dao-giau-vang

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:59' 06-02-2026
Dung lượng: 480.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:59' 06-02-2026
Dung lượng: 480.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
CHƯƠNG 1
Tên giặc biển già đời
CHƯƠNG 2
Hắc cẩu
CHƯƠNG 3
Cái vết đen
CHƯƠNG 4
Cái hòm của viên chúa tàu
CHƯƠNG 5
Hết kiếp thằng mù
CHƯƠNG 6
Giấy tờ của viên chúa tàu
CHƯƠNG 7
Tên bếp tàu
CHƯƠNG 8
Vấn đề khí giới và thuốc súng
CHƯƠNG 9
Đi biển
CHƯƠNG 10
Những điều tôi nghe được khi nấp trong thùng lê
CHƯƠNG 11
Hội đồng quân sự
CHƯƠNG 12
Bước chân lên đảo
CHƯƠNG 13
Người trong đảo
CHƯƠNG 14
Cố thủ trên đảo
CHƯƠNG 15
Trong lô-cốt
CHƯƠNG 16
Xin-ve đi thương lượng
CHƯƠNG 17
Trận đánh khu vực lô-cốt
CHƯƠNG 18
Lênh đênh trên biển
CHƯƠNG 19
Khi nước triều xuống
CHƯƠNG 20
Chiếc thuyền độc mộc lênh đênh
CHƯƠNG 21
Tôi hạ lá cờ đen của giặc xuống
CHƯƠNG 22
Lão Han
CHƯƠNG 23
Đồng ăn tám
CHƯƠNG 24
Trong trại quân thù
CHƯƠNG 25
Lại cái vết đen
CHƯƠNG 26
Giữ đúng lời hứa
CHƯƠNG 27
Đi tìm nơi giấu của
CHƯƠNG 28
Tiếng hát trong lùm cây
CHƯƠNG 29
Một tay đầu têu thất thế
CHƯƠNG 30
Đoạn cuối
CHƯƠNG 1
TÊN GIẶC BIỂN GIÀ ĐỜI
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm "Đô đốc Bin- bâu". Quán cơm dựng
ở một nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng
quẫn. Cha tôi phần lo buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống
lâu nữa nếu không gặp phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi còn nhớ rõ
như mới gặp hắn hôm qua. Hắn nặng nề đi đến cửa, chiếc hòm đặt trên xe
theo sau. Người hắn to lớn, vạm vỡ, nước da lưng sạm như gạch nung, cái
đuôi tóc trên đầu bết lại như keo lòng thòng trên cổ áo xanh đã hoen nhiều
vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống, trắng bệch
trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt nhìn quanh cửa biển, miệng
huýt sáo rồi cất tiếng hát bài hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn
hát luôn. Mười lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say
bét say be! Hắn hát to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm gậy gõ cửa. Cha
tôi ra, hắn bảo đem một cốc rượu "rum", giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp
rượu ra vẻ một tay sành. Hắn chăm chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào
cái biển cửa hàng rồi nói:
- Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác? Cha tôi trả lời:
- Thưa khách lắm.
- Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm vào nhà. Lát sau,
hắn lại nói:
- Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu "rum", ít trứng
và mỡ là đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ
gọi tôi như thế nào nhỉ? Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. À thôi! Tôi biết cái
điều bác đang lưỡng lự rồi! Này đây!
Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
- Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi thôi, nói năng cục
cằn, nhưng coi bộ hắn không phải một thủy thủ thường. Hắn ra dáng một
viên thuyền trưởng hay phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ
dưới. Bình thường, tính hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn ven bờ
biển cao, tay cầm cái ống nhòm bằng đồng. Chiều tối, hắn về ngồi thu lu ở
xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất nhiều rượu "rum" pha nước. Mỗi lần
đi chơi về, hắn lại hỏi: có người thủy thủ nào đi qua đây không? Mới đầu,
chúng tôi tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết hắn
muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra một nơi và dặn hễ
nhìn thấy tên thủy thủ cụt một chân thì nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn
hẹn cứ mồng một đầu tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải
đến nhắc hắn cho tiền, và mỗi bận như thế hắn thở phì phì, giương mắt nhìn
tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau đấy, hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại
phải để ý tìm người thủy thủ cụt chân. Không nói thì các bạn cũng biết cái
hình ảnh anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn. Trong những đêm
bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến quanh bờ, tôi mơ thấy anh ta
hiện ra thiên hình vạn trạng. Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến bẹn,
lúc chỉ còn một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào qua
hố đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà phải chịu những cơn sợ
như vậy, kể ra bốn xu cũng to quá. Tên chúa tàu uống nhiều rượu "rum" đến
nỗi nhiều đêm hắn như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man
rợ. Có khi hắn gọi rượu, ép mọi người phải uống để nghe hắn kể chuyện hay
hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ phải cố hát theo. Nhiều lúc cả nhà ầm
lên những câu hát: ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Khi thì hắn đập
bàn bắt mọi người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến hắn là hắn nổi
cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn mới để khách ra
về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình,
nào bão biển, đảo Rùa, nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ
Tây Ban Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy hơn cả
là hắn cứ ở lần lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền hắn đưa trả đã hết từ
lâu mà cha tôi cũng không có can đảm để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt
hắn long lên, mũi hắn gầm gừ thở phì phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và
mỗi bận như thế cha tôi lại vặn tay uất ức. Những lo phiền sợ hãi ấy đã làm
bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở trọ quán chúng tôi, hắn
vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và cái áo xanh lem luốc vá víu trăm mảnh.
