Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Lớp 6. Đề khảo sát chất lượng

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: Cô Sương Mai
Người gửi: Vũ Phương Hùng
Ngày gửi: 21h:09' 23-02-2026
Dung lượng: 399.1 KB
Số lượt tải: 19
Số lượt thích: 0 người
PHÂN TÍCH YẾU TỐ CỦA KỊCH TRONG MỘT SỐ
TÁC PHẨM VĂN HỌC
(Tổng hợp, chỉnh sửa)
Trợ giảng biên soạn: Giàng Sang
1. Định nghĩa
- Kịch: Là một loại hình nghệ thuật sân khấu và là một thể loại văn học, được tái hiện
chủ yếu thông qua lời thoại, hành động, cảm xúc của diễn viên (khi nhập vai các nhân
vật).
- Với một số văn bản tự sự khác như truyện hay tiểu thuyết: có thể dùng lời dẫn dắt,
có thể có những ngôn từ gián tiếp khắc họa thế giới nội tâm của nhân vật với kịch,
những lời dẫn dắt mang tính mô tả trực diện sẽ được lược bớt, chủ yếu diễn viên phải
thể hiện được tâm trạng, tính cách của nhân vật thông qua những cử chỉ cụ thể, những
lời thoại lồng ghép cảm xúc rõ ràng.
- Yếu tố của kịch trong các tác phẩm văn học: nghĩa là các tác phẩm thuộc thể loại
khác (như truyện ngắn, tiểu thuyết…) giao thoa, có sử dụng yếu tố đặc trưng của Kịch
như xây dựng những mâu thuẫn, xung đột, hành động… mang tính chất kịch tính.
(Đây là sự giao thoa thể loại văn học)
2. Phân tích yếu tố của Kịch trong một số tác phẩm văn học
2.1. Tiểu thuyết “Số đỏ” - Vũ Trọng Phụng
a) Khái quát chung:
Tiểu thuyết “Số đỏ” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7/10/1936 và
được in thành sách lần đầu năm 1938. Tác phẩm nổi tiếng này đã được chuyển thể
thành nhiều phim và kịch. Đây được xem là tác phẩm nổi tiếng nhất trong sự nghiệp
sáng tác của “ông vua phóng sự đất Bắc”. “Số đỏ” xoay quanh nhân vật làm đảo điên
Hà Nội những năm 1930 - 1940, Xuân Tóc Đỏ - từ một thằng bé mồ côi, kiếm sống

bằng đủ thứ nghề: trèo me, trèo sấu, nhặt bóng ở sân quần vợt, quảng cáo thuốc lậu...
nhờ thủ đoạn xảo trá, “nhờ thời” đã trở thành đốc tờ Xuân, nhà cải cách xã hội, giáo
sư quần vợt, thậm chí là anh hùng cứu quốc, là vĩ nhân... Sử dụng lối tương phản giữa
cái đồi bại, thối nát vô luân với cái hài, cái trào phúng đã giúp cuốn tiểu thuyết thành
công trong việc lột trần những “quái thai” thời đại trong buổi giao thời. Từ đó, tác
phẩm cũng đã đả kích cay độc cái xã hội tư sản bịp bợm, đang chạy theo lối sống văn
minh rởm, hết sức lố lăng thối nát. Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đả kích những phong
trào được thực dân khuyến khích như: phong trào Âu hoá, thể dục thể thao, chấn hưng
Phật giáo... Sự thành công của tác giả còn ở việc đã xây dựng được những nhân vật trở
thành điển hình về mặt tâm lý xã hội mà cho đến tận hôm nay bóng dáng những nhân
vật ấy vẫn còn đâu đó quanh ta.
b) Phân tích yếu tố của Kịch - Hài kịch trong tiểu thuyết “Số đỏ” (qua đoạn trích
“Hạnh phúc của một tang gia”)

