-chu-nghia-tu-do-truyen-thong

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:19' 09-02-2026
Dung lượng: 933.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 08h:19' 09-02-2026
Dung lượng: 933.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
THÔNG TIN EBOOK
Tên sách: Chủ Nghĩa Tự Do Truyền Thống
Nguyên tác: Liberalism (1927) Liberalismus (bản tiếng Đức)
Tác giả: Ludwig von Mises
Người Dịch: Phạm Nguyên Trường; Đinh Tuấn Minh hiệu đính
Thể loại: Kinh tế chính trị
Nhà Xuất Bản Tri Thức © 08/2013
TVE Read Freely - Think Freedom
Thực hiện: Notrinos, Hanhdb
Hoàn thành: 12/2015
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
CHÀNG HIỆP SĨ CUỐI CÙNG CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THUẦN TÚY
Quá nhiều ý tưởng nặng ký trong tác phẩm để đời của Mises, có thể
trong những bài viết tới tôi sẽ đề cập sâu hơn, ở đây sẽ chỉ lướt qua như một
bài điểm sách nhanh. Chủ điểm bao quát toàn bộ tác phẩm là kiến tạo xã hội
tự do dựa trên chủ nghĩa tư bản thuần túy. Chủ Nghĩa Tư Bản (CNTB), một
từ đã bị lạm dụng quá nhiều bởi những kẻ đầu cơ chính trị nửa mùa như Joh
Kerry, Trump...
Theo ông Chủ Nghĩa Tư Bản là chìa khóa đem sự thịnh vượng tới cho tất
cả mọi người, dĩ nhiên kèm theo cả quyền tự do cá nhân mạnh mẽ nhất. Đây
cũng là điều nhiều người cố ý bỏ qua. Chủ nghĩa tư bản từ khi ra đời đến nay
luôn bị coi chỉ ủng hộ những kẻ giàu có. Sự nhầm tưởng vô cùng tai hại do
Marks đã reo mầm mống sau khi ngốn hết đống sách ở thư viện Anh
Quốc. Những nhà đại tư bản giàu có ở nước Mỹ hay trên thế giới có được
những khối tài sản khổng lồ là nhờ việc tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều cho
nhân loại chứ không phải đi bóc lột của người khác. Hơn thế, họ đang dùng
tài sản của mình để có những việc làm thiết thực cho sự phát triển của xã hội
chứ đâu chỉ giữ khư khư cho mình. Không có Gates, chúng ta chắc đang gẫy
tay tính tiền bằng bàn gẩy Trung Hoa anh hùng, hoặc không có chàng Mark
chúng ta cũng đang rít điếu cày, chém gió phần phật ngoài vỉa hè đầy bụi.
Trường phái ủng hộ thị trường tự do luôn có những vị trí quan trọng
trong chính phủ. Sự phân bổ nguồn lực theo các quy luật của thị trường được
tận dụng tối đa, các doanh nghiệp tư nhân có quyền cạnh tranh bình đẳng với
các ông lớn của chính phủ.
CNTB không hề phức tạp dù cho hầu hết mọi người đang cố phức tạp
hóa nó. Theo Mises đơn giản lắm: quyền sở hữu tư nhân với tư liệu sản xuất.
Đối nghịch hoàn toàn với sở hữu công cộng tư liệu sản xuất của Chủ Nghĩa
Xã Hội. Trong nhiều tác phẩm sau này Mises vẫn quyết liệt làm sáng rõ lập
luận này. Với tôi, Mises sẽ luôn là chàng hiệp sĩ cuối cùng của chủ nghĩa tư
bản thuần túy, người tiếp nối thành quả mà Adam Smith đã làm. Đoạn cuối
Mise viết:
CNTB không phải là bữa tiệc hoa đầy màu sắc, không cần nhạc nhẽo
hay biểu tượng, khẩu hiệu giăng đầy nào cả. Nó chỉ có lý lẽ, chỉ duy nhất
điều đó cũng đủ đưa nó đến vũ đài chiến thắng cuối cùng.
Bi - Happiness Project
Hà Nội 18-7-2016
Lời nhà xuất bản
Ludwig von Mises (1881-1973) là một trong những nhà kinh tế học và
chính trị học nổi bật nhất thế kỉ XX. Ông là người đứng đầu, đồng thời là
người củng cố và hệ thống Trường phái kinh tế học Áo. Các tác phẩm nổi
bật của ông gồm:
The Theory of Money and Credit (1912, 1953); Socialism: An Economic
and Socialogical Analysis (1922, 1932, 1951); Liberalismus (1927, 1962);
Bureaucracy (1944, 1962); Human Action: A Treaty on Economics (1949,
1963, 1966, 1996); Planning for Freedom (1952, 1962, 1974, 1980); Theory
and History: An Interpretation of Social and Economic Evolution (1957).
Bốn mươi năm sau khi von Mises qua đời, tác phẩm đầu tiên của ông –
cuốn Liberalismus (chủ nghĩa tự do truyền thống) – được xuất bản bằng
tiếng Việt, Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính. Tên gốc
của tác phẩm có nghĩa “Chủ nghĩa tự do” nhưng nhà xuất bản và dịch giả
thống nhất lựa chọn tựa đề “Chủ nghĩa tự do truyền thống” nhằm phản ánh
đúng tinh thần của von Mises và tránh nhầm lẫn về mặt thuật ngữ. Bởi khái
niệm “tự do” hay “chủ nghĩa tự do” hiện nay được sử dụng với rất nhiều
nghĩa khác nhau, và trong đó có không ít nghĩa đi ngược khái niệm vốn có
của nó, được Mises sử dụng. Qua bản dịch này chúng tôi mong muốn mở
con đường để tìm hiểu kĩ hơn về di sản của Mises. Mặc dù có nhiều ý kiến
phê phán các quan điểm của ông, song ảnh hưởng của Mises là rất rõ nét đối
với tư tưởng kinh tế-xã hội phương Tây thế kỉ XX và XXI.
Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc rằng đây là sách tham khảo, phản ánh
hoàn toàn quan điểm của tác giả, chủ yếu dành cho những người làm công
tác nghiên cứu. Để đảm bảo tính khách quan cũng như sự tôn trọng tính toàn
vẹn của tác phẩm, chúng tôi xin được giới thiệu đầy đủ bản dịch đến bạn
đọc. Rất mong bạn đọc cân nhắc khi tiếp nhận quan điểm của tác giả với tinh
thần phê phán cần thiết.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Lời giới thiệu năm 1985
Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” có xuất xứ từ tiếng Latin: “liber”, nghĩa là
“tự do”, khởi kì thuỷ là để nói đến triết lí tự do. Ở châu Âu, khi tác phẩm này
được chấp bút (1927), nó vẫn còn có nghĩa như thế, vì vậy độc giả của nó đã
hi vọng là sẽ tìm được ở đây lí giải về triết lí tự do truyền thống. Đáng tiếc là
trong mấy chục năm gần đây thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” đã có ý nghĩa hoàn
toàn khác. Thuật ngữ này đã bị những nhà triết học theo đường lối xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là ở Mĩ, sử dụng để nói về chủ nghĩa can thiệp của chính
phủ và những chương trình “nhà nước phúc lợi” của họ. Một trong rất nhiều
thí dụ có thể dẫn ra ở đây là ông cựu thượng nghị sĩ Mĩ, Joseph S. Clark con,
khi ông này còn làm thống đốc bang Philadelphia, đã mô tả lập trường “tự
do” của ông ta bằng những từ như sau:
Xin làm rõ ngay từ đầu và loại bỏ mọi sự mù mờ về mặt ngữ nghĩa,
người tự do được hiểu là người tin vào việc sự dụng mọi lực lượng của chính
phủ nhằm thúc đẩy sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội
trên bình diện địa phương, bang, quốc gia và quốc tế … Người tự do tin rằng
chính phủ là công cụ tốt cho việc phát triển xã hội, người muốn đưa những
nguyên tắc của đạo Thiên chúa giáo vào đời sống” (Tờ Atlantic, tháng 7 năm
1953, trang 27)
Quan điểm như thế về “chủ nghĩa tự do” đã giữ thế thượng phong vào
năm 1962, tức là năm tác phẩm này được dịch sang tiếng Anh, Mises tin
rằng dịch sát nghĩa tên gọi ban đầu của tác phẩm là Liberalismus có thể sẽ
gây ra hiểu lầm. Vì vậy mà ông đề nghị gọi bản tiếng Anh là Cộng đồng tự
do và thịnh vượng (The Free and Prosperous Commonwealth). Nhưng năm
sau ông quyết định không nhường thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” cho các triết
gia xã hội chủ nghĩa nữa. Trong lời giới thiệu cho lần xuất bản thứ hai và thứ
ba tác phẩm Hành vi của con người, tác phẩm quan trọng nhất của đời ông,
Mises viết rằng những người ủng hộ cho triết lí tự do cần phải giành lại
“thuật ngữ 'chủ nghĩa tự do' .. vì đơn giản là không có thuật ngữ nào thể hiện
được đúng đắn phong trào trí thức và chính trị vĩ đại đó”, một phong trào
dẫn đến nền văn minh hiện đại bằng cách thúc đẩy thị trường tự do, chính
phủ hạn chế và tự do cá nhân. Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” được dùng trong
tác phẩm này theo nghĩa đó.