Hắn chẳng bắt chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to của hắn
cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay đối thủ. Lúc ấy cha
tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Ly- vơxây đến thăm bệnh cha tôi. Bác
sĩ là người nhân từ có tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ
và có lúc chữa bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối với gia đình
tôi, ông là một vị ân nhân. Xem xong bệnh cho cha tôi, ông sang phòng bên
hút thuốc. Anh chúa tàu đang ê a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người
chết, ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này
chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay xuống bàn quát mọi người
im. Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng
cho một ông lão nghe cách trị bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn
bác sĩ, lại vỗ bàn, rồi quát lên bằng giọng tục tĩu:
- Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
- Ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo "phải", bác sĩ nói:
- Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu "rum" mãi,
thì đến phải tống anh đi nơi khác.
Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút soạt dao ra, lăm
lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá. Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng
vừa dõng dạc vừa bình tĩnh mà quả quyết:
- Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo cổ
trong phiên tòa đại hình sắp tới.
Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau một trời một vực.
Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ mà nghiêm nghị. Một đằng thì
nanh ác, hung hăng như con thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm
nhau. Rốt cục tên chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu bàu
trong cổ họng. Bác sĩ nói:
- Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh. Tôi không chỉ
làm thầy thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra
lệnh bắt và đuổi anh ra khỏi đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy
và những đêm sau, tên chúa tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2
HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha tôi không còn hy
vọng qua khỏi mùa đông. Tất cả công việc nhà đều đổ vào vai hai mẹ con
tôi, nên chúng tôi cũng không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy
nữa. Tháng giêng, một buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến tàu, sóng vỗ
nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên đầu núi, chiếu sáng mặt biển xa. Viên chúa
tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn đi ra biển, con dao dài lủng lẳng, ống nhòm
dưới nách, mũ hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi khuất sau tảng đá, tôi
còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức. Lúc bấy giờ tôi
đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về ăn. Chợt cửa mở, một người lạ
mặt bước vào. Mặt hắn xanh sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không
giống người đi biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn
bảo hắn muốn dùng "rum". Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo tôi đến gần. Tôi
dừng lại. Hắn gọi:
- Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
- Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không biết ai tên là
Bin, mà đây là bàn của người
khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
- Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! Ông ta có cái sẹo ở má trái, tính ông ta vui
đáo để, nhất là khi ông ấy say, phải không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông
Bin có nhà không?
- Đi vắng rồi.
- Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ ngồi lại, mắt
hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường, hắn gọi giật
ngay; tôi chưa kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi mất hồn. Khi tôi vào rồi,
hắn trở lại nhã nhặn, vỗ vai tôi, khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi
lắm:
- Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là con trai thì phải
biết nghe lời, nghe không con? À đây rồi, ông Bin đã về kia. Tao với mày
hãy vào buồng nấp sau cửa này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế
rồi hắn lôi tôi vào buồng nấp sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau lưng,
tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một chốc, tên chúa tàu bước vào, đóng sầm
cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
- Bin!
Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc. Viên chúa tàu
quay lại. Mặt hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn thất thần, người hắn bỗng chốc
trở nên già sọm. Người lạ lại nói:
- Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa tàu hổn hển
thở phào một tiếng:
- Hắc Cẩu!
- Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi!
Từ khi tôi mất hai ngón tay này, hai chúng ta đã gặp bao chuyện
trên đời!
Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt ngón ra. Viên chúa tàu
nói:
- Thôi! Anh đã tìm được tôi... Muốn gì nói đi!
- Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc
"rum", rồi chúng ta sẽ nói chuyện với nhau như những người bạn
cũ.
Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra và không được đứng nghe ở cửa.
Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ nghe tiếng rì rầm, một vài tiếng chửi
rủa của viên chúa tàu. Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp theo là tiếng dao
loảng xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu chạy ra, tên
chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng ròng. Đến cửa ngoài, viên
chúa tàu giơ dao chém bổ xuống nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng.
