Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

hai-van-dam-duoi-day-bien

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:44' 04-02-2026
Dung lượng: 1.5 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Mục lục
PHẦN MỘT
§1. Dải đá ngầm di động
§2. Tán thành và phản đối
§3. Xin tùy giáo sư
§4. Ned Land
§5. May rủi
§6. Mở hết tốc lực
§7. Con cá voi không biết thuộc loại nào
§8. Mobilis in mobile
§9. Ned Land nổi khùng
§10. Người chủ của biển cả
§11. Tàu Nautilus
§12. Tất cả đều chạy bằng điện!
§13. Vài con số
§14. Dòng “Sông Đen”
§15. Giấy mời
§16. Dạo chơi dưới đáy biển
§17. Khu rừng dưới biển
§18. Bốn ngàn dặm dưới Thái Bình Dương
§19. Vanikoro
§20. Eo biển Torrès
§21. Mấy ngày trên đảo
§22. Tiếng sét của thuyền trưởng Nemo
§23. Cơn ngủ không thể giải thích được
§24. Vương quốc san hô
PHẦN HAI
§1. Ấn Độ Dương
§2. Một đề nghị mới của thuyền trưởng Nemo
§3. Viên ngọc giá mười triệu
§4. Biển Đỏ
§5. Đường ngầm Arabia
§6. Quần đảo Hy Lạp
§7. Bốn mươi tám giờ qua Địa Trung Hải
§8. Vũng biển Vigo
§9. Một lục địa đã biến mất
§10. Mỏ than ngầm dưới biển
§11. Biển Sargasses
§12. Cá nhà táng và cá voi

§13. Băng giá mênh mông
§14. Nam Cực
§15. Một trở ngại ngẫu nhiên hay một trường hợp rủi ro
§16. Thiếu không khí
§17. Từ mũi Horn đến Amazon
§18. Bạch tuộc
§19. Dòng biển Gulf Stream
§20. Ở độ vĩ 47°24' và độ kinh 17°28'
§21. Nghĩa địa khổng lồ
§22. Những lời cuối cùng của thuyền trưởng Nemo
§23. Kết luận

PHẦN MỘT

Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Chương 1
Dải đá ngầm di động

N

ăm 1866 được đánh dấu bằng một sự kiện kỳ lạ, một hiện
tượng không được giải thích và không thể giải thích nổi mà
chắc chưa ai quên. Những lời đồn đại về hiện tượng bí hiểm đó
chẳng những làm nhân dân các thành phố cảng và các lục địa
xôn xao, mà còn gây hoang mang lớn trong đám thủy thủ. Cánh
lái buôn, chủ tàu, thuyền trưởng ở châu Âu và châu Mỹ, các sĩ
quan hải quân các nước, và sau đó nhiều chính phủ ở cả hai châu
đều hết sức lo lắng về sự kiện này.
Số là thời gian gần đây, nhiều tàu buôn đi biển thường gặp
một vật hình thoi dài đôi khi sáng lấp lánh, vượt xa cá voi về kích
thước và tốc độ di chuyển.
Những lời ghi trong nhật ký của các con tàu đó giống nhau
một cách lạ lùng về sự miêu tả hình dáng bên ngoài, về tốc độ
ghê gớm và sức mạnh của vật đó, cũng như về thái độ đặc biệt
của nó. Nếu đó là một loại cá voi thì theo sự miêu tả, nó lớn hơn
tất cả những con cá voi đã được khoa học biết đến. Không một
nhà khoa học nào có thể tin được hiện tượng kỳ lạ này nếu không
được nhìn thấy nó tận mắt.
Nếu bỏ qua những sự đánh giá quá dè dặt cho rằng con quái
vật không dài quá sáu mươi mét và gạt đi những lời thổi phồng
quá đáng miêu tả nó như một con vật khổng lồ rộng một hải lý[1],
dài ba hải lý, thì ta vẫn phải thừa nhận rằng quái vật, nếu có
thật, nhất định vượt quá những kích thước đã được các nhà động

