VẬN DỤNG DẠNG CÂU HỎI ĐÚNG SAI HÓA 12

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 13h:58' 16-03-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 13h:58' 16-03-2026
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi1:................................................................................
1. Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây:
Số
Họ và tên
TT
Ngày Nơi công
tháng tác (hoặc Chức
năm nơi thường danh
sinh
trú)
Trình độ Tỷ lệ (%) đóng góp vào
chuyên
việc tạo ra sáng kiến
môn
(ghi rõ đối với từng
đồng tác giả, nếu có)
2. Là tác giả (nhóm tác giả) đề nghị xét công nhận sáng kiến: Phát triển tư duy
hóa học qua dạng câu hỏi đúng sai chương carbohydrate.
3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ đầu
2
tư
tạo
ra
sáng
kiến)
:
………………………………………………………………………
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến3: …………………………
5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào sớm
hơn)……………………….
6. Mô tả bản chất của sáng kiến4:
6.1. Tình trạng của giải pháp đã biết trước đó:
a) Mô tả đầy đủ, chi tiết tình trạng kỹ thuật hoặc phương pháp tổ chức sản
xuất, công tác, tác nghiệp hiện tại (thường làm) trước khi thực hiện những giải pháp
mới (mô tả chi tiết các bước/qui trình thực hiện nhiệm vụ).
Trước khi thực hiện sáng kiến “Phát triển tư duy hóa học qua dạng câu hỏi đúng
sai chương Carbohydrate”, việc tổ chức dạy học, luyện tập và kiểm tra đánh giá nội
dung chương Carbohydrate trong môn Hóa học lớp 12 tại đơn vị chủ yếu được triển
khai theo các phương pháp và hình thức truyền thống.
Trong quá trình dạy học, giáo viên thực hiện giảng dạy bám sát nội dung sách
giáo khoa, tập trung truyền đạt kiến thức cơ bản về khái niệm, phân loại, cấu trúc, tính
Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến.
Tên và địa chì của chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
3
Điện từ, viễn thông, tự động hóa, công nghệ thông tin
Nông lâm ngư nghiệp và môi trường
Cơ khi, xây dựng, giao thông vận tải
Dịch vụ (ngân hàng, du lịch, giáo dục, y tê...)
Khác...
4
cần nêu rõ các nội dung theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 của Thông tư sổ 18/2013/TTBKHCN hướng dẫn thi hành một sổ quy định của Điều lệ Sáng kiến.
1
2
chất hóa học, điều chế và ứng dụng của các carbohydrate tiêu biểu như glucose,
fructose, saccharose, tinh bột và cellulose. Học sinh tiếp nhận kiến thức thông qua
nghe giảng, ghi chép và ghi nhớ các nội dung trọng tâm. Hoạt động học tập chủ yếu
diễn ra theo hướng một chiều, giáo viên giữ vai trò trung tâm, học sinh làm theo hướng
dẫn.
Ở khâu luyện tập và củng cố, các dạng bài tập thường được sử dụng là trắc
nghiệm nhiều lựa chọn và bài tập tự luận ngắn. Các câu hỏi tập trung kiểm tra khả
năng tái hiện kiến thức, nhận biết phản ứng đặc trưng hoặc vận dụng trực tiếp công
thức, phương trình hóa học quen thuộc. Dạng câu hỏi đúng – sai nếu có xuất hiện thì
chỉ mang tính đơn lẻ, chưa được xây dựng thành một hệ thống bài tập có định hướng
rõ ràng.
Trong kiểm tra, đánh giá định kỳ và ôn tập thi, đề bài đã có áp dụng các dạng
câu hỏi như câu đúng sai hay trả lời ngắn nhằm phù hợp với hình thức thi hiện hành.
Tuy nhiên dạng câu đúng sai chỉ vừa được áp dụng từ học kỳ 2 năm học 2024 – 2025
đến nay nên vẫn còn quá mới với cả giáo viên và học sinh. Giáo viên chưa có nhiều
nguồn tài liệu về dạng bài này cũng như học sinh còn chưa được tiếp xúc nhiều để có
định hướng đúng đắn trong cách giải quyết dạng bài này cũng như chuẩn bị cho kỳ thi
Trung học phổ thông quốc gia.
b) Nêu, phân tích rõ những ưu, nhược điểm, thuận lợi, khó khăn của giải pháp kỹ
thuật hoặc giải pháp tổ chức sản xuất, công tác, tác nghiệp hiện đang được áp dụng
tại cơ quan, đơn vị hoặc trong lĩnh vực công tác mình đảm nhiệm và phân tích nguyên
nhân dẫn đến tình hình đó.
Cách tổ chức dạy học, luyện tập và kiểm tra đánh giá chương Carbohydrate
theo phương pháp truyền thống trong thời gian qua có một số ưu điểm nhất định.
Trước hết, nội dung dạy học bám sát sách giáo khoa và cấu trúc đề thi hiện hành, giúp
giáo viên dễ dàng xây dựng kế hoạch bài dạy, lựa chọn nội dung trọng tâm và tổ chức
hoạt động học tập phù hợp với thời lượng quy định. Các dạng bài tập trắc nghiệm
nhiều lựa chọn và tự luận ngắn đã quen thuộc với học sinh, thuận tiện cho việc luyện
tập, kiểm tra nhanh và chấm điểm. Việc sử dụng những dạng bài này cũng giúp giáo
viên tiết kiệm thời gian trong khâu ra đề, đánh giá và thống kê kết quả học tập.
Tuy nhiên, giải pháp hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế. Việc dạy học theo hướng
truyền thụ kiến thức một chiều khiến học sinh chủ yếu ghi nhớ thông tin, ít có cơ hội
phân tích, so sánh và làm rõ bản chất hóa học của các carbohydrate. Dạng trắc nghiệm
nhiều lựa chọn cho phép học sinh chọn đáp án đúng mà không cần lý giải đầy đủ, dẫn
đến tình trạng học sinh làm bài dựa vào mẹo, loại trừ hoặc ghi nhớ máy móc. Khi áp
dụng dạng câu hỏi đúng – sai, do chưa được khai thác có hệ thống và chưa gắn với yêu
cầu giải thích, nhiều câu hỏi mới dừng ở mức độ nhận biết, chưa phát huy được vai trò
rèn luyện tư duy phản biện và khả năng phát hiện sai lầm hóa học.
Về thuận lợi, chương Carbohydrate có cấu trúc kiến thức tương đối logic, các
chất có mối quan hệ chặt chẽ về cấu tạo và tính chất, rất phù hợp để xây dựng các nhận
định đúng – sai nhằm kiểm tra mức độ hiểu bản chất. Học sinh lớp 12 đã có nền tảng
kiến thức hóa học tương đối đầy đủ, có khả năng tiếp cận và phân tích các mệnh đề
hóa học nếu được định hướng đúng.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những khó khăn nhất định. Dạng câu hỏi đúng – sai
mới được đưa vào áp dụng từ học kỳ II năm học 2024 – 2025 nên còn khá mới đối với
cả giáo viên và học sinh. Giáo viên chưa có nhiều tài liệu tham khảo, ngân hàng câu
hỏi chuẩn hóa hoặc hướng dẫn cụ thể để thiết kế câu hỏi đúng – sai theo hướng phát
triển tư duy. Học sinh chưa quen với việc phân tích từng mệnh đề, xác định nguyên
nhân đúng – sai, dẫn đến tâm lý lúng túng khi làm bài. Nguyên nhân chủ yếu của tình
trạng này xuất phát từ thói quen dạy học và kiểm tra đánh giá lâu nay thiên về trắc
nghiệm nhiều lựa chọn, chưa chú trọng đúng mức đến các dạng câu hỏi yêu cầu tư duy
phân tích và phản biện.
Những ưu điểm, hạn chế và khó khăn nêu trên cho thấy giải pháp hiện hành
chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển tư duy hóa học cho học sinh, đặt ra yêu cầu
cần có sự đổi mới trong cách xây dựng và khai thác dạng câu hỏi đúng – sai một cách
bài bản và có định hướng.