Hắc Cẩu thoát ra ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt
đứng ngơ ngác rồi vào nhà. Hắn gọi tôi:
- Dim! Đem "rum" đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng chạy đi lấy
rượu. Bỗng nghe tiếng đánh thịch trong phòng. Tôi vào thì đã thấy tên chúa
tàu nằm dài sóng sượt, bất tỉnh nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy
xuống. Chúng tôi nâng cao đầu hắn lên. Mẹ tôi kêu:
- Ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên kia!
Giữa lúc chúng tôi đang bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly
bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn xiết. Tôi vội nói:
- Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết cứng
thế này. Bác sĩ điềm nhiên bảo:
- Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy. Giọng ông trở nên ân cần ấm
cúng.
- Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết
chuyện này. Tôi sẽ cố chạy chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi lấy cái
thau đây.
Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn cánh tay áo hắn lên.
Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió", "Tai qua nạn khỏi", "Bin- bôn cóc
cần". Bác sĩ bảo:
- Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao. Nói thế rồi bác sĩ
cầm dao chích vào mạch máu hắn. Khi máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần
và kêu lên:
- Hắc Cẩu đâu rồi?
- Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của anh thôi! Bác sĩ
đáp.
- Anh uống quá nhiều "rum" nên mắc phải chứng kinh phong đấy. Và bây
giờ, ông Bin- bôn...
- Tên ấy không phải tên tôi Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
- Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển
mà tôi từng biết! Tôi chỉ khuyên anh một điều: một cốc rượu "rum" chưa can
gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo chén ngoài thì có ngày anh đi đứt. Hiểu
chưa? Thôi bây giờ anh cố gượng, tôi đưa anh lên buồng ngủ.
Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn
nằm thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
- Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn
để hắn phải nằm yên ít lâu. Như thế cũng yên cho hắn mà cũng
yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là hắn đi đời.
CHƯƠNG 3
CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít
thức ăn và thuốc
- sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
- Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi
tôi, chẳng ai thèm ngó đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử với cậu thế nào.
Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn xu đấy... à này, cậu cho tôi xin một cốc rượu
"rum" nào.
- Thầy thuốc đã dặn... Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi rầm
lên:
- Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào được bọn thủy
thủ chúng tôi. Tôi đã từng vào những chốn nước sôi lửa bỏng, đất nóng như
lửa than và động như sóng cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống "rum".
Không có rượu "rum", tôi còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang đểu
cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
- Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì không có một
giọt rượu. Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi điên lên bây giờ. Tôi đã thấy
lão Phơ-linh đứng ở xó kia. Tôi đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi
một cốc, nhanh lên, tôi sẽ cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy
hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột. Nhưng nghĩ đến cha đương bệnh nặng,
cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm lên, tôi bảo:
- Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không thèm ngửa tay lấy
một xu nào của ông cả. Tôi chỉ rót cho ông một cốc rượu thôi, không được
vòi thêm đấy!
Cốc rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
- Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi còn
phải nằm bao lâu không?
- Ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
- Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc
mà bọn nó sẽ gửi cái vết đen đến rồi!
Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường. Tôi
hỏi:
- Vết đen là cái gì?
- Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là
muốn đoạt lấy chiếc hòm của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó má, chỉ muốn
ăn cướp của người. Nếu chúng gửi vết đen đến, cậu cứ mượn ngựa... mượn
ngựa đến cái lão thầy thuốc... Cậu báo cho cái ông ấy biết là cứ rình ở đây,
sẽ tóm được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơlinh. Khi xưa tôi là phó thuyền của
lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết cái chỗ ấy. Hắn còn nói
huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể
chuyện cho bác sĩ Ly nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp
lại. Lòng thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên bẵng tên chúa
tàu và cũng không sợ hắn như trước nữa. Có điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã
xuống nhà ăn cơm và uống nhiều rượu "rum" hơn mọi bận. Sức hắn mỗi
ngày mỗi lụn dần, nhưng tính hung hãn vẫn như xưa. Ngay sau hôm đưa
đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt mù, tình thương
cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên đường cái một người đi lại. Tôi
đoán chắc là người mù, vì hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng
the xanh che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích. Hắn
dừng trước cửa quán, lên tiếng hỏi:
- Ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này là
đâu?
Lòng thương nhớ cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn
tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
- Này ông già, đây là quán "Đô đốc Bin-bâu".
- Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé... Cậu ơi! Cậu dắt hộ
lão với...
Không ngần ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng nói ngọt xớt ấy
liền bóp chặt tay tôi như kìm sắt. Tôi hoảng sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại
gần bảo nhỏ:
- Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
- Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ chế giễu:
- Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định phân trần, hắn đã
cướp lời:
- Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác, lạnh lùng và
gớm ghiếc như
tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe lời hắn. Tay tên
mù nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa hắn vào chỗ tên giặc già đương
say rượu lừ đừ. Tên chúa tàu thoạt thấy tên mù, hơi rượu "rum" bỗng bay
mất. Hắn tỉnh hẳn, trố mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn sức.