Nhằm giúp những độc giả mới làm quen với các công trình của Ludwig
von Mises (1881-1973), xin nói thêm rằng ông đã là người phát ngôn nổi bật
của Trường phái kinh tế Áo. Trường phái này được gọi như thế vì Mises và
hai vị tiền bối nối tiếng của ông là Carl Menger và Eugen von Behm Bawerk
đều là những người sinh trưởng ở nước Áo. Hòn đá tảng của Trường phái
kinh tế Áo là lí thuyết về cách đánh giá chủ quan về giá trị hữu dụng cận
biên. Lí thuyết này chỉ ra rằng tất cả mọi hiện tượng kinh tế, cả đơn giản lẫn
phức tạp, đều là kết quả của những đánh giá mang tính chủ quan của từng cá
nhân. Mises giải thích và phân tích phương pháp luận, giá trị, hành vi, giá cả,
thị trường, tiền tệ, tập đoàn độc quyền, sự can thiệp của chính phủ, tăng
trưởng nóng và sụp đổ kinh tế… trên cơ sở của lí thuyết đánh giá chủ quan
đó và đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tiền tệ và tính toán
kinh tế.
Mises bảo vệ luận án tiến sĩ ở trường đại học tổng hợp Vienna vào năm
1906. Đề tài luận văn của ông, Lí thuyết về tiền tệ và tín dụng, được xuất bản
ở Đức vào năm 1912 và ở Anh vào năm 1934, là tác phẩm đầu tiên trong rất
nhiều công trình lí thuyết của ông về kinh tế học. Trong giai đoạn giữa hai
cuộc thế chiến, ngoài những tác phẩm và bài báo viết về kinh tế, trong đó có
tác phẩm tạo được tiếng vang như Chủ nghĩa xã hội, Mises còn là cộng sự
của Phòng thương mại Áo (cố vấn về kinh tế cho chính phủ Áo) và giảng
dạy bán thời gian tại trường tổng hợp Vienna. Ông còn hướng dẫn những
buổi thảo luận của các nhà nghiên cứu kinh tế, nhiều người trong số họ đã
trở thành những học giả có ảnh hưởng quốc tế. Năm 1926 ông thành lập
Viện nghiên cứu chu kì kinh tế ở Áo, Viện này vẫn còn cho đến ngày nay.
Ngay sau khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, Mises đã nhìn thấy
rằng nước Áo sẽ gặp rắc rối. Cho nên năm 1934 ông đã chuyển sang làm
việc cho Viện nghiên cứu quốc tế ở Thụy Sĩ. Ở đây, ông bắt đầu chấp bút tác
phẩm Nền kinh tế quốc dân (Nationaloekonomie-1940). Mặc dù ở châu Âu
xã hội chủ nghĩa quốc gia hồi đó chẳng có mấy người biết tiếng Đức đọc tác
phẩm này, nhưng cách lí giải những nguyên lí kinh tế sâu sắc của Mises đã
tìm được nhiều độc giả qua bản dịch tiếng Anh, và sau đó được Mises viết
lại cho độc giả Mĩ dưới nhan đề Hành vi của con người (Human Action xuất bản lần đầu năm 1949)
Nhằm chạy khỏi châu Âu lúc đó đã bị phát xít Hitler chiếm đóng, Mises
và vợ đã rời khỏi Thuỵ Sĩ và đến định cư ở Mĩ vào năm 1940. Tiếng tăm của
ông đã vang dội ở châu Âu, nhưng ở Mĩ thì chưa mấy người biết. Vì vậy mà
ông phải bắt đầu gần như từ con số không. Những tác phẩm bằng tiếng Anh
bắt đầu xuất hiện dưới ngòi bút của ông: Chính phủ toàn trí toàn năng và Bộ
máy quan liêu, cả hai đều được xuất bản vào năm 1947. Sau đó là tác phẩm
Hành vi của con người, một tác phẩm quan trọng nhất của cuộc đời ông,
được xuất bản vào năm 1949. Và những tác phẩm khác: Kế hoạch hoá vì tự
do (1952), Tâm lí bài tư bản (1952), Lí thuyết và lịch sử (1957), Những
nguyên lí căn bản của kinh tế học (1962), lần lượt xuất hiện. Tất cả đều là
những tác phẩm cực kì quan trọng về lí thuyết kinh tế.
Năm 1947 Mises giúp thành lập hội Mont Pelerin Society. Ông giảng
dạy tại nhiều trường đại học Mĩ và Mĩ Latin và tiến hành những buổi hội
thảo về kinh tế học tại trường đại học tổng hợp New York trong suốt 24
năm. Ông còn là cố vấn cho Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia và Quĩ giáo
dục kinh tế.
Mises nhận được nhiều danh hiệu như: tiến sĩ danh dự của trường các
Grove City College (1957), đại học tổng hợp New York (1963),và đại học
tổng hợp Freiburg ở Đức (1964). Thành tựu của ông được trường học cũ, tức
trường đại học tổng hợp Vienna, công nhận và theo truyền thống châu Âu,
trường này đã kỉ niệm lần thứ 50 ngày ông nhận bằng tiến sĩ và “tái” cấp
bằng cho ông. Năm 1962, đến lượt chính phủ Áo vinh danh ông. Hiệp hội
các nhà kinh tế học Mĩ bầu ông làm hội viên danh dự vào năm 1969.
Ảnh hưởng của Mises vẫn tiếp tục mở rộng. F. A. Hayek, người học trò
nổi tiếng nhất của ông từ những ngày ông còn giảng dạy ở châu Âu, cũng là
người từng được giải Nobel về kinh tế học, viết: “Ảnh hưởng của Mises đã
vượt qua khuôn khổ cá nhân .... Ngọn lửa mà ông thắp lên đã trở thành ngọn
đuốc soi đường cho một phong trào mới, một phong trào ngày càng có thêm
sức mạnh”. Còn Giáo sư Israel Kirzner của trường đại học tổng hợp New
York, một trong những người học trò nổi tiếng nhất của ông ở Mĩ, thì mô tả
ảnh hưởng của ông đối với sinh viên hiện nay như sau: “Sự quan tâm đầy
nhiệt tình và hăng hái đang tái xuất hiện đối với trường phái Áo mà ta chứng
kiến hiện nay có đóng góp mang tính quyết định của Mises”.