6.2. Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a) Mục đích của giải pháp;
Giải pháp được đề xuất nhằm đổi mới hình thức luyện tập và kiểm tra đánh giá
chương Carbohydrate theo hướng phát triển tư duy hóa học cho học sinh lớp 12 thông
qua việc xây dựng và khai thác có hệ thống dạng câu hỏi đúng – sai. Thông qua giải
pháp này, học sinh không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ kiến thức mà được rèn luyện khả
năng phân tích, so sánh, đánh giá tính đúng – sai của từng nhận định hóa học dựa trên
cơ sở khoa học.
Giải pháp hướng tới việc giúp học sinh hiểu sâu bản chất các khái niệm, tính
chất và phản ứng đặc trưng của carbohydrate, đặc biệt là mối quan hệ giữa cấu tạo
phân tử và tính chất hóa học. Qua đó, học sinh hình thành thói quen tư duy phản biện,
phát hiện và sửa chữa những nhận thức sai lệch thường gặp trong quá trình học tập
chương Carbohydrate.
b) Tính mới của giải pháp (đối với giải pháp mới hoàn toàn) hoặc những điểm khác
biệt, tỉnh mới của các giải pháp so với các giải pháp đã biết (đối với các giải pháp có
sự cải tiến đối với các giải pháp đã có).
Giải pháp “Phát triển tư duy hóa học qua dạng câu hỏi đúng – sai chương
Carbohydrate” không chỉ dừng lại ở việc đưa dạng câu hỏi đúng – sai vào dạy học và
kiểm tra đánh giá, mà thể hiện rõ tính mới ở cách tiếp cận, cách thiết kế và cách khai
thác dạng câu hỏi này theo hướng phát triển tư duy hóa học cho học sinh lớp 12.
Điểm mới cơ bản của sáng kiến thể hiện trước hết ở việc xây dựng hệ thống câu
hỏi đúng – sai có định hướng rõ ràng, bám sát bản chất kiến thức chương
Carbohydrate, đặc biệt là mối quan hệ giữa cấu tạo phân tử và tính chất hóa học của
các carbohydrate tiêu biểu. Mỗi câu hỏi được thiết kế dưới dạng các mệnh đề độc lập,
có mức độ phân hóa từ nhận biết đến vận dụng và vận dụng cao, buộc học sinh phải
phân tích từng nội dung cụ thể thay vì chỉ lựa chọn đáp án theo cảm tính.
Khác với cách sử dụng rời rạc, mang tính thử nghiệm trước đây, sáng kiến khai
thác dạng câu hỏi đúng – sai như một công cụ phát triển tư duy, không chỉ để đánh giá
kết quả học tập. Học sinh được yêu cầu xác định đúng – sai gắn với giải thích ngắn
gọn hoặc chỉ ra nguyên nhân sai, qua đó rèn luyện tư duy logic, khả năng phản biện và
kỹ năng phát hiện sai lầm hóa học thường gặp trong chương Carbohydrate.
Một điểm đổi mới quan trọng khác là tích hợp dạng câu hỏi đúng – sai vào toàn
bộ tiến trình dạy học, từ khâu hình thành kiến thức, luyện tập, củng cố đến kiểm tra
đánh giá và ôn tập thi. Dạng câu hỏi này không còn chỉ xuất hiện ở cuối bài hoặc trong
đề kiểm tra, mà được sử dụng linh hoạt như tình huống học tập, câu hỏi dẫn dắt và
công cụ tự đánh giá của học sinh.
So với các giải pháp sẵn có vốn thiên về trắc nghiệm nhiều lựa chọn, sáng kiến
thể hiện tính ưu việt ở khả năng hạn chế việc học sinh khoanh đáp án theo mẹo, tăng
yêu cầu phân tích bản chất và lập luận hóa học. Qua đó, việc đánh giá năng lực học
sinh trở nên chính xác và thực chất hơn, đồng thời góp phần hình thành thói quen học
tập chủ động, có chiều sâu.
Về mặt khoa học và thực tiễn, sáng kiến là kết quả của quá trình tác giả tự
nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm trong thực tế giảng dạy, xuất phát từ yêu cầu đổi
mới kiểm tra đánh giá và thực tiễn dạy học tại đơn vị. Tại thời điểm thực hiện, chưa có
tài liệu hướng dẫn chính thống hay công trình được phổ biến rộng rãi về việc khai thác
hệ thống câu hỏi đúng – sai chương Carbohydrate theo hướng phát triển tư duy hóa
học cho học sinh lớp 12. Do đó, sáng kiến thể hiện rõ tính sáng tạo, tính mới và khả
năng áp dụng hiệu quả trong thực tiễn giảng dạy.
- Trình bày các bước/qui trình thực hiện giải pháp.
Xây dựng hệ thống bài tập đúng sai
Việc xây dựng hệ thống bài tập đúng – sai trong phần Carbohydrate không chỉ
nhằm mục đích kiểm tra đánh giá, mà còn là công cụ rèn luyện tư duy phản biện, củng
cố và hệ thống hóa kiến thức cho học sinh. Trong chương trình Hóa học 12,
Carbohydrate là nội dung vừa mang tính lý thuyết vừa gắn liền thực tiễn, dễ gây nhầm
lẫn ở học sinh (như sự khác biệt giữa glucose, fructose, saccharose; phản ứng tráng
bạc; hay quá trình lên men rượu). Chính vì vậy, hệ thống bài tập đúng – sai có thể trở
thành tài liệu hữu ích cho cả giáo viên trong giảng dạy và học sinh trong tự học, ôn
tập.
Các bài tập này giúp học sinh:
- Nhận diện và sửa chữa những sai lầm phổ biến.
- Thực hành phân tích, đối chiếu kiến thức với hiện tượng thực tiễn.
- Rèn luyện tính cẩn trọng và khả năng phản biện khi đánh giá từng nhận định.
Đối với giáo viên, đây là công cụ theo dõi sự tiến bộ của học sinh, phát hiện
những lỗ hổng kiến thức để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp. Đồng thời,
việc triển khai hệ thống câu hỏi đúng – sai còn góp phần tạo ra môi trường học tập chủ
động, nơi học sinh có thể tự kiểm tra và tự rèn luyện tư duy.
Để xây dựng một hệ thống bài tập đúng – sai hiệu quả cho phần Carbohydrate,
cần thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu. Làm rõ mục tiêu của hệ thống bài tập: củng cố
kiến thức cơ bản về cấu tạo, phân loại, tính chất Carbohydrate; đánh giá mức độ hiểu
biết; phát triển khả năng phân tích và phản biện của học sinh.
- Bước 2: Lựa chọn nội dung trọng tâm. Tập trung vào những kiến thức học
sinh hay nhầm lẫn hoặc dễ mắc sai sót như: cấu trúc mạch vòng – mạch hở, phản ứng
đặc trưng của carbohydrate, phân biệt phản ứng thủy phân và lên men, ứng dụng thực
tiễn của tinh bột và cellulose...
- Bước 3: Thiết kế câu hỏi theo mức độ. Trong một câu hỏi đúng sai, nên xây
dựng các ý hỏi đầy đủ theo 3 cấp:
+ Nhận biết: kiểm tra kiến thức cơ bản.
+ Thông hiểu: yêu cầu phân tích, so sánh.
+ Vận dụng: giải thích hiện tượng thực tiễn hoặc tính toán.
- Bước 4: Đảm bảo tính khoa học, rõ ràng. Các phát biểu trong câu hỏi cần
chính xác, tránh mơ hồ hoặc gây hiểu nhầm. Lời dẫn và 4 nhận định phải logic, gắn
với kiến thức Carbohydrate trong SGK và thực tiễn.
- Bước 5: Thử nghiệm và điều chỉnh. Sau khi thiết kế, giáo viên cần kiểm tra lại
độ hợp lý, đưa ra trong lớp thử nghiệm, lắng nghe phản hồi và điều chỉnh cho phù hợp
trình độ học sinh.
