Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đề thi HK I môn Ngữ văn năm học 2025-2026

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Thư viện Trường THCS Long Sơn
Ngày gửi: 21h:04' 29-03-2026
Dung lượng: 51.1 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Ma trận đề thi học kỳ I. Năm học 2025-2026 – Môn Ngữ văn 9
Thời gian làm bài 90 phút
TT

Năng
lực

Mạch nội dung

Số
câu

Nhận biết
Số
câu

I

Năng
lực
Đọc hiểu

II

Văn bản văn học –
phần truyện (ngoài
SGK)

5

2

Viết đoạn văn Nghị
luận văn học.
Viết bài văn Nghị
luận xã hội.

1

5%

Tỉ lệ
Tổng

1

Cấp độ tư duy
Thông Vận dụng
hiểu

Tỉ lệ Số
câu

Tỉ lệ Số
câu

Tỉ lệ

10%

20%

10%

2

1

5%

10%

Tổng
%

40%

20%

10%

10%

20%

40%

25%

35%
100%

40%

100%

7

Bản đặc tả yêu cầu các kĩ năng kiểm tra, đánh giá
TT


năng

1

Đọc
hiểu

Đơn vị
kiến
thức/K
ĩ năng

Mức độ đánh giá

* Nhận biết:
- Chỉ ra những đặc trưng thể
loại của văn bản văn học
(truyện):
+ Nhận biết được ngôi kể, các
biện pháp tu từ, … trong văn
bản.
- Các kiến thức phần tiếng
Việt: từ vựng, ngữ pháp, hoạt
động giao tiếp, ....:
+ Chỉ ra biện pháp tu từ sử
dụng trong văn bản.
* Thông hiểu:
- Hiểu được nội dung/ý nghĩa
của văn bản, một yếu tố, đơn
vị của văn bản (từ ngữ, hình
ảnh, chi tiết, câu văn...).
- Phân tích được mối quan hệ

Số câu hỏi theo mức độ
nhận thức
Vận
Nhận
Thôn
dụng
biết
g hiểu
2 câu

2 câu

2 câu

Viết
đoạn
văn
Nghị
luận
văn học

2

Viết
bài văn
nghị
luận

giữa nội dung và hình thức
của văn bản, như: chỉ ra hiệu
quả biểu đạt của một yếu tố
hình thức nghệ thuật trong
việc thể hiện một khía cạnh
nội dung hoặc nội dung của
văn bản. Hiểu được chủ đề,
tư tưởng, thông điệp của văn
bản.
- Hiểu được tình cảm, cảm
xúc, thái độ của tác giả thể
hiện trong văn bản.
* Vận dụng:
- Rút ra được bài học/thông
điệp ý nghĩa cho bản thân từ
nội dung văn bản.
* Nghị luận văn học:
Nhận biết:
- Xác định đúng vấn đề nghị
luận.
- Đảm bảo cấu trúc của một
đoạn văn.
Thông hiểu:
- Phân tích/cảm nhận được
những đặc điểm nổi bật của
nhân vật trong văn bản mà đề
yêu cầu.
- Hiểu được chủ đề, tư tưởng,
thông điệp mà văn bản muốn
gửi đến người đọc thông qua
hình thức nghệ thuật của văn
bản.
- Làm rõ các luận điểm có
trong đoạn trích
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng, lập luận chặt chẽ,... để
tạo tính thuyết phục.
Vận dụng:
- Đánh giá được nét đặc sắc,
vai trò, ý nghĩa của vấn đề
nghị luận trong việc làm nên
giá trị của tác phẩm.
- Từ những thông điệp có ý
nghĩa của văn bản, liên hệ với
bản thân.
* Nghị luận xã hội:
Nhận biết:
- Xác định được yêu cầu về
nội dung và hình thức của bài

XH

văn nghị luận.
- Mô tả được vấn đề xã hội và
những dấu hiệu, biểu hiện của
vấn đề xã hội trong bài viết.
- Đảm bảo cấu trúc, bố cục
của một văn bản nghị luận.
Thông hiểu:
- Giải thích được những khái
niệm liên quan đến vấn đề
nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm và
hệ thống các luận điểm.
- Kết hợp được lí lẽ và dẫn
chứng để làm sáng tỏ vấn đề.
Vận dụng:
- Đánh giá được nguyên nhân,
thực trạng và những ảnh
hưởng của vấn đề đối với học
sinh.
- Nêu được những bài học về
nhận thức và hành động,
những đề nghị, khuyến nghị,
giải pháp để giải quyết vấn
đề.
- Vận dụng hiệu quả những
kiến thức Tiếng Việt để tăng
tính thuyết phục, sức hấp dẫn
cho bài viết.
- Thể hiện sự sáng tạo trong
bài viết.
- Liên hệ, kết nối với những
kiến thức, hiểu biết của bản
thân trong cuộc sống.

