Đề cương ôn thi HK1 Ngữ văn 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: http://thaiphiendanang.edu.vn/baigiangs/view/de-cuong-on-tap-cuoi-ky-1-nam-hoc-2004_2025-mon-ngu-van.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:35' 24-02-2026
Dung lượng: 191.5 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn: http://thaiphiendanang.edu.vn/baigiangs/view/de-cuong-on-tap-cuoi-ky-1-nam-hoc-2004_2025-mon-ngu-van.html
Người gửi: Bùi Thị Phương Thảo
Ngày gửi: 14h:35' 24-02-2026
Dung lượng: 191.5 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
TRƯỜNG THPT THÁI PHIÊN
ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ I – NĂM HỌC 2024-2025
MÔN VĂN LỚP 10
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
Mức độ nhận thức
Kĩ
TT
Nội dung/đơn vi kĩ năng
Nhận biêt
Thông hiểu
Vận dung
năng
1
2
Đọc
Văn bản nghi luận.
Sử thi.
Kịch bản chèo, tuồng.
Viêt
Viết bài luận thuyết phục
người khác từ bỏ một
thói quen hay một quan
niệm.
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
Tổng
% điểm
2
(15%)
3
(30%)
1
(15%)
60
1*
(5%)
1*
(20%)
1*
(15%)
40
20%
50%
30%
100
Tổng % điểm
30%
70%
II. BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
TT
Kĩ
Đơn
vi
Mức độ đánh giá
Sô câu hỏi theo mức độ nhận
năng kiên
thức
thức/Kĩ
Vận
Nhận
Thông
năng
Dụng
biết
hiểu
1
1. Đọc 1. Văn nghị Nhận biêt:
hiểu
luận
- Nhận biết được luận đề trong văn
bản.
- Nhận biết được luận điểm, lí lẽ và
bằng chứng tiêu biểu trong văn bản.
- Nhận biết được cách sắp xếp,
trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng của tác giả.
- Nhận biết các yếu tố biểu cảm
trong văn nghị luận.
Thông hiểu:
- Xác định được được nội dung bao
quát, tư tưởng chủ đạo của văn bản.
- Xác định và lí giải được mục
đích, quan điểm của người viết.
- Phân tích được mối quan hệ giữa
luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng; vai trò của luận điểm, lí lẽ
và bằng chứng trong việc thể hiện
nội dung văn bản.
- Phân tích được cách sắp xếp, trình
bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
của tác giả.
- Phân tích được vai trò của các yếu
tố biểu cảm trong văn bản nghị
luận.
Theo ma trận ở trên
2. Sử thi
Vận dung:
- Rút ra được bài học cho bản thân
từ nội dung văn bản.
- Thể hiện được thái độ đồng tình/
không đồng tình/ đồng tình một
phần với quan điểm của tác giả.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hóa để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, tác động
của văn bản đối với quan niệm
sống của bản thân.
Nhận biêt:
- Nhận biết được đặc điểm của
không gian, thời gian, cốt truyện,
nhân vật trong sử thi.
- Nhận biết được người kể chuyện
(ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất);
điểm nhìn, lời người kể chuyện, lời
nhân vật, ... trong sử thi.
- Nhận biết được đề tài, các chi tiết
tiêu biểu, đặc trưng của sử thi.
- Nhận biết được bối cảnh lịch sử văn hoá được thể hiện trong sử thi.
Thông hiểu:
- Tóm tắt được cốt truyện.
- Hiểu và phân tích được nhân vật
trong sử thi; lí giải được vị trí, vai
trò, ý nghĩa của nhân vật trong tác
phẩm.
- Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông
điệp của văn bản; phân tích được
một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Lí giải được tác dụng của việc
chọn nhân vật người kể chuyện
(ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất);
lựa chọn điểm nhìn, lời người kể
chuyện, lời nhân vật, ... trong sử
thi.
- Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của
đề tài, các chi tiết tiêu biểu, đặc
trưng của sử thi.
Vận dung:
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do văn bản gợi ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với nhận thức,
tình cảm, quan niệm của bản thân.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử – văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
3. Kịch bản Nhận biêt
tuồng, chèo. - Nhận biết được đề tài, tính vô
danh, tích truyện trong tuồng, chèo.
- Nhận biết được lời chỉ dẫn sân
khấu, lời thoại và hành động của
nhân vật tuồng, chèo.
- Nhận biết được nhân vật, tuyến
nhân vật và cốt truyện của tuồng,
chèo.
Thông hiểu
- Phân tích được ý nghĩa, tác dụng
của đề tài, tính vô danh, tích truyện
trong tuồng, chèo.
- Lí giải được tác dụng của cốt
truyện, ngôn ngữ, hành động của
nhân vật, diễn biến của câu chuyện
trong tuồng, chèo.
- Phân tích được đặc điểm của nhân
vật tuồng, chèo và vai trò của nhân
vật với việc thể hiện chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm.
Vận dung
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do vở tuồng, chèo gợi
ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với nhận thức,
tình cảm, quan niệm của bản thân.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của tác phẩm.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
3
Viêt
Viết
bài
luận thuyết
phục người
khác từ bỏ
một
thói
quen hay
một quan
niệm.
Nhận biêt:
1*
1*
- Xác định được đúng yêu cầu về
nội dung và hình thức của bài văn
nghị luận.