- Bước 6: Tổ chức triển khai. Các câu hỏi đúng – sai cần được sử dụng linh hoạt
trong tiết học, kiểm tra nhanh, ôn tập, cũng như tài liệu tự học. Học sinh vừa có cơ hội
tự đánh giá bản thân, vừa hình thành kỹ năng tư duy phản biện và phân tích hóa học.
Ví dụ minh họa: Một số câu đúng sai trong chương Carbohydrate:
Câu 1. Cấu trúc dày đặc của cellulose làm giảm khả năng phản ứng và cản trở các ứng
dụng của nó. Sulfuric acid đậm đặc là một dung môi lý tưởng để hòa tan cellulose và
do đó được sử dụng rộng rãi để xử lý cellulose.
Chuẩn bị:
- Mẫu cellulose thô.
- Các mẫu cellulose được xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% theo tỉ lệ 1:2,5 trong
các khoảng thời gian khác nhau. Ký hiệu "cellulose – 30'" nghĩa là mẫu cellulose được
xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% theo tỉ lệ 1:2,5 trong 30 phút. Tưng tự với các
mẫu celllulose được xử lý với sunlfuric acid theo tỉ lệ 1:2,5 lần lượt trong 20 phút; 15
phút; 10 phút; 5 phút, ký hiệu lần lượt là: cellulose – 20', cellulose – 15', cellulose –
10', cellulose – 5'.
Tiến hành thí nghiệm: Cho mẫu cellulose thô và các mẫu cellulose được xử lý với
sulfuric đậm đặc 70% cùng với một lượng enzyme. Hỗn hợp được thêm vào máy
khuấy (tốc độ 150 vòng/phút và 50oC). Kết quả của quá trình thủy phân được thể hiện
trong biểu đồ sau:
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Đối với cellulose thô, hiệu suất của quá trình thủy phân sau 72 giờ
là thấp nhất.
b) Mẫu cellulose được xử lý trong 20 phút sẽ giúp hiệu suất của quá
trình thủy phân tốt hơn mẫu được xử lý trong 15 phút.
c) Mẫu cellulose được xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% trong 30
phút sẽ giúp hiệu suất của quá trình thủy phân là lớn nhất.
d) Từ kết quả của thí nghiệm có thể đưa ra kết luận là thời gian xử lý
cellulose với sulfuric acid đậm đặc 70% lâu thì hiệu suất của quá
trình thủy phân càng lớn.
a) Sai. Phát biểu này xét riêng "đối với cellulose thô" chứ không so sánh cellulose thô
với các mẫu khác nên đối với cellulose thô, ta quan sát trog biểu đồ thấy hiệu suất của
quá trình thủy phân sau 72 giờ là cao nhất, không phải thấp nhất.
b) Đúng. Tại mọi thời điểm, mẫu cellulose đã được xử lý trong 20 phút sẽ giúp hiệu
suất của quá trình thủy phân cao hơn mẫu 15 phút. Cần lưu ý rằng phát biểu này chỉ so
sánh hai mốc thời gian cụ thể (15 phút và 20 phút), chứ không kết luận về xu hướng
chung.
c) Đúng. Phát biểu này khẳng định mẫu xử lý 30 phút cho hiệu suất lớn nhất. Để xác
định tính đúng sai, cần xem biểu đồ và so sánh hiệu suất của mẫu 30 phút với tất cả
các mẫu khác (bao gồm cả các mẫu được xử lý trong thời gian dài hơn 30 phút, nếu
có). Nếu mẫu 30 phút có hiệu suất cao nhất trong tất cả các mẫu được thí nghiệm, phát
biểu này đúng; ngược lại, nếu có mẫu nào khác có hiệu suất cao hơn, phát biểu này sai.
d) Sai. Quan sát trên đồ thị, khi thời gian xử lý tăng từ 5 đến 30 phút, hiệu suất tăng
lên tương ứng. Tuy nhiên, không thể kết luận "càng lâu thì càng lớn" vì thời gian xử lý
vượt 30 phút không được thí nghiệm.
Câu 2. Lactose là một hợp chất carbohydrate có trong sữa và các sản phẩm từ sữa
khác.
Khi lactose được tiêu hóa, liên kết giữa hai monosaccharide bị phá vỡ.
Enzyme chịu trách nhiệm phá vỡ liên kết là lactase, được tìm thấy trong ruột non.
Hàng triệu người thiếu hụt đủ lượng lactase, khiến họ không thể tiêu hóa lactose đầy
đủ, dẫn đến tình trạng được gọi là không dung nạp lactose. Nghiên cứu biểu đồ và trả
lời các câu hỏi.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Enzyme lactase sẽ thủy phân lactose thành glucose và galactose.
b) Tại pH khoảng bằng 6 thì lượng sản phẩm monosaccharide thu
được là lớn nhất.
c) Tại pH khoảng 5,5 thì hoạt động của lactase giảm xuống 50% so
với giá trị pH tối ưu.
d) Từ kết quả trên có thể kết luận hoạt động của lactase tăng khi pH
tăng.
a) Đúng. Enzyme lactase sẽ thủy phân lactose thành glucose và galactose do lactose
cấu tạo từ glucose và galactose.
b) Đúng. Tại pH = 6 độ hoạt động của lactase lớn nhất là 100% nên lượng sản phẩm
monosacchride thu được là lớn nhất.
c) Sai. Tại pH = 5,5 độ hoạt động của lactase khoảng 90%.
d) Sai. Độ hoạt động của lactase giảm khi tăng pH từ 6 – 10.
Câu 3. Tiến hành thí nghiệm phản ứng giữa cellulose và nitric acid như sau:
- Bước 1: Cho 5 mL dung dịch HNO3 vào cốc thủy tinh ngâm trong chậu nước đá.
Thêm từ từ 10 mL dung dịch H2SO4 đặc vào cốc và khuấy đều. Sau đó, lấy cốc ra khỏi
chậu nước đá, thêm một nhúm bông vào cốc và dùng đũa thủy tinh ấn bông ngập trong
dung dịch.
- Bước 2: Ngâm cốc trong chậu nước nóng khoảng 10 phút. Để nguội, lấy sản phẩm
thu được ra khỏi cốc, rửa nhiều lần với nước lạnh (đến khi nước rửa không làm đổi
màu quỳ tím), sau đó rửa lại bằng dung dịch NaHCO3 loãng.
- Bước 3: Cho sản phẩm vào giữa 2 miếng giấy lọc và ép để hút nước, làm khô tự
nhiên.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Dung dịch NaHCO3 có vai trò trung hòa hoàn toàn acid còn lại
trong sản phẩm.
b) H2SO4 đặc đóng vai trò là chất xúc tác.
c) Ở bước 3, có thể thay việc làm khô tự nhiên bằng cách sấy sản
phẩm ở nhiệt độ cao.
d) Phần còn lại trong cốc sau khi tách sản phẩm ở bước 2 được
trung hòa và tách ion sulfate thì thu được dung dịch có phản ứng
với thuốc thử Tollens.
a) Đúng. Có thể sử dụng NaHCO3 loãng để trung hoà acid dư, giúp thu được sản phẩm
sạch:
b) Đúng.
đặc đóng vai trò là chất xúc tác.
c) Sai. Không thể thay việc làm khô tự nhiên bằng việc sấy do thuốc súng không khói
dễ cháy, nên khi sấy ở nhiệt độ cao có thể gây cháy.
d) Đúng. Cellulose sẽ bị thủy phân 1 phần trong môi trường acid nên sẽ thu được
glucose, phản ứng được với thuốc thử Tollens.
Câu 4. Hàm lượng glucose có trong mẫu dược phẩm có thể được xác định bằng
phương pháp chuẩn độ với iodine như sau:
- Bước 1: Cho 20,00 mL một mẫu dung dịch chứa glucose vào 15,00 mL dung dịch
iodine 0,10 M dư.
