-trat-tu-the-gioi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:06' 05-02-2026
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:06' 05-02-2026
Dung lượng: 2.3 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
TRẬT
TỰ
THẾ
GIỚI
Tác
giả:
Kissinger
Dịch
giả:
Phạm
Thái
Sơn
Hiệu
đính:
Võ
Minh
Tuấn
Alphabooks
phát
hành
NXB
Thế
Giới
6/2016
—★—
ebook©vctvegroup
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
Mục Lục
BỨC TRANH ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á QUA CÁI
NHÌN CỦA KISSINGER
Giới thiệu
TÍNH ĐA DẠNG CỦA TRẬT TỰ THẾ GIỚI
Chương 1
CHIẾN TRANH BA MƯƠI NĂM: TÍNH CHÍNH DANH LÀ
GÌ?
HÒA ƯỚC WESTPHALIA
SỰ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG THEO HÒA ƯỚC
WESTPHALIA
CÁCH MẠNG PHÁP VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ
Chương 2
BÍ ẨN NƯỚC NGA
HỘI NGHỊ THÀNH VIENNA
TIỀN ĐỀ CỦA TRẬT TỰ QUỐC TẾ
METTERNICH VÀ BISMARCK
TÌNH TRẠNG TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN CỦA CÂN
BẰNG QUYỀN LỰC
TÍNH CHÍNH DANH VÀ QUYỀN LỰC GIỮA CÁC THẾ
CHIẾN
TRẬT TỰ CHÂU ÂU THỜI HẬU CHIẾN
TƯƠNG LAI CỦA CHÂU ÂU
Chương 3
TRẬT TỰ THẾ GIỚI HỒI GIÁO
ĐẾ QUỐC OTTOMAN: CON BỆNH CỦA CHÂU ÂU
HỆ THỐNG THEO HÒA ƯỚC WESTPHALIA VÀ THẾ GIỚI
HỒI GIÁO
HỒI GIÁO: THỦY TRIỀU CÁCH MẠNG – HAI LÝ GIẢI
TRIẾT HỌC
MÙA XUÂN Ả-RẬP VÀ BIẾN ĐỘNG SYRIA
VẤN ĐỀ PALESTINE VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ
Ả-RẬP SAUDI
SỰ SUY TÀN CỦA QUỐC GIA?
Chương 4
TRUYỀN THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA IRAN
CUỘC CÁCH MẠNG KHOMEINI
PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN VÀ IRAN
TẦM NHÌN VÀ THỰC TẾ
Chương 5
CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU: CÁC KHÁI NIỆM KHÁC NHAU
VỀ CÂN BẰNG QUYỀN LỰC
NHẬT BẢN
ẤN ĐỘ
TRẬT TỰ KHU VỰC Á CHÂU LÀ GÌ?
Chương 6
TRUNG QUỐC VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á
TRUNG QUỐC VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI
VIỄN CẢNH DÀI HẠN
Chương 7
NƯỚC MỸ TRÊN VŨ ĐÀI THẾ GIỚI
THEODORE ROOSEVELT: MỸ - MỘT CƯỜNG QUỐC THẾ
GIỚI
WOODROW WILSON: MỸ - LƯƠNG TÂM THẾ GIỚI
FRANKLIN ROOSEVELT VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
Chương 8
KHỞI ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH
CHIẾN LƯỢC TRONG TRẬT TỰ CHIẾN TRANH LẠNH
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
VIỆT NAM VÀ SỰ TAN VỠ ĐỒNG THUẬN QUỐC GIA
RICHARD NIXON VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ
RONALD REAGAN VÀ KẾT THÚC CỦA CHIẾN TRANH
LẠNH
CHIẾN TRANH AFGHANISTAN VÀ IRAQ
MỤC TIÊU VÀ TÍNH KHẢ THI
Chương 9
TRẬT TỰ THẾ GIỚI TRONG THỜI ĐẠI HẠT NHÂN
THÁCH THỨC TỪ SỰ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN
CÔNG NGHỆ ẢO VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI
NHÂN TỐ CON NGƯỜI
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI TRONG KỶ NGUYÊN KỸ
THUẬT SỐ
Kết luận
TIẾN TRÌNH CỦA TRẬT TỰ QUỐC TẾ
CHÚNG TA SẼ ĐI TỚI ĐÂU?
BỨC
TRANH
ĐỊA
CHÍNH
TRỊ
THẾ
GIỚI
VÀ
CHÂU
Á
QUA
CÁI
NHÌN
CỦA
KISSINGER
World
Order
(Trật
tự
Thế
giới)
của
Henry
Kissinger
vừa
ra
đời
đã
gây
sự
chú
ý
của
nhiều
độc
giả,
đặc
biệt
là
các
nhà
khoa
học
và
chính
khách
trên
thế
giới.
Trước
đó,
Kissinger
cũng
đã
xuất
bản
một
loạt
các
tác
phẩm
khác
về
chính
trị
thế
giới
và
khu
vực
như
Nuclear
Weapons
and
Foreign
Policy
(Vũ
khí
hạt
nhân
và
chính
sách
đối
ngoại),
American
Foreign
Policy
(Chính
sách
đối
ngoại
của
Hoa
Kỳ),
Ending
the
Vietnam
War:
A
History
of
America's
Involvement
in
and
Extrication
from
the
Vietnam
War
(Kết
thúc
Chiến
tranh
Việt
Nam:
Lịch
sử
sự
tham
gia
của
Mỹ
và
thoát
khỏi
Chiến
tranh
Việt
Nam),
On
China
(Luận
về
Trung
Quốc).
Lợi
thế
của
tác
giả
là
kết
hợp
được
chiều
sâu
của
một
nhà
nghiên
cứu
chính
trị
với
một
kinh
nghiệm
thực
tiễn
phong
phú
ở
tầm
ngoại
giao
chiến
lược
quốc
tế
trên
mọi
châu
lục.
Và
World
Order
hiện
diện
như
một
tác
phẩm
tổng
kết
lại
cách
nhìn
của
Kissinger
về
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới,
cũng
được
một
số
ý
kiến
cho
đây
có
thể
là
tác
phẩm
cuối
cùng
của
ông.
Trong
World
Order,
Kissinger
xuất
phát
từ
Hòa
ước
Westphalia
(chương
1)
để
phân
tích
về
tương
quan
giữa
các
nước,
chủ
yếu
là
các
cường
quốc
và
các
khu
vực
giữ
một
vai
trò
đặc
biệt
đối
với
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới,
với
những
khác
biệt
trong
thế
giới
quan
và
vị
trí
địa
lý
đã
ảnh
hưởng
đến
chính
sách
ngoại
giao
của
mỗi
nước
như
thế
nào.
Tác
giả
dành
chương
cuối
(chương
9)
để
bàn
về
vấn
đề
toàn
cầu
hoá
trong
thời
đại
khoa
học
công
nghệ,
đặc
biệt
là
tin
học
và
truyền
thông
đại
chúng
lan
tràn
đã
tác
động
mạnh
mẽ
đến
dư
luận,
các
nhà
lãnh
đạo
và
các
quyết
định
chính
trị
hiện
nay.
Theo
cách
nhìn
của
Kissinger
thì
trật
tự
thế
giới
ngày
nay
cần
được
đặt
trên
hai
yếu
tố
căn
bản:
1.
Nguyên
tắc
tôn
trọng
chủ
quyền
của
mỗi
quốc
gia
có
tính
chính
danh
dựa
trên
căn
bản
của
các
hiệp
ước
và
tổ
chức
quốc
tế;
2.
Và
để
đảm
bảo
duy
trì
hòa
bình
và
ổn
định
trên
thế
giới
cũng
như
các
khu
vực,
cần
phải
dựa
trên
một
sự
cân
bằng
quyền
lực
mà
chủ
yếu
phụ
thuộc
vào
các
cường
quốc
thế
giới
và
khu
vực.
Điểm
qua
một
loạt
các
quốc
gia
tiêu
biểu
trải
dài
từ
châu
Âu,
châu
Á
đến
Trung
Đông
và
Bắc
Mỹ,
bắt
đầu
theo
tiến
trình
thời
gian
được
lấy
mốc
từ
Hòa
ước
Westphalia
đến
tận
thời
điểm
tác
phẩm
hoàn
thành,
và
mặc
dù
đã
lưu
ý
đến
đặc
điểm
lịch
sử,
địa
lý,
tôn
giáo
và
sắc
tộc
của
các
quốc
gia
và
khu
vực,
nhưng
Kissinger
vẫn
nghiêng
về
xu
hướng
tán
đồng
một
kiểu
trật
tự
thế
giới
do
phương
Tây
xây
dựng
từ
sau
Thế
chiến
thứ
Hai
dựa
theo
khuôn
mẫu
của
Hòa
ước
Westphalia
và
không
ngừng
được
bổ
sung
bởi
các
hiệp
ước
khác
sau
này,
cũng
như
bởi
sự
hình
thành
của
những
liên
minh
nhân
danh
việc
duy
trì
cán
cân
thăng
bằng
trên
thế
giới,
nhưng
đằng
sau
đó
vẫn
là
lợi
ích
quốc
gia.
Đây
là
một
lối
tư
duy
cổ
điển
dựa
trên
cơ
sở
áp
đặt
cái
lý
của
kẻ
mạnh,
dù
vẫn
đề
cao
những
giá
trị
của
tính
chính
danh
của
các
quốc
gia
có
chủ
quyền.
Tác
giả
đã
tự
mâu
thuẫn
với
chính
mình
ở
cách
nhìn
về
trật
tự
thế
giới,
bỏ
qua
đặc
điểm
thời
đại
về
tính
đa
cân
bằng.
Tuy
nhiên,
nó
cũng
là
một
lời
cảnh
báo
cho
các
quốc
gia,
nhất
là
các
quốc
gia
nhỏ
bé,
phải
tự
lực
tự
cường
đề
nâng
cao
vị
thế
tương
quan
của
mình
với
các
cường
quốc.
Kissinger
cũng
không
hề
giấu
diếm
việc
đề
cao
vai
trò
của
Mỹ
trong
bối
cảnh
tương
quan
lực
lượng
của
thế
giới
hôm
nay.
