Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

-bieu-tuong-that-truyen

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:58' 06-02-2026
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Dan Brown


Biểu Tượng Thất Truyền
Nguyên Tác: The Lost Symbol
Dịch giả: Nguyễn Xuân Hồng
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com




Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc của tôi đến ba người bạn thân thiết mà tôi rất
vinh dự cùng làm việc: biên tập viên của tôi, Jason Kaufman; đại lý của tôi,
Heide Lange; và cố vấn của tôi, Michael Rudell. Ngoài ra, tôi cũng vô cùng
biết ơn Doubleday - nhà xuất bản trên toàn cầu của tôi - và tất nhiên là
những bạn đọc của tôi.
Cuốn tiểu thuyết này không thể được viết nên nếu không có sự giúp đỡ to
lớn của vô số những người đã chia sẻ kiến thức và chuyên môn của họ. Tôi
thật lòng cảm kích tất cả những người bạn đó.

Sống trên thế giới mà không có ý thức về ý nghĩa của thế giới giống như là
lang thang trong một thư viện rộng lớn mà không hề chạm tay vào một cuốn
sách nào.
Những giáo điều bí mật của mọi thời đại



SỰ KIỆN

Năm 1991, một tài liệu được khoá chặt trong két an toàn của Giám đốc Cơ
quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA). Tài liệu hiện vẫn ở nguyên tại đó.
Nội dung khó hiểu của nó có nhắc đến một cái cổng cổ xưa và một vị trí
chưa biết đến dưới lòng đất. Tài liệu còn có một câu “Nó được chôn giấu
đâu đó ngoài kia”.
Tất cả các tổ chức trong cuốn tiểu thuyết này đều có thật, kể cả Hội Tam
điểm. Đại học Vô hình (Invisible College), Phòng An ninh, SMSC, và Học
viện Khoa học Tinh thần (Institute of Noetic Sciences).
Tất cả các nghi thức, khoa học, tác phẩm nghệ thuật và các công trình kiến
trúc trong cuốn tiểu thuyết này là có thật.



Phần mở đầu

Thánh viện Hội Tam điểm, 8 giờ 33 phút tối.
Chết như thế nào là một điều bí ẩn.
Từ thuở khai thiên lập địa tới nay, chết như thế nào vẫn luôn luôn là một
điều bí ẩn. Kẻ nhập môn, 34 tuổi, đăm đăm nhìn xuống cái sọ người nằm
gọn trên lòng bàn tay mình. Cái sọ đã được khoét rỗng như cái bát, đựng đầy
một thứ rượu vang màu đỏ máu.
Uống đi, gã tự nhủ. Mày đâu có gì phải sợ.
Theo truyền thống, gã bắt đầu cuộc hành trình trong trang phục nghi lễ mà
các tín đồ dị giáo thời Trung cổ vẫn mặc khi bị dẫn tới giá treo cổ. Chiếc áo
rộng lùng thùng phơi ra bộ ngực xanh xao của gã, ống quần bên trái xắn lên
đầu gối, còn ống tay phải vén tới tận khuỷu. Cổ gã tròng một sợi thòng lọng
nặng trịch - hay sợi “cáp tàu kéo”, theo cách gọi của thành viên trong hội.
Tuy nhiên đêm nay, gã phục sức như một vị huynh trưởng, tương tự các
đồng đạo đang có mặt để làm chứng.
Các đồng đạo tụ tập quanh gã đều chải chuốt trong lễ phục đầy đủ của mình,
gồm tạp dề bằng da cừu non, khăn quàng vai và găng tay trắng, trên cổ là
những trang sức nghi lễ nhấp nháy một cách ma quái dưới ánh sáng lù mù.
Nhiều người trong số họ nắm giữ những vị trí quan trọng ngoài đời, nhưng
kẻ nhập môn biết rằng địa vị thế tục ấy chẳng có ý nghĩa gì giữa bốn bức
tường này. Ở đây, tất cả mọi người đều bình đẳng, đều đã thề nguyện làm
anh em và gắn bó với nhau nhờ một mối giao ước huyền bí. Vừa đưa mắt
thăm dò đám người xung quanh, kẻ nhập môn vừa tự hỏi, ở thế giới bên
ngoài, ai mà ngờ được rằng những nhân vật kia lại có lúc cùng tập hợp ở một
nơi… nhất là một nơi như thế này. Trông căn phòng chẳng khác nào một
thánh điện sót lại từ thời viễn cổ.
Tuy nhiên, sự thật còn lạ lùng hơn nữa.
Ta chỉ cách Nhà Trắng có vài dãy nhà.
Toạ lạc ở số 1733 phố 16 Tây Bắc. Washington D.C. khu dinh thự đồ sộ này
là phiên bản của đền Mausolus, một đền thờ từ thời tiền Công giáo, Ban đầu
nó là một lăng mộ… dùng để chôn người chết. Ở lối vào chính có hai cánh