TRƯỜNG THCS LONG SƠN

ĐỀ THI KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG CUỐI HỌC KỲ I
Năm học 2025 – 2026
Môn: Ngữ văn 9

Thời gian làm bài: 90 phút
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
ĐIỀU ƯỚC
Bà mở rương lấy một chiếc áo thật lạ: áo dài nhung đỏ thắm có kim tuyến long lanh
như những hạt sương buổi sớm. Bà bảo cái áo này bà may từ khi bé còn ở trong bụng mẹ.
Bé ngồi chăm chú nhìn bà. Bà mỉm cười rồi cầm một vật lạ ơi là lạ. Nó bằng cổ tay
bé và được làm bằng nhung đen nhánh. Bà gỡ những sợi tóc bạc xuống rồi cuộn lên đầu.
Dường như bà biết bé ngạc nhiên lắm. Bà bảo:
- Cái này gọi là cái vấn tóc.
Bà ăn trầu, gương mặt hồng lên như đánh phấn. A,trông bà đẹp quá, cứ như diễn
viên trên sân khấu ấy. Bé háo hức:
- Bà ơi, bao giờ cháu có quần áo đẹp như của bà ạ?
Bà cười:
- Chỉ có các bà già mới mặc thế này thôi, khi nào cháu lớn, cháu sẽ mặc quần bò, áo
phông như cô Nga ở bên hàng xóm. Hay là cháu sẽ mặc váy đầm, đi giầy cao thế này này Ngừng một lúc bà nói tiếp - bé ngoan lấy hộ bà chuỗi hạt ở trong tủ kia nhé.
Bé lon ton chạy lại kéo cánh tủ ra và cầm chuỗi hạt cho bà. Những hạt tràng nhẵn
bóng va vào nhau lách cách. Bà bảo mỗi hạt tràng ấy là một điều ước. Thế thì thích thật, bà
có bao nhiêu điều ước đeo trên cổ. Mà cái chuỗi hạt này hiệu nghiệm thật, mỗi lần bà ước
cái gì là đều được cái ấy. Có lần bà lim dim mắt, tay cầm tràng hạt ước: “Ước gì tôi có con
búp bê đội mũ nồi lệch, chân đi giày đỏ để tặng cháu tôi”. Bà mở mắt rồi nói với bé: “ Cháu
tới đầu giường của bà, thế nào cũng có búp bê”. Bé chạy lại đó, quả là có con búp bê mà
hôm qua đi chơi bé nhìn thấy và rất thích…
- Bà ơi, chiếc vòng này có phải là của bà tiên trong câu chuyện hôm nọ bà kể cháu
nghe không?
Bà gật đầu.
Bà bế bé lên, làn vải nhung áp vào má bé mát lịm. Bé mặc váy đầm xòe trắng tinh,
đôi giày cùng chiếc ví nhỏ xíu màu đỏ…
Đã bao lần bà mặc áo quần như thế đưa bé đi chùa, lễ tết. Bé cứ lũn chũn nắm bàn
tay nhăn nheo của bà. Thỉnh thoảng, sợ bé mỏi chân, bà lại bế bé lên, cho đến một lần bà
vừa bế bé lên, vừa nói:
- Chà, cái cún của bà dạo này nặng thế, lớn tướng rồi, chẳng mấy mà thành cô gái.
Vâng, bé lớn hơn trước rồi, cái váy đầm xòe dạo trước bé mặc giờ đã ngắn, đôi giày
đỏ đã chật rồi. Nhưng lạ quá, sao mà chiếc áo nhung dài đỏ thắm của bà mỗi khi bà mặc lại
cứ như dài rộng hơn ra? Bé hỏi thì bà mỉm cười:
- Là để cho cháu lớn lên đấy!
Bé đến tuổi đi học, chiếc cặp nhỏ đeo sau lưng, bộ đồng phục làm bé lớn vổng lên.
Hôm đi khai giảng, bà gài lên đầu bé chiếc nơ trắng.
Ở nhà cũng như ở trường mỗi khi nhớ đến chiếc vòng nhiệm màu của bà, bé lại nghĩ
xem mình có thật ngoan không. “Hôm qua bé dây mực ra bàn, người ngoan không làm bẩn