Tên mù nói:
- Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé này,
cầm lấy cổ tay trái ông Bin đưa lại gần tay phải tôi...
Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên chúa tàu một vật gì
giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay ra; thoắt một cái, hắn đã ra ngoài và
đến đường cái. Tôi nghe tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa tàu
mới hoàn hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
- Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng nữa... để lo liệu.
Nói xong, hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người hắn chới với, hắn đưa tay lên
kêu rú một tiếng rồi ngã vật xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không
kịp! Hắn đã chết rồi.
CHƯƠNG 4
CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai mẹ con tôi
đương lâm vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ của viên chúa tàu đã làm
chúng tôi sạt nghiệp, phần giặc cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy
khốn này, tôi chỉ biết nghĩ đến bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng
lại sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra việc gì, lòng tôi không nỡ. Cuối
cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu cứu. Chúng tôi ra đi trong
lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh buốt; cái xóm chỉ cách nhà tôi dăm trăm
mét, vậy mà mịt mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ con dừng
lại lắng nghe... Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu trong rừng, chẳng
nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa lúc lên đèn. Tôi không quên được
phút vui mừng khi trông thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có
người cứu giúp. Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng đảng
của hắn là mọi người rụt cổ. Rút cục chỉ có người chịu đi báo với ông Ly,
nhưng không ai chịu đến giữ quán cơm với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh
sợ là bệnh hay lây. Nhưng sợ quá cũng hóa liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo
không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất một số tiền nợ. Mẹ tôi
mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con dắt díu nhau trở về. Mặt trăng
mới mọc chiếu hồng lớp sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại,
trăng chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi lấy nến
đốt lên rồi hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên chúa tàu vẫn nằm ngửa
như cũ. Mẹ tôi bảo nhỏ:
- Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy.
Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa khóa trong mình hắn. Tôi đánh bạo quỳ
xuống... Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán
ngay là cái vết đen. Mặt bên kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết".
Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên vách. Mới có 6 giờ. Mẹ
tôi giục:
- Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang túi nọ, nhưng
tôi thất vọng. Mẹ tôi bảo:
- Có khi hắn treo ở cổ. Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc vào một đoạn
dây,
treo ngay ở cổ. Chúng tôi vội vã lên gác, vào thẳng gian phòng hắn ngủ, nơi
hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến. Chiếc hòm này cũng giống như trăm ngàn
chiếc hòm khác của bọn thủy thủ. Trên mặt hòm có khắc một chữ "B" bằng
sắt nung. Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và hơi nhựa. Ở ngăn trên
thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. Ở dưới, các thứ để lộn xộn: một cái
thước đo đường biển, vài cuộn thuốc lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một thoi
bạc, một đồng hồ quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài,
một cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ ốc. Nói chung
chẳng có vật gì quý giá. Ở dưới nữa, thấy có một cái áo tơi đi biển đã bạc
màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái áo ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải
sơn dầu hình như ở trong có gói giấy má gì và một cái túi vải; chạm đến túi
nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
- Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương thiện. Tao chỉ lấy đủ
số tiền nợ, không thèm lấy thêm một xu nhỏ... Này, cầm lấy cái túi... Mẹ tôi
vốc tiền trong túi của hắn, vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn
có đủ cả tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền Ghi-nê
Anh, và còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có ít, nhưng chỉ có thứ tiền
ấy mới tính nợ được, vì thế đếm tiền vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng
nghe tiếng gậy của thằng mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần.
Hắn gõ cửa quán mấy cái. Chúng tôi nghe tiếng vặn quả đấm, tiếng then cửa
lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên lặng... Lại nghe tiếng gậy lộc cộc
trên đường xa dần rồi mất hẳn. Tôi nói:
- Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi.
Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu lấy hơn số tiền nợ,
mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương giằng co nhau thì thốt nghe có
tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu
vừa nói:
- Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ.
Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa chạy ra ngoài. Sương mù tan
nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò. Chúng tôi bước nhanh. Chưa
được nửa đường, chúng tôi đã nghe thấy tiếng chân nhiều người đi lại; phía
trước có một ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người
xách đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
- Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi... Mẹ đuối sức rồi,
không bước được nữa.
May sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên gấp bội. Tôi xốc
nách, dìu mẹ tôi men theo bờ lạch, đến mãi dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một
tiếng rồi nằm vật ra. Chúng tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5
HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại nấp sau bụi,
nhìn lên con đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi xuống thì bảy tám tên giặc ồ
ạt chạy đến, tên cầm đèn đi đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù
đi giữa. Một lát, nghe tiếng hắn quát to:
- Phá cửa đi!
Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc
thúc và chửi rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
- Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
- Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc ầm nhà. Từ gác
trên một đứa thò đầu ra bảo:
- Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
- Có thấy cái ấy không?
- Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
- Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh kia!
- Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
- Thôi, chính mấy đứa
CHƯƠNG 1
Tên giặc biển già đời
CHƯƠNG 2
Hắc cẩu
CHƯƠNG 3
Cái vết đen
CHƯƠNG 4
Cái hòm của viên chúa tàu
CHƯƠNG 5
Hết kiếp thằng mù
CHƯƠNG 6
Giấy tờ của viên chúa tàu
CHƯƠNG 7
Tên bếp tàu
CHƯƠNG 8
Vấn đề khí giới và thuốc súng
CHƯƠNG 9
Đi biển
CHƯƠNG 10
Những điều tôi nghe được khi nấp trong thùng lê
CHƯƠNG 11
Hội đồng quân sự
CHƯƠNG 12
Bước chân lên đảo
CHƯƠNG 13
Người trong đảo
CHƯƠNG 14
Cố thủ trên đảo
CHƯƠNG 15
Trong lô-cốt
CHƯƠNG 16
Xin-ve đi thương lượng
CHƯƠNG 17
Trận đánh khu vực lô-cốt
CHƯƠNG 18
Lênh đênh trên biển
CHƯƠNG 19
Khi nước triều xuống
CHƯƠNG 20
Chiếc thuyền độc mộc lênh đênh
CHƯƠNG 21
Tôi hạ lá cờ đen của giặc xuống
CHƯƠNG 22
Lão Han
CHƯƠNG 23
Đồng ăn tám
CHƯƠNG 24
Trong trại quân thù
CHƯƠNG 25
Lại cái vết đen
CHƯƠNG 26
Giữ đúng lời hứa
CHƯƠNG 27
Đi tìm nơi giấu của
CHƯƠNG 28
Tiếng hát trong lùm cây
CHƯƠNG 29
Một tay đầu têu thất thế
CHƯƠNG 30
Đoạn cuối
CHƯƠNG 1
TÊN GIẶC BIỂN GIÀ ĐỜI
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm "Đô đốc Bin- bâu". Quán cơm dựng
ở một nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng
quẫn. Cha tôi phần lo buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống
lâu nữa nếu không gặp phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi còn nhớ rõ
như mới gặp hắn hôm qua. Hắn nặng nề đi đến cửa, chiếc hòm đặt trên xe
theo sau. Người hắn to lớn, vạm vỡ, nước da lưng sạm như gạch nung, cái
đuôi tóc trên đầu bết lại như keo lòng thòng trên cổ áo xanh đã hoen nhiều
vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống, trắng bệch
trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt nhìn quanh cửa biển, miệng
huýt sáo rồi cất tiếng hát bài hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn
hát luôn. Mười lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say
bét say be! Hắn hát to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm gậy gõ cửa. Cha
tôi ra, hắn bảo đem một cốc rượu "rum", giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp
rượu ra vẻ một tay sành. Hắn chăm chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào
cái biển cửa hàng rồi nói:
- Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác? Cha tôi trả lời:
- Thưa khách lắm.
- Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm vào nhà. Lát sau,
hắn lại nói:
- Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu "rum", ít trứng
và mỡ là đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ
gọi tôi như thế nào nhỉ? Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. À thôi! Tôi biết cái
điều bác đang lưỡng lự rồi! Này đây!
Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
- Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi thôi, nói năng cục
cằn, nhưng coi bộ hắn không phải một thủy thủ thường. Hắn ra dáng một
viên thuyền trưởng hay phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ
dưới. Bình thường, tính hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn ven bờ
biển cao, tay cầm cái ống nhòm bằng đồng. Chiều tối, hắn về ngồi thu lu ở
xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất nhiều rượu "rum" pha nước. Mỗi lần
đi chơi về, hắn lại hỏi: có người thủy thủ nào đi qua đây không? Mới đầu,
chúng tôi tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết hắn
muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra một nơi và dặn hễ
nhìn thấy tên thủy thủ cụt một chân thì nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn
hẹn cứ mồng một đầu tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải
đến nhắc hắn cho tiền, và mỗi bận như thế hắn thở phì phì, giương mắt nhìn
tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau đấy, hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại
phải để ý tìm người thủy thủ cụt chân. Không nói thì các bạn cũng biết cái
hình ảnh anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn. Trong những đêm
bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến quanh bờ, tôi mơ thấy anh ta
hiện ra thiên hình vạn trạng. Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến bẹn,
lúc chỉ còn một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào qua
hố đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà phải chịu những cơn sợ
như vậy, kể ra bốn xu cũng to quá. Tên chúa tàu uống nhiều rượu "rum" đến
nỗi nhiều đêm hắn như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man
rợ. Có khi hắn gọi rượu, ép mọi người phải uống để nghe hắn kể chuyện hay
hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ phải cố hát theo. Nhiều lúc cả nhà ầm
lên những câu hát: ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Khi thì hắn đập
bàn bắt mọi người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến hắn là hắn nổi
cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn mới để khách ra
về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình,
nào bão biển, đảo Rùa, nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ
Tây Ban Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy hơn cả
là hắn cứ ở lần lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền hắn đưa trả đã hết từ
lâu mà cha tôi cũng không có can đảm để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt
hắn long lên, mũi hắn gầm gừ thở phì phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và
mỗi bận như thế cha tôi lại vặn tay uất ức. Những lo phiền sợ hãi ấy đã làm
bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở trọ quán chúng tôi, hắn
vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và cái áo xanh lem luốc vá víu trăm mảnh.