Mises là một lí thuyết gia sắc bén và rất thận trọng, nhưng ông không
phải là lí thuyết gia ngồi trong tháp ngà. Được dẫn dắt bởi lí luận khoa học
rằng xã hội tự do với nền kinh tế thị trường là con đường duy nhất đưa đến
sự hài hoà và hoà bình cả trong nước lẫn trên trường quốc tế, Mises cảm thấy
trách nhiệm phải áp dụng những lí thuyết mà ông trình bày vào lĩnh vực
chính sách của chính phủ. Trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do, Mises không chỉ
giải thích một cách ngắn gọn nhiều hiện tượng kinh tế quan trọng mà còn
trình bày một cách rõ ràng quan điểm của ông về chính phủ và vai trò, tuy
hạn chế nhưng vô cùng quan trọng, của chính phủ trong việc bảo đảm sự hợp
tác của xã hội, chỉ có như thế thì thị trường tự do mới có thể hoạt động được.
Quan điểm của Mises vẫn rất mới mẻ và hiện đại và độc giả sẽ thấy rằng
ngày hôm nay lí giải của ông vẫn còn nguyên giá trị.
Thông điệp của Mises: tư tưởng cai trị thế giới, là điệp khúc được nhắc
đi nhắc lại trong tất cả các tác phẩm của ông. Nhưng tư tưởng này được thể
hiện rõ nhất trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do. “Kết quả cuối cùng của cuộc
đấu tranh”, giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa toàn trị, “sẽ không được giải
quyết bằng vũ lực mà bằng tư tưởng. Chính tư tưởng đưa con người vào các
nhóm đấu tranh và đặt vũ khí vào tay họ, tư tưởng quyết định vũ khí sẽ được
dùng để chống lại ai và vì ai. Cuối cùng, chính tư tưởng chứ không phải vũ
khí sẽ quyết định kết quả”, ông đã viết như thế vào năm 1927.
Trên thực tế, chính hi vọng giữ cho thế giới không tiếp tục lao vào hỗn
loạn và xung đột đã thuyết phục người ta từ bỏ chủ nghĩa can thiệp của chính
phủ và chấp nhận chính sách tự do.
Bettina Bien Greaves
Quỹ Giáo dục Kinh Tế, tháng 8 năm 1985.
Lời giới thiệu bản tiếng Anh
Trật tự xã hội hình thành từ triết lí của thời Khai Sáng khẳng định vai trò
tối thượng của người dân “thường”. Trong vai người tiêu dùng, người dân
bình thường trở thành người đưa ra quyết định cuối cùng về việc cái gì sẽ
được sản xuất, với số lượng là bao nhiêu, chất lượng như thế nào, ai sản
xuất, sản xuất thế nào, sản xuất ở đâu; trong vai người đi bỏ phiếu, người
dân bình thường có toàn quyền quyết định đường lối của chính sách quốc
gia. Trong xã hội tiền tư bản “ông trùm” là những kẻ có đủ sức buộc những
người yếu hơn phải qui phục. Cái cơ chế bị nhiều người chỉ trích của thị
trường tự do chỉ để ngỏ duy nhất một con đường dẫn tới thịnh vượng, đấy là
phục vụ người tiêu dùng một cách tốt nhất và rẻ nhất có thể. Trong lĩnh vực
công việc quốc gia, hệ thống chính phủ đại diện là hệ thống phù hợp nhất với
“nền dân chủ” như thế của thị trường tự do. Sự vĩ đại của giai đoạn giữa
những cuộc chiến tranh của Napoleon và Chiến tranh thế giới thứ nhất chính
là lí tưởng xã hội: tự do buôn bán trong thế giới của những dân tộc hoà bình,
một nền tự do mà những người kiệt xuất nhất đang đấu tranh để biến nó
thành hiện thực. Đấy là thời đại mà đời sống của người dân được cải thiện
với tốc độ chưa từng có. Đấy là thời đại của chủ nghĩa tự do.
Hiện nay người ta gần như đã quên hết các nguyên tắc của chủ nghĩa tự
do thế kỉ XIX rồi. Ở châu Âu lục địa chỉ còn vài người nhớ mà thôi. Ở nước
Anh, thuật ngữ “tự do” được đa số người sử dụng nhằm ám chỉ cái cương
lĩnh mà thực ra chỉ khác chủ nghĩa toàn trị của những người xã hội chủ nghĩa
ở những tiểu tiết. Hiện nay ở Mĩ, từ “tự do” lại được dùng để chỉ một tập hợp
các ý tưởng và định đề chính trị trái ngược hẳn với cách hiểu về chủ nghĩa tự
do của các thế hệ tiền bối. Người tự do kiểu Mĩ là người ủng hộ chính phủ
toàn trí toàn năng, là kẻ thù không đội trời chung của tự do kinh doanh và là
kẻ ủng hộ cho kế hoạch hoá mọi mặt của đời sống, tức là ủng hộ chủ nghĩa
xã hội. Những người “tự do” này vội vã nhấn mạnh rằng họ phản đối chính
sách độc tài của nước Nga không phải là vì tính chất xã hội chủ nghĩa hay
cộng sản chủ nghĩa của những chính sách đó mà vì chúng có xu hướng đế
quốc chủ nghĩa. Tất cả các biện pháp nhằm tịch thu tài sản của những người
giàu có và hạn chế quyền của những người có tài sản đều được coi là tự do
và tiến bộ cả. Các cơ quan của chính phủ nắm được quyền lực hầu như
không hạn chế, toà án không có quyền phán xét quyết định của họ. Một vài
công dân trung thực, những người dám phê phán xu hướng độc tài, bị coi là
những kẻ cực đoan, phản động, bảo hoàng về kinh tế và phát xít. Người ta
cho rằng đất nước tự do không thể dung thứ hoạt động chính trị của những
“kẻ thù xã hội” như thế.
Đáng ngạc nhiên là ở đây người ta coi những quan điểm này là hoàn toàn
của Mĩ và là sự tiếp tục của các nguyên tắc và triết lí của những người định
cư đầu tiên (Pilgrim Father) ở Mĩ vào năm 1620, của những người đặt bút kí
vào bản Tuyên ngôn độc lập, những tác giả của bản Hiến pháp và tờ
Federalist. Chỉ một ít người biết rằng những chính sách được coi là tiến bộ
này có xuất xứ từ châu Âu và trong thế kỉ XIX người đại diện tiêu biểu nhất
của trường phái này chính là Bismarck, chẳng có người Mĩ nào lại coi chính
sách của ông ta là tiến bộ và tự do hết. Chính sách Sozialpolitik của
Bismarck xuất hiện vào năm 1881, tức là hơn nửa thế kỉ trước khi bản sao
của nó là New Deal của tống thống F.D. Roosevelt được thi hành ở Mĩ. Theo
sau sự vùng dậy của Đế chế Đức, hầu hết các nước phát triển, tất cả các nước
công nghiệp châu Âu, nơi nhiều nơi ít, đều áp dụng hệ thống làm như là
mang lại lợi ích cho quần chúng bằng cách tước đoạt quyền lợi của thiểu số
những kẻ “cá nhân chủ nghĩa thâm căn cố đế”. Thế hệ những người đến tuổi
bầu cử vào giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất coi việc dựa
vào nhà nước là đương nhiên và khinh thường tự do, cho rằng đấy là “định
kiến mang tính tư sản”.
