Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

bien-rac-thanh-tai-nguyen-quy-gia-nhat1623558637

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:07' 06-02-2026
Dung lượng: 3.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
2011

Biến rác thành nguồn
tài nguyên quý giá nhất
Sản xuất thực phẩm, nhiên liệu, thức ăn gia
súc và phân bón quy mô nhỏ
Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều vấn nạn về quản lý chất thải, và phải tìm
kiếm nhiều biện pháp xử lý ngoài việc chỉ đốt và chôn lấp. Tiểu luận n{y đề cập
đến ý tưởng quản lý chất thải liên quan đến việc tích hợp nhiều công nghệ đ~
được kiểm chứng như: công nghệ ủ phân compost chịu nhiệt và ủ phân
compost vi sinh vật ưa nhiệt, công nghệ biến đổi sinh học với trùn đỏ và ruồi
lính đen, công nghệ lọc nước với bèo tấm, công nghệ khí hóa và lên men acid
lactic. Các công nghệ này không những chỉ giúp Việt Nam tự giải quyết được
các vấn nạn về quản lý chất thải mà còn giúp biến đổi chất thải thành nguồn tài
nguyên quý giá.

Tác giả: Paul Olivier, Jozef De Smet, Todd Hyman và Marc Pare
4/4/2011

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ..................................................................................................................................................................................... 3
CÔNG NGHỆ CHỨA TRỮ VÀ TIẾT GIẢM VI SINH VẬT ƯA NHIỆT .......................................................................... 5
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI NHẶT RÁC ............................................................................................................................................ 9
CÔNG NGHỆ CHUYỂN HÓA SINH HỌC VỚI RUỒI LÍNH ĐEN VÀ TRÙN ĐỎ..................................................... 11
TÁI CHẾ CHẤT THẢI CỦA CON NGƯỜI ............................................................................................................................. 14
CÔNG NGHỆ KHÍ HÓA VẬT LIỆU SINH KHỐI VÀ LỢI ÍCH CỦA THAN SINH HỌC ......................................... 17
CÔNG NGHỆ Ủ CHUA AXIT Lactic ........................................................................................................................................ 25
CÔNG NGHỆ Ủ COMPOST CHỊU NHIỆT BẰNG TẤM LIẾP......................................................................................... 28
CHĂN NUÔI LỢN TỔNG HỢP ................................................................................................................................................. 31
KẾT LUẬN ....................................................................................................................................................................................... 35
PHỤ LỤC 1 –TRUNG TÂM TÀI NGUYÊN RÁC, CƠ QUAN KHUYẾN NÔNG, HỢP TÁC XÃ VÀ CƠ QUAN
CHỨC NĂNG ................................................................................................................................................................................... 42
PHỤ LỤC II – BẢN VẼ THÙNG Ủ VI SINH VẬT ƯA NHIỆT ........................................................................................ 47