- Nêu được thói quen hay quan
niệm mang tính tiêu cực, cần phải
từ bỏ.
- Xác định rõ được mục đích
(khuyên người khác từ bỏ thói quan
/ quan niệm), đối tượng nghị luận
(người / những người mang thói
quen / quan niệm mang tính tiêu
cực).
Thông hiểu:
- Triển khai vấn đề nghị luận thành
những luận điểm phù hợp. Mô tả, lí
giải được những khía cạnh mang
tính tiêu cực, bất lợi của thói quen,
quan niệm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng
để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi
luận điểm.
- Đảm bảo cấu trúc của một văn
bản nghị luận; đảm bảo chuẩn
chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dung:
- Thể hiện được thái độ tôn trọng
với đối tượng thuyết phục; chỉ ra
được lợi ích của việc từ bỏ thói
quen, quan niệm.
- Sử dụng kết hợp của phương thức
miêu tả, biểu cảm, … để tăng sức
thuyết phục cho lập luận.
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính
trong bài viết; sáng tạo trong cách
diễn đạt.
Tỉ lệ%
20%
50%
Tổng
70%
1*
30%
30%
III. ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA CUỐI KÌ I – MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
ĐỀ 01
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
XING NHÃ
Xing Nhã là con trai của ông bà Gia-rơ-Kốt và Hơ -bia-Đá. Do ghen ghét đố kị nên Gia rơ Bú đã giết cha của Xing Nhã và bắt mẹ của Xing Nhã làm nô lệ. Biết được sự thật này, Xing
Nhã đi tìm Gia -rơ Bú để trả thù.
Hơi men vào, mặt Xing Nhã càng đẹp. Thật như người đẹp hay có thóc bước đi của Xing
Nhã trên sàn làm cho xà ngang xà dọc của nhà Gia -rơ Bú rung rinh […].
Xing Nhã – Ơ Gia rơ Bú. Lấy chiếc khiên và cái đao của mày ra đây, múa cho tao xem
thử.
Gia -rơ Bú (mới giơ lên , khiên đao đã bị vỡ từng mảnh) – Ơ Giàng Tại sao kiên đao của
ta lại thế này?
Xing Nhã – Mày già rồi thì khiên đao cũng già rồi. Nào, bảy anh em của mày hãy ra xem
khiên đao của ta để ngoài cổng làng đi.
Trên trời mây đen to hơn ngọn núi. Sét rống ì ầm. Cổng làng của Gia-rơ Bú nghiêng hẳn
về một phía.
Gia – rơ Bú (tức chửi) – Thằng Xinh Nhã ma quỷ đã làm ngã cổng của nhà ta rồi.
Xing Nhã – Ơ Gia – rơ Bú. Bảy anh em nhà mày hãy đến đỡ chiếc khiên và cây đao của
tao đi.
Gia – rơ Bú uốn mình, hai tay thả xuống lỏng lẻo như sợi dây khoai khô, nắm lấy quai
khiên. Gia – rơ Bú cố giơ lên, mồ hôi chảy đầy trán đây ngực, nhưng chiếc khiên vẫn cứ nằm
im như người đương ngủ say. Năm đứa em của Gia – rơ Bú xúm nhau bê lên, chiếc khiên vẫn
cứ nằm nguyên một chỗ. Pơ – rong Mưng bước tới, chàng cúi xuống, cố giơ lên, cao lên, nhưng
chiếc khiên vẫn không nhấc lên được. Xing Nhã từ từ bước tới. Chàng cầm chiếc khiên giơ cao
lên trời và múa. Xing Nhã múa phía trước, một mái tranh bay theo gió, múa phía sau, một mái
nhà bay theo bão. Nhà Gia – rơ Bú nghiêng đằng tây, ngả đằng đông. Gió từ núi Mơ – đan tới,
bão từ núi Hơ – mu đến, thổi xô nhà cửa của làng Gia – rơ Bú. Gà heo bay như lá rụng. Nước
suối dâng, trôi cả gà, lợn, trâu bò và nô lệ của Gia – rơ Bú.
Gia – rơ Bú (hoảng khiếp gọi) – Ơ Hơ – bia Blao. Em đến bảo Xing Nhã ngừng múa khiên
đi. Tôi không bắt mẹ nó nữa đâu. Tôi se trả bầy trai gái, nô lệ và của cải của cha nó.
Hơ – bia Blao (vùng vằng) – Tôi không đi, anh đừng lừa tôi.
Gia - rơ Bú – Nếu tôi lừa em, em sẽ lấy hết của cải trong nhà tôi và tôi sẽ trở thành người
tôi tớ giữ gà lợn cho em.
Hơ – bia – Blao mặc một chiếc váy dài phủ gót. Cổ chân nàng đeo một chiếc còng vàng
óng như sao. Từ cột bè đằng trước, nàng chạy tới chôc Xing Nhã đang múa, nàng níu lấy đuôi
khố của chàng.
Xing Nhã (vội quay lại) – Ai đấy?
Hơ – bia Blao – Em là Hơ – bia Blao đây.
Xing Nhã - Ủa, em tới đây làm gì?
Hơ – bia Blao – Gia – rơ Bú bảo anh đừng múa nữa. Những tôi tớ và nô lệ của Gia – rơ
Bú ngã sập như cây tranh, cây lách ngập nước lũ. Họ chịu trả lại mẹ và của cải cho anh rồi đó.