cửa bằng đồng, do hai pho tượng nhân sư, nặng mười bảy tấn canh gác: Bên
trong là một mê cung tráng lệ gồm các phòng hành lễ, đại sảnh, hầm chứa
gắn niêm phong, thư viện và cả một bức tường rỗng chứa hai bộ hài cốt
người. Kẻ nhập môn nghe nói tất cả các phòng trong toà nhà này đều ẩn
chứa những bí mật, nhưng gã chưa được đặt chân vào chỗ nào bí mật hơn
Phòng Thánh lễ, chính là căn phòng rộng thênh thang, nơi gã đang quỳ gối
với cái đầu lâu nằm gọn trên tay này.
Phòng Thánh lễ vuông vức đến hoàn hảo, và hun hút như một cái hang. Trần
nhà được đẩy lên đến tận độ cao 30 mét và ngự trên những cột chống bằng
đá hoa cương xanh nguyên khối. Quây tròn quanh phòng là một hành lang
dài giật cấp với nhiều ghế ngồi tối màu bằng gỗ hồ đào Nga bọc da lợn chế
tác theo lối thủ công. Một chiếc ngai cao 9.9 mét nổi lên lừng lững ở mặt
tường phía tây, đối diện với nó là bộ đàn ống ẩn kín. Các bức tường đều vẽ
chi chít những biểu tượng cổ xưa, về Ai Cập, Do Thái, về thiên văn, giả kim,
và rất nhiều ký hiệu lạ lùng chưa ai biết tới.
Đêm nay, Phòng Thánh lễ được thắp sáng bằng những ngọn nến bố trí theo
một trật tự riêng. Quầng sáng lờ mờ của chúng chỉ được hỗ trợ thêm bằng
cột ánh trăng nhợt nhạt lọt qua mắt vòm trần rọi thẳng xuống vị trí trung tâm,
xuống điểm đáng chú ý nhất trong gian phòng hình vuông, chính là chiếc
bàn thờ khổng lồ đẽo từ một khối cẩm thạch Bỉ đen bóng.
Cái chết là một điều bí ẩn, kẻ nhập môn nhẩm lại.
- Đến giờ rồi. - Ai đó thì thầm.
Kẻ nhập môn ngước mắt lên. Một dáng người đường bệ khoác áo choàng
trắng xuất hiện trước mặt gã. Đại Huynh trưởng. Giàu có, tráng kiện và rất
được công chúng yêu mến, người đàn ông gần 60 tuổi này là một biểu tượng
của nước Mỹ. Mái tóc có thời đen nhánh giờ đã ngả bạc, gương mặt nổi
tiếng phản ánh một cuộc đời quyền uy và một trí tuệ siêu phàm.
- Hãy tuyên thệ đi. - Đại Huynh trưởng lên tiếng, giọng êm như ru - Hãy
hoàn tất hành trình của đạo hữu.
Cũng giống như các hành trình khác, kẻ nhập môn phải bắt đầu con đường
của mình ở cấp độ thấp nhất. Một đêm nọ, trong một nghi thức tương tự thế
này, Đại Huynh trưởng đã bịt mắt gã bằng một băng vải nhung và ấn lưỡi
dao găm hành lễ vào bộ ngực trần của gã, rồi hỏi:
-Ngươi có dám thề danh dự rằng ngươi tự ao và tự nguyện hiến mình làm
ứng viên cho các đặc quyền cũng như những bí ẩn của Hội, không nhằm trục
lợi hay vì bất kỳ động cơ hèn hạ nào khác không?