paul.olivier@esrla.com
US Telephone: 1-337-447-4124
Skype: xpolivier

Bản dịch của Ban QLDA Cấp nước và Vệ sinh tỉnh Bình Định – VIE0703511

2

LỜI MỞ ĐẦU
Có rất nhiều phương |n lựa chọn khác nhau trong việc thải bỏ chất thải rắn. Nhưng c|ch khó khăn
nhất và nguy hiểm nhất vẫn l{ đ{o hố và chôn lấp. Mảnh đất nơi nuôi nấng và bảo vệ chúng ta không
thể trở thành một nơi chứa chất thải. Một khi đ~ tiếp xúc với chất thải, đất sẽ bị nhiễm độc giống
như chất thải chôn trong đất. Nước mưa sẽ tràn ngập các hố chôn lấp, rửa trôi các hóa chất độc hại
chết người và vi khuẩn vào tầng ngậm nước, sông, suối và cả đại dương. C|c vi khuẩn yếm khí sẽ
sinh sôi nảy nở trong hầm mộ sũng nước này, phát thải khí metan và các khí gây hiệu ứng nhà kính
khác. Thay vì tìm cách giải quyết vấn đề, chúng ta lại làm cho vấn đề trở nên không thể giải quyết.
Thay vì quản lý đồng tiền của mình một cách khôn ngoan, chúng ta lại quẳng nó đi một cách vô ích.
Thông thường chúng ta hay tìm kiếm các mô hình xử lý chất thải ở nước ngoài. Nhưng ch}u Âu v{
châu Mỹ lại không có nhiều mô hình để cung cấp. Đã nhiều thập niên họ cũng đ{o hố và chôn lấp
chất thải. Chỉ mới gần đ}y, họ bắt đầu nhận thức sâu sắc về các tác hại môi trường và sức khỏe mà
việc chôn lấp rác gây ra. Họ chỉ mới bắt đầu chấp nhận ý tưởng bãi chôn lấp “hợp vệ sinh”. Sau một
vài thập niên, lớp lót bãi chôn lấp bằng nhựa sẽ bị vỡ. Không có biện pháp nào có tính khả thi để sửa
chữa các chỗ bị rò rỉ bên dưới một b~i r|c đang ph}n hủy. H{ng trăm hecta gần khu vực hố chôn,
hàng ngàn kilomet sông suối và tầng ngậm nước phải chịu cảnh ô nhiễm không thể cứu vãn nổi.
Trong khi châu Âu và châu Mỹ đấu tranh để giải quyết các vấn đề về rác thải của họ, thì Việt Nam và
các quốc gia đang ph|t triển tại châu Á có rất nhiều lựa chọn hoàn toàn khác cho mình. Nếu Việt
Nam nhìn nhận chất thải không phải như l{ chất thải mà như một trong những nguồn tài nguyên
quý giá nhất mà mình sở hữu, thì Việt Nam đ~ nâng mình vào vị trí đ|ng ganh tị bỏ xa châu Âu và
châu Mỹ.
Nhưng để mang lại giá trị cho chất thải, nó phải được thương mại hóa. Như tại nhiều doanh nghiệp,
cần phải có công nghệ và chiến lược cho phép giảm thiểu chi phí và tối đa lợi nhuận. Rõ ràng chi phí
lớn đầu tiên mà chúng ta có thể xóa bỏ đó l{ chi phí khổng lồ cho việc thu gom, vận chuyển và chôn
lấp r|c. Ước tính đến năm 2020, chi phí này dao động khoảng 30 USD (600.000 VNĐ) /hộ gia
đình/năm. Nếu c|c đơn vị quản lý chất thải không còn phải thu gom, vận chuyển và chôn lấp rác thải
nữa, thì có thể tiết kiệm được một khoản tiền rất lớn.
Nếu chúng ta tìm cách tối đa hóa lợi nhuận, chúng ta phải hiểu rằng rác thải rất đa dạng, và không có
một công nghệ đơn lẻ nào có thể thực hiện được việc đó cả. Mỗi loại rác thải thường đòi hỏi một
công nghệ đặc biệt hoặc kết hợp nhiều công nghệ để đem lại lợi nhuận cao nhất. Đôi khi các sản
phẩm làm từ rác có thể có giá 500 USD/tấn, hoặc cũng có thể chỉ có gi| dưới 25 USD/tấn. Nhưng có
một điều chắc chắn, đó l{ không có loại r|c n{o được xử lý m{ đem lại thua lỗ.
Tuy nhiên kết hợp công nghệ đúng đắn cho loại rác phù hợp vẫn không đủ. Có một lý do kinh tế - xã
hội cụ thể rất hiệu quả cho một quốc gia như Việt Nam mà chúng ta không thể bỏ qua. Điều này liên
quan đến tinh thần kinh doanh của người Việt Nam, những người không bao giờ bỏ qua mỗi một cơ
hội kiếm tiền nhỏ nhất. Tinh thần này giúp phân biệt người Việt Nam với nhiều dân tộc phương T}y,
những người dễ dàng nhắm mắt l{m ngơ trước giá trị của chất thải. Chúng ta hãy xem xét ví dụ sau.
Tôi biết một phụ nữ tuổi trung niên hàng ngày thường đi bộ trên c|c đường phố Đ{ Lạt để tìm kiếm
rác. Bà gánh một đôi quang g|nh bằng tre, và tại mỗi đầu gánh là một thúng lớn hoặc một túi lớn
chứa đầy rác. Công việc của bà không lệ thuộc vào các xe tải chở r|c, cũng như xe đẩy tay. Bà không
làm việc cho ai cả, thu nhập kiếm được trung bình vào khoảng 60.000 VNĐ hay 3 USD /ngày, thu
nhập này nhiều hơn so với hầu hết những người nông dân làm việc trên đồng ruộng.
3

