nghi lực. Ông là
một người to lớn nhưng khéo léo, trong công việc đồng áng lắm láp, ông vẫn
luôn luôn có vẻ tươm tất. Ông rất lanh trí, luôn luôn tìm tòi một đường lối
mới để thực hiện một công việc cũ xưa một cách nhanh chóng và kết quả mỹ
mãn hơn. Dù vây, suốt đời ông là kẻ không có tài làm giàu.

Ông đến thung lũng khoảng ba mươi năm trước khi đổi qua thế kỷ này,
đem theo bà vợ người Ái nhĩ Lan, một người đàn bà nhỏ nhắn, trầm lặng như
một cái bóng. Bà có tinh thần khắc khổ của giáo phái Trưởng Lão. Chính
tinh thần đó làm hỏng tất cả những gì đáng lẽ ra có ý nghĩa và đáng vui.
Tôi không biết ông Samuel đã gặp trong trường hợp nào và đã tán tĩnh bà
ra sao để đi đến việc kết hôn với nhau! Ông thuộc mẫu đàn ông đa tình
nhưng bà vợ thì ngược lại quá thầm kín. Tuy vậy trong suốt những năm ông
sống lại thung lũng Salinas, không có tai tiếng gì về việc ông từng ve vãn
một người đàn bà nào khác.
Khi ông Samuel và Liza đến thung lũng này, tất cả những vùng đồng
bằng đều đã có người chiếm hết rồi. Chỉ còn những ngọn đồi thấp cằn cỗi ở
về hướng Đông mà ngày nay gọi là thị xã King City nên ông Samuel
Hamilton đành chọn làm đất sống.
Ông vẫn áp dụng đường lối thông thường, nghĩa là chọn một khoảnh đất
phần ông và một khoảnh phần bà vợ. Hai người sin
 
Gửi ý kiến