Ba mươi lăm năm trước, tôi đã từng cố gắng viết một tác phẩm ngắn,
trình bày tóm tắt những tư tưởng và nguyên tắc của môn triết lí xã hội từng
có tên là Chủ nghĩa tự do. Tôi không nghĩ rằng cuốn sách của mình có thể
ngăn chặn được những thảm hoạ mà chính sách của các nước châu Âu đang
đưa tới. Ước muốn duy nhất của tôi là tạo cơ hội cho một nhóm nhỏ những
người ưu thời mẫn thế tìm hiểu mục đích của chủ nghĩa tự do truyền thống
và những thành tựu của nó, và bằng cách đó, chuẩn bị cơ sở cho việc tái lập
tinh thần tự do sau vụ sụp đổ đang đến gần.
Ngày 28 tháng 10 năm 1951, Giáo sư J. P. Hamilius từ Luxembourg hỏi
nhà xuất bản Gustav Fischeri ở Jena (thuộc lãnh thổ Đức nhưng do quân đội
Liên Xô chiếm đóng) để mua một cuốn Chủ nghĩa tự do. Ngày 14 tháng 11
năm 1951 nhà xuất bản trả lời rằng không còn cuốn nào và nói thêm: “Theo
quyết định của chính quyền, tất cả các bản in cuốn sách này đều đã bị tiêu
huỷ”. Bức thư không nói chính quyền ở đây là nước Đức quốc xã hay nhà
nước “dân chủ” Đông Đức.
Trong những năm kể từ ngày xuất bản tác phẩm Chủ nghĩa tự do tôi đã
viết rất nhiều về những vấn đề được nói tới trong tác phẩm này. Tôi đã
nghiên cứu nhiều vấn đề mà lúc đó tôi không thể trình bày trong tác phẩm
này vì không muốn làm cho độc giả chán nản vì quá dài. Mặc khác, lúc đó
tôi đã xem xét một số vấn đề mà hôm nay thấy là không còn quan trọng nữa.
Tuy nhiên, chỉ có thể hiểu và đánh giá đúng cách xem xét nhiều vấn đề thuộc
về chính sách trong hoàn cảnh kinh tế và chính trị khi tác phẩm này được
chấp bút mà thôi.
Tôi không sửa chữa bất kì điều gì và không can thiệp vào quá trình dịch
do tiến sĩ Ralph Raico thực hiện cũng như quá trình biên tập do ông Arthur
Goddard tiến hành. Tôi xin cám ơn hai nhà khoa học này vì công sức họ đã
bỏ ra để tác phẩm có thể đến tay bạn đọc rộng rãi bằng Anh ngữ.
Ludwig von Mises, New York, tháng 4 năm 1962.
Lời tựa
Tôi cho rằng cuốn sách tương đối mỏng này có tầm quan trọng gấp nhiều
lần sức tưởng tượng nếu chỉ nhìn vào độ dày và ngôn ngữ khiêm nhường của
nó. Đây là tác phẩm bàn về xã hội tự do, bàn về điều mà hiện nay có thể
được gọi là “chính sách” đối nội và đối ngoại cho xã hội như thế; và đặc biệt
là bàn về những trở ngại và khó khăn, cả thực tế lẫn tưởng tượng, trên con
đường thiết lập và giữ gìn hình thức tổ chức xã hội như thế.
Trong khi tất cả những vấn đề này đều không có gì đặc biệt thì điều đáng
ngạc nhiên là hầu như tất cả những người ủng hộ cho bất kì một hình thức tổ
chức kinh tế thay thế nào khác đều không đưa ra được cách lí giải tương tự
như thế về những đề nghị của họ. Ngay cả hiện nay, khi càng ngày càng có
nhiều người tham gia vào việc cung cấp cho chúng ta những lời phê bình rất
chi tiết về chủ nghĩa tư bản và những lời tiên đoán về sự cáo chung không
thể nào tránh được của nó thì họ lại tỏ ra kín tiếng đến khó hiểu trong việc
“xử lí” những mâu thuẫn hoặc những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình
vận hành cái hệ thống mà họ bảo vệ hoặc tiên đoán.
Tuy nhiên, dễ dàng bỏ qua thái độ phớt lờ như thế vì rằng người ta
thường gán trách nhiệm cho những người đáng ra là không phải chịu. Lên án
Marx, đây là thí dụ dễ gặp nhất, rằng trong Tư bản luận, ông ta không chỉ ra
được cách thức hoạt động cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa, là việc làm
không thể chấp nhận được; vì tác phẩm này nhằm đúng mục tiêu mà nó được
trù liệu: nghiên cứu với tinh thần phê phán hoạt động của chủ nghĩa tư bản
như Marx mường tượng. Lên án Mises vì trong tác phẩm Chủ nghĩa xã hội
ông đã không thảo luận những nguyên tắc của hệ thống tự do cạnh tranh
cũng là việc làm vô nghĩa như thế. Điều quan trọng là Mises đã dành hẳn
một cuốn sách để thảo luận bài toán này trong khi Marx thì không bao giờ
làm như thế. Đấy là tác phẩm mà Marx không thể viết, còn những đồ đệ của
ông cũng như những người phê phán chủ nghĩa tự do thì không thèm viết.
Nhưng giá trị thực sự của tác phẩm này không nằm ở ý nghĩa hạn hẹp và
còn nhiều tranh cãi đó, nó có tính chất xây dựng và quan trọng hơn nhiều.
Dù ngắn gọn, nhưng tác phẩm cố gắng giải đáp hàng loạt vấn đề, đánh tan
những mối ngờ vực và lầm lẫn mà nhiều người gặp phải khi họ tìm cách giải
quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, tình cảm còn nhiều tranh cãi. Ưu điểm
đặc biệt của nó là đối với mọi vấn đề được bàn thảo Mises đều đưa ra được
những nhận thức thấu triệt và những quan điểm để người ta có thể lựa chọn,
và đấy là điều rất bổ ích.
Vì chắc chắn là độc giả muốn tìm hiểu ngay những vấn đề đó cho nên tôi
sẽ không đưa những nhận xét riêng của cá nhân mình, ngoại trừ một vài suy
nghĩ bắt buộc phải có. Thay vào đó chúng ta sẽ lựa ra những câu hỏi và
những ý kiến sẽ nảy ra trong tâm trí độc giả khi họ xem xét những vấn đề
còn gây tranh cãi được Mises nói đến ở đây và đáng được người đọc chú ý.
Để tiện cho việc theo dõi, xin liệt kê chúng theo trình tự như được trình bày
trong tác phẩm.
1. Hệ thống thị trường tự do đã tồn tại trong một thời gian dài, nhưng
cũng đã chứng tỏ rằng đây là hệ thống kém hiệu quả.
2. Chủ nghĩa tự do bị phê phán vì chỉ tập trung chú ý vào ước muốn gia
tăng sản xuất và thoả mãn nhu cầu vật chất và bỏ qua những đòi hỏi về mặt
tinh thần của người dân.
3. Vì không phải lúc nào người ta cũng hành động một cách hoàn toàn
hợp lí, có lẽ đối với một số vấn đề nên tin vào trực giác, xung lực và cái gọi
là “tâm thức” thì sẽ tốt hơn là lí luận chặt chẽ?
4. Không thể phủ nhận sự kiện là chủ nghĩa tư bản thực chất là hệ thống
có lợi cho người giàu và những người có tài sản và bất lợi cho những tầng
lớp khác.