- Tôi xin thề. - Kẻ nhập môn nói dối.
- Vậy hãy khắc cốt ghi tâm. - Huynh trưởng cảnh cáo. - rằng nếu ngươi dám
tiết lộ những điều bí mật mà chúng ta chia sẻ cho ngươi, thì ngươi sẽ chết
ngay lập tức.
Lúc đó, kẻ nhập môn không hề sợ hãi.
Bọn họ sẽ chẳng bao giờ biết được mục đích thật sự của ta.
Nhưng đêm nay, gã e ngại trước không khí trang nghiêm bất thường của
Phòng Thánh lễ, và bắt đầu điểm lại trong óc tất cả những lời cảnh báo đã
được nghe suốt dọc hành trình, rồi những điều về các hậu quả khủng khiếp
nếu gã tiết lộ những bí mật cổ xưa mà gã sắp được biết: Đâm ngang họng…
rút lưỡi… moi ruột và đốt… vãi tro than theo gió… móc tim và vứt cho lũ thú
hoang…
- Huynh đệ của ta, - vị Huynh trưởng có đôi mắt xám đặt tay trái lên vai kẻ
nhập môn và nói - Hãy tuyên đọc lời thề cuối cùng đi.
Lấy lại tinh thần để hoàn tất bước sau cùng của hành trình, kẻ nhập môn thả
lỏng cơ bắp và lại tập trung chú ý vào cái sọ người nằm trên tay. Thứ rượu
vang đỏ thẫm trông gần như đen kịt trong ánh nến tù mù. Gian phòng chìm
vào sự im lặng chết chóc, và gã có thể cảm nhận được ánh mắt của các
chứng nhân, họ đang chờ ứng viên mới tuyên đọc lời thề cuối cùng và gia
nhập hàng ngũ tinh tuý của mình.
Đêm nay, gã nghĩ, một điều gì đó chưa từng diễn ra trong lịch sử Hội, chưa
từng diễn ra suốt mấy trăm năm qua, sẽ diễn ra giữa bốn bức tường này.
Gã biết đó là một tia lửa… và nó sẽ đem lại cho gã sức mạnh khôn cùng.
Như được tiếp thêm sinh lực, gã hít một hơi và xướng to đúng những lời mà
biết bao con người trên khắp thế giới đã từng tuyên đọc trước gã.
- Nếu tôi cố tình vi phạm lời thề, thì thứ rượu tôi sắp uống đây sẽ biến thành
thuốc độc giết chết tôi.
Lời gã vang vọng trong không gian trống trải.
Rồi tất cả im ắng.
Rất vững vàng, kẻ nhập môn từ từ nâng cái sọ lên miệng. Khi cảm thầy môi
mình chạm vào vỏ xương khô, gã nhắm mắt và nghiêng nó về phía miệng

mình, uống những ngụm thật to. Cạn xong giọt cuối cùng, gã hạ cái sọ người
xuống. Trong một tích tắc, gã tưởng chừng phổi mình thắt lại, còn tim thì
đập thình thịch. Lạy Chúa, họ biết ư? Song trạng thái ấy mau chóng qua đi,
mau y như lúc mới xuất hiện. Tiếp đó, cảm giác ấm áp dễ chịu bắt đầu lan
toả khắp cơ thể gã. Kẻ nhập môn thở phào, vừa cười thầm vừa ngước lên
nhìn người đàn ông có đôi mắt xám. Không mảy may nghi ngờ. Ông ta đã
ngu ngốc tiếp nhận gã vào đẳng cấp bí mật nhất của hội ái hữu này.
Chẳng bao lâu nữa, các người sẽ mất hết mọi thứ mà bấy lâu nay các người
ra công gìn giữ!