Dường
như,
giá
trị
Mỹ
là
một
lập
trường
của
tác
giả
khi
soi
chiếu
vào
trật
tự
thế
giới
mới
hôm
nay.
Điều
đó
cũng
dễ
hiểu
vì
bên
cạnh
tư
cách
tác
giả,
ông
còn
là
một
cựu
chính
khách
Mỹ
dày
dạn
kinh
nghiệm.
Để
hiểu
được
sự
tự
tin,
phần
nào
ngạo
nghễ
của
Kissinger
như
thấu
kính
phóng
đại
niềm
tự
hào
Mỹ
là
một
quốc
gia
dị
biệt,
cần
phải
xem
xét
vấn
đề
địa
chính
trị
của
nó.
Hợp
chủng
quốc
Hoa
Kỳ
nằm
gần
như
hoàn
toàn
trong
Tây
Bán
cầu,
hầu
như
tách
biệt
với
phần
còn
lại
của
thế
giới
với
tây
giáp
Thái
Bình
Dương,
đông
giáp
Đại
Tây
Dương.
Vị
trí
địa
lý
được
hai
đại
dương
che
chở
đã
giúp
Mỹ
hầu
như
không
bị
tổn
hại
trong
Thế
chiến
thứ
Nhất,
để
từ
đó
nhanh
chóng
vươn
lên
thành
một
cường
quốc.
Cũng
chính
sự
che
chở
này
đã
làm
người
Mỹ
tiếp
tục
tự
tin
trong
những
hành
động
chính
trị
trên
khắp
thế
giới
sau
này.
Bên
cạnh
đó,
lịch
sử
lập
quốc
đã
trao
cho
họ
niềm
tin
vào
sứ
mệnh
thiêng
liêng
từ
mạc
khải
của
Chúa,
với
hình
ảnh
của
một
thành
phố
ở
trên
đồi
tỏa
ánh
sáng
muôn
nơi
trong
Kinh
Thánh,
cùng
với
sức
mạnh
kinh
tế,
chính
trị
và
quân
sự,
khiến
các
chính
khách
Mỹ
và
người
dân
Mỹ
qua
nhiều
thế
hệ
cho
rằng
mình
mang
sứ
mệnh
của
Chúa
cũng
như
nghĩa
vụ
của
con
người
để
đem
giá
trị
Mỹ
mà
chính
họ
coi
là
tiêu
biểu
cho
toàn
nhân
loại
đến
với
toàn
cầu.
Trong
tác
phẩm,
Kissinger
dẫn
lời
của
cố
Tổng
thống
Ronald
Reagan
trong
phát
biểu
tại
Diễn
văn
từ
nhiệm
năm
1989:
Tôi
đã
nói
về
thành
phố
tỏa
sáng
trong
cả
cuộc
đời
chính
trị
của
tôi,
nhưng
tôi
không
biết
liệu
mình
đã
bao
giờ
truyền
đạt
thành
công
những
gì
tôi
thấy
khi
tôi
nói
về
nó
chưa.
Nhưng
trong
tâm
trí
của
tôi,
đó
là
một
thành
phố
ở
trên
cao
đầy
tự
hào
được
xây
dựng
trên
những
tảng
đá
mạnh
mẽ
hơn
những
đại
dương,
nơi
có
gió
thổi
qua,
được
Chúa
ban
phước
và
đầy
chật
người
dân
thuộc
mọi
tầng
lớp
sống
trong
hòa
hợp
và
an
bình
–
một
thành
phố
với
những
bến
cảng
tự
do,
ngân
nga
bài
ca
của
thương
mại
và
sáng
tạo,
và
nếu
phải
có
những
bức
tường
thành
phố,
những
bức
tường
sẽ
có
các
cửa
ra
vào,
và
các
cửa
rộng
mở
cho
bất
kỳ
ai
có
ý
chí
và
trái
tim
có
thể
tới
được
nơi
đây.
Đó
là
cách
tôi
đã
thấy
và
vẫn
còn
thấy
nó.
Bên
cạnh
đó,
Kissinger
cũng
thừa
nhận
tính
nước
đôi
trong
quan
hệ
chính
trị
và
ngoại
giao
quốc
tế
của
Mỹ
nhằm
cân
bằng
quyền
lực
và
giữ
gìn
trật
tự
thế
giới:
Các
cuộc
tranh
luận
trong
nước
Mỹ
thường
được
miêu
tả
như
là
cuộc
đối
đầu
giữa
chủ
nghĩa
lý
tưởng
và
chủ
nghĩa
thực
tế.
Nhưng
đối
với
Mỹ
và
phần
còn
lại
của
thế
giới,
nếu
Mỹ
không
thể
hành
động
theo
cả
hai
chủ
nghĩa,
kết
cục
có
thể
là
nó
sẽ
không
thể
hiện
thực
hóa
chủ
nghĩa
nào
cả.
Điều
đó
lý
giải
vì
sao
không
phải
lúc
nào
Mỹ
cũng
sẵn
sàng
can
thiệp
bằng
hành
động
vào
các
vụ
việc
quốc
tế,
đặc
biệt
khi
đấy
là
những
tình
huống
chạm
trán
với
một
cường
quốc
khác
có
thể
gây
những
tổn
hại
cho
chính
mình
(ví
dụ
đối
với
Trung
Quốc),
hoặc
sẽ
tìm
kiếm
một
giải
pháp
rút
lui
chứ
không
đi
đến
tận
cùng
(trường
hợp
chiến
tranh
Triều
Tiên,
Việt
Nam,
Afghanistan),
hoặc
sử
dụng
cách
nói
nước
đôi
không
nhắm
trực
tiếp
tới
một
nước
thứ
ba
mà
chỉ
nhân
danh
luân
lý
và
luật
pháp
quốc
tế
(trường
hợp
Biển
Đông).
Một
quốc
gia
nào
đó,
nếu
đặt
niềm
tin
hoàn
toàn
vào
sự
trợ
giúp
từ
Mỹ
như
những
gì
nước
này
nói,
có
thể
sẽ
nhanh
chóng
đi
đến
sự
chờ
đợi
hoài
công
vì
cuối
cùng
không
nhận
được
những
gì
cụ
thể
mà
mình
đang
mong
muốn.
Mô
hình
theo
Hòa
ước
Westphalia
có
thể
phù
hợp
với
lịch
sử
và
địa
lý
của
phương
Tây,
và
qua
thời
gian,
nó
được
bồi
đắp
và
định
hình
dần
như
là
một
trật
tự
thế
giới.
Tuy
nhiên
với
các
quốc
gia
ở
Trung
Đông
và
châu
Á,
vốn
có
một
lịch
sử
lâu
đời
và
vị
trí
riêng,
lại
không
cho
là
như
vậy.
Các
quốc
gia
này
muốn
một
luật
chơi
riêng,
hoặc
ít
nhất
là
phải
được
tham
gia
vào
hình
thành
luật
chơi
chứ
không
phải
chỉ
thực
hiện
luật
chơi
do
phương
Tây
tạo
ra.
Một
số
quốc
gia
trong
số
này,
từ
quá
khứ
đến
hiện
tại,
ít
nhiều
đều
tự
coi
mình
là
trung
tâm
của
thế
giới
hay
một
phần
đáng
kể
của
thế
giới,
điều
mà
sẽ
cho
phép
mình
có
quyền
tạo
ra
hoặc
tham
gia
tạo
ra
cách
chơi.
Trung
Đông,
nơi
tồn
tại
của
một
thế
giới
Hồi
giáo
rộng
mênh
mông,
tự
cho
rằng
phần
còn
lại
phi
Hồi
giáo
của
hành
tinh
này
trước
sau
cũng
gia
nhập
vào
một
vương
cung
thánh
đường
Hồi
giáo
nhất
thể,
nơi
được
thống
trị
bởi
Sultan,
vua
của
các
vị
vua,
đấng
cai
trị
của
những
kẻ
cai
trị,
người
duy
nhất
có
quyền
ban
phát
chức
tước
cho
những
vị
vua
ở
các
quốc
gia
khác.
Hồi
giáo
chia
thế
giới
thành
hai,
một
bên
là
thế
giới
Hồi
giáo,
bên
kia
là
phi
Hồi
giáo,
và
nhiệm
vụ
của
thế
giới
Hồi
giáo
là
biến
phần
còn
lại
thành
thế
giới
Hồi
giáo
trong
một
sứ
mệnh
jihad
(thánh
chiến).
Cách
nhìn
trật
tự
thế
giới
của
họ
coi
Hồi
giáo
có
thiên
mệnh
bành
trướng
khắp
'vương
quốc
chiến
tranh'
như
họ
gọi
tất
cả
các
vùng
đất
do
dân
vô
thần
cư
trú,
cho
đến
khi
cả
thế
giới
là
một
hệ
thống
đơn
nhất,
không
thể
chia
tách,
được
lời
phán
truyền
của
Đấng
tiên
tri
Muhammad
làm
cho
hài
hòa.
Trung
Quốc,
một
quốc
gia
rộng
lớn
với
dân
số
đông,
xung
quanh
là
những
quốc
gia
nhỏ
bé
hơn,
đã
tự
cho
mình
là
quốc
gia
nằm
ở
trung
tâm
của
thế
giới,
vua
của
nó
không
được
coi
là
vị
vua
bình
thường
mà
là
vua
của
các
vua
dưới
danh
xưng
“hoàng
đế”,
được
mệnh
danh
là
“thiên
tử”,
có
quyền
cai
trị
mọi
quốc
gia
khác
trong
“thiên
hạ”,
và
vua
các
quốc
gia
khác,
một
mặt
phải
chịu
sự
sắc
phong
của
nó,
mặt
khác
phải
tiến
hành
việc
triều
cống
vốn
nặng
về
nghi
lễ
thuần
phục
hơn
là
ý
nghĩa
kinh
tế.
Vì
vậy,
nó
không
dễ
dàng
chấp
nhận
một
trật
tự
thế
giới
theo
luật
chơi
do
phương
Tây
đã
định
sẵn.
Trung
Quốc
chưa
bao
giờ
từ
bỏ
ý
định
trở
thành
trung
tâm
của
thế
giới.