vật học ghi nhận.
Con người vốn cả tin những điều huyền hoặc, nên ta cũng dễ
hiểu rằng hiện tượng kỳ lạ này đã làm họ xao xuyến thế nào. Một
số người đã tìm cách xếp tất cả các câu chuyện đó vào một loại
bịa đặt hão huyền, nhưng vô ích! Con vật kia vẫn tồn tại, điều đó
không còn nghi ngờ gì nữa.
Ngày 20 tháng 7 năm 1866, chiếc tàu Governor Higginson của
Công ty tàu biển Calcutta và Burnach đã gặp một vật nổi khổng
lồ cách bờ biển phía đông Úc năm hải lý. Thoạt tiên, thuyền
trưởng Baker đinh ninh rằng mình phát hiện ra một dải đá ngầm
chưa được ghi trên bản đồ. Ông ta vừa bắt đầu xác định toạ độ
của dải đá, thì từ trong lòng cái khối màu đen ấy bỗng vọt lên hai
cột nước cao hơn bốn mươi mét. Vì sao vậy? Đó là một dải đá
mạch nước ngầm? Hay đó chỉ là một động vật có vú sống dưới
biển phun không khí từ mũi ra làm vọt lên những luồng nước?
Ngày 23 tháng 7 năm đó, tàu Cristobal Colon của Công ty tàu
biển Đông Ấn lại thấy hiện tượng này ở vùng biển Thái Bình
Dương. Xưa nay đâu có chuyện cá voi bơi với tốc độ lạ thường
như vậy? Chỉ trong ba ngày mà hai chiếc tàu gặp nó ở hai điểm
cách nhau trên bảy trăm dặm[2].
Mười lăm ngày sau, cách nơi nói trên hai ngàn dặm, tàu
Helvetia của Công ty tàu biển Quốc gia và tàu Shannon của Công
ty Royal Mail trên đường đi giữa châu Mỹ và châu Âu gặp nhau ở
Đại Tây Dương, đã phát hiện ra quái vật ở 42,15 độ vĩ bắc và
60,35 độ kinh về phía tây kinh tuyến Greenwich. Hai tàu cùng
quan sát và xác định được bằng mắt, là con vật có vú, dài ít nhất
hơn một trăm mét. Họ xác định được như vậy là vì hai tàu đều
nhỏ hơn con vật, mặc dù cả hai đều dài một trăm mét. Giống cá
voi khổng lồ ở vùng đảo Aléoutiennes cũng không thể dài quá

năm mươi mét.
Những tin tức này dồn dập bay về, những thông báo mới của
tàu Pereire vượt Đại Tây Dương, cuộc chạm trán giữa quái vật với
tàu Etna, biên bản của các sĩ quan trên chiếc tàu chiến Pháp
Normandie và bản báo cáo tỉ mỉ của Fitz-James, thuyền trưởng
tàu Lord Clyde – tất cả những cái đó đã làm náo động dư luận. Ở
những nước hay suy nghĩ hồ đồ thì hiện tượng kỳ lạ này là đề tài
vô tận cho những chuyện bông đùa, nhưng những nước chín
chắn hơn và có đầu óc thực tế như Anh, Mỹ, Đức thì hết sức quan
tâm đến chuyện này.
Ở thủ đô các nước, con quái vật đã trở thành “mốt”: người ta
hát về nó trong các tiệm cà phê, nhạo báng nó trên báo chí, đưa
nó lên sân khấu. Vớ được dịp may hiếm có, mấy tờ lá cải tha hồ
tung tin vịt. Họ dựng lên đủ loại quái vật hoang đường, từ con cá
voi trắng khủng khiếp ở các nước vùng Bắc Cực đến những con
bạch tuộc gớm ghiếc có thể dùng vòi cuốn cả tàu chở nặng năm
trăm tấn dìm xuống đáy biển.
Trong các hội nghiên cứu và các tạp chí khoa học nổi lên một
cuộc tranh luận ồn ào không dứt giữa những người tin và không
tin. Các nhà báo, những người yêu khoa học trong cuộc tranh cãi
với đối phương, đã phải đổ biết bao nhiêu mực thậm chí một số
đã đổ cả máu vì cuộc đấu khẩu về con rắn biển đó dẫn tới những
trận đấu chân đấu tay thực sự!
Cuộc “chiến tranh” này đã kéo dài suốt sáu tháng ròng không
phân thắng bại…
Mấy tháng đầu năm 1867, câu chuyện quái vật hình như đã bị
chôn vùi và chẳng cần gợi lại làm gì. Nhưng những sự kiện mới
lại lan truyền trong công chúng. Bây giờ không còn là chuyện
giải quyết một vấn đề khoa học thú vị nữa, mà là một nguy cơ