Xing Nhã hạ chiếc khiên. Trời ngừng gió. Nắng hanh. Bầy chim két, chim kơ- tuôn ăn quả
xanh trên cành, lại kêu róc rét .
Gia – rơ Bú – Tôi sẽ trả lại hết của cải cả cha anh
Cuối cùng đôi bên chỉ còn Pơ – rong Mưng và Xing Nhã đánh nhau. Ông Gỗn ở trên trời
vén từng lớp mây đen trắng nhìn theo không chớp mắt. Hai người đánh nhau bảy ngày bảy đêm.
Gió, bão, mây, mưa sấm chớp trên trời. Ông Gỗn đứng ở giữa. Khi thấy Xing Nhã mạnh thì ông
bớt sức Xing Nhã đi, khi thấy Pơ – rong Mưng có sức hơn, thì ông lại tăng sức cho Xing Nhã.
Rồi khi Hơ – bia – Blao đang bối rối thì ông Gỗn hất tay đao của nàng, giết chết Gia – rơ Bú.
Xing Nhã – Ơ mẹ. Ơ em Hơ – bia Blao. Chúng ta đi về buôn của Gia – rơ Bú lấy trâu, bò,
chiêng, ché dẫn bầy nô lệ của nó về làng đi. Nô lệ đứng đó đây các anh muốn trở về với chúng
tôi hay muốn ở lại buôn cũ?
Nô lệ - Chúng tôi xin theo ông.
(Trích Xing Nhã, Trường ca Tây Nguyên, NXB Văn học 1962, Ngọc Anh,
Kơ - xo Bơ - lêu dịch )
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Theo đoạn trích, Xing Nhã đi tìm ai để trả thù? (0,75 điểm)
Câu 2. Đoạn trích trên xoay quanh biến cố trọng đại nào? (0,75 điểm)
Câu 3. Theo anh/chị, chiến thắng mà Xing Nhã đạt được có ý nghĩa như thế nào? (1,0 điểm)
Câu 4. Nêu tác dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc trong câu sau: Xing Nhã múa phía trước, một
mái tranh bay theo gió, múa phía sau, một mái nhà bay theo bão. (1,0 điểm)
Câu 5. Qua nhân vật Xing Nhã, người Tây Nguyên thể hiện quan niệm như thế nào về người
anh hùng? (1,0 điểm)
Câu 6. Từ nội dung phần đọc hiểu, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vai trò của cá nhân
trong sự phát triển của cộng đồng (Trả lời trong 6-7 câu). (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Thức khuya là một thói quen gây hại cho sức khỏe, anh/chị hãy viết một bài luận thuyết
phục người khác từ bỏ thói quen đó.
ĐỀ 02
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(1) Những người vĩ đại không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình. Họ luôn cố gắng san
bằng mọi trở ngai để đạt được điều mình khao khát. Thomas Edison ước mơ về một bóng đèn
có thể thắp sáng bằng điện và ông đã bắt tay vào việc hiện thực hóa ước mơ đó. Thế nhưng
ông phải tốn hơn mười ngàn lần mới tìm được nguyên liệu phù hợp để làm sợi dây tóc. Về
phát minh này, T. Edison đã nói: "Tôi đã trải qua 10.000 lần thử nghiệm khác nhau mới tìm ra
kết quả cuối cùng, nhưng tôi không nghĩ rằng mình đã thất bại 10.000 lần. Tôi không hề thất
bại lần nào. Tôi đã thành công trong việc chứng minh rằng, có gần 10.000 chất liệu không thể
dùng để chế tạo dây tóc bóng đèn. Và một khi đã loại bỏ dần những chất không phù hợp, cuối
cùng tôi cũng đã tìm ra nó!"
(2) Nếu bạn đang hướng đến một mục tiêu quan trọng nhưng cảm thấy thất vọng sau
thất bại đầu tiên và muốn bỏ cuộc thì hãy tạm dừng lại. Hãy suy nghĩ về những điều bạn vừa
trải qua. Hãy nghĩ về con đường thành công của các vĩ nhân và học tập tính kiên trì của họ.
(3) Thành công không phải là thứ mà bạn có thể thừa kế như tiền bạc hay các giá trị
vật chất thông thường. Thành công chỉ đến khi bạn chấp nhận thất bại và kiên trì theo đuổi
mục tiêu đã đề ra. Bất kể ước mơ của bạn là gì chăng nữa, điều bạn cần làm đầu tiên là hãy
san bằng mọi trở ngại và tiến về phía trước với tất cả nghị lực của mình.
(Trích Không gì là không thể, George Matthew Adams,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr113 - 114)
Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra luận điểm của đoạn văn (1). (0,75 điểm)
Câu 3. Theo anh/chị, việc tác giả đưa ví dụ về quá trình tìm ra nguyên liệu phù hợp để chế tạo
ra dây tóc bóng đèn của Thomas Edison trong đoạn trích có tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong đoạn văn (2). (1,0 điểm)
Câu 5. Theo anh/chị, mục đích của tác giả khi viết văn bản trên là gì? (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến "Thành công chỉ đến khi bạn chấp nhận thất bại và
kiên trì theo đuổi mục tiêu đã đề ra." không? Vì sao? ( Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen lười đọc sách.