Người phụ nữ này không làm việc vì tình yêu môi trường. Tuy nhiên rất ít người Việt Nam cống hiến
được cho môi trường nhiều hơn người phụ nữ này. Bà đại diện cho bản chất của tinh thần kinh
doanh quy mô nhỏ, tinh thần này nên có mặt tại mỗi khía cạnh quản lý chất thải tại Việt Nam. Điều
n{y không có nghĩa l{ tất cả những ai liên quan đến quản lý chất thải đều giống người phụ nữ này ở
từng chi tiết. Mà nội dung cốt yếu của quản lý chất thải chính là không nên tập trung vào các công ty
có vốn lớn và trang thiết bị đắt tiền.
Nhiều người quan sát rằng 20.000 tấn rác phát thải mỗi ngày ở Việt Nam đòi hỏi phải xử lý ở quy
mô lớn, phải có xe chở rác hiện đại, xe ủi cỡ lớn, và hố chôn lấp rộng. Nhưng sự thật thì không phải
như vậy. Việt nam đúng l{ có dân số đông (84 triệu người) nhưng không cần thiết phải xử lý ở quy
mô lớn.
Nông nghiệp vẫn là phần quan trọng nhất của nền kinh tế Việt nam (chiếm 22% GDP), và trên 2/3
dân số Việt nam hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Có trên 11 triệu nông hộ tại Việt nam, và
khoảng 90% các nông hộ này có diện tích đất canh t|c dưới 1 ha 1. Diện tích canh tác lúa chiếm
khoảng 84% đất nông nghiệp 2, canh t|c theo phương ph|p thủ công là chính. Hầu hết tất cả các
công việc gieo trồng, bón phân và thu hoạch đều được làm bằng tay. Rất ít khi thấy trên 11 triệu
nông hộ này có máy kéo, xe tải hay trang thiết bị lớn nào.
Đối lập với điều này, các nông trại ở Mỹ có thể rộng đến h{ng trăm v{ có nơi rộng đến hàng ngàn
hecta. Các nông trại này sử dụng các máy kéo lớn và máy gặt đập liên hợp. Việc gieo trồng và bón
phân không phải được làm bằng tay như ở Việt Nam, m{ được làm bằng máy bay.
Nếu chúng ta nỗ lực áp dụng mô hình quy mô lớn này ở Việt Nam, năng suất lúa sẽ sụt giảm thành
con số không, và hàng chục triệu người sẽ bị thất nghiệp. Có thể mô hình quy mô lớn sẽ có ý nghĩa
tại Louisiana và Arkansas, nhưng nó ho{n to{n không có ý nghĩa gì tại Việt Nam.
Cũng như vậy, mô hình quy mô lớn giải quyết chất thải mà chúng ta thấy ở Mỹ v{ ch}u Âu, khi đem
áp dụng cho Việt Nam, thì sẽ gặp phải khó khăn tương tự như vậy. Người phụ nữ mà chúng tôi đề
cập ở trên đang thực hiện mô hình quy mô cực kỳ nhỏ. Tuy nhiên, bà và những người như b{ l{ một
trong số ít người ở Việt Nam tiếp cận với chất thải tại mức độ hoặc quy mô phù hợp, và thực sự biết
cách làm thế n{o để phân loại và thu gom chất thải để đem lại thu nhập. Sẽ không ai ngạc nhiên rằng
người phụ nữ n{y đ~ từng là một nông dân làm việc trên ruộng lúa. Khi bà chuyển đến sinh sống tại
Đ{ Lạt, bà không cần phải trải qua một lớp tập huấn nào về công việc thu gom và bán chất thải có
thể tái chế. Việc chuyển đổi này diễn ra nhẹ nhàng và nhanh chóng, và bây giờ bà có thể kiếm được
nhiều tiền hơn trước đ}y.
Để sử dụng một cách có hiệu quả các công nghệ xử lý chất thải tại Việt Nam, các công nghệ này phải
phù hợp với cơ cấu kinh tế - xã hội của Việt Nam. Chúng phải ở quy mô nhỏ, công nghệ thấp và dễ sử
dụng cho bất cứ ai giống như người phụ nữ trong ví dụ trên. Và quan trọng nhất, chúng phải nhắm
đến tất cả chất thải không được tái chế hiện nay.
Chúng ta hãy bắt đầu với chất thải có thể phân hủy sinh học tại hộ gia đình.