nghiêm trọng. Quái vật đó đã biến thành một hòn đảo, một dải
đá ngầm di động, bí hiểm, không thể bắt được!
Mùng 5 tháng 3 năm 1867, tàu Moravian của Công ty tàu biển
Montréal đang chạy nhanh ở 27,30 độ vĩ và 72,15 độ kinh bỗng
đâm phải một dải đá ngầm không thấy ghi trên một bản đồ hoa
tiêu nào. Nhờ gió thuận và động cơ mạnh bốn trăm sức ngựa,
chiếc tàu chạy với tốc độ mười ba hải lý một giờ. Tàu đâm mạnh
đến nỗi nếu vỏ tàu không thật vững vàng thì nhất định sẽ bị đắm
cùng với hai trăm ba mươi bảy thủy thủ và hành khách từ
Canada về.
Cuộc va chạm xảy ra lúc rạng đông, khoảng năm giờ sáng. Các
sĩ quan trực nhật lao tới mũi tàu. Họ xem xét rất kỹ mặt biển,
nhưng chẳng thấy gì đáng nghi ngờ, ngoài một đợt sóng to nổi
lên cách đó hơn nửa ki lô mét. Xác định toạ độ xong, tàu
Moravian lại tiếp tục hành trình mà không thấy chỗ nào bị hư
hại. Nó đã va phải cái gì vậy? Một dải đá ngầm hay xác một chiếc
tàu bị đắm? Chẳng ai biết cả. Nhưng sau đó, khi xem xét phần
dưới của tàu ở xưởng sửa chữa, người ta thấy một bộ phận của
lòng tàu bị hư hại. Sự kiện nghiêm trọng này chắc cũng có thể bị
lãng quên nhanh chóng như nhiều sự kiện khác tương tự, nếu ba
tuần sau đó nó không được lặp lại trong những điều kiện y hệt.
Và cũng do chiếc tàu mang cờ một cường quốc và thuộc một
công ty hàng hải nên tin xảy ra tai nạn được truyền đi rất rộng…
Ngày 13 tháng 4 năm 1867, tàu Scotia cũng thuộc công ty nói
trên đang ở 15,37 độ kinh và 45,37 độ vĩ. Biển lặng, gió nhẹ. Nhờ
động cơ rất mạnh, tàu chạy hơn mười ba hải lý một giờ. Guồng
bánh quay đều trong sóng biển.
Bốn giờ mười bảy phút chiều, khi hành khách đang ăn trong
phòng ăn thì thân tàu bỗng rung lên vì va nhẹ vào một vật gì đó