ĐỀ 03
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
[..] Bạn sẽ khám phá ra rằng những người không thành công luôn mắc phải một căn
bệnh tinh thần – tạm gọi căn bệnh” tự bào chữa”. Hầu như ai cũng mang trong mình ít nhiều
biểu hiện của căn bệnh này. Khi căn bệnh đã trở nên trầm trọng, chắc chắn người đó sẽ không
tránh khỏi thất bại.
Căn bệnh tự bào chữa là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lớn giữa một người có khả
năng và một người bất lực trong kiểm soát hành động và suy nghĩ của chính mình. Một người
cành thành công bao nhiêu, lại càng ít tự biện hộ bấy nhiêu. Còn những người chưa gặt hái
được thành quả gì trong hành trang cuộc sống, hoặc không hề có kế hoạch gì cho tương lai thì
thường viện dẫn đến rất nhiều lý do để bào chữa cho hiện trạng của mình.
Khi quan sát, tìm hiểu những người dẫn đều trong bất cứ lĩnh vực nào, dù là kinh
doanh, giáo dục hay trong quân đội, bạn sẽ thấy: nếu muốn an phận, họ vẫn có thể đưa ra
những lời biện bạch nhưng người bình thường vẫn làm, những họ chẳng bao giờ làm như vậy
cả.
Quả thực, nếu muốn, Roosevelt có thể viện cớ vào đôi chân tật nguyền của ông,
Truman có thể biện bạch ông chưa hề được học đại học; cũng như Kennedy vẫn có thể kêu ca:
“Tôi quá trẻ, làm sao làm tổng thống được!”; hay Johnson và Eisenhower có thể vịn vào
những cơn đau tim khủng khiếp thường xuyên để từ chối nhận lãnh trọng trách quốc gia.
Cũng giống như bất cứ căn bệnh nào khác, chứng “tự bào chữa” sẽ trở nên trầm trọng
nếu không được chữa trị kịp thời, đúng cách. Thông thường, diễn biến tâm lý của một nạn
nhân mắc phải căn bệnh này như sau: “Lẽ ra mình phải làm tốt hơn, phải tìm lý do gì đó mới
được, chứ nếu không thì mất mặt lắm. Để xem nào, có thể là do sức khoẻ giảm sút? Do tuổi
tác? Do hạn chế về mặt kiến thức? Do ảnh hưởng từ chuyện gia đình? Hay do ảnh hưởng từ
nền tảng giáo dục?”.
Khi đã tìm được lý do “hợp lý” để tự bào chữa, anh ta sẽ bám riết lấy nó để biện minh
với chính bản thân mình và với những người xung quanh, rằng đó chính là căn nguyên tại sao
anh ta không thể thành công. Bạn nên biết một suy nghĩ, dù tích cực hay tiêu cực, cũng sẽ tạo
nên một cường lực nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ càng lúc ăn sâu vào tiềm thức.Lúc đầu,
có thể người bện hoàn toàn đủ tỉnh táo để nhận ra cái cớ mình đang dùng chẳng khác gì một
lời nói dối nhưng lâu dần, chính bản thân anh ta cũng bị thuyết phục rằng đó thực sự là
nguyên nhân tại sao anh ta không thể thành công.
Chính vì vậy, nếu bạn thực sự quyết tâm và muốn hướng đến thành công thì cần phải
bắt tay ngay vào bước thứ nhất - tự tạo ra một loại vắc - xin tiêu diệt tận gốc từng tế bào của
căn bệnh nguy hiểm này.
(Trích Dám nghĩ lớn, David J Schwatz, NXB Tổng hợp Hồ Chí Minh, 2018, Tr 75-76)
Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra các luận điểm được tác giả được triển khai trong đoạn trích. (0,75 điểm)
Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp nghệ thuật câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn
văn sau: Thông thường, diễn biến tâm lý của một nạn nhân mắc phải căn bệnh này như sau:
“Lẽ ra mình phải làm tốt hơn, phải tìm lý do gì đó mới được, chứ nếu không thì mất mặt lắm.
Để xem nào, có thể là do sức khoẻ giảm sút? Do tuổi tác? Do hạn chế về mặt kiến thức? Do
ảnh hưởng từ chuyện gia đình? Hay do ảnh hưởng từ nền tảng giáo dục?” (1,0 điểm)
Câu 4. Trong đoạn trích, tác giả nhắc đến nhiều đời tổng thống Mĩ nhằm mục đích gì? (1,0
điểm)
Câu 5. Nhận xét quan điểm của tác giả về bệnh tự bào chữa. (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với cách lí giải của tác giả về diễn biến tâm lí của những người
mặc bệnh "tự bào chữa hay không? Vì sao? ( Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ quan niệm coi thường
những người có hoàn cảnh khó khăn.
ÔN TẬP KIỂM TRA CUỐI KÌ I – NĂM HỌC 2024-2025
MÔN VĂN LỚP 10
I. KHUNG MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
Mức độ nhận thức
Kĩ
TT
Nội dung/đơn vi kĩ năng
Nhận biêt
Thông hiểu
Vận dung
năng
1
2
Đọc
Văn bản nghi luận.
Sử thi.
Kịch bản chèo, tuồng.
Viêt
Viết bài luận thuyết phục
người khác từ bỏ một
thói quen hay một quan
niệm.