- Bước 2: Sau đó, thêm vào dung dịch sau phản ứng vài giọt dung dịch X, rồi vừa lắc
vừa nhỏ từ từ dung dịch sodium thiosulfate (Na2S2O3) 0,05 M vào dung dịch ở trên
đến khi mất màu xanh thì dừng lại.
+2
(aq) →
+
(aq).
Lặp lại 2 lần, thể tích dung dịch sodium thiosulfate đã dùng được ghi lại.
Thí nghiệm
Thể tích dung dịch
0,05M
1
2
3
11,5 mL
12,0 mL
12,0 mL
Phát biểu
a) Phương pháp chuẩn độ trên thuộc loại chuẩn độ oxi hóa – khử.
Đúng
Sai
b) Dung dịch X là hồ tinh bột có tác dụng chỉ thị lượng iodine dư.
c) Nồng độ glucose trong mẫu dung dịch ban đầu là 0,06 M.
d) Nếu tăng nồng độ Na2S2O3 lên 2 lần thì thể tích Na2S2O3 cần dùng
sẽ là 24,0 mL.
Thể tích trung bình của
sau 3 lần chuẩn độ là:
Đổi
(1)
(2)
Số mol của
tham gia phản ứng (2) là:
Số mol của
ban đầu là:
Lượng
tham gia phản ứng với glucose là:
Nồng độ của glucose trong là:
a) Đúng. Chuẩn độ oxi hóa - khử là dùng phản ứng oxi hóa - khử giữa chất phân tích
và dung dịch chuẩn độ. Trong phản ứng trên I2 là chất oxi hóa và Na2S2O3 là chất khử.
b) Đúng. Hồ tinh bột được dùng là chất chỉ thị nhận biết được khi nào
phản ứng
hết, hiện tượng chuẩn độ dung dịch cho đến khi hết màu xanh thì dừng lại.
c) Đúng. Nồng độ glucose trong mẫu dung dịch ban đầu là 0,06M.
d) Sai. Khi tăng nồng độ lên gấp đôi thì thể tích Na2S2O3 giảm một nửa là 6 mL.
Câu 5. Saccharose có phản ứng với copper(II) hydroxide tương tự như glucose, thí
nghiệm được tiến hành như sau:
- Bước 1: Cho vào ống nghiệm khoảng 0,5 mL dung dịch NaOH 10% và khoảng 0,5
mL dung dịch CuSO4 5%, lắc đều.
- Bước 2: Thêm tiếp vào ống nghiệm khoảng 4 mL dung dịch saccharose 3%, lắc đều
ống nghiệm đến khi thu được dung dịch đồng nhất (nếu còn chất rắn thì thêm tiếp
dung dịch saccharose).
- Bước 3: Đun nóng dung dịch trong ống nghiệm.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Có thể bỏ qua bước 1 và thêm trực tiếp dung dịch saccharose vào
kết tủa Cu(OH)2.
b) Sự hình thành phức chất sẽ hòa tan kết tủa Cu(OH)2 ở bước 2.
c) Bước 2 chứng minh phân tử saccharose có ít nhất 2 nhóm OH liền
kề.
d) Bước 3 xuất hiện kết tủa đỏ gạch Cu 2O vì saccharose trong dung
dịch có tồn tại ở dạng mạch hở.
a. Đúng. Mục đích của bước 1 là hình thành kết tủa nên có thể bỏ qua bước 1 và thêm
trực tiếp dung dịch saccharose vào kết tủa Cu(OH)2.
b. Đúng. Tại bước 2 đã có phản ứng của dung dịch saccharose với Cu(OH) 2:
c. Đúng. Saccharose có phản ứng với Cu(OH)2 chứng tỏ phân tử saccharose có ít nhất
2 nhóm OH liền kề.
d. Sai. Phân tử saccharose không có khả năng mở vòng
aldehyde nên không phản ứng
không có nhóm chức
để tạo được Cu2O.
Câu 6. Bông có thành phần chính là cellulose, một loại polysaccharide. Tiến hành
thủy phân cellulose theo các bước dưới:
- Bước 1: Cho vào ống nghiệm (1) một nhúm nhỏ bông và khoảng 2 mL dung dịch
H2SO4 70%. Khuấy đều rồi đặt ống nghiệm vào cốc nước nóng, thỉnh thoảng dùng đũa
thuỷ tinh khuấy nhẹ, cho đến khi thu được dung dịch đồng nhất.
- Bước 2: Để nguội, lấy 1 mL dung dịch trong ống (1) cho vào ống (2).
- Bước 3: Cho từ từ dung dịch NaOH 10% vào ống nghiệm (2) đến khi môi trường có
tính kiềm.
- Bước 4: Cho tiếp 5 giọt dung dịch CuSO4 5%.
- Bước 5: Lắc đều và đun nóng nhẹ dung dịch trong ống nghiệm.
Phát biểu
Đúng
a) Bước 1 cho thấy cellulose tan được trong nước.
b) Ở bước 3,
được thêm vào sẽ trung hòa acid H2SO4 dư.
c) Bước 5 xuất hiện kết tủa xanh rồi kết tủa tan tạo dung dịch xanh
lam.
d) Để chứng minh sản phẩm thủy phân cellulose có tính chất của
nhóm -OH liền kề thì ở bước 3 có thể thêm kết tủa Cu(OH)2 trực tiếp
Sai
vào ống nghiệm (2).
a) Sai – Bước 1 chứng minh cellulose bị thủy phân trong môi trường acid.
b) Đúng.
c) Sai, xuất hiện kết tủa xanh, kết tủa tan sau đó tạo kết tủa đỏ gạch.
d) Sai, trong dung dịch còn H2SO4 nên phải trung hòa acid trước khi cho Cu(OH)2 vào.
Câu 7. Tiến hành thí nghiệm hòa tan cellulose trong nước Schweizer theo bước sau:
- Bước 1: Hoà tan hoàn toàn
tinh. Thêm tiếp vào cốc
gam
mL dung dịch
vào
, vừa thêm vừa khuấy.
- Bước 2: Lọc lấy kết tủa rồi cho kết tủa vào một cốc
mL dung dịch
nước Schweizer.
mL nước trong cốc thuỷ
mL mới, tiếp tục thêm
vào cốc. Khuấy đều cho đến khi kết tủa tan hết, hình thành
- Bước 3: Sau đó, cho một nhúm bông vào cốc, khuấy đến khi tạo thành dung dịch
đồng nhất.
Phát biểu
a) Có thể thay muối
Đúng
bằng muối
Sai
.
b) Bước 2 kết tủa tan hình thành phức chất
.
c) Cellulose bị thủy phân một phần trong môi trường kiềm ở bước 3.
d) Bước 3 chứng minh celllulose có khả năng tan trong nước
Schweizer.
a) Đúng vì đều là muối
b) Đúng vì
nước Schweizer:
trong
tác dụng
tạo kết tủa
.
tạo thành phức chất tan có màu xanh đặc trưng gọi là
(nước Schweizer)
c) Sai vì cellulose không bị thủy phân trong môi trường kiềm.
d) Đúng vì sợi bông (chứa cellulose) tan trong nước Schweizer để được dung dịch
đồng nhất.
Câu 8. Cellulose là polymer thiên nhiên, có công thức phân tử (C 6H10O5)n, được cấu
tạo như sau:
Cellulose được sử dụng làm vật liệu xây dựng (các loại đồ gỗ), sản xuất giấy, sợi tự
nhiên và sợi nhân tạo. Cellulose cũng được sử dụng làm nguyên liệu để điều chế
ethanol và cellulose trinitrate (dùng để chế tạo thuốc súng không khói).
Phát biểu
Đúng
a) Trong cellulose, mỗi đơn vị C6H10O5 có 3 nhóm -OH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi1:................................................................................