Điều
đó
càng
làm
sâu
sắc
thêm
tham
vọng
bá
quyền
của
quốc
gia
này
hôm
nay
khi
nó
đang
trỗi
dậy.
Kissinger
cũng
điểm
qua
Ấn
Độ
với
tư
cách
một
quốc
gia
có
trọng
lượng
đáng
kể
ở
khu
vực
này,
với
dân
số
đông
và
một
sức
mạnh
quân
sự
đáng
nể.
Ấn
Độ,
từ
lâu
đã
chủ
trương
một
đối
sách
trong
quan
hệ
quốc
tế:
không
đi
theo
bất
kỳ
một
bên
nào.
Quốc
gia
này
đặt
lợi
ích
của
mình
như
là
nguyên
tắc
trong
quan
hệ
với
các
quốc
gia
khác,
chứ
không
phải
là
vấn
đề
ý
thức
hệ
hay
các
liên
minh.
Nó
cố
gắng
tránh
xung
đột
cũng
như
đứng
về
một
bên
xung
đột
với
các
quốc
gia
khác,
trừ
những
cuộc
đụng
độ
quân
sự
ở
biên
giới
với
Pakistan
vốn
dai
dẳng
qua
các
thập
kỷ.
Ấn
Độ
không
tự
đặt
mình
vào
như
là
một
cường
quốc
trong
cán
cân
thăng
bằng
của
trật
tự
thế
giới,
dù
nó
vẫn
có
những
động
thái
hỗ
trợ
huấn
luyện
quân
sự
và
dân
sự
cho
các
quốc
gia
bạn
bè,
trong
đó
có
Việt
Nam.
Khi
nhìn
về
Á
châu,
dường
như
trong
đó
Kissinger
có
cái
nhìn
ưu
ái
hơn
với
Nhật,
một
đất
nước
của
những
hòn
đảo
lớn
nhỏ.
Hai
lần
Nhật
đã
từng
trở
thành
cường
quốc
khiến
phương
Tây
ngạc
nhiên.
Sức
sống
bền
bỉ
dẻo
dai,
lòng
quật
cường
và
đoàn
kết
dân
tộc
đã
mấy
lần
giúp
nước
này
vượt
qua
những
cơn
triều
dâng
từ
phương
Tây,
kể
cả
khi
nó
yếu
hơn.
Chịu
ảnh
hưởng
bởi
văn
hóa
Trung
Hoa,
nhưng
Nhật
là
nước
đã
kiên
quyết
thoát
ra
để
tạo
nên
tư
tưởng
và
tâm
hồn
của
riêng
mình.
Thua
trận
và
bị
phương
Tây
chèn
ép,
Nhật
đã
nhún
nhường
nhưng
không
hạ
mình,
không
đi
theo
phương
Tây
như
một
kẻ
chư
hầu
nhưng
cũng
không
đối
đầu
một
cách
thiếu
cơ
sở,
mà
đã
chọn
con
đường
hòa
hợp
và
học
hỏi
phương
Tây
để
rồi
âm
thầm
bứt
phá
ngoạn
mục.
Từ
một
nước
thua
trận
trong
Thế
chiến
thứ
Hai,
Nhật
đã
vươn
lên
trở
thành
một
cường
quốc
hôm
nay,
bắt
đầu
thể
hiện
vai
trò
của
mình
trong
một
trật
tự
thế
giới
mới.
Kissinger
cho
rằng
Nhật
sẽ
chọn
lựa
cách
ứng
xử
có
lợi
nhất
cho
mình
dựa
trên
các
phân
tích
về
tương
quan
chiến
lược
chứ
không
chịu
bị
gò
bó
trong
một
hệ
thống
liên
minh,
hay
các
hiệp
ước
với
bên
ngoài.
Kissinger
bàn
về
Việt
Nam
hoàn
toàn
khác.
Ông
không
nhìn
Việt
Nam
như
một
nhân
tố
tham
gia
vào
trật
tự
thế
giới,
mà
chỉ
với
tư
cách
là
tác
nhân
ảnh
hưởng
đến
một
cường
quốc
tham
gia
vào
trật
tự
thế
giới:
Mỹ.
Tại
chương
8.
The
United
States:
Ambivalent
Superpower
(Hoa
Kỳ:
Siêu
cường
nước
đôi),
ông
dành
một
mục
cho
Việt
Nam:
Vietnam
and
the
Breakdown
of
the
National
Consensus
(Việt
Nam
và
sự
tan
vỡ
đồng
thuận
quốc
gia),
ngụ
ý
cuộc
chiến
tranh
tại
Việt
Nam
đã
làm
tan
vỡ
đồng
thuận
quốc
gia
của
Mỹ.
Trong
Chiến
tranh
Lạnh,
Mỹ
đã
quyết
định
can
thiệp
và
ngày
càng
lún
sâu
vào
cuộc
chiến
ở
Việt
Nam.
Kissinger
viết:
Chính
quyền
Kennedy
đã
đi
gần
tới
việc
tham
chiến
và
chính
quyền
Johnson
đã
thực
sự
tham
chiến
vì
tin
rằng
cuộc
tấn
công
của
Bắc
Việt
Nam
vào
Nam
Việt
Nam
là
mũi
nhọn
của
Xô-Trung
nhằm
tiến
tới
sự
thống
trị
toàn
cầu
và
điều
này
cần
phải
bị
quân
đội
Mỹ
ngăn
chặn,
không
để
tất
cả
các
nước
Đông
Nam
Á
rơi
vào
tay
cộng
sản.
Không
đi
sâu
phân
tích
về
diễn
biến
cuộc
chiến
và
sự
sa
lầy
của
Mỹ
trong
cuộc
chiến
này,
mà
Kissinger
soi
chiếu
từ
góc
độ
cuộc
chiến
đã
làm
nội
bộ
nước
Mỹ
bị
xáo
động
khủng
khiếp
và
mâu
thuẫn,
các
giá
trị
Mỹ
bị
nghi
ngờ,
và
kết
luận:
Mỹ
đã
lần
đầu
tiên
thua
trận
và
cũng
đánh
mất
đi
mối
liên
hệ
với
khái
niệm
của
mình
về
trật
tự
thế
giới.
Dưới
con
mắt
của
nhà
chính
trị
lão
luyện
Kissinger,
nơi
một
trật
tự
thế
giới
được
lập
ra
bởi
các
cường
quốc
mà
không
đếm
xỉa
gì
đến
các
quốc
gia
nhỏ
bé
dù
đó
cũng
là
các
quốc
gia
độc
lập
có
chủ
quyền,
thì
châu
Á
là
nạn
nhân
chứ
không
phải
là
người
chơi
trong
trật
tự
quốc
tế
do
chủ
nghĩa
thực
dân
phương
Tây
áp
đặt.
Qua
đây,
có
thể
thấy
rằng,
mặc
dù
Mỹ
và
Trung
Quốc
có
những
quan
niệm
khác
nhau
về
vai
trò
của
mình
trong
cán
cân
quyền
lực
thế
giới,
nhưng
vì
đây
đều
là
hai
siêu
cường
lớn
nhất
thế
giới
hiện
nay
với
những
quyền
lợi
gắn
bó
chặt
chẽ,
nên
đều
tự
nhận
thấy
phải
kìm
chế
và
tránh
đụng
độ
trực
tiếp
vì
thiệt
hại
mà
nó
gây
ra
là
khôn
lường.
Trong
khi
đó,
mối
quan
hệ
giữa
Trung
Quốc
và
các
quốc
gia
Đông
Á
lại
đang
trở
thành
vùng
nóng
có
thể
châm
ngòi
bất
kỳ
lúc
nào.
Lẽ
dĩ
nhiên,
những
quan
điểm
mà
Kissinger
trình
bày
trong
cuốn
sách
này,
vừa
xuất
phát
từ
cách
nhìn
của
Mỹ
ít
nhiều
mang
tính
quốc
gia,
vừa
mang
tính
cá
nhân
của
một
chính
khách,
và
có
giá
trị
tham
khảo
về
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới
đối
với
chúng
ta
trong
bối
cảnh
phức
tạp
hôm
nay.
•
TS.
Võ
Minh
Tuấn
Giới
thiệu
CÂU
HỎI
VỀ
TRẬT
TỰ
THẾ
GIỚI
Năm
1961,
khi
còn
là
một
học
giả
trẻ,
tôi
ghé
thăm
Tổng
thống
Harry
S.
Truman
nhân
dịp
tôi
có
bài
phát
biểu
ở
thành
phố
Kansas.
Khi
tôi
hỏi
điều
gì
trong
nhiệm
kỳ
tổng
thống
khiến
ông
tự
hào
nhất,
Truman
trả
lời:
“Đó
là
chúng
ta
đã
đánh
bại
hoàn
toàn
kẻ
thù
và
đưa
họ
trở
lại
với
cộng
đồng
các
quốc
gia.
Tôi
nghĩ
chỉ
có
Mỹ
mới
có
thể
làm
được
điều
này.”
Ý
thức
về
sức
mạnh
khổng
lồ
của
Mỹ,
Truman
tự
hào
hơn
hết
về
các
giá
trị
nhân
đạo
và
dân
chủ
của
nó.
Ông
muốn
được
mọi
người
nhớ
đến
vì
những
cuộc
hòa
giải
của
Mỹ
hơn
là
vì
các
chiến
thắng
của
nó.
Tất
cả
những
tổng
thống
kế
nhiệm
sau
Truman
đều
nói
tương
tự
như
vậy
cách
này
hay
cách
khác,
và
lấy
làm
tự
hào
về
các
đặc
tính
tương
tự
của
nước
Mỹ.
Và
trong
hầu
hết
giai
đoạn
này,
cộng
đồng
các
quốc
gia
mà
họ
cố
duy
trì,
phản
ánh
sự
đồng
thuận
Mỹ
–
không
ngừng
mở
rộng
không
gian
trật
tự
mang
tính
hợp
tác
của
các
quốc
gia
trong
việc
tuân
thủ
những
quy
ước
và
chuẩn
mực
chung,
theo
đuổi
hệ
thống
kinh
tế
tự
do,
phản
đối
xâm
chiếm
lãnh
thổ,
tôn
trọng
chủ
quyền
quốc
gia
và
áp
dụng
hệ
thống
nhà
nước
dân
chủ
và
có
sự
tham
gia
của
người
dân.