ở phía lái, sau guồng bên trái một chút. Xét tính chất của va
chạm, có thể đoán là tàu vừa bị một vật nhọn đâm vào. Nhưng có
lẽ cũng chẳng ai chú ý tới sự việc đó nhiều, nếu thợ đốt lò không
chạy lên boong và kêu ầm lên:
- Hầm tàu bị thủng! Hầm tàu bị thủng!
Trong giây phút đầu, hành khách hoang mang nhốn nháo,
nhưng thuyền trưởng Anderson đã làm họ bình tĩnh lại. Thực ra
tàu không bị đe doạ gì. Vì nó được chia thành bảy ngăn riêng biệt
không thấm nước, nên một chỗ rò rỉ nhỏ chẳng đáng sợ.
Anderson lập tức xuống hầm tàu. Ông ta thấy ngăn số năm bị
ngập nước. Căn cứ vào tốc độ nước ùa vào, thì lỗ thủng ở thân tàu
khá to. Cũng may là ở ngăn này không có nồi hơi, nếu có thì đã bị
tắt ngấm.
Anderson ra lệnh tắt máy và cử một thủy thủ lặn xuống nước
xem xét chỗ thủng. Mấy phút sau xác định được rằng phần dưới
thân tàu có một lỗ thủng rộng hai mét. Vì không có khả năng bịt
kín chỗ đó nên tàu Scotia phải tiếp tục hành trình, để guồng
bánh xe ngập một nửa xuống nước. Tai nạn xảy ra cách mũi
Clear ba trăm hải lý. Thế là tàu Scotia cập bến Liverpool chậm
mất ba ngày, làm mọi người hết sức lo lắng.
Tàu được đưa vào xưởng sửa chữa để các kỹ sư xem xét. Họ
không tin ở mắt mình nữa! Ở thân tàu, dưới mặt nước hai mét
rưỡi, có một lỗ thủng hình tam giác cân. Ba cạnh của lỗ thủng rất
nhẵn, tựa như bị kéo cắt. Rõ ràng là vật chọc thủng thân tàu phải
có độ rắn rất cao. Hơn nữa sau khi xuyên qua lá thép dày bốn xen
ti mét, nó tự rút ra được.
Sự việc đó không ai giải thích nổi!
Từ ngày đó, tất cả những tai nạn ngoài biển mà không có

nguyên nhân đều quy cả cho quái vật. Nó phải chịu trách nhiệm
về nhiều vụ đắm tàu. Đáng tiếc rằng số tàu bị đắm khá lớn và ít
nhất có hai trăm trong số tàu đắm được coi là “mất tích”.
Dù sao thì cũng do quái vật mà giao thông giữa các lục địa
ngày càng nguy hiểm. Dư luận tha thiết yêu cầu phải trừ khử
quái vật đó bằng bất kỳ giá nào.

Chương 2
Tán thành và phản đối

K

hi xảy ra những việc vừa kể trên thì tôi đã hoàn thành
công việc nghiên cứu ở bang Nebraska (Bắc Mỹ) và đang
quay về. Chính phủ Pháp cử tôi vào đoàn nghiên cứu khoa học
với tư cách là phó giáo sư của Viện bảo tàng lịch sử tự nhiên
Paris. Sau khi đã đi khắp miền Nebraska trong sáu tháng và thu
thập được những bộ hiện vật hết sức quý giá, cuối tháng ba tôi về
tới New York. Tôi dự định sẽ lên đường về Pháp vào đầu tháng
năm. Vì vậy, mấy ngày rỗi rãi còn lại trước khi xuống tàu, tôi
dành để xếp loại những bộ sưu tập về khoáng vật, thực vật và
động vật của tôi. Chính lúc đó tàu Scotia gặp nạn.
Tất nhiên tôi theo dõi sát mọi việc đã làm dư luận xôn xao. Tôi
đã đọc đi đọc lại tất cả những báo chí châu Mỹ và châu Âu, nhưng
những cái đó cũng chẳng soi sáng gì thêm cho vấn đề đang làm
mọi người thắc mắc. Câu chuyện bí hiểm đã kích thích tính tò
mò của tôi…
Tôi tới New York đúng lúc đang nổi lên những cuộc tranh cãi
gay gắt xung quanh câu chuyện này. Những giả thuyết về hòn
đảo di động, về dải đá ngầm do những người ít thẩm quyền đề ra,
đã bị vứt bỏ hoàn toàn. Thật vậy, “dải đá ngầm” sao có thể di
chuyển với tốc độ như vậy nếu nó không có máy móc cực mạnh?
Giả thuyết cho rằng đó là xác một chiếc tàu khổng lồ bị đắm trôi
đi với tốc độ ghê gớm như vậy cũng bị gạt bỏ.
Còn lại hai giả thuyết có người ủng hộ: một số người cho rằng