Chương 1

Chiếc thang máy hiệu Otis chất đầy du khách đang lừ lừ chạy lên trụ phía
nam của Tháp Eiffel. Trong cái khoang chật cứng, một doanh nhân khắc khổ
vận bộ đồ được là phẳng phiu đăm đăm nhìn xuống cậu bé đứng bên cạnh.
- Trông con nhợt nhạt lắm, con trai ạ. Lẽ ra con nên ở lại bên dưới thì hơn.
- Con ổn mà… - cậu bé trả lời, cố gắng kiềm chế nỗi lo lắng của mình - Đến
tầng tới, con sẽ ra.
Mình ngạt thở quá.
Người đàn ông cúi xuống gần hơn.
- Ba cứ nghĩ là con đã trị được cái chứng ấy rồi cơ đấy - ông ta âu yếm vuốt
má con trai.
Mặc dù xấu hổ vì làm cha thất vọng, cậu bé vẫn không sao xua đi được
tiếng ong ong trong tai.
Mình ngạt thở quá. Mình phải thoát ra khỏi cái bao diêm này.
Nhân viên điều khiển thang máy đang cam đoan gì đó về các van đẩy có
khớp nối và kết cấu thép. Xa tít phía dưới họ, đường phố Paris toả ra mọi
hướng.
Đến kia rồi, cậu bé tự nhủ, nghểnh cổ nhìn lên chỗ trả khách.
Gắng chịu đựng một chút nữa thôi.
Khi chiếc thang máy rẽ chếch lên khu vực ngắm cảnh phía trên, thân tháp bắt
đầu thu hẹp, các thanh giằng đồ sộ của tháp co cụm lại thành một đường hầm
thẳng đứng.
- Ba, con không nghĩ…
Đột nhiên, có tiếng ken két vang lên trên đầu họ. Khoang thang máy giật
mạnh rồi nghiêng hẳn về một bên. Những sợi cáp sờn bắt đầu quấn lại quanh
khoang và quẫy đùng đùng như những con rắn.
Cậu bé vươn tay về phía cha.
- Ba ơi!
Mắt hai cha con gặp nhau trong một giây kinh hoàng.
Rồi đáy thang máy bung ra.

***


Robert Langdon vùng dậy trên chiếc ghế da mềm, choàng tỉnh khỏi giấc mơ
chập chờn. Chỉ có mình anh trong khoang hành khách rộng rãi. Chiếc phản
lực Falcon 2000EX đang xóc nảy do thời tiết xấu, dưới bụng nó, động cơ đôi
Pratt & Whitney vẫn kêu đều đều.
- Thưa ông Langdon? - tiếng điện đàm vang lên loạt xoạt trên trần - Chúng ta
đã đến chặng cuối.
Langdon ngồi thẳng dậy và nhét gọn tập bài giảng vào cặp da.
Anh đã rơi vào trạng thái mơ màng đúng lúc đang xem dở phần biểu tượng
của Hội Tam điểm. Langdon ngờ rằng chính lời mời bất ngờ lúc sáng ngày
của Peter Solomon đã khơi gợi giấc mơ ban nãy về người cha quá cố của
anh.

Peter Solomon từng là thầy hướng dẫn của Langdon trong một thời gian dài.
Là người thứ hai mình không bao giờ muốn làm thất vọng.

Nhà phúc thiện, sử gia kiêm khoa học gia 58 tuổi ấy đã che chở Langdon gần
ba mươi năm về trước, và bằng nhiều cách đã lấp đầy khoảng trống do cái
chết của cha anh để lại. Mặc dù giàu sang tột đỉnh và xuất thân từ một gia tộc
nhiều thế lực. Solomon vẫn rất khiêm nhường và nồng hậu, như Langdon
nhận thấy qua đôi mắt xám dịu dàng của ông.