5. Tại sao lại phải bảo vệ cái hệ thống xã hội không tạo điều kiện cho
mỗi người th
Tên sách: Chủ Nghĩa Tự Do Truyền Thống
Nguyên tác: Liberalism (1927) Liberalismus (bản tiếng Đức)
Tác giả: Ludwig von Mises
Người Dịch: Phạm Nguyên Trường; Đinh Tuấn Minh hiệu đính
Thể loại: Kinh tế chính trị
Nhà Xuất Bản Tri Thức © 08/2013
TVE Read Freely - Think Freedom
Thực hiện: Notrinos, Hanhdb
Hoàn thành: 12/2015
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
CHÀNG HIỆP SĨ CUỐI CÙNG CỦA
CHỦ NGHĨA TƯ BẢN THUẦN TÚY
Quá nhiều ý tưởng nặng ký trong tác phẩm để đời của Mises, có thể
trong những bài viết tới tôi sẽ đề cập sâu hơn, ở đây sẽ chỉ lướt qua như một
bài điểm sách nhanh. Chủ điểm bao quát toàn bộ tác phẩm là kiến tạo xã hội
tự do dựa trên chủ nghĩa tư bản thuần túy. Chủ Nghĩa Tư Bản (CNTB), một
từ đã bị lạm dụng quá nhiều bởi những kẻ đầu cơ chính trị nửa mùa như Joh
Kerry, Trump...
Theo ông Chủ Nghĩa Tư Bản là chìa khóa đem sự thịnh vượng tới cho tất
cả mọi người, dĩ nhiên kèm theo cả quyền tự do cá nhân mạnh mẽ nhất. Đây
cũng là điều nhiều người cố ý bỏ qua. Chủ nghĩa tư bản từ khi ra đời đến nay
luôn bị coi chỉ ủng hộ những kẻ giàu có. Sự nhầm tưởng vô cùng tai hại do
Marks đã reo mầm mống sau khi ngốn hết đống sách ở thư viện Anh
Quốc. Những nhà đại tư bản giàu có ở nước Mỹ hay trên thế giới có được
những khối tài sản khổng lồ là nhờ việc tạo ra giá trị lớn hơn rất nhiều cho
nhân loại chứ không phải đi bóc lột của người khác. Hơn thế, họ đang dùng
tài sản của mình để có những việc làm thiết thực cho sự phát triển của xã hội
chứ đâu chỉ giữ khư khư cho mình. Không có Gates, chúng ta chắc đang gẫy
tay tính tiền bằng bàn gẩy Trung Hoa anh hùng, hoặc không có chàng Mark
chúng ta cũng đang rít điếu cày, chém gió phần phật ngoài vỉa hè đầy bụi.
Trường phái ủng hộ thị trường tự do luôn có những vị trí quan trọng
trong chính phủ. Sự phân bổ nguồn lực theo các quy luật của thị trường được
tận dụng tối đa, các doanh nghiệp tư nhân có quyền cạnh tranh bình đẳng với
các ông lớn của chính phủ.
CNTB không hề phức tạp dù cho hầu hết mọi người đang cố phức tạp
hóa nó. Theo Mises đơn giản lắm: quyền sở hữu tư nhân với tư liệu sản xuất.
Đối nghịch hoàn toàn với sở hữu công cộng tư liệu sản xuất của Chủ Nghĩa
Xã Hội. Trong nhiều tác phẩm sau này Mises vẫn quyết liệt làm sáng rõ lập
luận này. Với tôi, Mises sẽ luôn là chàng hiệp sĩ cuối cùng của chủ nghĩa tư
bản thuần túy, người tiếp nối thành quả mà Adam Smith đã làm. Đoạn cuối
Mise viết:
CNTB không phải là bữa tiệc hoa đầy màu sắc, không cần nhạc nhẽo
hay biểu tượng, khẩu hiệu giăng đầy nào cả. Nó chỉ có lý lẽ, chỉ duy nhất
điều đó cũng đủ đưa nó đến vũ đài chiến thắng cuối cùng.
Bi - Happiness Project
Hà Nội 18-7-2016
Lời nhà xuất bản
Ludwig von Mises (1881-1973) là một trong những nhà kinh tế học và
chính trị học nổi bật nhất thế kỉ XX. Ông là người đứng đầu, đồng thời là
người củng cố và hệ thống Trường phái kinh tế học Áo. Các tác phẩm nổi
bật của ông gồm:
The Theory of Money and Credit (1912, 1953); Socialism: An Economic
and Socialogical Analysis (1922, 1932, 1951); Liberalismus (1927, 1962);
Bureaucracy (1944, 1962); Human Action: A Treaty on Economics (1949,
1963, 1966, 1996); Planning for Freedom (1952, 1962, 1974, 1980); Theory
and History: An Interpretation of Social and Economic Evolution (1957).
Bốn mươi năm sau khi von Mises qua đời, tác phẩm đầu tiên của ông –
cuốn Liberalismus (chủ nghĩa tự do truyền thống) – được xuất bản bằng
tiếng Việt, Phạm Nguyên Trường dịch, Đinh Tuấn Minh hiệu đính. Tên gốc
của tác phẩm có nghĩa “Chủ nghĩa tự do” nhưng nhà xuất bản và dịch giả
thống nhất lựa chọn tựa đề “Chủ nghĩa tự do truyền thống” nhằm phản ánh
đúng tinh thần của von Mises và tránh nhầm lẫn về mặt thuật ngữ. Bởi khái
niệm “tự do” hay “chủ nghĩa tự do” hiện nay được sử dụng với rất nhiều
nghĩa khác nhau, và trong đó có không ít nghĩa đi ngược khái niệm vốn có
của nó, được Mises sử dụng. Qua bản dịch này chúng tôi mong muốn mở
con đường để tìm hiểu kĩ hơn về di sản của Mises. Mặc dù có nhiều ý kiến
phê phán các quan điểm của ông, song ảnh hưởng của Mises là rất rõ nét đối
với tư tưởng kinh tế-xã hội phương Tây thế kỉ XX và XXI.
Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc rằng đây là sách tham khảo, phản ánh
hoàn toàn quan điểm của tác giả, chủ yếu dành cho những người làm công
tác nghiên cứu. Để đảm bảo tính khách quan cũng như sự tôn trọng tính toàn
vẹn của tác phẩm, chúng tôi xin được giới thiệu đầy đủ bản dịch đến bạn
đọc. Rất mong bạn đọc cân nhắc khi tiếp nhận quan điểm của tác giả với tinh
thần phê phán cần thiết.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.