Hắn chẳng bắt chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to của hắn
cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay đối thủ. Lúc ấy cha
tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Ly- vơxây đến thăm bệnh cha tôi. Bác
sĩ là người nhân từ có tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ
và có lúc chữa bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối với gia đình
tôi, ông là một vị ân nhân. Xem xong bệnh cho cha tôi, ông sang phòng bên
hút thuốc. Anh chúa tàu đang ê a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người
chết, ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này
chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay xuống bàn quát mọi người
im. Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng
cho một ông lão nghe cách trị bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn
bác sĩ, lại vỗ bàn, rồi quát lên bằng giọng tục tĩu:
- Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
- Ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo "phải", bác sĩ nói:
- Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu "rum" mãi,
thì đến phải tống anh đi nơi khác.
Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút soạt dao ra, lăm
lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá. Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng
vừa dõng dạc vừa bình tĩnh mà quả quyết:
- Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo cổ
trong phiên tòa đại hình sắp tới.
Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau một trời một vực.
Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ mà nghiêm nghị. Một đằng thì
nanh ác, hung hăng như con thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm
nhau. Rốt cục tên chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu bàu
trong cổ họng. Bác sĩ nói:
- Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh. Tôi không chỉ
làm thầy thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra
lệnh bắt và đuổi anh ra khỏi đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy
và những đêm sau, tên chúa tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2
HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha tôi không còn hy
vọng qua khỏi mùa đông. Tất cả công việc nhà đều đổ vào vai hai mẹ con
tôi, nên chúng tôi cũng không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy
nữa. Tháng giêng, một buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến tàu, sóng vỗ
nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên đầu núi, chiếu sáng mặt biển xa. Viên chúa
tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn đi ra biển, con dao dài lủng lẳng, ống nhòm
dưới nách, mũ hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi khuất sau tảng đá, tôi
còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức. Lúc bấy giờ tôi
đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về ăn. Chợt cửa mở, một người lạ
mặt bước vào. Mặt hắn xanh sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không
giống người đi biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn
bảo hắn muốn dùng "rum". Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo tôi đến gần. Tôi
dừng lại. Hắn gọi:
- Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
- Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không biết ai tên là
Bin, mà đây là bàn của người
khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
- Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! Ông ta có cái sẹo ở má trái, tính ông ta vui
đáo để, nhất là khi ông ấy say, phải không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông
Bin có nhà không?
- Đi vắng rồi.
- Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ ngồi lại, mắt
hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường, hắn gọi giật
ngay; tôi chưa kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi mất hồn. Khi tôi vào rồi,
hắn trở lại nhã nhặn, vỗ vai tôi, khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi
lắm:
- Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là con trai thì phải
biết nghe lời, nghe không con? À đây rồi, ông Bin đã về kia. Tao với mày
hãy vào buồng nấp sau cửa này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế
rồi hắn lôi tôi vào buồng nấp sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau lưng,
tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một chốc, tên chúa tàu bước vào, đóng sầm
cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
- Bin!
Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc. Viên chúa tàu
quay lại. Mặt hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn thất thần, người hắn bỗng chốc
trở nên già sọm. Người lạ lại nói:
- Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa tàu hổn hển
thở phào một tiếng:
- Hắc Cẩu!
- Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi!
Từ khi tôi mất hai ngón tay này, hai chúng ta đã gặp bao chuyện
trên đời!
Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt ngón ra. Viên chúa tàu
nói:
- Thôi! Anh đã tìm được tôi... Muốn gì nói đi!
- Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc
"rum", rồi chúng ta sẽ nói chuyện với nhau như những người bạn
cũ.
Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra và không được đứng nghe ở cửa.
Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ nghe tiếng rì rầm, một vài tiếng chửi
rủa của viên chúa tàu. Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp theo là tiếng dao
loảng xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu chạy ra, tên
chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng ròng. Đến cửa ngoài, viên
chúa tàu giơ dao chém bổ xuống nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng.
Hắc Cẩu thoát ra ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt
đứng ngơ ngác rồi vào nhà. Hắn gọi tôi:
- Dim! Đem "rum" đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng chạy đi lấy
rượu. Bỗng nghe tiếng đánh thịch trong phòng. Tôi vào thì đã thấy tên chúa
tàu nằm dài sóng sượt, bất tỉnh nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy
xuống. Chúng tôi nâng cao đầu hắn lên. Mẹ tôi kêu:
- Ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên kia!