1
2

Xem http://www.aares.info/files/2004_marsh2.pdf
Xem http://www.cid.harvard.edu/neudc07/docs/neudc07_poster_vu.pdf

4

CÔNG NGHỆ CHỨA TRỮ VÀ TIẾT GIẢM VI SINH VẬT ƯA NHIỆT
Trường Đại học Đ{ Lạt đ~ tiến hành một đề tài nghiên cứu x|c định thành phần chất thải sinh hoạt.
Đề t{i được thực hiện trong 50 ngày, nghiên cứu chất thải từ 101 người dân tại 21 hộ gia đình.
Không phải tất cả chất thải sinh hoạt tại Việt Nam đều có thành phần như vậy, nhưng chất thải có
thể phân hủy sinh học luôn chiếm tỷ trọng cao nhất:
1. Rác thực phẩm
54.02%
2. R|c vườn
27.76%
3. Giấy thải không thể tái chế
3.63%
Tổng chất thải có thể phân hủy sinh học 85.41%
Từ các phát hiện đó, ta không thể không kết luận rằng những gì cần thiết chính là một thiết bị chứa
trữ và tiết giảm vi sinh vật ưa nhiệt đặt tại mỗi hộ gia đình nếu điều kiện diện tích cho phép. Điều
này cho phép giảm bớt gánh nặng chi phí của công tác thu gom, vận chuyển và chôn lấp chất thải có
thể phân hủy sinh học h{ng ng{y. Thay v{o đó, chỉ phải thu gom mỗi năm một lần hoặc mỗi hai năm
một lần, phần bã mùn chỉ chiếm một khối lượng và thể tích rất nhỏ so với lượng r|c ban đầu. Tuy
nhiên, thiết bị chứa trữ này phải được thiết kế với một số yêu cầu nhất định:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

Chế tạo bằng nguyên liệu bền, có tuổi thọ vô hạn;
Tương đối rẻ tiền,
Thoáng khí;
Không mùi, không dẫn dụ ruồi nhặng;
Nặng (khó đ|nh cắp) và giá trị tái chế thấp (không đ|ng để đ|nh cắp);
Cứng để tránh bị cắn phá bởi chó, chuột và các con vật khác;
Dễ khuấy đảo và làm sạch;

Bài tiểu luận n{y đề cập đến hai phương ph|p chế tạo thiết bị
n{y. Phương ph|p thứ nhất, thân thùng gồm 3 mảnh bê tông
được cột lại với nhau bằng dây thép. Có thể chế tạo thùng tại
nơi kh|c ngo{i nơi đặt thùng, vì thùng có thể được di chuyển và
tháo lắp dễ dàng. Nắp thùng được làm bằng xi măng v{ c|t rẻ
tiền, khuôn đúc bằng cầm trục xoay, công nghệ này có mặt ở
khắp mọi nơi trên đất nước Việt Nam.3
Một số hộ gia đình không có
hoặc có ít diện tích đất. Một số
chỉ có một khoảng sân bê tông
hoặc sân lát gạch nhỏ ở phía
trước hoặc sau nhà. Không thể
đặt loại thùng không có đ|y ở
khoảng sân không thấm nước
như vậy được. Nước và chất lỏng phải được đưa ra ngo{i. Hình vẽ
bên trái thể hiện thùng ủ bằng bê tông được đặt trên một tấm đế
được thiết kế để đưa chất lỏng rỉ vào một chai nhựa.