Lời giới thiệu năm 1985
Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” có xuất xứ từ tiếng Latin: “liber”, nghĩa là
“tự do”, khởi kì thuỷ là để nói đến triết lí tự do. Ở châu Âu, khi tác phẩm này
được chấp bút (1927), nó vẫn còn có nghĩa như thế, vì vậy độc giả của nó đã
hi vọng là sẽ tìm được ở đây lí giải về triết lí tự do truyền thống. Đáng tiếc là
trong mấy chục năm gần đây thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” đã có ý nghĩa hoàn
toàn khác. Thuật ngữ này đã bị những nhà triết học theo đường lối xã hội
chủ nghĩa, đặc biệt là ở Mĩ, sử dụng để nói về chủ nghĩa can thiệp của chính
phủ và những chương trình “nhà nước phúc lợi” của họ. Một trong rất nhiều
thí dụ có thể dẫn ra ở đây là ông cựu thượng nghị sĩ Mĩ, Joseph S. Clark con,
khi ông này còn làm thống đốc bang Philadelphia, đã mô tả lập trường “tự
do” của ông ta bằng những từ như sau:
Xin làm rõ ngay từ đầu và loại bỏ mọi sự mù mờ về mặt ngữ nghĩa,
người tự do được hiểu là người tin vào việc sự dụng mọi lực lượng của chính
phủ nhằm thúc đẩy sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội
trên bình diện địa phương, bang, quốc gia và quốc tế … Người tự do tin rằng
chính phủ là công cụ tốt cho việc phát triển xã hội, người muốn đưa những
nguyên tắc của đạo Thiên chúa giáo vào đời sống” (Tờ Atlantic, tháng 7 năm
1953, trang 27)
Quan điểm như thế về “chủ nghĩa tự do” đã giữ thế thượng phong vào
năm 1962, tức là năm tác phẩm này được dịch sang tiếng Anh, Mises tin
rằng dịch sát nghĩa tên gọi ban đầu của tác phẩm là Liberalismus có thể sẽ
gây ra hiểu lầm. Vì vậy mà ông đề nghị gọi bản tiếng Anh là Cộng đồng tự
do và thịnh vượng (The Free and Prosperous Commonwealth). Nhưng năm
sau ông quyết định không nhường thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” cho các triết
gia xã hội chủ nghĩa nữa. Trong lời giới thiệu cho lần xuất bản thứ hai và thứ
ba tác phẩm Hành vi của con người, tác phẩm quan trọng nhất của đời ông,
Mises viết rằng những người ủng hộ cho triết lí tự do cần phải giành lại
“thuật ngữ 'chủ nghĩa tự do' .. vì đơn giản là không có thuật ngữ nào thể hiện
được đúng đắn phong trào trí thức và chính trị vĩ đại đó”, một phong trào
dẫn đến nền văn minh hiện đại bằng cách thúc đẩy thị trường tự do, chính
phủ hạn chế và tự do cá nhân. Thuật ngữ “chủ nghĩa tự do” được dùng trong
tác phẩm này theo nghĩa đó.
Nhằm giúp những độc giả mới làm quen với các công trình của Ludwig
von Mises (1881-1973), xin nói thêm rằng ông đã là người phát ngôn nổi bật
của Trường phái kinh tế Áo. Trường phái này được gọi như thế vì Mises và
hai vị tiền bối nối tiếng của ông là Carl Menger và Eugen von Behm Bawerk
đều là những người sinh trưởng ở nước Áo. Hòn đá tảng của Trường phái
kinh tế Áo là lí thuyết về cách đánh giá chủ quan về giá trị hữu dụng cận
biên. Lí thuyết này chỉ ra rằng tất cả mọi hiện tượng kinh tế, cả đơn giản lẫn
phức tạp, đều là kết quả của những đánh giá mang tính chủ quan của từng cá
nhân. Mises giải thích và phân tích phương pháp luận, giá trị, hành vi, giá cả,
thị trường, tiền tệ, tập đoàn độc quyền, sự can thiệp của chính phủ, tăng
trưởng nóng và sụp đổ kinh tế… trên cơ sở của lí thuyết đánh giá chủ quan
đó và đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực tiền tệ và tính toán
kinh tế.
Mises bảo vệ luận án tiến sĩ ở trường đại học tổng hợp Vienna vào năm
1906. Đề tài luận văn của ông, Lí thuyết về tiền tệ và tín dụng, được xuất bản
ở Đức vào năm 1912 và ở Anh vào năm 1934, là tác phẩm đầu tiên trong rất
nhiều công trình lí thuyết của ông về kinh tế học. Trong giai đoạn giữa hai
cuộc thế chiến, ngoài những tác phẩm và bài báo viết về kinh tế, trong đó có
tác phẩm tạo được tiếng vang như Chủ nghĩa xã hội, Mises còn là cộng sự
của Phòng thương mại Áo (cố vấn về kinh tế cho chính phủ Áo) và giảng
dạy bán thời gian tại trường tổng hợp Vienna. Ông còn hướng dẫn những
buổi thảo luận của các nhà nghiên cứu kinh tế, nhiều người trong số họ đã
trở thành những học giả có ảnh hưởng quốc tế. Năm 1926 ông thành lập
Viện nghiên cứu chu kì kinh tế ở Áo, Viện này vẫn còn cho đến ngày nay.
Ngay sau khi Hitler giành được chính quyền ở Đức, Mises đã nhìn thấy
rằng nước Áo sẽ gặp rắc rối. Cho nên năm 1934 ông đã chuyển sang làm
việc cho Viện nghiên cứu quốc tế ở Thụy Sĩ. Ở đây, ông bắt đầu chấp bút tác
phẩm Nền kinh tế quốc dân (Nationaloekonomie-1940). Mặc dù ở châu Âu
xã hội chủ nghĩa quốc gia hồi đó chẳng có mấy người biết tiếng Đức đọc tác
phẩm này, nhưng cách lí giải những nguyên lí kinh tế sâu sắc của Mises đã
tìm được nhiều độc giả qua bản dịch tiếng Anh, và sau đó được Mises viết
lại cho độc giả Mĩ dưới nhan đề Hành vi của con người (Human Action xuất bản lần đầu năm 1949)
Nhằm chạy khỏi châu Âu lúc đó đã bị phát xít Hitler chiếm đóng, Mises
và vợ đã rời khỏi Thuỵ Sĩ và đến định cư ở Mĩ vào năm 1940. Tiếng tăm của
ông đã vang dội ở châu Âu, nhưng ở Mĩ thì chưa mấy người biết. Vì vậy mà
ông phải bắt đầu gần như từ con số không. Những tác phẩm bằng tiếng Anh
bắt đầu xuất hiện dưới ngòi bút của ông: Chính phủ toàn trí toàn năng và Bộ
máy quan liêu, cả hai đều được xuất bản vào năm 1947. Sau đó là tác phẩm
Hành vi của con người, một tác phẩm quan trọng nhất của cuộc đời ông,
được xuất bản vào năm 1949. Và những tác phẩm khác: Kế hoạch hoá vì tự
do (1952), Tâm lí bài tư bản (1952), Lí thuyết và lịch sử (1957), Những
nguyên lí căn bản của kinh tế học (1962), lần lượt xuất hiện. Tất cả đều là
những tác phẩm cực kì quan trọng về lí thuyết kinh tế.
Năm 1947 Mises giúp thành lập hội Mont Pelerin Society. Ông giảng
dạy tại nhiều trường đại học Mĩ và Mĩ Latin và tiến hành những buổi hội
thảo về kinh tế học tại trường đại học tổng hợp New York trong suốt 24
năm. Ông còn là cố vấn cho Hiệp hội các nhà sản xuất quốc gia và Quĩ giáo
dục kinh tế.
Mises nhận được nhiều danh hiệu như: tiến sĩ danh dự của trường các
Grove City College (1957), đại học tổng hợp New York (1963),và đại học
tổng hợp Freiburg ở Đức (1964). Thành tựu của ông được trường học cũ, tức
trường đại học tổng hợp Vienna, công nhận và theo truyền thống châu Âu,
trường này đã kỉ niệm lần thứ 50 ngày ông nhận bằng tiến sĩ và “tái” cấp
bằng cho ông. Năm 1962, đến lượt chính phủ Áo vinh danh ông. Hiệp hội
các nhà kinh tế học Mĩ bầu ông làm hội viên danh dự vào năm 1969.
Ảnh hưởng của Mises vẫn tiếp tục mở rộng. F. A. Hayek, người học trò
nổi tiếng nhất của ông từ những ngày ông còn giảng dạy ở châu Âu, cũng là
người từng được giải Nobel về kinh tế học, viết: “Ảnh hưởng của Mises đã
vượt qua khuôn khổ cá nhân .... Ngọn lửa mà ông thắp lên đã trở thành ngọn
đuốc soi đường cho một phong trào mới, một phong trào ngày càng có thêm
sức mạnh”. Còn Giáo sư Israel Kirzner của trường đại học tổng hợp New
York, một trong những người học trò nổi tiếng nhất của ông ở Mĩ, thì mô tả
ảnh hưởng của ông đối với sinh viên hiện nay như sau: “Sự quan tâm đầy
nhiệt tình và hăng hái đang tái xuất hiện đối với trường phái Áo mà ta chứng
kiến hiện nay có đóng góp mang tính quyết định của Mises”.