Bên ngoài cửa sổ, mặt trời đã lặn, nhưng Langdon vẫn phân biệt được đường
nét thanh mảnh của tháp tưởng niệm lớn nhất thế giới đang vươn lên phía
chân trời như kim chỉ giờ của một chiếc đồng hồ mặt trời cổ xưa. Tháp
tưởng niệm lát đá cẩm thạch cao 170 mét này là tiêu điểm ở trái tim của cả
liên bang. Từ ngọn tháp ấy toả rộng ra các hướng là một bức hoạ chi tiết của
vô vàn đường phố và tượng đài.

Ở WashingtonD.C., chỉ không khí thôi đã toát ra một sức mạnh gần như
huyền bí.

Langdon rất yêu thành phố này. Khi máy bay tiếp đất, niềm hưng phấn về
những điều sắp tới bỗng trào dâng trong anh. Máy bay lướt đến một nhà ga
riêng ở khu vực nào đó trong khuôn viên mênh mông của sân bay quốc tế
Dulles rồi dừng hẳn lại.

Langdon thu thập hành lý, cảm ơn phi hành đoàn và rời khỏi chiếc máy bay
sang trọng. Anh bước ra cầu thang gấp, cảm giác thật thoải mái trong làn

không khí lạnh giá tháng Giêng.

Hít thở đi! Robert, Langdon nghĩ thầm và khoan khoái tận hưởng không gian
thoáng đãng.

Sương trắng trải khắp đường băng. Langdon bước xuống nền nhựa mù
sương mà tưởng như mình đang tiến vào một khu đầm lầy.
- Xin chào! Xin chào! - ai đó cất tiếng gọi từ bên kia đường băng, giọng
Ăng-lê đơn điệu - Giáo sư Langdon phải không ạ?
Langdon trông lên. Một phụ nữ trung tuổi đeo phù hiệu và cầm cặp hồ sơ
đang vội vã tiến lại phía anh, mái tóc vàng loăn quăn xòe ra dưới chiếc mũ
len rất kiểu cách. Langdon tới gần, người phụ nữ hân hoan vẫy tay.
- Chào mừng ông tới Washington!
- Cảm ơn cô - Langdon mỉm cười.
- Tôi là Pam, thuộc tổ dịch vụ hành khách - Người phụ nữ nói với vẻ hồ hởi
không giấu giếm - Mời ông đi theo tôi, xe của ông đang đợi sẵn.

Langdon băng qua đường, theo người phụ nữ đi về phía bãi chờ xe, quanh
đấy la liệt những chiếc phi cơ riêng bóng lộn. Chỗ đậu taxi của đám người
giàu có và nổi tiếng.
- Tôi thật không muốn làm phiền ông, thưa Giáo sư, - người phụ nữ nói,
nghe có phần bẽn lẽn - nhưng ông chính là Robert Langdon, từng viết nhiều
cuốn sách về các biểu tượng và tôn giáo, phải không ạ?
Langdon lưỡng lự đôi chút rồi gật đầu.
- Tôi đoán chẳng sai mà! - Pam nói, vẻ rạng rỡ - Nhóm đọc sách của tôi đã
đọc cuốn sách về tính nữ thiêng liêng và nhà thờ của ông đấy! Cuốn sách đã
làm dấy lên vô khối điều tiếng! Ông thích vẽ đường cho hươu chạy thật!
Langdon mỉm cười.
- Tôi không định gây ra tai tiếng gì đâu.
Dường như cảm nhận được rằng Langdon không có hứng thảo luận về tác
phẩm của mình, người phụ nữ bèn nói:
- Xin lỗi vì đã bắt ông nghe những lời huyên thuyên. Tôi biết, chắc ông phát
mệt vì cứ bị người ta nhận ra… nhưng đó là lỗi của chính ông - Pam hài
hước ra dấu về phục sức của Langdon - Bộ đồng phục này tố cáo ông đấy.