Ngoài ra, nắp thùng cũng có thể được làm bằng một loại vật liệu đặc biệt được gia cố bởi các thanh kim loại.
C|c đặc điểm của vật liệu phủ này sẽ được giải thích chi tiết hơn ở các phần sau.
3

5

Phương ph|p thứ hai là xây bằng gạch. Loại gạch mười sáu lỗ như trong hình bên có giá bán sỉ
khoảng 250 đồng hoặc 1,25 đô la xu/viên. Thùng xây bằng gạch rẻ tiền hơn thùng x}y bằng bê tông,
vững hơn v{ có nhiều lỗ thông khí hơn. 4
Để xây một thùng có đường kính 60cm, cần có
84 viên gạch, giá khoảng 21.000 đồng hoặc 1,05
USD. Để x}y thùng có đường kính 80cm, cần có
144 viên gạch, chi phí khoảng 36.000 đồng hoặc
1,80USD. Nh}n công cho hai thùng l{ như nhau,
khoảng trên dưới 1 giờ công. Thùng 80cm như
trong hình minh họa có đến 2.304 lỗ thông khí.
Nếu hộ gia đình không có không gian bên ngo{i
có thể đặt thùng ủ, trong khi nhà hàng xóm có,
thì có thể sắp xếp để hai hộ dùng chung một
thùng. Ở Đ{ Lạt, có trên 30 hộ gia đình sống ở
khu chung cư dùng chung một thùng ủ có
đường kính 80cm. Thùng n{y được đặt tại một
vườn hoa nhỏ gần khu chung cư, trung bình mỗi ngày thùng này nhận hơn 30kg r|c sinh học. Có thể
xử lý một khối lượng lớn r|c như vậy là nhờ ấu trùng ruồi lính đen, sinh vật này sẽ được trình bày ở
phần sau.
Nếu cần thiết, các hộ dân sống trên cùng một đường phố có thể dùng chung một hoặc một số thùng
ủ. Trong trường hợp này, mỗi hộ gia đình sẽ đựng rác sinh học của nhà mình trong một túi nhựa,
công nhân thu gom sẽ thu gom v{ mang đến bỏ vào thùng ủ công cộng.
Các vi sinh vật chịu nhiệt đòi hỏi phải có oxy. Đó là lý do vì sao mà thân thùng ủ có nhiều lỗ thông
khí như vậy. Tuy nhiên các lỗ thông khí này vẫn không đủ để giữ cho thùng được thoáng khí hoàn
toàn. Vì vậy cần phải khuấy đảo thường xuyên. Ấu trùng ruồi lính đen có thể thực hiện việc này.
Nhưng việc khuấy đảo tự nhiên này vẫn không
đủ. Vì vậy, thùng cần phải được khuấy đảo bổ
sung bởi con người, nếu không mùi hôi sẽ phát
sinh.
Mỗi lần khuấy đảo thùng ủ, không cần phải mở
nắp đậy lớn. Việc khuấy đảo có thể được thực
hiện một cách dễ dàng bởi một thanh xoắn, một
thiết bị chuyên dụng dùng cho thùng vi sinh vật
ưa nhiệt.
Trong công nghệ này, rác sinh học được chuyển
trực tiếp từ nh{ đến thùng ủ, không được để lẫn
với bất cứ loại r|c n{o kh|c. Điều này có tính
quyết định đối với các nỗ lực tái chế. Nếu phân
loại tại nguồn không được thực hiện, thì không
thể phân loại rác sinh học khỏi một số lượng lớn
các thành phần khác có thể gây nhiễm bẩn rác
4