Các
tổng
thống
Mỹ
của
cả
hai
đảng,
thường
với
sự
mãnh
liệt
và
thuật
hùng
biện,
đã
tiếp
tục
thúc
giục
các
chính
phủ
khác
duy
trì
và
tăng
cường
nhân
quyền.
Trong
nhiều
trường
hợp,
việc
Mỹ
và
các
đồng
minh
bảo
vệ
những
giá
trị
này
đã
khởi
đầu
những
thay
đổi
quan
trọng
trong
điều
kiện
sống
của
con
người.
Tuy
nhiên,
ngày
nay,
hệ
thống
“dựa
trên
quy
tắc”
này
đang
phải
đối
mặt
với
những
thách
thức.
Những
lời
kêu
gọi
thường
xuyên,
yêu
cầu
các
nước
thực
hiện
“phần
việc
công
bằng
của
họ”
tham
gia
theo
“quy
tắc
của
thế
kỷ
21”
hay
là
“các
bên
liên
quan
có
trách
nhiệm”
trong
một
hệ
thống
chung,
phản
ánh
một
thực
tế
rằng
không
có
định
nghĩa
chung
về
hệ
thống
này
hoặc
sự
hiểu
biết
về
một
đóng
góp
“công
bằng”
nghĩa
là
gì.
Bên
ngoài
thế
giới
phương
Tây,
các
khu
vực
–
trước
đây
hầu
như
không
có
vai
trò
nào
trong
việc
hình
thành
những
quy
tắc
này
–
đặt
câu
hỏi
về
tính
hợp
lệ
của
chúng
trong
hình
thức
hiện
tại,
và
thể
hiện
rõ
rằng
họ
sẽ
tìm
cách
để
thay
đổi
chúng.
Như
vậy,
mặc
dù
“cộng
đồng
quốc
tế”
có
lẽ
là
cụm
từ
được
kêu
gọi
tha
thiết
vào
lúc
này
hơn
bất
kỳ
thời
đại
nào
khác,
nó
không
hề
cho
thấy
một
tập
hợp
các
mục
tiêu,
phương
pháp
hay
giới
hạn
rõ
ràng
hoặc
được
thống
nhất.
Thời
đại
của
chúng
ta
khăng
khăng
theo
đuổi
một
khái
niệm
về
trật
tự
thế
giới
đôi
khi
gần
như
đến
mức
tuyệt
vọng.
Sự
hỗn
loạn
chực
chờ
đe
dọa
sự
tương
thuộc
chưa
từng
có
trước
đây:
sự
phổ
biến
của
vũ
khí
hủy
diệt
hàng
loạt,
sự
tan
rã
của
các
quốc
gia,
sự
ảnh
hưởng
của
môi
trường
bị
phá
hoại,
sự
tồn
tại
dai
dẳng
của
những
hành
động
mang
tính
diệt
chủng,
và
sự
lan
tràn
của
những
công
nghệ
mới
có
nguy
cơ
gây
ra
xung
đột
ngoài
tầm
kiểm
soát
hay
nhận
thức
của
con
người.
Những
phương
pháp
mới
trong
việc
tiếp
cận
và
truyền
đạt
thông
tin
liên
kết
các
khu
vực
lại
với
nhau
hơn
bao
giờ
hết
và
phóng
chiếu
những
sự
kiện
trên
quy
mô
toàn
cầu
–
nhưng
bằng
cái
cách
không
để
người
ta
có
thời
gian
suy
ngẫm,
đòi
hỏi
các
nhà
lãnh
đạo
phải
thể
hiện
những
phản
ứng
tức
thời
qua
các
khẩu
hiệu.
Liệu
chúng
ta
có
đang
phải
đối
mặt
với
một
giai
đoạn
mà
các
lực
lượng
quyết
định
tương
lai
là
những
lực
lượng
vượt
ngoài
tầm
kiểm
soát
của
bất
kỳ
trật
tự
nào?
TÍNH
ĐA
DẠNG
CỦA
TRẬT
TỰ
THẾ
GIỚI
hông
một
“trật
tự
thế
giới”
mang
tính
toàn
cầu
đích
thực
nào
K
đã
từng
tồn
tại.
Những
gì
tạo
nên
trật
tự
trong
thời
đại
chúng
ta
đã
được
lập
ra
ở
Tây
Âu
gần
bốn
thế
kỷ
trước
đây
ở
Westphalia
của
Đức,
tại
một
hội
nghị
hòa
bình
được
tổ
chức
mà
hầu
hết
các
châu
lục
hoặc
các
nền
văn
minh
khác
đã
không
được
tham
gia
hay
thậm
chí
là
không
biết
gì
về
nó.
Một
thế
kỷ
xung
đột
giáo
phái
và
biến
động
chính
trị
trên
khắp
Trung
Âu
đã
lên
đến
đỉnh
điểm
với
cuộc
Chiến
tranh
Ba
mươi
năm[1]
(1618-1948)
–
một
đại
họa
trong
đó
có
cả
những
tranh
chấp
chính
trị
và
tôn
giáo,
các
bên
tham
chiến
phải
viện
đến
“chiến
tranh
tổng
lực”
để
chống
lại
những
trung
tâm
dân
số;
gần
một
phần
tư
dân
số
của
Trung
Âu
chết
vì
chiến
tranh,
bệnh
tật
hoặc
nạn
đói.
Các
bên
tham
chiến
kiệt
quệ,
gặp
nhau
để
xác
định
một
loạt
các
thỏa
thuận
nhằm
ngăn
chặn
sự
đổ
máu.
Sự
thống
nhất
tôn
giáo
đã
bị
rạn
nứt
với
việc
Tin
Lành
sống
sót
và
lan
rộng;
đa
nguyên
chính
trị
trở
thành
thuộc
tính
của
một
số
thực
thể
chính
trị
độc
lập
đã
chiến
đấu
tới
kỳ
cùng.
Vì
vậy,
ngay
tại
châu
Âu,
những
tình
trạng
của
thế
giới
đương
đại
là
gần
như
tương
đồng:
nhiều
thực
thể
chính
trị
khác
nhau
cùng
tồn
tại,
không
cái
nào
đủ
mạnh
để
đánh
bại
tất
cả
những
cái
khác,
nhiều
thực
thể
tuân
theo
những
triết
lý
và
thông
lệ
mâu
thuẫn,
tìm
kiếm
những
quy
tắc
trung
lập
để
điều
chỉnh
hành
vi
của
họ
và
giảm
thiểu
xung
đột.
Hòa
ước
Westphalia[2]
phản
ánh
một
quá
trình
điều
chỉnh
thực
dụng
theo
sát
với
thực
tế,
chứ
chẳng
phải
một
sự
thấu
thị
về
đạo
đức
đặc
biệt
nào.
Nó
dựa
trên
một
hệ
thống
các
quốc
gia
độc
lập
cố
gắng
hạn
chế
can
thiệp
vào
công
việc
nội
bộ
lẫn
nhau
và
kiểm
soát
tham
vọng
của
nhau
thông
qua
một
trạng
thái
cân
bằng
chung
về
quyền
lực.
Trước
đó,
trong
các
trận
giao
tranh
ở
châu
Âu,
chưa
hề
có
bất
kỳ
tuyên
bố
khẳng
định
chân
lý
hay
quy
luật
phổ
quát
nào...
Thay
vào
đó,
mỗi
quốc
gia
được
giao
quyền
chủ
quyền
trên
lãnh
thổ
của
mình.
Mỗi
quốc
gia
sẽ
thừa
nhận
những
cơ
cấu
nội
bộ
và
thiên
hướng
tôn
giáo
của
những
quốc
gia
khác
như
hiện
tồn
và
kiềm
chế
thách
thức
sự
tồn
tại
của
những
quốc
gia
này.
Bằng
sự
cân
bằng
quyền
lực
hiện
được
coi
là
hợp
theo
quy
luật
tự
nhiên
và
đáng
mong
muốn,
tham
vọng
của
những
người
trị
vì
là
họ
sẽ
được
đặt
trong
thế
đối
trọng
với
nhau,
từ
đó
giới
hạn
phạm
vi
của
các
cuộc
xung
đột
ít
nhất
là
về
mặt
lý
thuyết.
Phân
chia
và
đa
dạng,
một
sự
ngẫu
nhiên
trong
lịch
sử
của
châu
Âu,
đã
trở
thành
điểm
nổi
bật
của
một
hệ
thống
trật
tự
quốc
tế
mới
với
quan
điểm
triết
học
riêng
biệt.
Trong
ý
nghĩa
này,
nỗ
lực
của
châu
Âu
nhằm
chấm
dứt
đại
họa
của
nó
đã
định
hình
và
báo
trước
một
cảm
giác
hiện
đại:
nó
dè
dặt
trong
việc
phán
đoán
về
tính
tuyệt
đối
để
ủng
hộ
cái
thực
tiễn
và
Đại
kết[3];
nó
tìm
cách
đúc
kết
trật
tự
từ
sự
đa
dạng
và
kiềm
chế.
Những
nhà
đàm
phán
thế
kỷ
17
lập
nên
Hòa
ước
Westphalia
không
hề
nghĩ
rằng
họ
đã
đặt
nền
móng
cho
một
hệ
thống
được
áp
dụng
toàn
cầu.
Họ
không
hề
có
ý
định
mời
Nga
láng
giềng,
khi
đó
đang
củng
cố
lại
trật
tự
riêng
của
mình
sau
“Thời
kỳ
Rối
ren”[4]
ác
mộng
bằng
cách
theo
đuổi
các
nguyên
tắc
hoàn
toàn
mâu
thuẫn
với
sự
cân
TỰ
THẾ
GIỚI
Tác
giả:
Kissinger
Dịch
giả:
Phạm
Thái
Sơn
Hiệu
đính:
Võ
Minh
Tuấn
Alphabooks
phát
hành
NXB
Thế
Giới
6/2016
—★—
ebook©vctvegroup
Ebook
miễn
phí
tại
:
www.Sachvui.Com
Mục Lục
BỨC TRANH ĐỊA CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI VÀ CHÂU Á QUA CÁI
NHÌN CỦA KISSINGER
Giới thiệu
TÍNH ĐA DẠNG CỦA TRẬT TỰ THẾ GIỚI
Chương 1
CHIẾN TRANH BA MƯƠI NĂM: TÍNH CHÍNH DANH LÀ
GÌ?