mọi sự bất hạnh đều do một con vật khổng lồ gây ra; một số khác
thì cho rằng đó là một chiếc tàu ngầm có động cơ cực mạnh.
Giả thuyết cuối cùng đó có vẻ gần thật hơn cả, nhưng lại bị bác
bỏ sau những cuộc điều tra ở cả hai bán cầu. Khó có thể tin rằng
một tư nhân nào lại có được một chiếc tàu như vậy. Nó đã được
đóng bao giờ và ở đâu? Và việc đóng một chiếc tàu khổng lồ như
vậy làm sao có thể giữ kín được?
Chỉ nhà nước mới có thể chế tạo ra những loại máy có sức phá
hoại ghê gớm như vậy. Ở thời đại chúng ta, khi trí tuệ con người
rất thành thạo trong việc sáng chế ra những công cụ giết người
thì cũng dễ tin được rằng có một nước nào đó đã bí mật chế tạo
và đem thử chiếc tàu khủng khiếp này.
Nhưng cuối cùng giả thuyết về một chiếc tàu ngầm quân sự
đã đổ sụp, vì tất cả các chính phủ đều tuyên bố là không dính
dáng gì đến chuyện này. Không thể nghi ngờ được sự thành thật
của những bản tuyên bố đó, vì các đường biển quốc tế đều bị đe
doạ. Hơn nữa việc đóng một chiếc tàu ngầm khổng lồ như vậy
không thể thoát khỏi sự chú ý của dư luận.
Giữ bí mật trong những điều kiện như vậy đối với tư nhân đã
hết sức khó, còn đối với từng nước là điều không tưởng vì mỗi
hành động của họ đều bị các cường quốc đối địch theo dõi gắt
gao.
Thế là sau khi điều tra ở các nước Anh, Pháp, Nga, Phổ, Tây
Ban Nha, Italia, Mỹ và cả Thổ nữa, giả thuyết về tàu ngầm đã phá
sản hoàn toàn.
Mặc dù bị những tờ báo lá cải chế giễu, con quái vật kia lại nổi
lên mặt nước. Óc tưởng tượng được kích động lại vẽ nên những
bức tranh vô lý nhất trong lĩnh vực khoa học viễn tưởng.

Về tới New York, tôi có vinh dự được nhiều người đến hỏi ý
kiến về vấn đề này. Ở Pháp tôi có cho xuất bản cuốn sách in
thành hai tập, nhan đề “Những bí mật của biển sâu”. Cuốn sách
đó được giới khoa học hoan nghênh và đã khiến tôi trở thành
chuyên gia nổi tiếng về một lĩnh vực ít được nghiên cứu của lịch
sử tự nhiên. Người ta yêu cầu tôi phát biểu ý kiến về vấn đề này.
Nhưng trong tay tôi không có một tài liệu cụ thể nào nên tôi từ
chối, lấy cớ là hoàn toàn không hiểu biết gì cả. Tuy nhiên, bị dồn
vào chân tường, tôi đành phải nói lên phán đoán của mình. Và
cuối cùng, “Tôn ông Aronnax”, giáo sư Viện bảo tàng Paris, mà
các phóng viên báo New York Herald yêu cầu “phát biểu ý kiến”
phải đầu hàng.
Tôi lên tiếng vì im lặng mãi cũng không tiện. Tôi xem xét vấn
đề về cả mọi mặt chính trị và khoa học. Tôi xin trích ra đây mấy
đoạn trong bài báo đăng ngày 30-4:
“Sau khi cân nhắc từng giả thuyết đã được đề ra và không có
những giả thuyết khác vững chắc hơn, chúng ta đành thừa nhận
sự tồn tại của một con vật sống dưới biển có sức mạnh phi
thường.
Những lớp nước sâu của đại dương hầu như chưa được nghiên
cứu. Chưa một cuộc thăm dò nào xuống được tới những lớp nước
đó. Cái gì đang xảy ra dưới vực thẳm chưa ai biết đến ấy? Những
sinh vật nào đang sống và có thể sống ở độ sâu mười hai, hay
mười lăm hải lý dưới mặt biển? Cơ thể của chúng ra sao? Bất kỳ
giả thuyết nào cũng chỉ là phỏng đoán mà thôi.
Nhiệm vụ đặt ra cho chúng ta có thể giải quyết bằng hai cách:
Hoặc là chúng ta đã biết hết các loài sinh vật sống trên hành
tinh chúng ta, hoặc là chưa biết hết.