1. Tôi (chúng tôi) ghi tên dưới đây:
Số
Họ và tên
TT
Ngày Nơi công
tháng tác (hoặc Chức
năm nơi thường danh
sinh
trú)
Trình độ Tỷ lệ (%) đóng góp vào
chuyên
việc tạo ra sáng kiến
môn
(ghi rõ đối với từng
đồng tác giả, nếu có)
2. Là tác giả (nhóm tác giả) đề nghị xét công nhận sáng kiến: Phát triển tư duy
hóa học qua dạng câu hỏi đúng sai chương carbohydrate.
3. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (trường hợp tác giả không đồng thời là chủ đầu
2
tư
tạo
ra
sáng
kiến)
:
………………………………………………………………………
4. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến3: …………………………
5. Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử, (ghi ngày nào sớm
hơn)……………………….
6. Mô tả bản chất của sáng kiến4:
6.1. Tình trạng của giải pháp đã biết trước đó:
a) Mô tả đầy đủ, chi tiết tình trạng kỹ thuật hoặc phương pháp tổ chức sản
xuất, công tác, tác nghiệp hiện tại (thường làm) trước khi thực hiện những giải pháp
mới (mô tả chi tiết các bước/qui trình thực hiện nhiệm vụ).
Trước khi thực hiện sáng kiến “Phát triển tư duy hóa học qua dạng câu hỏi đúng
sai chương Carbohydrate”, việc tổ chức dạy học, luyện tập và kiểm tra đánh giá nội
dung chương Carbohydrate trong môn Hóa học lớp 12 tại đơn vị chủ yếu được triển
khai theo các phương pháp và hình thức truyền thống.
Trong quá trình dạy học, giáo viên thực hiện giảng dạy bám sát nội dung sách
giáo khoa, tập trung truyền đạt kiến thức cơ bản về khái niệm, phân loại, cấu trúc, tính
Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến.
Tên và địa chì của chủ đầu tư tạo ra sáng kiến
3
Điện từ, viễn thông, tự động hóa, công nghệ thông tin
Nông lâm ngư nghiệp và môi trường
Cơ khi, xây dựng, giao thông vận tải
Dịch vụ (ngân hàng, du lịch, giáo dục, y tê...)
Khác...
4
cần nêu rõ các nội dung theo quy định tại Điểm d Khoản 1 Điều 5 của Thông tư sổ 18/2013/TTBKHCN hướng dẫn thi hành một sổ quy định của Điều lệ Sáng kiến.
1
2
chất hóa học, điều chế và ứng dụng của các carbohydrate tiêu biểu như glucose,
fructose, saccharose, tinh bột và cellulose. Học sinh tiếp nhận kiến thức thông qua
nghe giảng, ghi chép và ghi nhớ các nội dung trọng tâm. Hoạt động học tập chủ yếu
diễn ra theo hướng một chiều, giáo viên giữ vai trò trung tâm, học sinh làm theo hướng
dẫn.
Ở khâu luyện tập và củng cố, các dạng bài tập thường được sử dụng là trắc
nghiệm nhiều lựa chọn và bài tập tự luận ngắn. Các câu hỏi tập trung kiểm tra khả
năng tái hiện kiến thức, nhận biết phản ứng đặc trưng hoặc vận dụng trực tiếp công
thức, phương trình hóa học quen thuộc. Dạng câu hỏi đúng – sai nếu có xuất hiện thì
chỉ mang tính đơn lẻ, chưa được xây dựng thành một hệ thống bài tập có định hướng
rõ ràng.
Trong kiểm tra, đánh giá định kỳ và ôn tập thi, đề bài đã có áp dụng các dạng
câu hỏi như câu đúng sai hay trả lời ngắn nhằm phù hợp với hình thức thi hiện hành.
Tuy nhiên dạng câu đúng sai chỉ vừa được áp dụng từ học kỳ 2 năm học 2024 – 2025
đến nay nên vẫn còn quá mới với cả giáo viên và học sinh. Giáo viên chưa có nhiều
nguồn tài liệu về dạng bài này cũng như học sinh còn chưa được tiếp xúc nhiều để có
định hướng đúng đắn trong cách giải quyết dạng bài này cũng như chuẩn bị cho kỳ thi
Trung học phổ thông quốc gia.
b) Nêu, phân tích rõ những ưu, nhược điểm, thuận lợi, khó khăn của giải pháp kỹ
thuật hoặc giải pháp tổ chức sản xuất, công tác, tác nghiệp hiện đang được áp dụng
tại cơ quan, đơn vị hoặc trong lĩnh vực công tác mình đảm nhiệm và phân tích nguyên
nhân dẫn đến tình hình đó.
Cách tổ chức dạy học, luyện tập và kiểm tra đánh giá chương Carbohydrate
theo phương pháp truyền thống trong thời gian qua có một số ưu điểm nhất định.
Trước hết, nội dung dạy học bám sát sách giáo khoa và cấu trúc đề thi hiện hành, giúp
giáo viên dễ dàng xây dựng kế hoạch bài dạy, lựa chọn nội dung trọng tâm và tổ chức
hoạt động học tập phù hợp với thời lượng quy định. Các dạng bài tập trắc nghiệm
nhiều lựa chọn và tự luận ngắn đã quen thuộc với học sinh, thuận tiện cho việc luyện
tập, kiểm tra nhanh và chấm điểm. Việc sử dụng những dạng bài này cũng giúp giáo
viên tiết kiệm thời gian trong khâu ra đề, đánh giá và thống kê kết quả học tập.
Tuy nhiên, giải pháp hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế. Việc dạy học theo hướng
truyền thụ kiến thức một chiều khiến học sinh chủ yếu ghi nhớ thông tin, ít có cơ hội
phân tích, so sánh và làm rõ bản chất hóa học của các carbohydrate. Dạng trắc nghiệm
nhiều lựa chọn cho phép học sinh chọn đáp án đúng mà không cần lý giải đầy đủ, dẫn
đến tình trạng học sinh làm bài dựa vào mẹo, loại trừ hoặc ghi nhớ máy móc. Khi áp
dụng dạng câu hỏi đúng – sai, do chưa được khai thác có hệ thống và chưa gắn với yêu
cầu giải thích, nhiều câu hỏi mới dừng ở mức độ nhận biết, chưa phát huy được vai trò
rèn luyện tư duy phản biện và khả năng phát hiện sai lầm hóa học.
Về thuận lợi, chương Carbohydrate có cấu trúc kiến thức tương đối logic, các
chất có mối quan hệ chặt chẽ về cấu tạo và tính chất, rất phù hợp để xây dựng các nhận
định đúng – sai nhằm kiểm tra mức độ hiểu bản chất. Học sinh lớp 12 đã có nền tảng
kiến thức hóa học tương đối đầy đủ, có khả năng tiếp cận và phân tích các mệnh đề
hóa học nếu được định hướng đúng.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại những khó khăn nhất định. Dạng câu hỏi đúng – sai
mới được đưa vào áp dụng từ học kỳ II năm học 2024 – 2025 nên còn khá mới đối với
cả giáo viên và học sinh. Giáo viên chưa có nhiều tài liệu tham khảo, ngân hàng câu
hỏi chuẩn hóa hoặc hướng dẫn cụ thể để thiết kế câu hỏi đúng – sai theo hướng phát
triển tư duy. Học sinh chưa quen với việc phân tích từng mệnh đề, xác định nguyên
nhân đúng – sai, dẫn đến tâm lý lúng túng khi làm bài. Nguyên nhân chủ yếu của tình
trạng này xuất phát từ thói quen dạy học và kiểm tra đánh giá lâu nay thiên về trắc
nghiệm nhiều lựa chọn, chưa chú trọng đúng mức đến các dạng câu hỏi yêu cầu tư duy
phân tích và phản biện.
Những ưu điểm, hạn chế và khó khăn nêu trên cho thấy giải pháp hiện hành
chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển tư duy hóa học cho học sinh, đặt ra yêu cầu
cần có sự đổi mới trong cách xây dựng và khai thác dạng câu hỏi đúng – sai một cách
bài bản và có định hướng.