HÒA ƯỚC WESTPHALIA
SỰ VẬN HÀNH CỦA HỆ THỐNG THEO HÒA ƯỚC
WESTPHALIA
CÁCH MẠNG PHÁP VÀ HẬU QUẢ CỦA NÓ
Chương 2
BÍ ẨN NƯỚC NGA
HỘI NGHỊ THÀNH VIENNA
TIỀN ĐỀ CỦA TRẬT TỰ QUỐC TẾ
METTERNICH VÀ BISMARCK
TÌNH TRẠNG TIẾN THOÁI LƯỠNG NAN CỦA CÂN
BẰNG QUYỀN LỰC
TÍNH CHÍNH DANH VÀ QUYỀN LỰC GIỮA CÁC THẾ
CHIẾN
TRẬT TỰ CHÂU ÂU THỜI HẬU CHIẾN
TƯƠNG LAI CỦA CHÂU ÂU
Chương 3
TRẬT TỰ THẾ GIỚI HỒI GIÁO
ĐẾ QUỐC OTTOMAN: CON BỆNH CỦA CHÂU ÂU
HỆ THỐNG THEO HÒA ƯỚC WESTPHALIA VÀ THẾ GIỚI
HỒI GIÁO
HỒI GIÁO: THỦY TRIỀU CÁCH MẠNG – HAI LÝ GIẢI
TRIẾT HỌC
MÙA XUÂN Ả-RẬP VÀ BIẾN ĐỘNG SYRIA
VẤN ĐỀ PALESTINE VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ
Ả-RẬP SAUDI
SỰ SUY TÀN CỦA QUỐC GIA?
Chương 4
TRUYỀN THỐNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC CỦA IRAN
CUỘC CÁCH MẠNG KHOMEINI
PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN VÀ IRAN
TẦM NHÌN VÀ THỰC TẾ
Chương 5
CHÂU Á VÀ CHÂU ÂU: CÁC KHÁI NIỆM KHÁC NHAU
VỀ CÂN BẰNG QUYỀN LỰC
NHẬT BẢN
ẤN ĐỘ
TRẬT TỰ KHU VỰC Á CHÂU LÀ GÌ?
Chương 6
TRUNG QUỐC VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ Ở CHÂU Á
TRUNG QUỐC VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI
VIỄN CẢNH DÀI HẠN
Chương 7
NƯỚC MỸ TRÊN VŨ ĐÀI THẾ GIỚI
THEODORE ROOSEVELT: MỸ - MỘT CƯỜNG QUỐC THẾ
GIỚI
WOODROW WILSON: MỸ - LƯƠNG TÂM THẾ GIỚI
FRANKLIN ROOSEVELT VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI MỚI
Chương 8
KHỞI ĐẦU CỦA CHIẾN TRANH LẠNH
CHIẾN LƯỢC TRONG TRẬT TỰ CHIẾN TRANH LẠNH
CHIẾN TRANH TRIỀU TIÊN
VIỆT NAM VÀ SỰ TAN VỠ ĐỒNG THUẬN QUỐC GIA
RICHARD NIXON VÀ TRẬT TỰ QUỐC TẾ
RONALD REAGAN VÀ KẾT THÚC CỦA CHIẾN TRANH
LẠNH
CHIẾN TRANH AFGHANISTAN VÀ IRAQ
MỤC TIÊU VÀ TÍNH KHẢ THI
Chương 9
TRẬT TỰ THẾ GIỚI TRONG THỜI ĐẠI HẠT NHÂN
THÁCH THỨC TỪ SỰ PHỔ BIẾN VŨ KHÍ HẠT NHÂN
CÔNG NGHỆ ẢO VÀ TRẬT TỰ THẾ GIỚI
NHÂN TỐ CON NGƯỜI
CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI TRONG KỶ NGUYÊN KỸ
THUẬT SỐ
Kết luận
TIẾN TRÌNH CỦA TRẬT TỰ QUỐC TẾ
CHÚNG TA SẼ ĐI TỚI ĐÂU?
BỨC
TRANH
ĐỊA
CHÍNH
TRỊ
THẾ
GIỚI
VÀ
CHÂU
Á
QUA
CÁI
NHÌN
CỦA
KISSINGER
World
Order
(Trật
tự
Thế
giới)
của
Henry
Kissinger
vừa
ra
đời
đã
gây
sự
chú
ý
của
nhiều
độc
giả,
đặc
biệt
là
các
nhà
khoa
học
và
chính
khách
trên
thế
giới.
Trước
đó,
Kissinger
cũng
đã
xuất
bản
một
loạt
các
tác
phẩm
khác
về
chính
trị
thế
giới
và
khu
vực
như
Nuclear
Weapons
and
Foreign
Policy
(Vũ
khí
hạt
nhân
và
chính
sách
đối
ngoại),
American
Foreign
Policy
(Chính
sách
đối
ngoại
của
Hoa
Kỳ),
Ending
the
Vietnam
War:
A
History
of
America's
Involvement
in
and
Extrication
from
the
Vietnam
War
(Kết
thúc
Chiến
tranh
Việt
Nam:
Lịch
sử
sự
tham
gia
của
Mỹ
và
thoát
khỏi
Chiến
tranh
Việt
Nam),
On
China
(Luận
về
Trung
Quốc).
Lợi
thế
của
tác
giả
là
kết
hợp
được
chiều
sâu
của
một
nhà
nghiên
cứu
chính
trị
với
một
kinh
nghiệm
thực
tiễn
phong
phú
ở
tầm
ngoại
giao
chiến
lược
quốc
tế
trên
mọi
châu
lục.
Và
World
Order
hiện
diện
như
một
tác
phẩm
tổng
kết
lại
cách
nhìn
của
Kissinger
về
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới,
cũng
được
một
số
ý
kiến
cho
đây
có
thể
là
tác
phẩm
cuối
cùng
của
ông.
Trong
World
Order,
Kissinger
xuất
phát
từ
Hòa
ước
Westphalia
(chương
1)
để
phân
tích
về
tương
quan
giữa
các
nước,
chủ
yếu
là
các
cường
quốc
và
các
khu
vực
giữ
một
vai
trò
đặc
biệt
đối
với
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới,
với
những
khác
biệt
trong
thế
giới
quan
và
vị
trí
địa
lý
đã
ảnh
hưởng
đến
chính
sách
ngoại
giao
của
mỗi
nước
như
thế
nào.
Tác
giả
dành
chương
cuối
(chương
9)
để
bàn
về
vấn
đề
toàn
cầu
hoá
trong
thời
đại
khoa
học
công
nghệ,
đặc
biệt
là
tin
học
và
truyền
thông
đại
chúng
lan
tràn
đã
tác
động
mạnh
mẽ
đến
dư
luận,
các
nhà
lãnh
đạo
và
các
quyết
định
chính
trị
hiện
nay.
Theo
cách
nhìn
của
Kissinger
thì
trật
tự
thế
giới
ngày
nay
cần
được
đặt
trên
hai
yếu
tố
căn
bản:
1.
Nguyên
tắc
tôn
trọng
chủ
quyền
của
mỗi
quốc
gia
có
tính
chính
danh
dựa
trên
căn
bản
của
các
hiệp
ước
và
tổ
chức
quốc
tế;
2.
Và
để
đảm
bảo
duy
trì
hòa
bình
và
ổn
định
trên
thế
giới
cũng
như
các
khu
vực,
cần
phải
dựa
trên
một
sự
cân
bằng
quyền
lực
mà
chủ
yếu
phụ
thuộc
vào
các
cường
quốc
thế
giới
và
khu
vực.
Điểm
qua
một
loạt
các
quốc
gia
tiêu
biểu
trải
dài
từ
châu
Âu,
châu
Á
đến
Trung
Đông
và
Bắc
Mỹ,
bắt
đầu
theo
tiến
trình
thời
gian
được
lấy
mốc
từ
Hòa
ước
Westphalia
đến
tận
thời
điểm
tác
phẩm
hoàn
thành,
và
mặc
dù
đã
lưu
ý
đến
đặc
điểm
lịch
sử,
địa
lý,
tôn
giáo
và
sắc
tộc
của
các
quốc
gia
và
khu
vực,
nhưng
Kissinger
vẫn
nghiêng
về
xu
hướng
tán
đồng
một
kiểu
trật
tự
thế
giới
do
phương
Tây
xây
dựng
từ
sau
Thế
chiến
thứ
Hai
dựa
theo
khuôn
mẫu
của
Hòa
ước
Westphalia
và
không
ngừng
được
bổ
sung
bởi
các
hiệp
ước
khác
sau
này,
cũng
như
bởi
sự
hình
thành
của
những
liên
minh
nhân
danh
việc
duy
trì
cán
cân
thăng
bằng
trên
thế
giới,
nhưng
đằng
sau
đó
vẫn
là
lợi
ích
quốc
gia.
Đây
là
một
lối
tư
duy
cổ
điển
dựa
trên
cơ
sở
áp
đặt
cái
lý
của
kẻ
mạnh,
dù
vẫn
đề
cao
những
giá
trị
của
tính
chính
danh
của
các
quốc
gia
có
chủ
quyền.
Tác
giả
đã
tự
mâu
thuẫn
với
chính
mình
ở
cách
nhìn
về
trật
tự
thế
giới,
bỏ
qua
đặc
điểm
thời
đại
về
tính
đa
cân
bằng.
Tuy
nhiên,
nó
cũng
là
một
lời
cảnh
báo
cho
các
quốc
gia,
nhất
là
các
quốc
gia
nhỏ
bé,
phải
tự
lực
tự
cường
đề
nâng
cao
vị
thế
tương
quan
của
mình
với
các
cường
quốc.