Nếu ta chưa biết hết, nếu trong lĩnh vực ngư học, thiên nhiên
còn giấu ta nhiều điều bí mật, thì chẳng có cơ sở nào để không
thừa nhận sự tồn tại của những con cá, hay động vật có vú thuộc
những giống, loài mà ta chưa biết, những sinh vật đặc biệt sống
được ở các lớp nước sâu; chỉ thỉnh thoảng mới nổi lên mặt biển
do tác động của các quy luật vật lý nào đó, hoặc do tính khí bất
thường của thiên nhiên.
Trái lại, nếu ta đã biết hết các loài động vật, thì cần tìm kiếm
con vật nói trên trong số những con vật biển đã được phân loại,
trong trường hợp này, tôi sẵn sàng cho rằng đây là một con cá
thiết hình khổng lồ.
Cá thiết hình bình thường, hay cá một sừng, dài tới mười tám
mét. Hãy nhân kích thước nó lên năm lần, mười lần, hãy cho nó
một sức mạnh, một cái sừng cân xứng với thân hình nó. Như vậy
các bạn sẽ hình dung được con quái vật! Nó sẽ có kích thước mà
các sĩ quan tàu Shannon cho biết, có cái sừng nhọn đâm thủng
được tàu Scotia và các tàu vượt đại dương khác.
Cá thiết hình có một sừng lớn sắc như gươm và rắn như thép.
Người ta đã nhiều lần thấy những vết thương trên mình cá voi là
loại động vật mà bao giờ cá thiết hình cũng đánh thắng.
Nhiều khi người ta lấy được những mảnh vụn của sừng cá ở vỏ
tàu bằng gỗ bị đâm thủng. Viện bảo tàng của Đại học y khoa
Paris có một cái sừng cá thiết hình dài hai mét hai mươi lăm xen
ti mét, chu vi chỗ to nhất là bốn mươi tám xen ti mét.
Chúng ta hãy hình dung một cái sừng lớn hơn mười lần, con
cá mạnh hơn mười lần, bơi nhanh hai mươi lăm hải lý một giờ,
hãy nhân khối lượng của con cá với tốc độ của nó, thì sẽ hiểu
được nguyên nhân gây ra tai nạn.