Xem Phụ lục II – thiết kế thùng

6

sinh học. Giả dụ rằng, nếu compost được sản xuất từ các nguyên liệu bị trộn lẫn này, thì compost sẽ
trở nên rất độc và nguy hiểm, và hoàn toàn không phù hợp cho nông nghiệp.
Thiết bị chứa trữ n{y được thiết kế để phân hủy rác sinh học một cách tự nhiên trong thời gian
khoảng 1 năm (ngoại trừ xương v{ vỏ sò phải mất thời gian l}u hơn mới phân hủy). Các vật liệu
không phân hủy bao gồm thủy tinh, kim loại, nhựa, cao su, mút, các vật liệu bọc sáp, vải, đ|, c|t,
bông khoáng, xốp, gạch, sứ, sành và các vật liệu tương tự kh|c. Đừng bao giờ bỏ các vật liêu này vào
thùng ủ.
Dĩ nhiên chúng ta cũng không nên bỏ vào thùng các loại rác sinh học có thể tái chế. Tuy nhiên, đối
với giấy báo bị ướt, bẩn và không có giá trị đối với người lượm rác thì có thể được bỏ vào thùng
cùng với giấy vệ sinh v{ khăn giấy.
Rác từ khâu chuẩn bị thức ăn v{ r|c từ b{n ăn được bỏ vào thùng ủ 5. Rác từ khâu chuẩn bị thức ăn
bao gồm rác thải từ các loại hạt, trái cây, rau củ; chất thải sau khi rửa thịt, cá, gia cầm, bao gồm lông,
vảy, vỏ, mai, xương. R|c từ b{n ăn bao gồm thức ăn thừa từ nồi, chảo, b|t, đĩa, v{ xương, vảy, vỏ,
mai. Canh, súp có thể đổ vào thùng, miễn l{ trong thùng có đủ lượng giấy loại để thấm hút nước. Nếu
trong thùng không có đủ lượng giấy loại để thấm hút nước, thì chỉ lọc lấy phần cặn để bỏ vào thùng.
C|c bó hoa đ~ qua sử dụng có thể được bỏ v{o thùng. Cũng có thể bỏ một lượng nhỏ r|c vườn. Khối
lượng lớn r|c vườn sẽ nhanh chóng l{m đầy thùng, vì vậy với khối lượng r|c vườn lớn thì không
nên bỏ vào. Nếu hộ gia đình ph|t thải khối lượng lớn r|c vườn, và nếu có đủ diện tích đất, thì nên ủ
ph}n compost th{nh đống. Nhiều hộ gia đình có thể dùng chung một đống ủ phân compost.
Không nên bỏ các cành cây lớn và gỗ vào thùng ủ hoặc đống ủ compost, mà phải được thu gom hàng
tuần và nghiền nhỏ tại một khu xử lý phi tập trung. Loại vật liệu này có thể được sử dụng làm
nguyên liệu trong phương ph|p ủ compost ưa nhiệt hoặc phương ph|p khí hóa.
C|ch đ}y 1 năm rưỡi, đã có 30 thùng ủ vi sinh vật ưa nhiệt được lắp đặt tại làng Xuân Thọ, Đ{ Lạt.
Trong đó, có một thùng được theo dõi nghiên cứu trong 8 th|ng sau khi đi v{o hoạt động. Trong
thời gian đó, thùng ủ n{y đ~ nhận 720 kg chất thải rắn có thể tái chế sinh học (960 lít). Vào cuối giai
đoạn nghiên cứu, tổng khối lượng rác tiết giảm được là 92% và thể tích tiết giảm là 79%.
Những thùng ủ như vậy không có mùi hôi, không ruồi nhặng. Mặc dù mỗi ngày mỗi thùng có thể
nhận được 3kg rác thải, nhưng chỉ cần làm sạch thùng mỗi năm một lần hoặc mỗi hai năm một lần.
Sau khi làm sạch thùng, phần bã trong thùng có thể được nghiền nhỏ và sử dụng để ủ phân compost
dạng đống có tấm phủ. Vật liệu sinh khối này là một tác nhân có tác dụng làm thoáng khí và là chất
mồi rất hữu hiệu đối với đống ủ compost chịu nhiệt. Một c|ch để tăng thêm gi| trị cho vật liệu được
nghiền nhỏ này sẽ được giải thích ở các phần sau.
Như đ~ trình b{y ở phần Lời mở đầu, uớc tính chi phí thu gom, vận chuyển và chôn lấp trung bình
h{ng năm cho mỗi hộ gia đình khoảng 30 USD (tương đương 600.000 VNĐ). Chi phí chế tạo một
thiết bị chứa trữ vi sinh vật ưa nhiệt đường kính 80cm ít hơn 12 USD, tương đương 240.000 VNĐ. Vì
vậy, chi phí chế tạo thùng ủ có thể được thu hồi trong vòng vài tháng. Bởi vì các thùng ủ được thiết
kế với tuổi thọ vô hạn, nên về phương diện lâu dài, chi phí tiết kiệm được là rất lớn.