Đồng phục này ư? Langdon liếc xuống quần áo của mình. Anh đang mặc
chiếc áo len cổ lọ màu than mọi khi, cùng với áo khoác tuýt hiệu Harris,
quần ka ki và đôi giày lười da mềm mà các sinh viên hay mang… chính là
kiểu phục trang chuẩn mực của anh khi lên lớp, đi lưu giảng, chụp ảnh tác
giả sách hay tham gia các hoạt động xã hội.

Người phụ nữ bật cười:
- Cái áo len cổ lọ quá lỗi mốt rồi. Trông ông sẽ bảnh bao hơn nếu đeo cà vạt!
Không đời nào, Langdon nghĩ bụng. Khác gì mấy cái thòng lọng.

Thời Langdon còn ở Học viện Phillips Exeter, nhà trường yêu cầu sinh viên
phải đeo cà vạt sáu ngày một tuần và mặc dù ông hiệu trưởng lý giải rất lãng
mạn rằng cà vạt có nguồn gốc từ thời các nhà hùng biện La Mã quàng lụa
fascalia để giữ ấm dây thanh quản, nhưng Langdon thừa biết, về mặt từ
nguyên, tiền thân của cà vạt là thứ khăn quàng cổ thắt nút mà một nhóm lính
đánh thuê hung bạo người “Croat” thường đeo khi lâm trận. Ngày nay, các
chiến binh văn phòng hiện đại đeo loại phụ kiện cổ xưa này với hy vọng đe
doạ kẻ thù của họ trong các trận chiến họp hành thường nhật.
- Rất cảm ơn lời khuyên của cô - Langdon nói và cười khùng khục - Sắp tới
tôi sẽ tìm một chiếc cà vạt vậy.
Bấy giờ, một người đàn ông trông rất chuyên nghiệp vận bộ đồ sẫm màu
chui ra khỏi chiếc Lincoln Town Car bóng loáng đỗ gần nhà ga và giơ ngón
tay lên.
- Ông Langdon phải không? Tôi là Charles, hãng xe Beltway Limousine Anh ta mở cửa bên - Chúc ông một buổi tối tốt lành. Chào mừng ông tới
Washington.

Langdon đưa tiền boa cho Pam để cảm ơn thái độ niềm nở của cô rồi bước
lên khoang xe sang trọng của chiếc Town Car. Người lái xe chỉ cho anh bảng
điều khiển nhiệt độ, nước đóng chai, và giỏ bánh xốp nướng còn nóng hổi.
Mấy giây sau, Langdon đã lao vun vút trên một tuyến đường riêng. Ra là
giới thượng lưu người ta sống kiểu này đây.

Khi lái xe vào đường Windsock, người tài xế kiểm tra lại tên hành khách của
mình rồi gọi một cú điện ngắn.
- Beltway Limousine đây, - anh ta nói với giọng rất chuyên nghiệp - Tôi
được yêu cầu xác nhận khi hành khách tới nơi - anh ta ngừng lại - Vâng,
thưa ngài. Ông Langdon khách của ngài đã đến. Tôi sẽ đưa ông ấy tới nhà

Quốc hội lúc 7 giờ tối. Rất hân hạnh, thưa ngài - anh ta gác máy.
Langdon mỉm cười. Không thể chê vào đâu được. Chú ý đến từng chi tiết là
một trong những tư chất đáng nói nhất của Peter Solomon, nhờ nó mà ông dễ
dàng điều khiển được quyền lực lớn lao của mình.
Vài tỷ đô la trong nhà băng cũng chẳng nhằm nhò gì.

Langdon ổn định tư thế trong chiếc ghế da sang trọng và nhắm mắt lại trong
khi tiếng ồn ào của sân bay loãng dần phía sau. Còn nửa tiếng đồng hồ đi xe
nữa mới đến toà nhà Quốc hội Hoa Kỳ, và anh rất mừng vì được tự do trong
khoảng thời gian ấy để sắp xếp lại những suy nghĩ của mình. Ngày hôm nay,
mọi chuyện diễn ra quá nhanh, tới giờ Langdon mới rảnh trí để suy nghĩ một
cách nghiêm túc về buổi tối lạ lùng đang chờ đợi mình.
Xuất hiện dưới lốt bí mật. Langdon nghĩ, thích thú với viễn cảnh đó.
Cách toà nhà Quốc hội mười dặm, có một nhân vật đang sốt ruột chuẩn bị để
đón tiếp anh.