* Nghệ thuật xây dựng các tình huống trào phúng
Là một nhà văn hiện thực, Vũ Trọng Phụng luôn quan tâm sâu sắc đến mọi
trường, luôn nhìn mọi trường như là cơ sở để giải thích cách nên ông rất chú ý xây
dựng những tình huống trào phúng làm nền cho nhân vật xuất hiện. Có thể làm bằng
phân loại các tình huống trào phúng khá tiêu biểu Vũ Trọng Phụng trong sơ đồ như
sau: Tình huống ngẫu nhiên (rủi ro, may hoá rủi), tình huống lật tẩy tính chất vô nghĩa
lý của nhân vật tình huống “Chiếu tướng” nhân vật một cách đột ngột, tình huống hiểu
lầm (ông nói gà, bà nói vịt).
* Nghệ thuật xây dựng cốt truyện
Ngẫu nhiên được xem như một nguyên tắc xây dựng cốt truyện hài, trở thành
một mô típ phổ biến trong sáng tác Vũ Trọng Phụng nói chung, “Số đỏ” nói riêng.

Song cái ngẫu nhiên cũng là con giao hai lưỡi: hoặc tạo ra những đột ngột, bất ngờ, lạ
lẫm gây hứng thú thẩm mỹ cho người đọc, hoặc gây tính giả, gò ép cho cốt truyện. Tài
năng của Vũ Trọng Phụng là đã tìm ra hạt nhân hợp lý của cái ngẫu nhiên trong cái xã
hội nhiễu loạn tạo nên sự thật về cái nhìn “vô nghĩa lí” trước “xã hội chó đểu” (tự
dụng của Vũ Trọng Phụng). Số đỏ rất tiêu biểu cho sự kết hợp giữa thật - giả, ngẫu
nhiên tất yếu này. Đó là cái ngẫu nhiên mang vận độ trùm lên cuộc đời nhân vật Xuân.
Con đường thần vùn vụt của Xuân từ hạ lưu đến thượng lưu thật quả sức tưởng tượng,
như toàn được lót bằng chiều hóa của sự ngẫu nhiên may mắn. Nhưng ngầm kỹ Xuân
tốc độ này mâu dẫu chỉ là chuyện “chó ngáp phải ruồi”, tất cả đều có tính quy luật của
nó. Theo cách lý giải của Vũ Trọng Phụng một phần là ở tư tưởng định mệnh (sổ từ vi
mở đầu tác phẩm đã dự báo vận độ của Xuân). Song toát lên từ hình tượng nghệ thuật
của tác phẩm đó là quy luật hiện thực. Cái xã hội thượng lưu tưởng chừng giả bịp
bợm, giả dối, lố lăng đã là môi trường tốt cho những tính cách như Xuân này nở.
*Nghệ thuật xây dựng những mâu thuẫn, xung đột trong kịch
Đối lập các bình diện quan sát, miêu tả với Vũ Trọng Phụng cũng là hình thức
tương phản để tạo hài. Bởi vì cái hài vốn là một tương phản: nội dung xấu lẫn vào
hình thức đẹp, cái nhếch nhác lẫn vào cái trang nghiêm... Nghệ thuật đẩy tương phản
lên tính thẩm mĩ, gây khoái cảm nhận thức. Vũ Trọng Phụng tạo ra tương phản bằng
cách tạo ra những đối lập lệch pha trong bản thân đối tượng bị châm biếm, nhằm nêu
bật cái cọc cạch khập khiễng ở đối tượng, buộc đối tượng phải phơi lưng trước tiếng
cười. Trong tiểu thuyết Số đỏ, Vũ Trọng Phụng tạo đối lập trong những trang miêu tả
đám ma cụ Cố Tổ (chương hạnh phúc một tang gia). Nhà văn đã kết hợp hai hình diện
quan sát của điện ảnh: vừa diễn cảnh vừa cận cảnh và cho hai hình diện này đối lập
nhau để tạo tiếng cười.
Trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”, ta thấy rõ hơn sự xung đột,
mâu thuẫn ấy. Ngay từ nhan đề của văn bản đã cho thấy sự mâu thuẫn, trào phúng.