Tỉ lệ điểm từng loại câu hỏi
Tổng
% điểm
2
(15%)
3
(30%)
1
(15%)
60
1*
(5%)
1*
(20%)
1*
(15%)
40
20%
50%
30%
100
Tổng % điểm
30%
70%
II. BẢNG ĐẶC TẢ ĐỀ KIỂM TRA ĐỊNH KÌ MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
TT
Kĩ
Đơn
vi
Mức độ đánh giá
Sô câu hỏi theo mức độ nhận
năng kiên
thức
thức/Kĩ
Vận
Nhận
Thông
năng
Dụng
biết
hiểu
1
1. Đọc 1. Văn nghị Nhận biêt:
hiểu
luận
- Nhận biết được luận đề trong văn
bản.
- Nhận biết được luận điểm, lí lẽ và
bằng chứng tiêu biểu trong văn bản.
- Nhận biết được cách sắp xếp,
trình bày luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng của tác giả.
- Nhận biết các yếu tố biểu cảm
trong văn nghị luận.
Thông hiểu:
- Xác định được được nội dung bao
quát, tư tưởng chủ đạo của văn bản.
- Xác định và lí giải được mục
đích, quan điểm của người viết.
- Phân tích được mối quan hệ giữa
luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng
chứng; vai trò của luận điểm, lí lẽ
và bằng chứng trong việc thể hiện
nội dung văn bản.
- Phân tích được cách sắp xếp, trình
bày luận điểm, lí lẽ và bằng chứng
của tác giả.
- Phân tích được vai trò của các yếu
tố biểu cảm trong văn bản nghị
luận.
Theo ma trận ở trên
2. Sử thi
Vận dung:
- Rút ra được bài học cho bản thân
từ nội dung văn bản.
- Thể hiện được thái độ đồng tình/
không đồng tình/ đồng tình một
phần với quan điểm của tác giả.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hóa để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, tác động
của văn bản đối với quan niệm
sống của bản thân.
Nhận biêt:
- Nhận biết được đặc điểm của
không gian, thời gian, cốt truyện,
nhân vật trong sử thi.
- Nhận biết được người kể chuyện
(ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất);
điểm nhìn, lời người kể chuyện, lời
nhân vật, ... trong sử thi.
- Nhận biết được đề tài, các chi tiết
tiêu biểu, đặc trưng của sử thi.
- Nhận biết được bối cảnh lịch sử văn hoá được thể hiện trong sử thi.
Thông hiểu:
- Tóm tắt được cốt truyện.
- Hiểu và phân tích được nhân vật
trong sử thi; lí giải được vị trí, vai
trò, ý nghĩa của nhân vật trong tác
phẩm.
- Nêu được chủ đề, tư tưởng, thông
điệp của văn bản; phân tích được
một số căn cứ để xác định chủ đề.
- Lí giải được tác dụng của việc
chọn nhân vật người kể chuyện
(ngôi thứ ba hoặc ngôi thứ nhất);
lựa chọn điểm nhìn, lời người kể
chuyện, lời nhân vật, ... trong sử
thi.
- Lí giải được ý nghĩa, tác dụng của
đề tài, các chi tiết tiêu biểu, đặc
trưng của sử thi.
Vận dung:
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do văn bản gợi ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với nhận thức,
tình cảm, quan niệm của bản thân.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử – văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của văn bản.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
3. Kịch bản Nhận biêt
tuồng, chèo. - Nhận biết được đề tài, tính vô
danh, tích truyện trong tuồng, chèo.
- Nhận biết được lời chỉ dẫn sân
khấu, lời thoại và hành động của
nhân vật tuồng, chèo.
- Nhận biết được nhân vật, tuyến
nhân vật và cốt truyện của tuồng,
chèo.
Thông hiểu
- Phân tích được ý nghĩa, tác dụng
của đề tài, tính vô danh, tích truyện
trong tuồng, chèo.
- Lí giải được tác dụng của cốt
truyện, ngôn ngữ, hành động của
nhân vật, diễn biến của câu chuyện
trong tuồng, chèo.
- Phân tích được đặc điểm của nhân
vật tuồng, chèo và vai trò của nhân
vật với việc thể hiện chủ đề, tư
tưởng của tác phẩm.
Vận dung
- Rút ra được bài học về cách nghĩ,
cách ứng xử do vở tuồng, chèo gợi
ra.
- Nêu được ý nghĩa hay tác động
của tác phẩm đối với nhận thức,
tình cảm, quan niệm của bản thân.
- Vận dụng những hiểu biết về bối
cảnh lịch sử - văn hoá được thể
hiện trong văn bản để lí giải ý
nghĩa, thông điệp của tác phẩm.
- Đánh giá được ý nghĩa, giá trị của
thông điệp, chi tiết, hình tượng,
những đặc sắc về nghệ thuật trong
tác phẩm theo quan niệm của cá
nhân.
3
Viêt
Viết
bài
luận thuyết
phục người
khác từ bỏ
một
thói
quen hay
một quan
niệm.
Nhận biêt:
1*
1*
- Xác định được đúng yêu cầu về
nội dung và hình thức của bài văn
nghị luận.
- Nêu được thói quen hay quan
niệm mang tính tiêu cực, cần phải
từ bỏ.
- Xác định rõ được mục đích
(khuyên người khác từ bỏ thói quan
/ quan niệm), đối tượng nghị luận
(người / những người mang thói
quen / quan niệm mang tính tiêu
cực).