6.2. Nội dung của giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
a) Mục đích của giải pháp;
Giải pháp được đề xuất nhằm đổi mới hình thức luyện tập và kiểm tra đánh giá
chương Carbohydrate theo hướng phát triển tư duy hóa học cho học sinh lớp 12 thông
qua việc xây dựng và khai thác có hệ thống dạng câu hỏi đúng – sai. Thông qua giải
pháp này, học sinh không chỉ dừng lại ở việc ghi nhớ kiến thức mà được rèn luyện khả
năng phân tích, so sánh, đánh giá tính đúng – sai của từng nhận định hóa học dựa trên
cơ sở khoa học.
Giải pháp hướng tới việc giúp học sinh hiểu sâu bản chất các khái niệm, tính
chất và phản ứng đặc trưng của carbohydrate, đặc biệt là mối quan hệ giữa cấu tạo
phân tử và tính chất hóa học. Qua đó, học sinh hình thành thói quen tư duy phản biện,
phát hiện và sửa chữa những nhận thức sai lệch thường gặp trong quá trình học tập
chương Carbohydrate.
b) Tính mới của giải pháp (đối với giải pháp mới hoàn toàn) hoặc những điểm khác
biệt, tỉnh mới của các giải pháp so với các giải pháp đã biết (đối với các giải pháp có
sự cải tiến đối với các giải pháp đã có).
Giải pháp “Phát triển tư duy hóa học qua dạng câu hỏi đúng – sai chương
Carbohydrate” không chỉ dừng lại ở việc đưa dạng câu hỏi đúng – sai vào dạy học và
kiểm tra đánh giá, mà thể hiện rõ tính mới ở cách tiếp cận, cách thiết kế và cách khai
thác dạng câu hỏi này theo hướng phát triển tư duy hóa học cho học sinh lớp 12.
Điểm mới cơ bản của sáng kiến thể hiện trước hết ở việc xây dựng hệ thống câu
hỏi đúng – sai có định hướng rõ ràng, bám sát bản chất kiến thức chương
Carbohydrate, đặc biệt là mối quan hệ giữa cấu tạo phân tử và tính chất hóa học của
các carbohydrate tiêu biểu. Mỗi câu hỏi được thiết kế dưới dạng các mệnh đề độc lập,
có mức độ phân hóa từ nhận biết đến vận dụng và vận dụng cao, buộc học sinh phải
phân tích từng nội dung cụ thể thay vì chỉ lựa chọn đáp án theo cảm tính.
Khác với cách sử dụng rời rạc, mang tính thử nghiệm trước đây, sáng kiến khai
thác dạng câu hỏi đúng – sai như một công cụ phát triển tư duy, không chỉ để đánh giá
kết quả học tập. Học sinh được yêu cầu xác định đúng – sai gắn với giải thích ngắn
gọn hoặc chỉ ra nguyên nhân sai, qua đó rèn luyện tư duy logic, khả năng phản biện và
kỹ năng phát hiện sai lầm hóa học thường gặp trong chương Carbohydrate.
Một điểm đổi mới quan trọng khác là tích hợp dạng câu hỏi đúng – sai vào toàn
bộ tiến trình dạy học, từ khâu hình thành kiến thức, luyện tập, củng cố đến kiểm tra
đánh giá và ôn tập thi. Dạng câu hỏi này không còn chỉ xuất hiện ở cuối bài hoặc trong
đề kiểm tra, mà được sử dụng linh hoạt như tình huống học tập, câu hỏi dẫn dắt và
công cụ tự đánh giá của học sinh.
So với các giải pháp sẵn có vốn thiên về trắc nghiệm nhiều lựa chọn, sáng kiến
thể hiện tính ưu việt ở khả năng hạn chế việc học sinh khoanh đáp án theo mẹo, tăng
yêu cầu phân tích bản chất và lập luận hóa học. Qua đó, việc đánh giá năng lực học
sinh trở nên chính xác và thực chất hơn, đồng thời góp phần hình thành thói quen học
tập chủ động, có chiều sâu.
Về mặt khoa học và thực tiễn, sáng kiến là kết quả của quá trình tác giả tự
nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm trong thực tế giảng dạy, xuất phát từ yêu cầu đổi
mới kiểm tra đánh giá và thực tiễn dạy học tại đơn vị. Tại thời điểm thực hiện, chưa có
tài liệu hướng dẫn chính thống hay công trình được phổ biến rộng rãi về việc khai thác
hệ thống câu hỏi đúng – sai chương Carbohydrate theo hướng phát triển tư duy hóa
học cho học sinh lớp 12. Do đó, sáng kiến thể hiện rõ tính sáng tạo, tính mới và khả
năng áp dụng hiệu quả trong thực tiễn giảng dạy.
- Trình bày các bước/qui trình thực hiện giải pháp.
Xây dựng hệ thống bài tập đúng sai
Việc xây dựng hệ thống bài tập đúng – sai trong phần Carbohydrate không chỉ
nhằm mục đích kiểm tra đánh giá, mà còn là công cụ rèn luyện tư duy phản biện, củng
cố và hệ thống hóa kiến thức cho học sinh. Trong chương trình Hóa học 12,
Carbohydrate là nội dung vừa mang tính lý thuyết vừa gắn liền thực tiễn, dễ gây nhầm
lẫn ở học sinh (như sự khác biệt giữa glucose, fructose, saccharose; phản ứng tráng
bạc; hay quá trình lên men rượu). Chính vì vậy, hệ thống bài tập đúng – sai có thể trở
thành tài liệu hữu ích cho cả giáo viên trong giảng dạy và học sinh trong tự học, ôn
tập.
Các bài tập này giúp học sinh:
- Nhận diện và sửa chữa những sai lầm phổ biến.
- Thực hành phân tích, đối chiếu kiến thức với hiện tượng thực tiễn.
- Rèn luyện tính cẩn trọng và khả năng phản biện khi đánh giá từng nhận định.
Đối với giáo viên, đây là công cụ theo dõi sự tiến bộ của học sinh, phát hiện
những lỗ hổng kiến thức để điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp. Đồng thời,
việc triển khai hệ thống câu hỏi đúng – sai còn góp phần tạo ra môi trường học tập chủ
động, nơi học sinh có thể tự kiểm tra và tự rèn luyện tư duy.
Để xây dựng một hệ thống bài tập đúng – sai hiệu quả cho phần Carbohydrate,
cần thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu. Làm rõ mục tiêu của hệ thống bài tập: củng cố
kiến thức cơ bản về cấu tạo, phân loại, tính chất Carbohydrate; đánh giá mức độ hiểu
biết; phát triển khả năng phân tích và phản biện của học sinh.
- Bước 2: Lựa chọn nội dung trọng tâm. Tập trung vào những kiến thức học
sinh hay nhầm lẫn hoặc dễ mắc sai sót như: cấu trúc mạch vòng – mạch hở, phản ứng
đặc trưng của carbohydrate, phân biệt phản ứng thủy phân và lên men, ứng dụng thực
tiễn của tinh bột và cellulose...
- Bước 3: Thiết kế câu hỏi theo mức độ. Trong một câu hỏi đúng sai, nên xây
dựng các ý hỏi đầy đủ theo 3 cấp:
+ Nhận biết: kiểm tra kiến thức cơ bản.
+ Thông hiểu: yêu cầu phân tích, so sánh.
+ Vận dụng: giải thích hiện tượng thực tiễn hoặc tính toán.
- Bước 4: Đảm bảo tính khoa học, rõ ràng. Các phát biểu trong câu hỏi cần
chính xác, tránh mơ hồ hoặc gây hiểu nhầm. Lời dẫn và 4 nhận định phải logic, gắn
với kiến thức Carbohydrate trong SGK và thực tiễn.
- Bước 5: Thử nghiệm và điều chỉnh. Sau khi thiết kế, giáo viên cần kiểm tra lại
độ hợp lý, đưa ra trong lớp thử nghiệm, lắng nghe phản hồi và điều chỉnh cho phù hợp
trình độ học sinh.