Hạnh phúc vốn là trạng thái tâm lí khi con người được thỏa mãn một mong muốn, một
nhu cầu nào đó của bản thân. Còn tang gia là khi gia đình đó có người mất, không khí
bao trùm sẽ là sự u ám, buồn thương, tang tóc. Khi kết hợp hai yếu tố này lại khiến
cho người đọc bất ngờ, ngỡ ngàng về một hạnh phúc quái dị của gia đình cụ cố Hồng.
Cái chết của cụ cố tổ không những không làm họ đau buồn, mà con đem đến niềm vui
vô hạnh, niềm hạnh phúc to lớn cho đám con cháu. Bởi khi cụ cố tổ chết, tất cả đám
con cháu sẽ được chia gia tài: “Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”,
“thành ra tang gia ai cũng vui vẻ cả” “người ta tưng bừng đi đưa giấy cáo phó, thuê
kèn đám ma”. Một không khí tưng bừng, rộn rã, tươi vui bao trùm lên đám tang, mà
người ta cứ ngỡ như nhà có việc hỉ.


Đấy là niềm vui chung, còn mỗi thành viên trong gia đình lại có niềm vui khác

riêng cho mình. Cụ cố Hồng có được cơ hội ngàn năm để diễn trò già nua trước đám
đông, để cho thiên hạ chỉ trỏ khen mình là già, để thể hiện gia đình mình có phúc lớn.
Đồng thời đây cũng là cơ hội để tỏ lòng hiếu thảo với cha mình, thông qua việc tổ
chức đám ma thật to, thật hoành tráng. Còn cụ bà vui mừng vì tổ chức được cho cha
một đám ma danh giá nhờ có sự xuất hiện của sư cụ Tăng Phú. Niềm vui của bà Văn
Minh thật đơn giản đó là được mặc bộ đồ xô gai tân thời, để giúp bà lăng xê những
mẫu thời trang tang lễ của tiệm may Âu hóa. Bà Văn Minh đã gián tiếp thực hiện
mục đích biến đám tang thành sàn biểu diễn thời trang. Còn ông Phán mọc sừng
không ngờ đôi sừng trên đầu mình lại có giá trị to lớn đến thế, ngoài tiền được chia
gia tài còn được chia thêm tiền đền bù danh dự, vậy là kế hoạch đào mỏ của ông đã
thành công. Nhưng còn những trẻ tuổi như Tuyết hay cậu Tú Tân lại có niềm vui rất
đơn giản: Tuyết có dịp được mặc bộ trang phục tang lễ ngây thơ để chứng minh với
thiên hạ mình là người không hư hỏng; còn cậu Tú Tân vui mừng vì có dịp được
dùng cái máy ảnh mới mua, được thỏa mãn sở thích chụp ảnh, thể hiện tài nghệ chụp
ảnh.

Không chỉ người trong nhà vui, mà những người ngoài cũng tìm được niềm hạnh
phúc trong đám tang cụ cố tổ. Đối với ông TYPN đám tang là dịp để những mẫu thiết
kế của ông ra mắt công chúng và ông trông chờ sự phản hồi của dư luận ra sao. Hai
viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa sung sướng cực điểm vì đang lúc không có việc để
làm thì được thuê trông giữ đám ma. Với Xuân Tóc Đỏ đám tang này giúp y củng cố
địa vị của mình ở xã hội thượng lưu và được ông Phán mọc sừng thanh toán nốt năm
đồng còn lại. Còn hàng phố, những người xung quanh thì vui sướng khi được xem
đám tang to tát, linh đình; được xem những màn trình diễn thời trang miễn phí. Tất
cả mọi người đều có niềm hạnh phúc riêng. Vũ Trọng Phụng đã dùng ngòi bút châm
biếm, đả kích sâu cay của mình để vạch trần bộ mặt thật của xã hội thượng lưu
đương thời: vô đạo, không có lương tâm.


Cảnh đám tang lại là sự pha tạp Tây, Tàu lẫn lộn: tiếng kèn xuân nữ não nùng,

tiếng lốc bốc xoảng và bú dích, tiếng Ta, kèn Tây lần lượt thi nhau rộ lên. Đám tang
to tát, đi đến đâu làm huyên nào đến đó nhưng không có chút tình người. Người đưa
tiễn thì tranh thủ khoe khuân chương, đám trai gái thì trêu ghẹo, đùa cợt với nhau.
Điệp khúc “đám cứ đi” điệp đi điệp lại cho thấy đám đông vô tình, vô nghĩa. Tác giả
đã một lần nữa vạch trần bộ mặt xã hội thượng lưu thành thị.
 
Gửi ý kiến