Kissinger
cũng
không
hề
giấu
diếm
việc
đề
cao
vai
trò
của
Mỹ
trong
bối
cảnh
tương
quan
lực
lượng
của
thế
giới
hôm
nay.
Dường
như,
giá
trị
Mỹ
là
một
lập
trường
của
tác
giả
khi
soi
chiếu
vào
trật
tự
thế
giới
mới
hôm
nay.
Điều
đó
cũng
dễ
hiểu
vì
bên
cạnh
tư
cách
tác
giả,
ông
còn
là
một
cựu
chính
khách
Mỹ
dày
dạn
kinh
nghiệm.
Để
hiểu
được
sự
tự
tin,
phần
nào
ngạo
nghễ
của
Kissinger
như
thấu
kính
phóng
đại
niềm
tự
hào
Mỹ
là
một
quốc
gia
dị
biệt,
cần
phải
xem
xét
vấn
đề
địa
chính
trị
của
nó.
Hợp
chủng
quốc
Hoa
Kỳ
nằm
gần
như
hoàn
toàn
trong
Tây
Bán
cầu,
hầu
như
tách
biệt
với
phần
còn
lại
của
thế
giới
với
tây
giáp
Thái
Bình
Dương,
đông
giáp
Đại
Tây
Dương.
Vị
trí
địa
lý
được
hai
đại
dương
che
chở
đã
giúp
Mỹ
hầu
như
không
bị
tổn
hại
trong
Thế
chiến
thứ
Nhất,
để
từ
đó
nhanh
chóng
vươn
lên
thành
một
cường
quốc.
Cũng
chính
sự
che
chở
này
đã
làm
người
Mỹ
tiếp
tục
tự
tin
trong
những
hành
động
chính
trị
trên
khắp
thế
giới
sau
này.
Bên
cạnh
đó,
lịch
sử
lập
quốc
đã
trao
cho
họ
niềm
tin
vào
sứ
mệnh
thiêng
liêng
từ
mạc
khải
của
Chúa,
với
hình
ảnh
của
một
thành
phố
ở
trên
đồi
tỏa
ánh
sáng
muôn
nơi
trong
Kinh
Thánh,
cùng
với
sức
mạnh
kinh
tế,
chính
trị
và
quân
sự,
khiến
các
chính
khách
Mỹ
và
người
dân
Mỹ
qua
nhiều
thế
hệ
cho
rằng
mình
mang
sứ
mệnh
của
Chúa
cũng
như
nghĩa
vụ
của
con
người
để
đem
giá
trị
Mỹ
mà
chính
họ
coi
là
tiêu
biểu
cho
toàn
nhân
loại
đến
với
toàn
cầu.
Trong
tác
phẩm,
Kissinger
dẫn
lời
của
cố
Tổng
thống
Ronald
Reagan
trong
phát
biểu
tại
Diễn
văn
từ
nhiệm
năm
1989:
Tôi
đã
nói
về
thành
phố
tỏa
sáng
trong
cả
cuộc
đời
chính
trị
của
tôi,
nhưng
tôi
không
biết
liệu
mình
đã
bao
giờ
truyền
đạt
thành
công
những
gì
tôi
thấy
khi
tôi
nói
về
nó
chưa.
Nhưng
trong
tâm
trí
của
tôi,
đó
là
một
thành
phố
ở
trên
cao
đầy
tự
hào
được
xây
dựng
trên
những
tảng
đá
mạnh
mẽ
hơn
những
đại
dương,
nơi
có
gió
thổi
qua,
được
Chúa
ban
phước
và
đầy
chật
người
dân
thuộc
mọi
tầng
lớp
sống
trong
hòa
hợp
và
an
bình
–
một
thành
phố
với
những
bến
cảng
tự
do,
ngân
nga
bài
ca
của
thương
mại
và
sáng
tạo,
và
nếu
phải
có
những
bức
tường
thành
phố,
những
bức
tường
sẽ
có
các
cửa
ra
vào,
và
các
cửa
rộng
mở
cho
bất
kỳ
ai
có
ý
chí
và
trái
tim
có
thể
tới
được
nơi
đây.
Đó
là
cách
tôi
đã
thấy
và
vẫn
còn
thấy
nó.
Bên
cạnh
đó,
Kissinger
cũng
thừa
nhận
tính
nước
đôi
trong
quan
hệ
chính
trị
và
ngoại
giao
quốc
tế
của
Mỹ
nhằm
cân
bằng
quyền
lực
và
giữ
gìn
trật
tự
thế
giới:
Các
cuộc
tranh
luận
trong
nước
Mỹ
thường
được
miêu
tả
như
là
cuộc
đối
đầu
giữa
chủ
nghĩa
lý
tưởng
và
chủ
nghĩa
thực
tế.
Nhưng
đối
với
Mỹ
và
phần
còn
lại
của
thế
giới,
nếu
Mỹ
không
thể
hành
động
theo
cả
hai
chủ
nghĩa,
kết
cục
có
thể
là
nó
sẽ
không
thể
hiện
thực
hóa
chủ
nghĩa
nào
cả.
Điều
đó
lý
giải
vì
sao
không
phải
lúc
nào
Mỹ
cũng
sẵn
sàng
can
thiệp
bằng
hành
động
vào
các
vụ
việc
quốc
tế,
đặc
biệt
khi
đấy
là
những
tình
huống
chạm
trán
với
một
cường
quốc
khác
có
thể
gây
những
tổn
hại
cho
chính
mình
(ví
dụ
đối
với
Trung
Quốc),
hoặc
sẽ
tìm
kiếm
một
giải
pháp
rút
lui
chứ
không
đi
đến
tận
cùng
(trường
hợp
chiến
tranh
Triều
Tiên,
Việt
Nam,
Afghanistan),
hoặc
sử
dụng
cách
nói
nước
đôi
không
nhắm
trực
tiếp
tới
một
nước
thứ
ba
mà
chỉ
nhân
danh
luân
lý
và
luật
pháp
quốc
tế
(trường
hợp
Biển
Đông).
Một
quốc
gia
nào
đó,
nếu
đặt
niềm
tin
hoàn
toàn
vào
sự
trợ
giúp
từ
Mỹ
như
những
gì
nước
này
nói,
có
thể
sẽ
nhanh
chóng
đi
đến
sự
chờ
đợi
hoài
công
vì
cuối
cùng
không
nhận
được
những
gì
cụ
thể
mà
mình
đang
mong
muốn.
Mô
hình
theo
Hòa
ước
Westphalia
có
thể
phù
hợp
với
lịch
sử
và
địa
lý
của
phương
Tây,
và
qua
thời
gian,
nó
được
bồi
đắp
và
định
hình
dần
như
là
một
trật
tự
thế
giới.
Tuy
nhiên
với
các
quốc
gia
ở
Trung
Đông
và
châu
Á,
vốn
có
một
lịch
sử
lâu
đời
và
vị
trí
riêng,
lại
không
cho
là
như
vậy.
Các
quốc
gia
này
muốn
một
luật
chơi
riêng,
hoặc
ít
nhất
là
phải
được
tham
gia
vào
hình
thành
luật
chơi
chứ
không
phải
chỉ
thực
hiện
luật
chơi
do
phương
Tây
tạo
ra.
Một
số
quốc
gia
trong
số
này,
từ
quá
khứ
đến
hiện
tại,
ít
nhiều
đều
tự
coi
mình
là
trung
tâm
của
thế
giới
hay
một
phần
đáng
kể
của
thế
giới,
điều
mà
sẽ
cho
phép
mình
có
quyền
tạo
ra
hoặc
tham
gia
tạo
ra
cách
chơi.
Trung
Đông,
nơi
tồn
tại
của
một
thế
giới
Hồi
giáo
rộng
mênh
mông,
tự
cho
rằng
phần
còn
lại
phi
Hồi
giáo
của
hành
tinh
này
trước
sau
cũng
gia
nhập
vào
một
vương
cung
thánh
đường
Hồi
giáo
nhất
thể,
nơi
được
thống
trị
bởi
Sultan,
vua
của
các
vị
vua,
đấng
cai
trị
của
những
kẻ
cai
trị,
người
duy
nhất
có
quyền
ban
phát
chức
tước
cho
những
vị
vua
ở
các
quốc
gia
khác.
Hồi
giáo
chia
thế
giới
thành
hai,
một
bên
là
thế
giới
Hồi
giáo,
bên
kia
là
phi
Hồi
giáo,
và
nhiệm
vụ
của
thế
giới
Hồi
giáo
là
biến
phần
còn
lại
thành
thế
giới
Hồi
giáo
trong
một
sứ
mệnh
jihad
(thánh
chiến).
Cách
nhìn
trật
tự
thế
giới
của
họ
coi
Hồi
giáo
có
thiên
mệnh
bành
trướng
khắp
'vương
quốc
chiến
tranh'
như
họ
gọi
tất
cả
các
vùng
đất
do
dân
vô
thần
cư
trú,
cho
đến
khi
cả
thế
giới
là
một
hệ
thống
đơn
nhất,
không
thể
chia
tách,
được
lời
phán
truyền
của
Đấng
tiên
tri
Muhammad
làm
cho
hài
hòa.
Trung
Quốc,
một
quốc
gia
rộng
lớn
với
dân
số
đông,
xung
quanh
là
những
quốc
gia
nhỏ
bé
hơn,
đã
tự
cho
mình
là
quốc
gia
nằm
ở
trung
tâm
của
thế
giới,
vua
của
nó
không
được
coi
là
vị
vua
bình
thường
mà
là
vua
của
các
vua
dưới
danh
xưng
“hoàng
đế”,
được
mệnh
danh
là
“thiên
tử”,
có
quyền
cai
trị
mọi
quốc
gia
khác
trong
“thiên
hạ”,
và
vua
các
quốc
gia
khác,
một
mặt
phải
chịu
sự
sắc
phong
của
nó,
mặt
khác
phải
tiến
hành
việc
triều
cống
vốn
nặng
về
nghi
lễ
thuần
phục
hơn
là
ý
nghĩa
kinh
tế.
Vì
vậy,
nó
không
dễ
dàng
chấp
nhận
một
trật
tự
thế
giới
theo
luật
chơi
do
phương
Tây
đã
định
sẵn.