Trong một v{i trường hợp, rác từ khâu chuẩn bị thức ăn v{ r|c từ b{n ăn có thể được thu gom, tiệt trùng và
làm thức ăn cho lợn.
5

7

Ngoài ra, một thùng ủ vi sinh vật ưa nhiệt có thể giúp giảm phát thải khoảng 1 tấn CO2/năm. C|c
chứng nhận khả năng giảm phát thải gây hiệu ứng nhà kính dự định sẽ được bán với giá khoảng 20
USD hay 400.000 VNĐ/tấn CO2. Nếu một thùng ủ có thể giúp giảm chi phí thu gom, vận chuyển và
chôn lấp 30 USD, v{ đồng thời nếu có thể kiếm được lợi nhuận 20 USD từ chứng chỉ giảm phát thải,
thì đ}y l{ một cơ hội kinh tế tuyệt vời đối với c|c cơ quan quản lý chất thải. Lưu ý rằng khoản thu
nhập 50 USD hay 1 triệu VNĐ/hộ gia đình l{ chưa bao gồm các thu nhập từ việc bán các sản phẩm
thu được từ rác.

8

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI NHẶT RÁC

Nếu rác sinh học được chứa trữ và xử lý tại chỗ, không
bị trộn lẫn với các loại r|c đô thị kh|c, thì người nhặt
rác sẽ dễ d{ng hơn trong việc phân loại bằng tay và thu
hồi rác có thể tái chế. Cả khối lượng lẫn chất lượng rác
tái chế nhặt được sẽ gia tăng rất nhiều.
Vì không có bất kỳ công ty lớn nào, nh{ nước hoặc tư
nhân, từng có thể cạnh tranh với đội ngũ người nhặt rác
trong lĩnh vực tái chế rác sinh hoạt tại Việt Nam, vì vậy
sẽ là không khôn ngoan nếu không huy động sự tham
gia của họ vào việc đề xuất cách xử lý và tái chế rác sinh
hoạt 6. Người phụ nữ đề cập đến trong phần Lời mở đầu,
chắc chúng ta cũng có thể đo|n được, chính là một
người nhặt rác (xem hình bên). Người nhặt rác là những
người duy nhất tại Việt Nam biết cách kiếm tiền từ việc
thu gom rác thô từ các hộ gia đình. Những người nhặt
rác tại bãi chôn lấp không phải mua rác, và vì vậy họ có
thể kiếm được khoảng 100.000VND hay 5 USD/ngày.
Mặc dù chính quyền địa phương không cần phải chi trả bất cứ khoản n{o cho người nhặt rác, tuy
nhiên chính quyền địa phương có thể hỗ trợ cho họ bằng nhiều c|ch như sau:
1. Bảo vệ họ khỏi băng nhóm trung gian mafia chỉ muốn bóc lột công sức của người
nhặt rác;
2. Khuyến khích họ thiết lập nên các hợp t|c x~ để thoát khỏi sự kiểm soát của c|c băng
nhóm mafia;
3. Giúp đỡ họ đ{m ph|n để đạt được giá bán cao nhất cho vật liệu tái chế;
4. Trang bị cho họ găng tay, mặt nạ và các thiết bị bảo hộ lao động khác;
5. Theo dõi tình trạng sức khỏe của họ, đặc biệt là mức độ nhiễm độc;
6. Quy định mức phạt cho các hộ gia đình để lẫn rác thực phẩm với các loại rác khác;
7. Có các hình thức miễn giảm thuế cho các công ty sản xuất sản phẩm từ vật liệu tái
chế do người nhặt rác thu gom;
8. Hạn chế việc nhập khẩu các nguyên liệu tái chế vào Việt Nam, gây ảnh hưởng đến
tình hình kinh tế của đội ngũ nhặt rác;
9. Cung cấp cho người nhặt rác các loại xe đẩy, nhằm giúp họ vận chuyển rác dễ dàng
và hiệu quả hơn;
10. Mở rộng quy mô hoạt động của họ;
11. Và quan trọng nhất là không ngừng tôn vinh họ như l{ những người anh hùng trong
toàn bộ nỗ lực tái chế rác thải tại Việt Nam.
Chỉ với các biện pháp hỗ trợ cho người nhặt rác, mở rộng quy mô hoạt động và tối đa hóa lợi nhuận
của họ, thì mới có thể tạo ra được một nền tảng kinh tế vi mô cho phép toàn bộ rác hộ gia đình được
Về tầm quan trọng của người nhặt rác trên toàn thế giới trong việc tái chế rác, xem thêm tại
http://www.nytimes.com/2009/08/05/opinion/05chaturvedi.html?th&emc=th
6