Thông hiểu:
- Triển khai vấn đề nghị luận thành
những luận điểm phù hợp. Mô tả, lí
giải được những khía cạnh mang
tính tiêu cực, bất lợi của thói quen,
quan niệm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn chứng
để tạo tính chặt chẽ, logic của mỗi
luận điểm.
- Đảm bảo cấu trúc của một văn
bản nghị luận; đảm bảo chuẩn
chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
Vận dung:
- Thể hiện được thái độ tôn trọng
với đối tượng thuyết phục; chỉ ra
được lợi ích của việc từ bỏ thói
quen, quan niệm.
- Sử dụng kết hợp của phương thức
miêu tả, biểu cảm, … để tăng sức
thuyết phục cho lập luận.
- Thể hiện rõ quan điểm, cá tính
trong bài viết; sáng tạo trong cách
diễn đạt.
Tỉ lệ%
20%
50%
Tổng
70%
1*
30%
30%
III. ĐỀ MINH HỌA KIỂM TRA CUỐI KÌ I – MÔN NGỮ VĂN LỚP 10
ĐỀ 01
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
XING NHÃ
Xing Nhã là con trai của ông bà Gia-rơ-Kốt và Hơ -bia-Đá. Do ghen ghét đố kị nên Gia rơ Bú đã giết cha của Xing Nhã và bắt mẹ của Xing Nhã làm nô lệ. Biết được sự thật này, Xing
Nhã đi tìm Gia -rơ Bú để trả thù.
Hơi men vào, mặt Xing Nhã càng đẹp. Thật như người đẹp hay có thóc bước đi của Xing
Nhã trên sàn làm cho xà ngang xà dọc của nhà Gia -rơ Bú rung rinh […].
Xing Nhã – Ơ Gia rơ Bú. Lấy chiếc khiên và cái đao của mày ra đây, múa cho tao xem
thử.
Gia -rơ Bú (mới giơ lên , khiên đao đã bị vỡ từng mảnh) – Ơ Giàng Tại sao kiên đao của
ta lại thế này?
Xing Nhã – Mày già rồi thì khiên đao cũng già rồi. Nào, bảy anh em của mày hãy ra xem
khiên đao của ta để ngoài cổng làng đi.
Trên trời mây đen to hơn ngọn núi. Sét rống ì ầm. Cổng làng của Gia-rơ Bú nghiêng hẳn
về một phía.
Gia – rơ Bú (tức chửi) – Thằng Xinh Nhã ma quỷ đã làm ngã cổng của nhà ta rồi.
Xing Nhã – Ơ Gia – rơ Bú. Bảy anh em nhà mày hãy đến đỡ chiếc khiên và cây đao của
tao đi.
Gia – rơ Bú uốn mình, hai tay thả xuống lỏng lẻo như sợi dây khoai khô, nắm lấy quai
khiên. Gia – rơ Bú cố giơ lên, mồ hôi chảy đầy trán đây ngực, nhưng chiếc khiên vẫn cứ nằm
im như người đương ngủ say. Năm đứa em của Gia – rơ Bú xúm nhau bê lên, chiếc khiên vẫn
cứ nằm nguyên một chỗ. Pơ – rong Mưng bước tới, chàng cúi xuống, cố giơ lên, cao lên, nhưng
chiếc khiên vẫn không nhấc lên được. Xing Nhã từ từ bước tới. Chàng cầm chiếc khiên giơ cao
lên trời và múa. Xing Nhã múa phía trước, một mái tranh bay theo gió, múa phía sau, một mái
nhà bay theo bão. Nhà Gia – rơ Bú nghiêng đằng tây, ngả đằng đông. Gió từ núi Mơ – đan tới,
bão từ núi Hơ – mu đến, thổi xô nhà cửa của làng Gia – rơ Bú. Gà heo bay như lá rụng. Nước
suối dâng, trôi cả gà, lợn, trâu bò và nô lệ của Gia – rơ Bú.
Gia – rơ Bú (hoảng khiếp gọi) – Ơ Hơ – bia Blao. Em đến bảo Xing Nhã ngừng múa khiên
đi. Tôi không bắt mẹ nó nữa đâu. Tôi se trả bầy trai gái, nô lệ và của cải của cha nó.
Hơ – bia Blao (vùng vằng) – Tôi không đi, anh đừng lừa tôi.
Gia - rơ Bú – Nếu tôi lừa em, em sẽ lấy hết của cải trong nhà tôi và tôi sẽ trở thành người
tôi tớ giữ gà lợn cho em.
Hơ – bia – Blao mặc một chiếc váy dài phủ gót. Cổ chân nàng đeo một chiếc còng vàng
óng như sao. Từ cột bè đằng trước, nàng chạy tới chôc Xing Nhã đang múa, nàng níu lấy đuôi
khố của chàng.
Xing Nhã (vội quay lại) – Ai đấy?
Hơ – bia Blao – Em là Hơ – bia Blao đây.
Xing Nhã - Ủa, em tới đây làm gì?
Hơ – bia Blao – Gia – rơ Bú bảo anh đừng múa nữa. Những tôi tớ và nô lệ của Gia – rơ
Bú ngã sập như cây tranh, cây lách ngập nước lũ. Họ chịu trả lại mẹ và của cải cho anh rồi đó.