- Bước 6: Tổ chức triển khai. Các câu hỏi đúng – sai cần được sử dụng linh hoạt
trong tiết học, kiểm tra nhanh, ôn tập, cũng như tài liệu tự học. Học sinh vừa có cơ hội
tự đánh giá bản thân, vừa hình thành kỹ năng tư duy phản biện và phân tích hóa học.
Ví dụ minh họa: Một số câu đúng sai trong chương Carbohydrate:
Câu 1. Cấu trúc dày đặc của cellulose làm giảm khả năng phản ứng và cản trở các ứng
dụng của nó. Sulfuric acid đậm đặc là một dung môi lý tưởng để hòa tan cellulose và
do đó được sử dụng rộng rãi để xử lý cellulose.
Chuẩn bị:
- Mẫu cellulose thô.
- Các mẫu cellulose được xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% theo tỉ lệ 1:2,5 trong
các khoảng thời gian khác nhau. Ký hiệu "cellulose – 30'" nghĩa là mẫu cellulose được
xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% theo tỉ lệ 1:2,5 trong 30 phút. Tưng tự với các
mẫu celllulose được xử lý với sunlfuric acid theo tỉ lệ 1:2,5 lần lượt trong 20 phút; 15
phút; 10 phút; 5 phút, ký hiệu lần lượt là: cellulose – 20', cellulose – 15', cellulose –
10', cellulose – 5'.
Tiến hành thí nghiệm: Cho mẫu cellulose thô và các mẫu cellulose được xử lý với
sulfuric đậm đặc 70% cùng với một lượng enzyme. Hỗn hợp được thêm vào máy
khuấy (tốc độ 150 vòng/phút và 50oC). Kết quả của quá trình thủy phân được thể hiện
trong biểu đồ sau:
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Đối với cellulose thô, hiệu suất của quá trình thủy phân sau 72 giờ
là thấp nhất.
b) Mẫu cellulose được xử lý trong 20 phút sẽ giúp hiệu suất của quá
trình thủy phân tốt hơn mẫu được xử lý trong 15 phút.
c) Mẫu cellulose được xử lý với sulfuric acid đậm đặc 70% trong 30
phút sẽ giúp hiệu suất của quá trình thủy phân là lớn nhất.
d) Từ kết quả của thí nghiệm có thể đưa ra kết luận là thời gian xử lý
cellulose với sulfuric acid đậm đặc 70% lâu thì hiệu suất của quá
trình thủy phân càng lớn.
a) Sai. Phát biểu này xét riêng "đối với cellulose thô" chứ không so sánh cellulose thô
với các mẫu khác nên đối với cellulose thô, ta quan sát trog biểu đồ thấy hiệu suất của
quá trình thủy phân sau 72 giờ là cao nhất, không phải thấp nhất.
b) Đúng. Tại mọi thời điểm, mẫu cellulose đã được xử lý trong 20 phút sẽ giúp hiệu
suất của quá trình thủy phân cao hơn mẫu 15 phút. Cần lưu ý rằng phát biểu này chỉ so
sánh hai mốc thời gian cụ thể (15 phút và 20 phút), chứ không kết luận về xu hướng
chung.
c) Đúng. Phát biểu này khẳng định mẫu xử lý 30 phút cho hiệu suất lớn nhất. Để xác
định tính đúng sai, cần xem biểu đồ và so sánh hiệu suất của mẫu 30 phút với tất cả
các mẫu khác (bao gồm cả các mẫu được xử lý trong thời gian dài hơn 30 phút, nếu
có). Nếu mẫu 30 phút có hiệu suất cao nhất trong tất cả các mẫu được thí nghiệm, phát
biểu này đúng; ngược lại, nếu có mẫu nào khác có hiệu suất cao hơn, phát biểu này sai.
d) Sai. Quan sát trên đồ thị, khi thời gian xử lý tăng từ 5 đến 30 phút, hiệu suất tăng
lên tương ứng. Tuy nhiên, không thể kết luận "càng lâu thì càng lớn" vì thời gian xử lý
vượt 30 phút không được thí nghiệm.
Câu 2. Lactose là một hợp chất carbohydrate có trong sữa và các sản phẩm từ sữa
khác.
Khi lactose được tiêu hóa, liên kết giữa hai monosaccharide bị phá vỡ.
Enzyme chịu trách nhiệm phá vỡ liên kết là lactase, được tìm thấy trong ruột non.
Hàng triệu người thiếu hụt đủ lượng lactase, khiến họ không thể tiêu hóa lactose đầy
đủ, dẫn đến tình trạng được gọi là không dung nạp lactose. Nghiên cứu biểu đồ và trả
lời các câu hỏi.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Enzyme lactase sẽ thủy phân lactose thành glucose và galactose.
b) Tại pH khoảng bằng 6 thì lượng sản phẩm monosaccharide thu
được là lớn nhất.
c) Tại pH khoảng 5,5 thì hoạt động của lactase giảm xuống 50% so
với giá trị pH tối ưu.
d) Từ kết quả trên có thể kết luận hoạt động của lactase tăng khi pH
tăng.
a) Đúng. Enzyme lactase sẽ thủy phân lactose thành glucose và galactose do lactose
cấu tạo từ glucose và galactose.
b) Đúng. Tại pH = 6 độ hoạt động của lactase lớn nhất là 100% nên lượng sản phẩm
monosacchride thu được là lớn nhất.
c) Sai. Tại pH = 5,5 độ hoạt động của lactase khoảng 90%.
d) Sai. Độ hoạt động của lactase giảm khi tăng pH từ 6 – 10.
Câu 3. Tiến hành thí nghiệm phản ứng giữa cellulose và nitric acid như sau:
- Bước 1: Cho 5 mL dung dịch HNO3 vào cốc thủy tinh ngâm trong chậu nước đá.
Thêm từ từ 10 mL dung dịch H2SO4 đặc vào cốc và khuấy đều. Sau đó, lấy cốc ra khỏi
chậu nước đá, thêm một nhúm bông vào cốc và dùng đũa thủy tinh ấn bông ngập trong
dung dịch.
- Bước 2: Ngâm cốc trong chậu nước nóng khoảng 10 phút. Để nguội, lấy sản phẩm
thu được ra khỏi cốc, rửa nhiều lần với nước lạnh (đến khi nước rửa không làm đổi
màu quỳ tím), sau đó rửa lại bằng dung dịch NaHCO3 loãng.
- Bước 3: Cho sản phẩm vào giữa 2 miếng giấy lọc và ép để hút nước, làm khô tự
nhiên.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Dung dịch NaHCO3 có vai trò trung hòa hoàn toàn acid còn lại
trong sản phẩm.
b) H2SO4 đặc đóng vai trò là chất xúc tác.
c) Ở bước 3, có thể thay việc làm khô tự nhiên bằng cách sấy sản
phẩm ở nhiệt độ cao.
d) Phần còn lại trong cốc sau khi tách sản phẩm ở bước 2 được
trung hòa và tách ion sulfate thì thu được dung dịch có phản ứng
với thuốc thử Tollens.
a) Đúng. Có thể sử dụng NaHCO3 loãng để trung hoà acid dư, giúp thu được sản phẩm
sạch:
b) Đúng.
đặc đóng vai trò là chất xúc tác.
c) Sai. Không thể thay việc làm khô tự nhiên bằng việc sấy do thuốc súng không khói
dễ cháy, nên khi sấy ở nhiệt độ cao có thể gây cháy.
d) Đúng. Cellulose sẽ bị thủy phân 1 phần trong môi trường acid nên sẽ thu được
glucose, phản ứng được với thuốc thử Tollens.
Câu 4. Hàm lượng glucose có trong mẫu dược phẩm có thể được xác định bằng
phương pháp chuẩn độ với iodine như sau:
- Bước 1: Cho 20,00 mL một mẫu dung dịch chứa glucose vào 15,00 mL dung dịch
iodine 0,10 M dư.