Mises là một lí thuyết gia sắc bén và rất thận trọng, nhưng ông không
phải là lí thuyết gia ngồi trong tháp ngà. Được dẫn dắt bởi lí luận khoa học
rằng xã hội tự do với nền kinh tế thị trường là con đường duy nhất đưa đến
sự hài hoà và hoà bình cả trong nước lẫn trên trường quốc tế, Mises cảm thấy
trách nhiệm phải áp dụng những lí thuyết mà ông trình bày vào lĩnh vực
chính sách của chính phủ. Trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do, Mises không chỉ
giải thích một cách ngắn gọn nhiều hiện tượng kinh tế quan trọng mà còn
trình bày một cách rõ ràng quan điểm của ông về chính phủ và vai trò, tuy
hạn chế nhưng vô cùng quan trọng, của chính phủ trong việc bảo đảm sự hợp
tác của xã hội, chỉ có như thế thì thị trường tự do mới có thể hoạt động được.
Quan điểm của Mises vẫn rất mới mẻ và hiện đại và độc giả sẽ thấy rằng
ngày hôm nay lí giải của ông vẫn còn nguyên giá trị.
Thông điệp của Mises: tư tưởng cai trị thế giới, là điệp khúc được nhắc
đi nhắc lại trong tất cả các tác phẩm của ông. Nhưng tư tưởng này được thể
hiện rõ nhất trong tác phẩm Chủ nghĩa tự do. “Kết quả cuối cùng của cuộc
đấu tranh”, giữa chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa toàn trị, “sẽ không được giải
quyết bằng vũ lực mà bằng tư tưởng. Chính tư tưởng đưa con người vào các
nhóm đấu tranh và đặt vũ khí vào tay họ, tư tưởng quyết định vũ khí sẽ được
dùng để chống lại ai và vì ai. Cuối cùng, chính tư tưởng chứ không phải vũ
khí sẽ quyết định kết quả”, ông đã viết như thế vào năm 1927.
Trên thực tế, chính hi vọng giữ cho thế giới không tiếp tục lao vào hỗn
loạn và xung đột đã thuyết phục người ta từ bỏ chủ nghĩa can thiệp của chính
phủ và chấp nhận chính sách tự do.
Bettina Bien Greaves
Quỹ Giáo dục Kinh Tế, tháng 8 năm 1985.
Lời giới thiệu bản tiếng Anh
Trật tự xã hội hình thành từ triết lí của thời Khai Sáng khẳng định vai trò
tối thượng của người dân “thường”. Trong vai người tiêu dùng, người dân
bình thường trở thành người đưa ra quyết định cuối cùng về việc cái gì sẽ
được sản xuất, với số lượng là bao nhiêu, chất lượng như thế nào, ai sản
xuất, sản xuất thế nào, sản xuất ở đâu; trong vai người đi bỏ phiếu, người
dân bình thường có toàn quyền quyết định đường lối của chính sách quốc
gia. Trong xã hội tiền tư bản “ông trùm” là những kẻ có đủ sức buộc những
người yếu hơn phải qui phục. Cái cơ chế bị nhiều người chỉ trích của thị
trường tự do chỉ để ngỏ duy nhất một con đường dẫn tới thịnh vượng, đấy là
phục vụ người tiêu dùng một cách tốt nhất và rẻ nhất có thể. Trong lĩnh vực
công việc quốc gia, hệ thống chính phủ đại diện là hệ thống phù hợp nhất với
“nền dân chủ” như thế của thị trường tự do. Sự vĩ đại của giai đoạn giữa
những cuộc chiến tranh của Napoleon và Chiến tranh thế giới thứ nhất chính
là lí tưởng xã hội: tự do buôn bán trong thế giới của những dân tộc hoà bình,
một nền tự do mà những người kiệt xuất nhất đang đấu tranh để biến nó
thành hiện thực. Đấy là thời đại mà đời sống của người dân được cải thiện
với tốc độ chưa từng có. Đấy là thời đại của chủ nghĩa tự do.
Hiện nay người ta gần như đã quên hết các nguyên tắc của chủ nghĩa tự
do thế kỉ XIX rồi. Ở châu Âu lục địa chỉ còn vài người nhớ mà thôi. Ở nước
Anh, thuật ngữ “tự do” được đa số người sử dụng nhằm ám chỉ cái cương
lĩnh mà thực ra chỉ khác chủ nghĩa toàn trị của những người xã hội chủ nghĩa
ở những tiểu tiết. Hiện nay ở Mĩ, từ “tự do” lại được dùng để chỉ một tập hợp
các ý tưởng và định đề chính trị trái ngược hẳn với cách hiểu về chủ nghĩa tự
do của các thế hệ tiền bối. Người tự do kiểu Mĩ là người ủng hộ chính phủ
toàn trí toàn năng, là kẻ thù không đội trời chung của tự do kinh doanh và là
kẻ ủng hộ cho kế hoạch hoá mọi mặt của đời sống, tức là ủng hộ chủ nghĩa
xã hội. Những người “tự do” này vội vã nhấn mạnh rằng họ phản đối chính
sách độc tài của nước Nga không phải là vì tính chất xã hội chủ nghĩa hay
cộng sản chủ nghĩa của những chính sách đó mà vì chúng có xu hướng đế
quốc chủ nghĩa. Tất cả các biện pháp nhằm tịch thu tài sản của những người
giàu có và hạn chế quyền của những người có tài sản đều được coi là tự do
và tiến bộ cả. Các cơ quan của chính phủ nắm được quyền lực hầu như
không hạn chế, toà án không có quyền phán xét quyết định của họ. Một vài
công dân trung thực, những người dám phê phán xu hướng độc tài, bị coi là
những kẻ cực đoan, phản động, bảo hoàng về kinh tế và phát xít. Người ta
cho rằng đất nước tự do không thể dung thứ hoạt động chính trị của những
“kẻ thù xã hội” như thế.
Đáng ngạc nhiên là ở đây người ta coi những quan điểm này là hoàn toàn
của Mĩ và là sự tiếp tục của các nguyên tắc và triết lí của những người định
cư đầu tiên (Pilgrim Father) ở Mĩ vào năm 1620, của những người đặt bút kí
vào bản Tuyên ngôn độc lập, những tác giả của bản Hiến pháp và tờ
Federalist. Chỉ một ít người biết rằng những chính sách được coi là tiến bộ
này có xuất xứ từ châu Âu và trong thế kỉ XIX người đại diện tiêu biểu nhất
của trường phái này chính là Bismarck, chẳng có người Mĩ nào lại coi chính
sách của ông ta là tiến bộ và tự do hết. Chính sách Sozialpolitik của
Bismarck xuất hiện vào năm 1881, tức là hơn nửa thế kỉ trước khi bản sao
của nó là New Deal của tống thống F.D. Roosevelt được thi hành ở Mĩ. Theo
sau sự vùng dậy của Đế chế Đức, hầu hết các nước phát triển, tất cả các nước
công nghiệp châu Âu, nơi nhiều nơi ít, đều áp dụng hệ thống làm như là
mang lại lợi ích cho quần chúng bằng cách tước đoạt quyền lợi của thiểu số
những kẻ “cá nhân chủ nghĩa thâm căn cố đế”. Thế hệ những người đến tuổi
bầu cử vào giai đoạn cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất coi việc dựa
vào nhà nước là đương nhiên và khinh thường tự do, cho rằng đấy là “định
kiến mang tính tư sản”.