Trung
Quốc
chưa
bao
giờ
từ
bỏ
ý
định
trở
thành
trung
tâm
của
thế
giới.
Điều
đó
càng
làm
sâu
sắc
thêm
tham
vọng
bá
quyền
của
quốc
gia
này
hôm
nay
khi
nó
đang
trỗi
dậy.
Kissinger
cũng
điểm
qua
Ấn
Độ
với
tư
cách
một
quốc
gia
có
trọng
lượng
đáng
kể
ở
khu
vực
này,
với
dân
số
đông
và
một
sức
mạnh
quân
sự
đáng
nể.
Ấn
Độ,
từ
lâu
đã
chủ
trương
một
đối
sách
trong
quan
hệ
quốc
tế:
không
đi
theo
bất
kỳ
một
bên
nào.
Quốc
gia
này
đặt
lợi
ích
của
mình
như
là
nguyên
tắc
trong
quan
hệ
với
các
quốc
gia
khác,
chứ
không
phải
là
vấn
đề
ý
thức
hệ
hay
các
liên
minh.
Nó
cố
gắng
tránh
xung
đột
cũng
như
đứng
về
một
bên
xung
đột
với
các
quốc
gia
khác,
trừ
những
cuộc
đụng
độ
quân
sự
ở
biên
giới
với
Pakistan
vốn
dai
dẳng
qua
các
thập
kỷ.
Ấn
Độ
không
tự
đặt
mình
vào
như
là
một
cường
quốc
trong
cán
cân
thăng
bằng
của
trật
tự
thế
giới,
dù
nó
vẫn
có
những
động
thái
hỗ
trợ
huấn
luyện
quân
sự
và
dân
sự
cho
các
quốc
gia
bạn
bè,
trong
đó
có
Việt
Nam.
Khi
nhìn
về
Á
châu,
dường
như
trong
đó
Kissinger
có
cái
nhìn
ưu
ái
hơn
với
Nhật,
một
đất
nước
của
những
hòn
đảo
lớn
nhỏ.
Hai
lần
Nhật
đã
từng
trở
thành
cường
quốc
khiến
phương
Tây
ngạc
nhiên.
Sức
sống
bền
bỉ
dẻo
dai,
lòng
quật
cường
và
đoàn
kết
dân
tộc
đã
mấy
lần
giúp
nước
này
vượt
qua
những
cơn
triều
dâng
từ
phương
Tây,
kể
cả
khi
nó
yếu
hơn.
Chịu
ảnh
hưởng
bởi
văn
hóa
Trung
Hoa,
nhưng
Nhật
là
nước
đã
kiên
quyết
thoát
ra
để
tạo
nên
tư
tưởng
và
tâm
hồn
của
riêng
mình.
Thua
trận
và
bị
phương
Tây
chèn
ép,
Nhật
đã
nhún
nhường
nhưng
không
hạ
mình,
không
đi
theo
phương
Tây
như
một
kẻ
chư
hầu
nhưng
cũng
không
đối
đầu
một
cách
thiếu
cơ
sở,
mà
đã
chọn
con
đường
hòa
hợp
và
học
hỏi
phương
Tây
để
rồi
âm
thầm
bứt
phá
ngoạn
mục.
Từ
một
nước
thua
trận
trong
Thế
chiến
thứ
Hai,
Nhật
đã
vươn
lên
trở
thành
một
cường
quốc
hôm
nay,
bắt
đầu
thể
hiện
vai
trò
của
mình
trong
một
trật
tự
thế
giới
mới.
Kissinger
cho
rằng
Nhật
sẽ
chọn
lựa
cách
ứng
xử
có
lợi
nhất
cho
mình
dựa
trên
các
phân
tích
về
tương
quan
chiến
lược
chứ
không
chịu
bị
gò
bó
trong
một
hệ
thống
liên
minh,
hay
các
hiệp
ước
với
bên
ngoài.
Kissinger
bàn
về
Việt
Nam
hoàn
toàn
khác.
Ông
không
nhìn
Việt
Nam
như
một
nhân
tố
tham
gia
vào
trật
tự
thế
giới,
mà
chỉ
với
tư
cách
là
tác
nhân
ảnh
hưởng
đến
một
cường
quốc
tham
gia
vào
trật
tự
thế
giới:
Mỹ.
Tại
chương
8.
The
United
States:
Ambivalent
Superpower
(Hoa
Kỳ:
Siêu
cường
nước
đôi),
ông
dành
một
mục
cho
Việt
Nam:
Vietnam
and
the
Breakdown
of
the
National
Consensus
(Việt
Nam
và
sự
tan
vỡ
đồng
thuận
quốc
gia),
ngụ
ý
cuộc
chiến
tranh
tại
Việt
Nam
đã
làm
tan
vỡ
đồng
thuận
quốc
gia
của
Mỹ.
Trong
Chiến
tranh
Lạnh,
Mỹ
đã
quyết
định
can
thiệp
và
ngày
càng
lún
sâu
vào
cuộc
chiến
ở
Việt
Nam.
Kissinger
viết:
Chính
quyền
Kennedy
đã
đi
gần
tới
việc
tham
chiến
và
chính
quyền
Johnson
đã
thực
sự
tham
chiến
vì
tin
rằng
cuộc
tấn
công
của
Bắc
Việt
Nam
vào
Nam
Việt
Nam
là
mũi
nhọn
của
Xô-Trung
nhằm
tiến
tới
sự
thống
trị
toàn
cầu
và
điều
này
cần
phải
bị
quân
đội
Mỹ
ngăn
chặn,
không
để
tất
cả
các
nước
Đông
Nam
Á
rơi
vào
tay
cộng
sản.
Không
đi
sâu
phân
tích
về
diễn
biến
cuộc
chiến
và
sự
sa
lầy
của
Mỹ
trong
cuộc
chiến
này,
mà
Kissinger
soi
chiếu
từ
góc
độ
cuộc
chiến
đã
làm
nội
bộ
nước
Mỹ
bị
xáo
động
khủng
khiếp
và
mâu
thuẫn,
các
giá
trị
Mỹ
bị
nghi
ngờ,
và
kết
luận:
Mỹ
đã
lần
đầu
tiên
thua
trận
và
cũng
đánh
mất
đi
mối
liên
hệ
với
khái
niệm
của
mình
về
trật
tự
thế
giới.
Dưới
con
mắt
của
nhà
chính
trị
lão
luyện
Kissinger,
nơi
một
trật
tự
thế
giới
được
lập
ra
bởi
các
cường
quốc
mà
không
đếm
xỉa
gì
đến
các
quốc
gia
nhỏ
bé
dù
đó
cũng
là
các
quốc
gia
độc
lập
có
chủ
quyền,
thì
châu
Á
là
nạn
nhân
chứ
không
phải
là
người
chơi
trong
trật
tự
quốc
tế
do
chủ
nghĩa
thực
dân
phương
Tây
áp
đặt.
Qua
đây,
có
thể
thấy
rằng,
mặc
dù
Mỹ
và
Trung
Quốc
có
những
quan
niệm
khác
nhau
về
vai
trò
của
mình
trong
cán
cân
quyền
lực
thế
giới,
nhưng
vì
đây
đều
là
hai
siêu
cường
lớn
nhất
thế
giới
hiện
nay
với
những
quyền
lợi
gắn
bó
chặt
chẽ,
nên
đều
tự
nhận
thấy
phải
kìm
chế
và
tránh
đụng
độ
trực
tiếp
vì
thiệt
hại
mà
nó
gây
ra
là
khôn
lường.
Trong
khi
đó,
mối
quan
hệ
giữa
Trung
Quốc
và
các
quốc
gia
Đông
Á
lại
đang
trở
thành
vùng
nóng
có
thể
châm
ngòi
bất
kỳ
lúc
nào.
Lẽ
dĩ
nhiên,
những
quan
điểm
mà
Kissinger
trình
bày
trong
cuốn
sách
này,
vừa
xuất
phát
từ
cách
nhìn
của
Mỹ
ít
nhiều
mang
tính
quốc
gia,
vừa
mang
tính
cá
nhân
của
một
chính
khách,
và
có
giá
trị
tham
khảo
về
bức
tranh
địa
chính
trị
thế
giới
đối
với
chúng
ta
trong
bối
cảnh
phức
tạp
hôm
nay.
•
TS.
Võ
Minh
Tuấn
Giới
thiệu
CÂU
HỎI
VỀ
TRẬT
TỰ
THẾ
GIỚI
Năm
1961,
khi
còn
là
một
học
giả
trẻ,
tôi
ghé
thăm
Tổng
thống
Harry
S.
Truman
nhân
dịp
tôi
có
bài
phát
biểu
ở
thành
phố
Kansas.
Khi
tôi
hỏi
điều
gì
trong
nhiệm
kỳ
tổng
thống
khiến
ông
tự
hào
nhất,
Truman
trả
lời:
“Đó
là
chúng
ta
đã
đánh
bại
hoàn
toàn
kẻ
thù
và
đưa
họ
trở
lại
với
cộng
đồng
các
quốc
gia.
Tôi
nghĩ
chỉ
có
Mỹ
mới
có
thể
làm
được
điều
này.”
Ý
thức
về
sức
mạnh
khổng
lồ
của
Mỹ,
Truman
tự
hào
hơn
hết
về
các
giá
trị
nhân
đạo
và
dân
chủ
của
nó.
Ông
muốn
được
mọi
người
nhớ
đến
vì
những
cuộc
hòa
giải
của
Mỹ
hơn
là
vì
các
chiến
thắng
của
nó.
Tất
cả
những
tổng
thống
kế
nhiệm
sau
Truman
đều
nói
tương
tự
như
vậy
cách
này
hay
cách
khác,
và
lấy
làm
tự
hào
về
các
đặc
tính
tương
tự
của
nước
Mỹ.