Xing Nhã hạ chiếc khiên. Trời ngừng gió. Nắng hanh. Bầy chim két, chim kơ- tuôn ăn quả
xanh trên cành, lại kêu róc rét .
Gia – rơ Bú – Tôi sẽ trả lại hết của cải cả cha anh
Cuối cùng đôi bên chỉ còn Pơ – rong Mưng và Xing Nhã đánh nhau. Ông Gỗn ở trên trời
vén từng lớp mây đen trắng nhìn theo không chớp mắt. Hai người đánh nhau bảy ngày bảy đêm.
Gió, bão, mây, mưa sấm chớp trên trời. Ông Gỗn đứng ở giữa. Khi thấy Xing Nhã mạnh thì ông
bớt sức Xing Nhã đi, khi thấy Pơ – rong Mưng có sức hơn, thì ông lại tăng sức cho Xing Nhã.
Rồi khi Hơ – bia – Blao đang bối rối thì ông Gỗn hất tay đao của nàng, giết chết Gia – rơ Bú.
Xing Nhã – Ơ mẹ. Ơ em Hơ – bia Blao. Chúng ta đi về buôn của Gia – rơ Bú lấy trâu, bò,
chiêng, ché dẫn bầy nô lệ của nó về làng đi. Nô lệ đứng đó đây các anh muốn trở về với chúng
tôi hay muốn ở lại buôn cũ?
Nô lệ - Chúng tôi xin theo ông.
(Trích Xing Nhã, Trường ca Tây Nguyên, NXB Văn học 1962, Ngọc Anh,
Kơ - xo Bơ - lêu dịch )
Trả lời các câu hỏi:
Câu 1. Theo đoạn trích, Xing Nhã đi tìm ai để trả thù? (0,75 điểm)
Câu 2. Đoạn trích trên xoay quanh biến cố trọng đại nào? (0,75 điểm)
Câu 3. Theo anh/chị, chiến thắng mà Xing Nhã đạt được có ý nghĩa như thế nào? (1,0 điểm)
Câu 4. Nêu tác dụng biện pháp tu từ điệp cấu trúc trong câu sau: Xing Nhã múa phía trước, một
mái tranh bay theo gió, múa phía sau, một mái nhà bay theo bão. (1,0 điểm)
Câu 5. Qua nhân vật Xing Nhã, người Tây Nguyên thể hiện quan niệm như thế nào về người
anh hùng? (1,0 điểm)
Câu 6. Từ nội dung phần đọc hiểu, anh/chị hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vai trò của cá nhân
trong sự phát triển của cộng đồng (Trả lời trong 6-7 câu). (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Thức khuya là một thói quen gây hại cho sức khỏe, anh/chị hãy viết một bài luận thuyết
phục người khác từ bỏ thói quen đó.
ĐỀ 02
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(1) Những người vĩ đại không bao giờ từ bỏ ước mơ của mình. Họ luôn cố gắng san
bằng mọi trở ngai để đạt được điều mình khao khát. Thomas Edison ước mơ về một bóng đèn
có thể thắp sáng bằng điện và ông đã bắt tay vào việc hiện thực hóa ước mơ đó. Thế nhưng
ông phải tốn hơn mười ngàn lần mới tìm được nguyên liệu phù hợp để làm sợi dây tóc. Về
phát minh này, T. Edison đã nói: "Tôi đã trải qua 10.000 lần thử nghiệm khác nhau mới tìm ra
kết quả cuối cùng, nhưng tôi không nghĩ rằng mình đã thất bại 10.000 lần. Tôi không hề thất
bại lần nào. Tôi đã thành công trong việc chứng minh rằng, có gần 10.000 chất liệu không thể
dùng để chế tạo dây tóc bóng đèn. Và một khi đã loại bỏ dần những chất không phù hợp, cuối
cùng tôi cũng đã tìm ra nó!"
(2) Nếu bạn đang hướng đến một mục tiêu quan trọng nhưng cảm thấy thất vọng sau
thất bại đầu tiên và muốn bỏ cuộc thì hãy tạm dừng lại. Hãy suy nghĩ về những điều bạn vừa
trải qua. Hãy nghĩ về con đường thành công của các vĩ nhân và học tập tính kiên trì của họ.
(3) Thành công không phải là thứ mà bạn có thể thừa kế như tiền bạc hay các giá trị
vật chất thông thường. Thành công chỉ đến khi bạn chấp nhận thất bại và kiên trì theo đuổi
mục tiêu đã đề ra. Bất kể ước mơ của bạn là gì chăng nữa, điều bạn cần làm đầu tiên là hãy
san bằng mọi trở ngại và tiến về phía trước với tất cả nghị lực của mình.
(Trích Không gì là không thể, George Matthew Adams,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2018, tr113 - 114)
Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra luận điểm của đoạn văn (1). (0,75 điểm)
Câu 3. Theo anh/chị, việc tác giả đưa ví dụ về quá trình tìm ra nguyên liệu phù hợp để chế tạo
ra dây tóc bóng đèn của Thomas Edison trong đoạn trích có tác dụng gì? (1,0 điểm)
Câu 4. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc trong đoạn văn (2). (1,0 điểm)
Câu 5. Theo anh/chị, mục đích của tác giả khi viết văn bản trên là gì? (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với ý kiến "Thành công chỉ đến khi bạn chấp nhận thất bại và
kiên trì theo đuổi mục tiêu đã đề ra." không? Vì sao? ( Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ thói quen lười đọc sách.