bàn học. Hôm kia bé vấp ngã, lại còn khóc nhè, người ngoan đi đứng cẩn thận và không
khóc nhè…”
Một buổi bé đi học về, và hơi ngỡ ngàng: “Sao nhà mình lại đông người thế nhỉ? Sao
bà nằm ngủ trên giường mà lại mặc áo dài, vấn tóc?”
Mẹ ào ra ôm bé vào lòng, đôi mắt mẹ đỏ hoe. Mẹ dắt bé vào gặp bà lần cuối. Bà ngủ
thật ngon, đôi mắt khép lại nhẹ nhàng như là bà vẫn đang cầm chuỗi hạt, ước một điều gì
đó cho bé. Chiếc áo nhung đỏ thắm, chiếc khăn vấn đen huyền…
Bé mở tủ lấy chuỗi hạt gỗ đen bóng, bé ôm tràng hạt vào lòng, những hạt gỗ va vào
nhau lách cách. “Bà ơi, cháu sẽ thật ngoan để được ước. Cháu sẽ ước bà tỉnh dậy bà nhé!”
(Điều ước, Nguyễn Phan Khuê)
Chú thích: Nhà văn Nguyễn Phan Khuê sinh năm 1971, là người con của quê
hương miền quan họ, thuộc xã Mão Điền, huyện Thuận Thành (cũ), tỉnh Bắc Ninh.
Những cuốn sách đã xuất bản của nhà văn gồm: Thiếu nữ bị lạc - tiểu thuyết, in năm
1992; Quà của ông Ngoại - tập truyện thiếu nhi, in năm 2011. Và năm 2023 mới đây là
tập truyện ngắn Hương hoa hoàng lan dưới bút danh Khuê Phan do Nhà xuất bản Kim
Đồng phát hành.
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm) Khi mẹ dắt bé vào gặp bà lần cuối, bé cảm nhận hình ảnh bà lúc
ấy như thế nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Em hiểu như thế nào về các câu văn: “Vâng, bé lớn hơn trước rồi
cái váy đầm xòe dạo trước bé mặc giờ đã ngắn, đôi giày đỏ đã chật rồi. Nhưng lạ quá, sao
mà chiếc áo nhung dài đỏ thắm của bà mỗi khi bà mặc lại cứ như dài rộng hơn ra?”
Câu 4 (1,0 điểm) Nêu tác dụng của phép tu từ so sánh trong những câu văn sau: “Bà
ăn trầu, gương mặt hồng lên như đánh phấn. A,trông bà đẹp quá, cứ như diễn viên trên sân
khấu ấy”?
Câu 5 (1,0 điểm) Theo em tác giả đã gửi đến thông điệp ý nghĩa nào qua văn bản
trên?
Câu 6 (2,0 điểm) Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người bà
trong văn bản “Điều ước” của Nguyễn Phan Khuê.
PHẦN II. VIẾT (4,0 điểm)
Để có kết quả học tập tốt thì mỗi học sinh cần phải xây dựng cho mình những thói
quen tự học hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay đang còn có một bộ phận học sinh chưa có thói
quen tự học phù hợp. Vậy, theo em mỗi học sinh cần phải làm thế nào để xây dựng thói
quen tự học hiệu quả? Em hãy trình bày bằng một bài văn nghị luận xã hội (khoảng 400
chữ)
--------Hết------Thí sinh không được sử dụng tài liệu. Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm.