Chương 2

Kẻ tụ xưng là Mal'akh(1) nhấn mũi kim vào cái đầu cạo nhẵn thín của mình,
đoạn thở một hơi dài khoan khoái khi cái vật nhọn ấy chọc vào rồi lại rút ra
khỏi da thịt gã. Tiếng thiết bị điện chạy ro ro khe khẽ quả thật cũng dễ
ghiền… nhất là lúc cây kim ăn sâu vào lớp hạ bì và để lại chút phẩm nhuộm.

Ta sẽ là một kiệt tác.
Nhân loại xăm mình chưa bao giờ là vì cái đẹp. Mục đích thật ra là để thay
đổi. Từ các thày tế người Nubia(2) da rạch nhằng nhịt khoảng 2000 năm
trước Công nguyên tới các thày dòng xăm trổ đầy mình chuyên thờ Cybele ở
La Mã cổ đại hay dân Maori hiện đại với những vết sẹo moko, con người
luôn xăm mình như một cách tự hiến dâng phần nào cơ thể, chịu đựng nỗi
đau thân xác của việc làm đẹp và thể hiện những thay đổi.

Bất chấp lời cảnh báo đáng sợ trong Sách Leviticus/ Levificus 19:28 ngăn
cấm việc ghi dấu lên da thịt ai đó, xăm mình vẫn trở thành nghi lễ trưởng
thành cho hàng triệu người trong thời đại ngày nay - từ các cô cậu choai
choai mặt mũi sáng sủa đến con nghiện ma tuý và những bà nội trợ vùng
ngoại thành.

Hành động xăm hình lên da là một tuyên ngôn về sự thay đổi quyền lực, một
lời công bố với thế giới rằng: Ta nắm quyền điều khiển thân xác ta. Việc
biến đổi thể chất mang lại cảm giác mê hoặc đến nỗi hàng triệu kẻ đã chạy
theo đủ mọi cách thức thay đổi da thịt, nào là phẫu thuật thẩm mỹ, xỏ
khuyên khắp người, nào là thể dục thể hình hay bơm chất tạo cơ bắp… thậm
chí còn thay đổi thói quen ăn uống và chuyển đổi giới tính. Về mặt tinh thần,
con người muốn khao khát được làm chủ cái vỏ xác phàm của mình.

Chiếc đồng hồ quả lắc thừa kế từ tổ phụ gõ lên một tiếng, Mal'akh ngước
mắt nhìn. 6 giờ 30 phút tối. Buông dụng cụ xuống, gã khoác tấm áo choàng
bằng lụa Kiryu quanh cơ thể trần như nhộng cao ngót 1m90 của mình và
bước xuống sảnh. Hương thơm cay nồng của thuốc nhuộm da trộn với mùi
khói từ những cây nến sáp ong gã thắp để khử trùng kim tạo thành một thứ
không khí thật nặng nề trong toà nhà bừa bộn. Gã thanh niên cao lớn bước
xuống hành lang, băng qua những món đồ cổ Italia vô giá - một bức tranh
khắc của Piranesi, một cái ghế Savonarola, một ngọn đèn dầu Bugarini bằng
bạc.


Lúc đi ngang qua khung cửa sổ trải suốt tử trần xuống tận nền nhà, gã đưa
mắt ngắm đường chân trời ở phía xa. Phần mái vòm sáng ngời của nhà Quốc
hội nổi lên rực rỡ trên nền trời đông tối thẫm, toát ra một sức mạnh uy
nghiêm.

Kia chính là nơi cất giấu, gã nghĩ thầm. Người ta chôn nó đâu đó bên ấy.