Tóm lại, trong khi chờ đợi những tin tức đầy đủ hơn, tôi
nghiêng về ý kiến cho rằng đây là một con cá thiết hình khổng lồ
có sừng nhọn, lớn như những tàu chiến bọc thép và cũng di
chuyển nhanh như vậy.
Tôi xin giải thích hiện tượng bí hiểm này như trên, nhưng với
điều kiện là nó phải có thực chứ không phải là chuyện bịa đặt
(điều này cũng có thể xảy ra).”
Những lời cuối cùng là mưu mẹo của tôi: tôi muốn giữ uy tín
của nhà bác học và không muốn cho dân Mỹ, một dân tộc hay
đùa cợt, có cớ để nhạo báng. Tôi đã để lại một con đường để rút
lui. Thực lòng tôi rất tin rằng đây là một quái vật.
Bài báo của tôi đã gây ra những cuộc tranh luận sôi nổi và
được nhiều người đọc. Có cả những người tán thành tôi. Cách
giải quyết vấn đề do tôi đề nghị, cho phép người ta được hoàn
toàn tự do tưởng tượng. Trí tuệ con người được thỏa thích tạo
nên hình tượng những con vật khổng lồ, mà những động vật
trên trái đất như: voi, tê giác, nếu đứng cạnh chỉ là những chú
chim chích. Môi trường nước sản sinh ra những loài có vú rất
lớn, có lẽ cả những loài nhuyễn thể khổng lồ, những loài giáp xác
khủng khiếp, những con cua nặng hai trăm tấn! Đã có một thời,
những động vật trên trái đất, những loài bốn chân bốn tay, bò
sát và chim đều có hình thù đồ sộ. Sau đó thời gian đã rút ngắn
kích thước của chúng lại. Vì sao ta không thể cho rằng dưới các
lớp biển sâu chưa được nghiên cứu còn bảo tồn được những động
vật khổng lồ của những thời kỳ xa xưa nhất?
Nhưng nếu tất cả câu chuyện huyền bí đó đối với một số người
chỉ có ý nghĩa thuần tuý khoa học, thì những người có đầu óc
thực tế hơn, đặc biệt là người Mỹ và người Anh, lại rất lo lắng đến
sự an toàn của các đường giao thông vượt đại dương và đặt việc

trừ khử con quái vật ra một cách cấp thiết. Báo chí đại diện
quyền lợi của các giới công nghiệp và tài chính xem xét vấn đề
này một cách nguyên tắc, nghĩa là từ mặt thực tế này.
Dư luận các nước, trước hết là Mỹ, ủng hộ sáng kiến đó của
giới kinh doanh. Ở New York, người ta bắt đầu chuẩn bị một
chuyến đi đặc biệt, nhằm tìm kiếm con cá thiết hình đó. Chiếc
tàu chiến Abraham Lincoln phải gấp rút ra khơi ngay. Cửa các
kho quân sự được mở ra để cung cấp mọi thứ cần thiết cho
thuyền trưởng Farragut, chỉ huy tàu.
Nhưng đúng lúc có quyết định trang bị cho đoàn thám hiểm,
thì con cá lại biến mất. Suốt hai tháng trời chẳng thấy tăm hơi nó
đâu. Chẳng một chiếc tàu nào gặp nó. Hình như con cá cảm thấy
người ta đang mưu hại nó. Người ta đã nói đến chuyện đó quá
nhiều! Lại truyền đi bằng cả đường điện tín đặt ngầm dưới Đại
Tây Dương nữa! Những người hay đùa quả quyết rằng con cá xảo
quyệt đó đã tóm được bức điện và đã có những biện pháp đề
phòng.
Chiếc tàu chiến đã chuẩn bị xong để đi xa, được trang bị loại
đạn bắn cá voi rất mạnh, nhưng sẽ đi hướng nào thì chẳng ai
được biết. Tình trạng căng thẳng đang lên tới đỉnh cao thì bỗng
ngày 2 tháng 7 có tin đồn là chiếc tàu chạy thường xuyên giữa
San Francisco và Thượng Hải ba tuần trước đây đã gặp quái vật ở
phía bắc Thái Bình Dương.
Tin đó đã gây một ấn tượng rất mạnh. Thuyền trưởng
Farragut chỉ còn không đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ để
chuẩn bị. Lương thực đã được chất lên tàu. Các hầm tàu đầy ắp
than. Thủy thủ đã tập hợp đông đủ. Chỉ còn việc đốt lò và nhổ
neo! Farragut không được phép chậm trễ dù chỉ mấy giờ! Vả lại,
chính Farragut cũng nôn nóng muốn ra khơi ngay.