Ba mươi lăm năm trước, tôi đã từng cố gắng viết một tác phẩm ngắn,
trình bày tóm tắt những tư tưởng và nguyên tắc của môn triết lí xã hội từng
có tên là Chủ nghĩa tự do. Tôi không nghĩ rằng cuốn sách của mình có thể
ngăn chặn được những thảm hoạ mà chính sách của các nước châu Âu đang
đưa tới. Ước muốn duy nhất của tôi là tạo cơ hội cho một nhóm nhỏ những
người ưu thời mẫn thế tìm hiểu mục đích của chủ nghĩa tự do truyền thống
và những thành tựu của nó, và bằng cách đó, chuẩn bị cơ sở cho việc tái lập
tinh thần tự do sau vụ sụp đổ đang đến gần.
Ngày 28 tháng 10 năm 1951, Giáo sư J. P. Hamilius từ Luxembourg hỏi
nhà xuất bản Gustav Fischeri ở Jena (thuộc lãnh thổ Đức nhưng do quân đội
Liên Xô chiếm đóng) để mua một cuốn Chủ nghĩa tự do. Ngày 14 tháng 11
năm 1951 nhà xuất bản trả lời rằng không còn cuốn nào và nói thêm: “Theo
quyết định của chính quyền, tất cả các bản in cuốn sách này đều đã bị tiêu
huỷ”. Bức thư không nói chính quyền ở đây là nước Đức quốc xã hay nhà
nước “dân chủ” Đông Đức.
Trong những năm kể từ ngày xuất bản tác phẩm Chủ nghĩa tự do tôi đã
viết rất nhiều về những vấn đề được nói tới trong tác phẩm này. Tôi đã
nghiên cứu nhiều vấn đề mà lúc đó tôi không thể trình bày trong tác phẩm
này vì không muốn làm cho độc giả chán nản vì quá dài. Mặc khác, lúc đó
tôi đã xem xét một số vấn đề mà hôm nay thấy là không còn quan trọng nữa.
Tuy nhiên, chỉ có thể hiểu và đánh giá đúng cách xem xét nhiều vấn đề thuộc
về chính sách trong hoàn cảnh kinh tế và chính trị khi tác phẩm này được
chấp bút mà thôi.
Tôi không sửa chữa bất kì điều gì và không can thiệp vào quá trình dịch
do tiến sĩ Ralph Raico thực hiện cũng như quá trình biên tập do ông Arthur
Goddard tiến hành. Tôi xin cám ơn hai nhà khoa học này vì công sức họ đã
bỏ ra để tác phẩm có thể đến tay bạn đọc rộng rãi bằng Anh ngữ.
Ludwig von Mises, New York, tháng 4 năm 1962.
Lời tựa
Tôi cho rằng cuốn sách tương đối mỏng này có tầm quan trọng gấp nhiều
lần sức tưởng tượng nếu chỉ nhìn vào độ dày và ngôn ngữ khiêm nhường của
nó. Đây là tác phẩm bàn về xã hội tự do, bàn về điều mà hiện nay có thể
được gọi là “chính sách” đối nội và đối ngoại cho xã hội như thế; và đặc biệt
là bàn về những trở ngại và khó khăn, cả thực tế lẫn tưởng tượng, trên con
đường thiết lập và giữ gìn hình thức tổ chức xã hội như thế.
Trong khi tất cả những vấn đề này đều không có gì đặc biệt thì điều đáng
ngạc nhiên là hầu như tất cả những người ủng hộ cho bất kì một hình thức tổ
chức kinh tế thay thế nào khác đều không đưa ra được cách lí giải tương tự
như thế về những đề nghị của họ. Ngay cả hiện nay, khi càng ngày càng có
nhiều người tham gia vào việc cung cấp cho chúng ta những lời phê bình rất
chi tiết về chủ nghĩa tư bản và những lời tiên đoán về sự cáo chung không
thể nào tránh được của nó thì họ lại tỏ ra kín tiếng đến khó hiểu trong việc
“xử lí” những mâu thuẫn hoặc những khó khăn có thể xảy ra trong quá trình
vận hành cái hệ thống mà họ bảo vệ hoặc tiên đoán.
Tuy nhiên, dễ dàng bỏ qua thái độ phớt lờ như thế vì rằng người ta
thường gán trách nhiệm cho những người đáng ra là không phải chịu. Lên án
Marx, đây là thí dụ dễ gặp nhất, rằng trong Tư bản luận, ông ta không chỉ ra
được cách thức hoạt động cụ thể của xã hội xã hội chủ nghĩa, là việc làm
không thể chấp nhận được; vì tác phẩm này nhằm đúng mục tiêu mà nó được
trù liệu: nghiên cứu với tinh thần phê phán hoạt động của chủ nghĩa tư bản
như Marx mường tượng. Lên án Mises vì trong tác phẩm Chủ nghĩa xã hội
ông đã không thảo luận những nguyên tắc của hệ thống tự do cạnh tranh
cũng là việc làm vô nghĩa như thế. Điều quan trọng là Mises đã dành hẳn
một cuốn sách để thảo luận bài toán này trong khi Marx thì không bao giờ
làm như thế. Đấy là tác phẩm mà Marx không thể viết, còn những đồ đệ của
ông cũng như những người phê phán chủ nghĩa tự do thì không thèm viết.
Nhưng giá trị thực sự của tác phẩm này không nằm ở ý nghĩa hạn hẹp và
còn nhiều tranh cãi đó, nó có tính chất xây dựng và quan trọng hơn nhiều.
Dù ngắn gọn, nhưng tác phẩm cố gắng giải đáp hàng loạt vấn đề, đánh tan
những mối ngờ vực và lầm lẫn mà nhiều người gặp phải khi họ tìm cách giải
quyết những vấn đề kinh tế, xã hội, tình cảm còn nhiều tranh cãi. Ưu điểm
đặc biệt của nó là đối với mọi vấn đề được bàn thảo Mises đều đưa ra được
những nhận thức thấu triệt và những quan điểm để người ta có thể lựa chọn,
và đấy là điều rất bổ ích.
Vì chắc chắn là độc giả muốn tìm hiểu ngay những vấn đề đó cho nên tôi
sẽ không đưa những nhận xét riêng của cá nhân mình, ngoại trừ một vài suy
nghĩ bắt buộc phải có. Thay vào đó chúng ta sẽ lựa ra những câu hỏi và
những ý kiến sẽ nảy ra trong tâm trí độc giả khi họ xem xét những vấn đề
còn gây tranh cãi được Mises nói đến ở đây và đáng được người đọc chú ý.
Để tiện cho việc theo dõi, xin liệt kê chúng theo trình tự như được trình bày
trong tác phẩm.
1. Hệ thống thị trường tự do đã tồn tại trong một thời gian dài, nhưng
cũng đã chứng tỏ rằng đây là hệ thống kém hiệu quả.
2. Chủ nghĩa tự do bị phê phán vì chỉ tập trung chú ý vào ước muốn gia
tăng sản xuất và thoả mãn nhu cầu vật chất và bỏ qua những đòi hỏi về mặt
tinh thần của người dân.
3. Vì không phải lúc nào người ta cũng hành động một cách hoàn toàn
hợp lí, có lẽ đối với một số vấn đề nên tin vào trực giác, xung lực và cái gọi
là “tâm thức” thì sẽ tốt hơn là lí luận chặt chẽ?
4. Không thể phủ nhận sự kiện là chủ nghĩa tư bản thực chất là hệ thống
có lợi cho người giàu và những người có tài sản và bất lợi cho những tầng
lớp khác.
5. Tại sao lại phải bảo vệ cái hệ thống xã hội không tạo điều kiện cho
mỗi người th
 









Các ý kiến mới nhất