Rất ít người biết rằng nó tồn tại… và số người ý thức được sức mạnh kinh
khủng của nó cũng như cách thức khéo léo cất giấu nó thì càng ít hơn. Cho
đến hôm nay, nó vẫn là bí mật lớn nhất của đất nước này, và cái nhóm ít ỏi
nắm rõ sự thật đó đã giấu kín nó dưới một bức màn dày biểu tượng, huyền
thoại và ẩn ý.

Nhưng giờ họ đã mở rộng cửa cho ta vào! - Mal'akh nghĩ.

Ba tuần trước, trong một nghi thức bí mật với sự chứng kiến của những nhân
vật quyền thế nhất nước Mỹ, Mal'akh đã leo lên cấp 33, cấp tối cao của hội
ái hữu lâu đời nhất còn sót lại trên thế giới. Mặc dù Mal'akh đã có địa vị mới
nhưng các tín hữu vẫn chưa hề chia sẻ điều gì với gã, và cũng chẳng bao giờ
họ chia sẻ, gã biết rõ như vậy.

Mọi chuyện không đơn giản như vậy. Cái gì cũng có tôn ti trật tự của nó,
trong đẳng cấp luôn còn đẳng cấp. Thậm chí phải chờ đợi hàng năm trời nữa,
có khi Mal'akh vẫn không giành được lòng tin tuyệt đối của họ.

May thay, gã sẽ khám phá ra bí mật sâu xa kia mà chẳng cần đến lòng tin ấy.
Vào hội là đạt được mục đích rồi.

Được tiếp sức bởi viễn cảnh sắp đến, gã sải bước về phía phòng ngủ. Khắp
nhà vang vọng giai điệu quái đản của một đĩa nhạc rất hiếm ghi âm bản
“Khúc an hồn” của Verdi - một lời gợi nhớ kiếp trước, hiện đang đến phần
“Ánh sáng vĩnh hằng” thể hiện qua giọng nữ cao eo éo. Mal'akh bấm điều
khiển từ xa chuyển sang phần “Ngày phẫn nộ”. Giữa tiếng trống giữ nhịp
chói tai và những quãng năm song song, gã sải bước chạy lên cầu thang cẩm
thạch, chiếc áo choàng bay tung theo nhịp di chuyển của đôi chân gân guốc.

Trong lúc chạy, Mal'akh thấy cái dạ dày trống rỗng của mình quặn lên. Đã
hai ngày nay, gã thực hiện phương pháp chay tịnh truyền thống là chỉ uống

nước mà không ăn gì. Khi bình minh lên, cơn đói của mày sẽ được đền đáp,
cùng với sự đau đớn, gã tự nhủ.

Mal'akh bước vào thánh điện phòng ngủ của mình và khoá chặt cửa lại sau
lưng, thái độ hết sức sùng kính. Trên đường tiến về phía khu vực thay đồ, gã
dừng lại, cảm nhận được bóng mình trong tấm gương lớn mạ vàng. Không
cưỡng nổi, gã quay người và đứng đối diện với hình phản chiếu của bản
thân. Bằng cử động chậm rãi như đang mở một món quà vô giá, Mal'akh cởi
áo choàng để lộ ra cơ thể trần như nhộng. Những gì trông thấy làm gã sợ sệt.
Ta đúng là một kiệt tác.
Thân hình to cao của gã được cạo nhẵn nhụi. Trước tiên, gã hạ tầm mắt
xuống hình xăm vảy và móng vuốt của một con diều hâu trên hai mu bàn
chân. Ngược lên trên là đôi chân cơ bắp với hình xăm của những cây cột
chạm khắc - chân trái là hoa văn xoắn ốc còn chân phải là những sọc thẳng
đứng. Chẳng khác gì cặp cột Boaz và Jachin(4). Phần bẹn và bụng dưới
trông y như một vòm cung có trang trí, lên cao hơn là bộ ngực vạm vỡ vẽ
một con phượng hoàng hai đầu, mỗi đầu ngoảnh ra một phía với con mắt
chính là núm vú của Mal'akh. Hai vai, cổ, mặt và cái đầu cạo trọc lốc của gã
đều phủ kín các hình vẽ công phu mô
 
Gửi ý kiến