Giữa lúc chúng tôi đang bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly
bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn xiết. Tôi vội nói:
- Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết cứng
thế này. Bác sĩ điềm nhiên bảo:
- Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy. Giọng ông trở nên ân cần ấm
cúng.
- Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết
chuyện này. Tôi sẽ cố chạy chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi lấy cái
thau đây.
Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn cánh tay áo hắn lên.
Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió", "Tai qua nạn khỏi", "Bin- bôn cóc
cần". Bác sĩ bảo:
- Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao. Nói thế rồi bác sĩ
cầm dao chích vào mạch máu hắn. Khi máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần
và kêu lên:
- Hắc Cẩu đâu rồi?
- Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của anh thôi! Bác sĩ
đáp.
- Anh uống quá nhiều "rum" nên mắc phải chứng kinh phong đấy. Và bây
giờ, ông Bin- bôn...
- Tên ấy không phải tên tôi Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
- Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển
mà tôi từng biết! Tôi chỉ khuyên anh một điều: một cốc rượu "rum" chưa can
gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo chén ngoài thì có ngày anh đi đứt. Hiểu
chưa? Thôi bây giờ anh cố gượng, tôi đưa anh lên buồng ngủ.
Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn
nằm thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
- Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn
để hắn phải nằm yên ít lâu. Như thế cũng yên cho hắn mà cũng
yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là hắn đi đời.
CHƯƠNG 3
CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít
thức ăn và thuốc
- sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
- Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi
tôi, chẳng ai thèm ngó đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử với cậu thế nào.
Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn xu đấy... à này, cậu cho tôi xin một cốc rượu
"rum" nào.
- Thầy thuốc đã dặn... Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi rầm
lên:
- Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào được bọn thủy
thủ chúng tôi. Tôi đã từng vào những chốn nước sôi lửa bỏng, đất nóng như
lửa than và động như sóng cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống "rum".
Không có rượu "rum", tôi còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang đểu
cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
- Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì không có một
giọt rượu. Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi điên lên bây giờ. Tôi đã thấy
lão Phơ-linh đứng ở xó kia. Tôi đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi
một cốc, nhanh lên, tôi sẽ cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy
hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột. Nhưng nghĩ đến cha đương bệnh nặng,
cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm lên, tôi bảo:
- Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không thèm ngửa tay lấy
một xu nào của ông cả. Tôi chỉ rót cho ông một cốc rượu thôi, không được
vòi thêm đấy!
Cốc rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
- Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi còn
phải nằm bao lâu không?
- Ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
- Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc
mà bọn nó sẽ gửi cái vết đen đến rồi!
Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường. Tôi
hỏi:
- Vết đen là cái gì?
- Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là
muốn đoạt lấy chiếc hòm của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó má, chỉ muốn
ăn cướp của người. Nếu chúng gửi vết đen đến, cậu cứ mượn ngựa... mượn
ngựa đến cái lão thầy thuốc... Cậu báo cho cái ông ấy biết là cứ rình ở đây,
sẽ tóm được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơlinh. Khi xưa tôi là phó thuyền của
lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết cái chỗ ấy. Hắn còn nói
huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể
chuyện cho bác sĩ Ly nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp
lại. Lòng thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên bẵng tên chúa
tàu và cũng không sợ hắn như trước nữa. Có điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã
xuống nhà ăn cơm và uống nhiều rượu "rum" hơn mọi bận. Sức hắn mỗi
ngày mỗi lụn dần, nhưng tính hung hãn vẫn như xưa. Ngay sau hôm đưa
đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt mù, tình thương
cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên đường cái một người đi lại. Tôi
đoán chắc là người mù, vì hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng
the xanh che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích. Hắn
dừng trước cửa quán, lên tiếng hỏi:
- Ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này là
đâu?
Lòng thương nhớ cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn
tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
- Này ông già, đây là quán "Đô đốc Bin-bâu".
- Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé... Cậu ơi! Cậu dắt hộ
lão với...
Không ngần ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng nói ngọt xớt ấy
liền bóp chặt tay tôi như kìm sắt. Tôi hoảng sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại
gần bảo nhỏ:
- Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
- Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ chế giễu:
- Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định phân trần, hắn đã
cướp lời:
- Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác, lạnh lùng và
gớm ghiếc như
tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe lời hắn. Tay tên
mù nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa hắn vào chỗ tên giặc già đương
say rượu lừ đừ. Tên chúa tàu thoạt thấy tên mù, hơi rượu "rum" bỗng bay
mất. Hắn tỉnh hẳn, trố mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn sức.
Tên mù nói:
- Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé này,
cầm lấy cổ tay trái ông Bin đưa lại gần tay phải tôi...
Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên chúa tàu một vật gì
giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay ra; thoắt một cái, hắn đã ra ngoài và
đến đường cái. Tôi nghe tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa tàu
mới hoàn hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
- Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng nữa... để lo liệu.
Nói xong, hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người hắn chới với, hắn đưa tay lên
kêu rú một tiếng rồi ngã vật xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không
kịp! Hắn đã chết rồi.
CHƯƠNG 4
CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai mẹ con tôi
đương lâm vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ của viên chúa tàu đã làm
chúng tôi sạt nghiệp, phần giặc cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy
khốn này, tôi chỉ biết nghĩ đến bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng
lại sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra việc gì, lòng tôi không nỡ. Cuối
cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu cứu. Chúng tôi ra đi trong
lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh buốt; cái xóm chỉ cách nhà tôi dăm trăm
mét, vậy mà mịt mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ con dừng
lại lắng nghe... Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu trong rừng, chẳng
nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa lúc lên đèn. Tôi không quên được
phút vui mừng khi trông thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có
người cứu giúp. Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng đảng
của hắn là mọi người rụt cổ. Rút cục chỉ có người chịu đi báo với ông Ly,
nhưng không ai chịu đến giữ quán cơm với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh
sợ là bệnh hay lây. Nhưng sợ quá cũng hóa liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo
không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất một số tiền nợ. Mẹ tôi
mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con dắt díu nhau trở về. Mặt trăng
mới mọc chiếu hồng lớp sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại,
trăng chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi lấy nến
đốt lên rồi hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên chúa tàu vẫn nằm ngửa
như cũ. Mẹ tôi bảo nhỏ:
- Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy.
Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa khóa trong mình hắn. Tôi đánh bạo quỳ
xuống... Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán
ngay là cái vết đen. Mặt bên kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết".
Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên vách. Mới có 6 giờ. Mẹ
tôi giục:
- Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang túi nọ, nhưng
tôi thất vọng. Mẹ tôi bảo:
- Có khi hắn treo ở cổ. Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc vào một đoạn
dây,
treo ngay ở cổ. Chúng tôi vội vã lên gác, vào thẳng gian phòng hắn ngủ, nơi
hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến. Chiếc hòm này cũng giống như trăm ngàn
chiếc hòm khác của bọn thủy thủ. Trên mặt hòm có khắc một chữ "B" bằng
sắt nung. Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và hơi nhựa. Ở ngăn trên
thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. Ở dưới, các thứ để lộn xộn: một cái
thước đo đường biển, vài cuộn thuốc lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một thoi
bạc, một đồng hồ quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài,
một cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ ốc. Nói chung
chẳng có vật gì quý giá. Ở dưới nữa, thấy có một cái áo tơi đi biển đã bạc
màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái áo ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải
sơn dầu hình như ở trong có gói giấy má gì và một cái túi vải; chạm đến túi
nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
- Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương thiện. Tao chỉ lấy đủ
số tiền nợ, không thèm lấy thêm một xu nhỏ... Này, cầm lấy cái túi... Mẹ tôi
vốc tiền trong túi của hắn, vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn
có đủ cả tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền Ghi-nê
Anh, và còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có ít, nhưng chỉ có thứ tiền
ấy mới tính nợ được, vì thế đếm tiền vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng
nghe tiếng gậy của thằng mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần.
Hắn gõ cửa quán mấy cái. Chúng tôi nghe tiếng vặn quả đấm, tiếng then cửa
lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên lặng... Lại nghe tiếng gậy lộc cộc
trên đường xa dần rồi mất hẳn. Tôi nói:
- Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi.
Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu lấy hơn số tiền nợ,
mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương giằng co nhau thì thốt nghe có
tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu
vừa nói:
- Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ.
Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa chạy ra ngoài. Sương mù tan
nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò. Chúng tôi bước nhanh. Chưa
được nửa đường, chúng tôi đã nghe thấy tiếng chân nhiều người đi lại; phía
trước có một ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người
xách đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
- Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi... Mẹ đuối sức rồi,
không bước được nữa.
May sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên gấp bội. Tôi xốc
nách, dìu mẹ tôi men theo bờ lạch, đến mãi dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một
tiếng rồi nằm vật ra. Chúng tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5
HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại nấp sau bụi,
nhìn lên con đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi xuống thì bảy tám tên giặc ồ
ạt chạy đến, tên cầm đèn đi đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù
đi giữa. Một lát, nghe tiếng hắn quát to:
- Phá cửa đi!
Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc
thúc và chửi rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
- Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
- Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc ầm nhà. Từ gác
trên một đứa thò đầu ra bảo:
- Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
- Có thấy cái ấy không?
- Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
- Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh kia!
- Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
- Thôi, chính mấy đứa
 









Các ý kiến mới nhất