Và
trong
hầu
hết
giai
đoạn
này,
cộng
đồng
các
quốc
gia
mà
họ
cố
duy
trì,
phản
ánh
sự
đồng
thuận
Mỹ
–
không
ngừng
mở
rộng
không
gian
trật
tự
mang
tính
hợp
tác
của
các
quốc
gia
trong
việc
tuân
thủ
những
quy
ước
và
chuẩn
mực
chung,
theo
đuổi
hệ
thống
kinh
tế
tự
do,
phản
đối
xâm
chiếm
lãnh
thổ,
tôn
trọng
chủ
quyền
quốc
gia
và
áp
dụng
hệ
thống
nhà
nước
dân
chủ
và
có
sự
tham
gia
của
người
dân.
Các
tổng
thống
Mỹ
của
cả
hai
đảng,
thường
với
sự
mãnh
liệt
và
thuật
hùng
biện,
đã
tiếp
tục
thúc
giục
các
chính
phủ
khác
duy
trì
và
tăng
cường
nhân
quyền.
Trong
nhiều
trường
hợp,
việc
Mỹ
và
các
đồng
minh
bảo
vệ
những
giá
trị
này
đã
khởi
đầu
những
thay
đổi
quan
trọng
trong
điều
kiện
sống
của
con
người.
Tuy
nhiên,
ngày
nay,
hệ
thống
“dựa
trên
quy
tắc”
này
đang
phải
đối
mặt
với
những
thách
thức.
Những
lời
kêu
gọi
thường
xuyên,
yêu
cầu
các
nước
thực
hiện
“phần
việc
công
bằng
của
họ”
tham
gia
theo
“quy
tắc
của
thế
kỷ
21”
hay
là
“các
bên
liên
quan
có
trách
nhiệm”
trong
một
hệ
thống
chung,
phản
ánh
một
thực
tế
rằng
không
có
định
nghĩa
chung
về
hệ
thống
này
hoặc
sự
hiểu
biết
về
một
đóng
góp
“công
bằng”
nghĩa
là
gì.
Bên
ngoài
thế
giới
phương
Tây,
các
khu
vực
–
trước
đây
hầu
như
không
có
vai
trò
nào
trong
việc
hình
thành
những
quy
tắc
này
–
đặt
câu
hỏi
về
tính
hợp
lệ
của
chúng
trong
hình
thức
hiện
tại,
và
thể
hiện
rõ
rằng
họ
sẽ
tìm
cách
để
thay
đổi
chúng.
Như
vậy,
mặc
dù
“cộng
đồng
quốc
tế”
có
lẽ
là
cụm
từ
được
kêu
gọi
tha
thiết
vào
lúc
này
hơn
bất
kỳ
thời
đại
nào
khác,
nó
không
hề
cho
thấy
một
tập
hợp
các
mục
tiêu,
phương
pháp
hay
giới
hạn
rõ
ràng
hoặc
được
thống
nhất.
Thời
đại
của
chúng
ta
khăng
khăng
theo
đuổi
một
khái
niệm
về
trật
tự
thế
giới
đôi
khi
gần
như
đến
mức
tuyệt
vọng.
Sự
hỗn
loạn
chực
chờ
đe
dọa
sự
tương
thuộc
chưa
từng
có
trước
đây:
sự
phổ
biến
của
vũ
khí
hủy
diệt
hàng
loạt,
sự
tan
rã
của
các
quốc
gia,
sự
ảnh
hưởng
của
môi
trường
bị
phá
hoại,
sự
tồn
tại
dai
dẳng
của
những
hành
động
mang
tính
diệt
chủng,
và
sự
lan
tràn
của
những
công
nghệ
mới
có
nguy
cơ
gây
ra
xung
đột
ngoài
tầm
kiểm
soát
hay
nhận
thức
của
con
người.
Những
phương
pháp
mới
trong
việc
tiếp
cận
và
truyền
đạt
thông
tin
liên
kết
các
khu
vực
lại
với
nhau
hơn
bao
giờ
hết
và
phóng
chiếu
những
sự
kiện
trên
quy
mô
toàn
cầu
–
nhưng
bằng
cái
cách
không
để
người
ta
có
thời
gian
suy
ngẫm,
đòi
hỏi
các
nhà
lãnh
đạo
phải
thể
hiện
những
phản
ứng
tức
thời
qua
các
khẩu
hiệu.
Liệu
chúng
ta
có
đang
phải
đối
mặt
với
một
giai
đoạn
mà
các
lực
lượng
quyết
định
tương
lai
là
những
lực
lượng
vượt
ngoài
tầm
kiểm
soát
của
bất
kỳ
trật
tự
nào?
TÍNH
ĐA
DẠNG
CỦA
TRẬT
TỰ
THẾ
GIỚI
hông
một
“trật
tự
thế
giới”
mang
tính
toàn
cầu
đích
thực
nào
K
đã
từng
tồn
tại.
Những
gì
tạo
nên
trật
tự
trong
thời
đại
chúng
ta
đã
được
lập
ra
ở
Tây
Âu
gần
bốn
thế
kỷ
trước
đây
ở
Westphalia
của
Đức,
tại
một
hội
nghị
hòa
bình
được
tổ
chức
mà
hầu
hết
các
châu
lục
hoặc
các
nền
văn
minh
khác
đã
không
được
tham
gia
hay
thậm
chí
là
không
biết
gì
về
nó.
Một
thế
kỷ
xung
đột
giáo
phái
và
biến
động
chính
trị
trên
khắp
Trung
Âu
đã
lên
đến
đỉnh
điểm
với
cuộc
Chiến
tranh
Ba
mươi
năm[1]
(1618-1948)
–
một
đại
họa
trong
đó
có
cả
những
tranh
chấp
chính
trị
và
tôn
giáo,
các
bên
tham
chiến
phải
viện
đến
“chiến
tranh
tổng
lực”
để
chống
lại
những
trung
tâm
dân
số;
gần
một
phần
tư
dân
số
của
Trung
Âu
chết
vì
chiến
tranh,
bệnh
tật
hoặc
nạn
đói.
Các
bên
tham
chiến
kiệt
quệ,
gặp
nhau
để
xác
định
một
loạt
các
thỏa
thuận
nhằm
ngăn
chặn
sự
đổ
máu.
Sự
thống
nhất
tôn
giáo
đã
bị
rạn
nứt
với
việc
Tin
Lành
sống
sót
và
lan
rộng;
đa
nguyên
chính
trị
trở
thành
thuộc
tính
của
một
số
thực
thể
chính
trị
độc
lập
đã
chiến
đấu
tới
kỳ
cùng.
Vì
vậy,
ngay
tại
châu
Âu,
những
tình
trạng
của
thế
giới
đương
đại
là
gần
như
tương
đồng:
nhiều
thực
thể
chính
trị
khác
nhau
cùng
tồn
tại,
không
cái
nào
đủ
mạnh
để
đánh
bại
tất
cả
những
cái
khác,
nhiều
thực
thể
tuân
theo
những
triết
lý
và
thông
lệ
mâu
thuẫn,
tìm
kiếm
những
quy
tắc
trung
lập
để
điều
chỉnh
hành
vi
của
họ
và
giảm
thiểu
xung
đột.
Hòa
ước
Westphalia[2]
phản
ánh
một
quá
trình
điều
chỉnh
thực
dụng
theo
sát
với
thực
tế,
chứ
chẳng
phải
một
sự
thấu
thị
về
đạo
đức
đặc
biệt
nào.
Nó
dựa
trên
một
hệ
thống
các
quốc
gia
độc
lập
cố
gắng
hạn
chế
can
thiệp
vào
công
việc
nội
bộ
lẫn
nhau
và
kiểm
soát
tham
vọng
của
nhau
thông
qua
một
trạng
thái
cân
bằng
chung
về
quyền
lực.
Trước
đó,
trong
các
trận
giao
tranh
ở
châu
Âu,
chưa
hề
có
bất
kỳ
tuyên
bố
khẳng
định
chân
lý
hay
quy
luật
phổ
quát
nào...
Thay
vào
đó,
mỗi
quốc
gia
được
giao
quyền
chủ
quyền
trên
lãnh
thổ
của
mình.
Mỗi
quốc
gia
sẽ
thừa
nhận
những
cơ
cấu
nội
bộ
và
thiên
hướng
tôn
giáo
của
những
quốc
gia
khác
như
hiện
tồn
và
kiềm
chế
thách
thức
sự
tồn
tại
của
những
quốc
gia
này.
Bằng
sự
cân
bằng
quyền
lực
hiện
được
coi
là
hợp
theo
quy
luật
tự
nhiên
và
đáng
mong
muốn,
tham
vọng
của
những
người
trị
vì
là
họ
sẽ
được
đặt
trong
thế
đối
trọng
với
nhau,
từ
đó
giới
hạn
phạm
vi
của
các
cuộc
xung
đột
ít
nhất
là
về
mặt
lý
thuyết.
Phân
chia
và
đa
dạng,
một
sự
ngẫu
nhiên
trong
lịch
sử
của
châu
Âu,
đã
trở
thành
điểm
nổi
bật
của
một
hệ
thống
trật
tự
quốc
tế
mới
với
quan
điểm
triết
học
riêng
biệt.
Trong
ý
nghĩa
này,
nỗ
lực
của
châu
Âu
nhằm
chấm
dứt
đại
họa
của
nó
đã
định
hình
và
báo
trước
một
cảm
giác
hiện
đại:
nó
dè
dặt
trong
việc
phán
đoán
về
tính
tuyệt
đối
để
ủng
hộ
cái
thực
tiễn
và
Đại
kết[3];
nó
tìm
cách
đúc
kết
trật
tự
từ
sự
đa
dạng
và
kiềm
chế.
Những
nhà
đàm
phán
thế
kỷ
17
lập
nên
Hòa
ước
Westphalia
không
hề
nghĩ
rằng
họ
đã
đặt
nền
móng
cho
một
hệ
thống
được
áp
dụng
toàn
cầu.
Họ
không
hề
có
ý
định
mời
Nga
láng
giềng,
khi
đó
đang
củng
cố
lại
trật
tự
riêng
của
mình
sau
“Thời
kỳ
Rối
ren”[4]
ác
mộng
bằng
cách
theo
đuổi
các
nguyên
tắc
hoàn
toàn
mâu
thuẫn
với
sự
cân
 








Các ý kiến mới nhất