9

tái chế một c|ch đúng đắn. Định nghĩa từ “người nhặt r|c” phải được mở rộng, bao hàm cả những
người khác không nằm trong phạm trù này.
Nếu rác sinh học được phân loại tại nguồn v{ được xử lý trong các thùng ủ vi sinh vật ưa nhiệt, thì
người nhặt rác sẽ có thể thu gom được trên một nửa lượng rác còn lại. Như vậy chỉ có một lượng rất
ít rác sinh hoạt còn lại trong dòng rác thải. Trong đó, c|c loại rác có kích cỡ > 20 mm có thể được
phân loại bằng tay bởi người nhặt rác tại c|c xưởng xử lý phi tập trung th{nh 2 nhóm: vô cơ v{ hữu
cơ.
Phần rác hữu cơ có thể được nghiền nhỏ và làm nhiên liệu khí hóa, phần vô cơ thì được nghiền
th{nh tro để làm cốt liệu non. Các loại rác có kích cỡ < 20 mm có thể được phân loại bằng một máy
phân loại cỡ nhỏ (xem hình bên dưới) 7, và một lần nữa, giải ph|p tương tự lại được áp dụng. Trong
công tác quản lý chất thải bền vững và có tính trách nhiệm cao, thì ho{n to{n không còn gì để mà
đem ra b~i chôn lấp.

7

Quy trình phân loại được trình bày tại http://www.esrla.com/pdf/separation.pdf

10

CÔNG NGHỆ CHUYỂN HÓA SINH HỌC VỚI RUỒI LÍNH ĐEN VÀ TRÙN
ĐỎ
Khi ruồi lính đen trưởng thành, chúng sẽ bị dẫn dụ đến các thùng ủ vi sinh vật ưa nhiệt, một nơi lý
tưởng, để đẻ trứng. Khi ấu trùng ruồi lính đen trưởng thành trong thùng ủ, chúng sẽ chui ra ngoài
qua các lỗ thông hơi. Sau đó, chúng sẽ chui v{o đất để phát triển thành nhộng và lột xác thành ruồi
trưởng thành. Vì vậy, thùng ủ l{ nơi lý tưởng để nhân giống một
lượng lớn ruồi lính đen. Nhưng vì sao phải nuôi ấu trùng ruồi lính
đen?
Trong thế giới tự nhiên, ấu trùng ruồi lính đen được biết đến như l{
một kẻ ph{m ăn nhất. Trong khoảng thời gian dưới 24 tiếng, ấu
trùng ruồi lính đen có thể giúp giảm thiểu 20 lần khối lượng và thể
tích rác thực phẩm. Trong diện tích 1m2, ấu trùng ruồi lính đen có thể ăn hết 40kg rác thực phẩm
tươi trong vòng một ngày. Trong mỗi 100 kg rác thực phẩm, có k
 
Gửi ý kiến