Trước khi tàu Lincoln nhổ neo ba tiếng đồng hồ, tôi nhận được
một bức thư, nội dung như sau:
Kính gửi ngài Aronnax, giáo sư Viện bảo tàng Paris,
Khách sạn “Đại lộ số 5”
New York,
Thưa ngài,
Nếu ngài có ý muốn tham gia đoàn thám hiểm trên tàu Abraham
Lincoln, thì chính phủ Mỹ sẽ lấy làm hài lòng về việc ngài thay mặt
nước Pháp đóng góp vào việc này, thuyền trưởng Farragut sẽ dành
cho ngài một phòng riêng trên tàu.
Kính chào ngài.
Bộ trưởng Bộ Hàng Hải
J. B. HOBSON

Chương 3
Xin tùy giáo sư

K

hi nhận được thư của ông Hobson, tôi đang vừa nghĩ
nhiều về việc bắt con cá một sừng, vừa nghĩ nhiều về ý
định vượt qua những cánh đồng tây bắc. Tuy vậy, đọc xong thư
của ông bộ trưởng, tôi hiểu ngay rằng sứ mệnh thực sự của tôi,
mục đích của cả cuộc đời tôi là phải tiêu diệt được con quái vật
này, không cho nó làm hại mọi người.
Tôi vừa kết thúc một cuộc hành trình gian khổ nên rất mệt
mỏi và cần nghỉ ngơi: Tôi rất mong trở về Tổ quốc, về với bạn bè
và căn phòng ở Vườn bách thú, về với những bộ sưu tập quý giá
của tôi! Nhưng không gì có thể ngăn cản tôi tham gia đoàn thám
hiểm này. Sự mệt nhọc, bạn bè, những bộ sưu tập – tất cả đều bị
quên đi! Không cần suy nghĩ nhiều, tôi nhận ngay lời mời của
chính phủ Mỹ. Tôi nghĩ: “Dù thế nào, mọi con đường cũng đều
dẫn tới bờ biển nước Pháp! Nó sẽ giúp ta mang về Viện bảo tàng
tự nhiên Paris cái sừng dài không dưới nửa mét của nó”.
Nhưng trong khi chờ đợi tương lai xa xôi đó, tôi còn phải tìm
nó ở phía bắc Thái Bình Dương, nói khác đi, là phải đi về phía
ngược với nước Pháp.
- Conseil! – Tôi nóng ruột gọi to.
Conseil là người giúp việc tôi và theo tôi đi khắp nơi. Tôi mến
anh ta và anh ta cũng quý tôi. Conseil tính điềm đạm, trung
thực, cần cù, thường nhìn nhận các bước ngoặt của số phận một
cách triết lý, rất khéo tay và luôn sẵn sàng giúp đỡ mọi người.

Trái hẳn với tên gọi[3], anh ta chẳng bao giờ khuyên ai, ngay cả
khi người ta đến hỏi ý kiến.
Vì thường xuyên tiếp xúc với giới khoa học của Vườn bách
thú, Conseil học tập được nhiều điều. Anh ta chuyên về phân loại
tự nhiên, rất thành thạo về các “kiểu, nhóm, lớp, bộ, họ, giống,
loài”. Nhưng kiến thức của anh ta đến đấy cũng là hết. Phân loại
là năng khiếu tự nhiên của Conseil, anh ta không tiến xa nữa.
Nhưng dù sao Conseil cũng là người rất tốt.
Mười năm nay, Conseil theo tôi trong tất cả các chuyến đi
nghiên cứu. Tôi chưa hề thấy anh ta kêu ca phàn nàn khi chuyến
đi bị kéo dài hay gặp khó khăn, gian khổ, Conseil sẵn sàng theo
tôi đi bất kỳ nước nào, dù đó là Trung Quốc hay Congo,
 
Gửi ý kiến