- Bước 2: Sau đó, thêm vào dung dịch sau phản ứng vài giọt dung dịch X, rồi vừa lắc
vừa nhỏ từ từ dung dịch sodium thiosulfate (Na2S2O3) 0,05 M vào dung dịch ở trên
đến khi mất màu xanh thì dừng lại.
+2
(aq) →
+
(aq).
Lặp lại 2 lần, thể tích dung dịch sodium thiosulfate đã dùng được ghi lại.
Thí nghiệm
Thể tích dung dịch
0,05M
1
2
3
11,5 mL
12,0 mL
12,0 mL
Phát biểu
a) Phương pháp chuẩn độ trên thuộc loại chuẩn độ oxi hóa – khử.
Đúng
Sai
b) Dung dịch X là hồ tinh bột có tác dụng chỉ thị lượng iodine dư.
c) Nồng độ glucose trong mẫu dung dịch ban đầu là 0,06 M.
d) Nếu tăng nồng độ Na2S2O3 lên 2 lần thì thể tích Na2S2O3 cần dùng
sẽ là 24,0 mL.
Thể tích trung bình của
sau 3 lần chuẩn độ là:
Đổi
(1)
(2)
Số mol của
tham gia phản ứng (2) là:
Số mol của
ban đầu là:
Lượng
tham gia phản ứng với glucose là:
Nồng độ của glucose trong là:
a) Đúng. Chuẩn độ oxi hóa - khử là dùng phản ứng oxi hóa - khử giữa chất phân tích
và dung dịch chuẩn độ. Trong phản ứng trên I2 là chất oxi hóa và Na2S2O3 là chất khử.
b) Đúng. Hồ tinh bột được dùng là chất chỉ thị nhận biết được khi nào
phản ứng
hết, hiện tượng chuẩn độ dung dịch cho đến khi hết màu xanh thì dừng lại.
c) Đúng. Nồng độ glucose trong mẫu dung dịch ban đầu là 0,06M.
d) Sai. Khi tăng nồng độ lên gấp đôi thì thể tích Na2S2O3 giảm một nửa là 6 mL.
Câu 5. Saccharose có phản ứng với copper(II) hydroxide tương tự như glucose, thí
nghiệm được tiến hành như sau:
- Bước 1: Cho vào ống nghiệm khoảng 0,5 mL dung dịch NaOH 10% và khoảng 0,5
mL dung dịch CuSO4 5%, lắc đều.
- Bước 2: Thêm tiếp vào ống nghiệm khoảng 4 mL dung dịch saccharose 3%, lắc đều
ống nghiệm đến khi thu được dung dịch đồng nhất (nếu còn chất rắn thì thêm tiếp
dung dịch saccharose).
- Bước 3: Đun nóng dung dịch trong ống nghiệm.
Phát biểu
Đúng
Sai
a) Có thể bỏ qua bước 1 và thêm trực tiếp dung dịch saccharose vào
kết tủa Cu(OH)2.
b) Sự hình thành phức chất sẽ hòa tan kết tủa Cu(OH)2 ở bước 2.
c) Bước 2 chứng minh phân tử saccharose có ít nhất 2 nhóm OH liền
kề.
d) Bước 3 xuất hiện kết tủa đỏ gạch Cu 2O vì saccharose trong dung
dịch có tồn tại ở dạng mạch hở.
a. Đúng. Mục đích của bước 1 là hình thành kết tủa nên có thể bỏ qua bước 1 và thêm
trực tiếp dung dịch saccharose vào kết tủa Cu(OH)2.
b. Đúng. Tại bước 2 đã có phản ứng của dung dịch saccharose với Cu(OH) 2:
c. Đúng. Saccharose có phản ứng với Cu(OH)2 chứng tỏ phân tử saccharose có ít nhất
2 nhóm OH liền kề.
d. Sai. Phân tử saccharose không có khả năng mở vòng
aldehyde nên không phản ứng
không có nhóm chức
để tạo được Cu2O.
Câu 6. Bông có thành phần chính là cellulose, một loại polysaccharide. Tiến hành
thủy phân cellulose theo các bước dưới:
- Bước 1: Cho vào ống nghiệm (1) một nhúm nhỏ bông và khoảng 2 mL dung dịch
H2SO4 70%. Khuấy đều rồi đặt ống nghiệm vào cốc nước nóng, thỉnh thoảng dùng đũa
thuỷ tinh khuấy nhẹ, cho đến khi thu được dung dịch đồng nhất.
- Bước 2: Để nguội, lấy 1 mL dung dịch trong ống (1) cho vào ống (2).
- Bước 3: Cho từ từ dung dịch NaOH 10% vào ống nghiệm (2) đến khi môi trường có
tính kiềm.
- Bước 4: Cho tiếp 5 giọt dung dịch CuSO4 5%.
- Bước 5: Lắc đều và đun nóng nhẹ dung dịch trong ống nghiệm.
Phát biểu
Đúng
a) Bước 1 cho thấy cellulose tan được trong nước.
b) Ở bước 3,
được thêm vào sẽ trung hòa acid H2SO4 dư.
c) Bước 5 xuất hiện kết tủa xanh rồi kết tủa tan tạo dung dịch xanh
lam.
d) Để chứng minh sản phẩm thủy phân cellulose có tính chất của
nhóm -OH liền kề thì ở bước 3 có thể thêm kết tủa Cu(OH)2 trực tiếp
Sai
vào ống nghiệm (2).
a) Sai – Bước 1 chứng minh cellulose bị thủy phân trong môi trường acid.
b) Đúng.
c) Sai, xuất hiện kết tủa xanh, kết tủa tan sau đó tạo kết tủa đỏ gạch.
d) Sai, trong dung dịch còn H2SO4 nên phải trung hòa acid trước khi cho Cu(OH)2 vào.
Câu 7. Tiến hành thí nghiệm hòa tan cellulose trong nước Schweizer theo bước sau:
- Bước 1: Hoà tan hoàn toàn
tinh. Thêm tiếp vào cốc
gam
mL dung dịch
vào
, vừa thêm vừa khuấy.
- Bước 2: Lọc lấy kết tủa rồi cho kết tủa vào một cốc
mL dung dịch
nước Schweizer.
mL nước trong cốc thuỷ
mL mới, tiếp tục thêm
vào cốc. Khuấy đều cho đến khi kết tủa tan hết, hình thành
- Bước 3: Sau đó, cho một nhúm bông vào cốc, khuấy đến khi tạo thành dung dịch
đồng nhất.
Phát biểu
a) Có thể thay muối
Đúng
bằng muối
Sai
.
b) Bước 2 kết tủa tan hình thành phức chất
.
c) Cellulose bị thủy phân một phần trong môi trường kiềm ở bước 3.
d) Bước 3 chứng minh celllulose có khả năng tan trong nước
Schweizer.
a) Đúng vì đều là muối
b) Đúng vì
nước Schweizer:
trong
tác dụng
tạo kết tủa
.
tạo thành phức chất tan có màu xanh đặc trưng gọi là
(nước Schweizer)
c) Sai vì cellulose không bị thủy phân trong môi trường kiềm.
d) Đúng vì sợi bông (chứa cellulose) tan trong nước Schweizer để được dung dịch
đồng nhất.
Câu 8. Cellulose là polymer thiên nhiên, có công thức phân tử (C 6H10O5)n, được cấu
tạo như sau:
Cellulose được sử dụng làm vật liệu xây dựng (các loại đồ gỗ), sản xuất giấy, sợi tự
nhiên và sợi nhân tạo. Cellulose cũng được sử dụng làm nguyên liệu để điều chế
ethanol và cellulose trinitrate (dùng để chế tạo thuốc súng không khói).
Phát biểu
Đúng
a) Trong cellulose, mỗi đơn vị C6H10O5 có 3 nhóm -OH
 









Các ý kiến mới nhất