ĐỀ 03
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
[..] Bạn sẽ khám phá ra rằng những người không thành công luôn mắc phải một căn
bệnh tinh thần – tạm gọi căn bệnh” tự bào chữa”. Hầu như ai cũng mang trong mình ít nhiều
biểu hiện của căn bệnh này. Khi căn bệnh đã trở nên trầm trọng, chắc chắn người đó sẽ không
tránh khỏi thất bại.
Căn bệnh tự bào chữa là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt lớn giữa một người có khả
năng và một người bất lực trong kiểm soát hành động và suy nghĩ của chính mình. Một người
cành thành công bao nhiêu, lại càng ít tự biện hộ bấy nhiêu. Còn những người chưa gặt hái
được thành quả gì trong hành trang cuộc sống, hoặc không hề có kế hoạch gì cho tương lai thì
thường viện dẫn đến rất nhiều lý do để bào chữa cho hiện trạng của mình.
Khi quan sát, tìm hiểu những người dẫn đều trong bất cứ lĩnh vực nào, dù là kinh
doanh, giáo dục hay trong quân đội, bạn sẽ thấy: nếu muốn an phận, họ vẫn có thể đưa ra
những lời biện bạch nhưng người bình thường vẫn làm, những họ chẳng bao giờ làm như vậy
cả.
Quả thực, nếu muốn, Roosevelt có thể viện cớ vào đôi chân tật nguyền của ông,
Truman có thể biện bạch ông chưa hề được học đại học; cũng như Kennedy vẫn có thể kêu ca:
“Tôi quá trẻ, làm sao làm tổng thống được!”; hay Johnson và Eisenhower có thể vịn vào
những cơn đau tim khủng khiếp thường xuyên để từ chối nhận lãnh trọng trách quốc gia.
Cũng giống như bất cứ căn bệnh nào khác, chứng “tự bào chữa” sẽ trở nên trầm trọng
nếu không được chữa trị kịp thời, đúng cách. Thông thường, diễn biến tâm lý của một nạn
nhân mắc phải căn bệnh này như sau: “Lẽ ra mình phải làm tốt hơn, phải tìm lý do gì đó mới
được, chứ nếu không thì mất mặt lắm. Để xem nào, có thể là do sức khoẻ giảm sút? Do tuổi
tác? Do hạn chế về mặt kiến thức? Do ảnh hưởng từ chuyện gia đình? Hay do ảnh hưởng từ
nền tảng giáo dục?”.
Khi đã tìm được lý do “hợp lý” để tự bào chữa, anh ta sẽ bám riết lấy nó để biện minh
với chính bản thân mình và với những người xung quanh, rằng đó chính là căn nguyên tại sao
anh ta không thể thành công. Bạn nên biết một suy nghĩ, dù tích cực hay tiêu cực, cũng sẽ tạo
nên một cường lực nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần, sẽ càng lúc ăn sâu vào tiềm thức.Lúc đầu,
có thể người bện hoàn toàn đủ tỉnh táo để nhận ra cái cớ mình đang dùng chẳng khác gì một
lời nói dối nhưng lâu dần, chính bản thân anh ta cũng bị thuyết phục rằng đó thực sự là
nguyên nhân tại sao anh ta không thể thành công.
Chính vì vậy, nếu bạn thực sự quyết tâm và muốn hướng đến thành công thì cần phải
bắt tay ngay vào bước thứ nhất - tự tạo ra một loại vắc - xin tiêu diệt tận gốc từng tế bào của
căn bệnh nguy hiểm này.
(Trích Dám nghĩ lớn, David J Schwatz, NXB Tổng hợp Hồ Chí Minh, 2018, Tr 75-76)
Trả lời câu hỏi/Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định vấn đề nghị luận trong đoạn trích trên. (0,75 điểm)
Câu 2. Chỉ ra các luận điểm được tác giả được triển khai trong đoạn trích. (0,75 điểm)
Câu 3. Nêu hiệu quả của biện pháp nghệ thuật câu hỏi tu từ được tác giả sử dụng trong đoạn
văn sau: Thông thường, diễn biến tâm lý của một nạn nhân mắc phải căn bệnh này như sau:
“Lẽ ra mình phải làm tốt hơn, phải tìm lý do gì đó mới được, chứ nếu không thì mất mặt lắm.
Để xem nào, có thể là do sức khoẻ giảm sút? Do tuổi tác? Do hạn chế về mặt kiến thức? Do
ảnh hưởng từ chuyện gia đình? Hay do ảnh hưởng từ nền tảng giáo dục?” (1,0 điểm)
Câu 4. Trong đoạn trích, tác giả nhắc đến nhiều đời tổng thống Mĩ nhằm mục đích gì? (1,0
điểm)
Câu 5. Nhận xét quan điểm của tác giả về bệnh tự bào chữa. (1,0 điểm)
Câu 6. Anh/Chị có đồng tình với cách lí giải của tác giả về diễn biến tâm lí của những người
mặc bệnh "tự bào chữa hay không? Vì sao? ( Trả lời bằng 6-7 câu) (1,5 điểm)
II. VIẾT (4.0 điểm)
Anh/Chị hãy viết một bài luận thuyết phục người khác từ bỏ quan niệm coi thường
những người có hoàn cảnh khó khăn.
 









Các ý kiến mới nhất