Họ và tên: ……………………………………Số báo danh…………………
HƯỚNG DẪN CHẤM MÔN VĂN 9 HỌC KỲ I
Năm học 2025-2026
I. Hướng dẫn chung
- Giám khảo cần nắm vững được nội dung, yêu cầu của đề bài để đánh giá tổng quát năng
lực của học sinh: năng lực hiểu biết, vận dụng, sáng tạo và khả năng tạo lập văn bản.
- Chủ động, vận dụng linh hoạt Hướng dẫn chấm, cân nhắc từng trường hợp cụ thể để cho
điểm: nếu học sinh làm bài theo cách riêng nhưng đáp ứng được yêu cầu cơ bản hoặc có
những kiến giải một cách sáng tạo, thuyết phục thì Giám khảo vẫn có thể cho điểm tối đa;
tránh việc đếm ý cho điểm.
- Khuyến khích những bài viết có cảm xúc và sáng tạo, giàu chất văn, có lối tư duy phản
biện; kết cấu chặt chẽ, mạch lạc.
- Những bài mắc vào lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp và kiến thức thì tuỳ vào mức độ để cho
điểm.
II. Hướng dẫn cụ thể
Phần
I

Câu
1
2

3

4

Nội dung
ĐỌC HIỂU
Ngôi kể của người kể chuyện trong văn bản: người kể chuyện
bằng ngôi kể thứ ba.
Khi mẹ dắt bé vào gặp bà lần cuối, bé cảm nhận hình ảnh bà: Bà
ngủ thật ngon, đôi mắt khép lại nhẹ nhàng như là bà vẫn đang cầm
chuỗi hạt, ước một điều gì đó cho bé.
Câu văn “Vâng, bé lớn hơn trước rồi ,cái váy đầm xòe dạo trước bé
mặc giờ đã ngắn, đôi giày đỏ đã chật rồi. Nhưng lạ quá, sao mà
chiếc áo nhung dài đỏ thắm của bà mỗi khi bà mặc lại cứ như dài
rộng hơn ra?” được hiểu:
+ Bé được bà chăm sóc, yêu thương ngày càng cao lớn, trưởng
thành nên váy đầm dạo trước giờ mặc ngắn, đôi dày đã chật.
+ Còn bà tần tảo, vất vả, chăm sóc, hy sinh cho cháu, cho cả gia
đình bà gầy yếu, già đi theo thời gian nên áo nhung dài bà mặc cứ
dài rộng hơn.
(Học sinh có thể dùng cách diễn đạt khác nhưng hợp lí và hướng
đến nội dung trên)
Học sinh cần chỉ rõ biện pháp tu từ và tác dụng của biện pháp
tu từ.
- Biện pháp so sánh: gương mặt hồng lên như đánh phấn ..., cứ
như diễn viên trên sân khấu.
- Tác dụng:
+ Làm cho lời văn giàu hình ảnh, sinh động, gợi hình gợi cảm, ấn

Điểm
6.0
0,5
0,5

0,5
0,5

0,25
0,75

tượng với người đọc người nghe.
+ Qua đó nhấn mạnh và làm nổi bật vẻ đẹp của người bà qua cái
nhìn của cô bé.
+ Đồng thời thể hiện thái độ yêu mến, kính trọng của tác giả đối với
bà.
+ Từ đó mỗi người chúng ta cần phải biết yêu thương, trân quý đối
với ông bà, cha mẹ và những người thân yêu trong gia đình…
Gợi ý một số thông điệp tác giả gửi gắm qua văn bản:
1.0
- Mỗi chúng ta cần kính yêu, tự hào và có hiếu, biết ơn với bà vì
tình yêu thương của bà dành cho con cháu là sâu nặng vô bờ bến...
- Chúng ta cần giữ gìn trân trọng tình cảm bà cháu vì đó là tình cảm
thiêng liêng, là điểm tựa cho cuộc đời của mỗi chúng ta…
GV linh động khi cho điểm (HS nêu được 01 thông điệp sâu sắc và
có giải thích)
5
6

Viết một đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích nhân vật người
bà trong đoạn trích.
* Yêu cầu về hình thức:
- Đảm bảo dung lượng đoạn văn (khoảng 150 chữ)
- Xác định đúng yêu cầu của kiểu bài và vấn đề cần nghị luận: Phân
tích nhân vật người bà trong văn bản Điều ước.
- Lựa chọn các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để
triển khai vấn đề cần nghị luận.
- Trình bày rõ quan điểm lập luận chặt chẽ và thuyết phục, lí lẽ xác
đáng, bằng chứng tiêu biểu.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ ngữ, ngữ pháp tiếng Việt, liên
kết câu trong đoạn văn.
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt
mới mẻ.
* Yêu cầu về nội dung: Đề xuất hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn
đề cần nghị luận theo gợi ý sau:
- Nêu khái quát tác giả, tác phẩm, nhân vật.
- Phân tích đặc điểm nhân vật người bà: Người bà lớn tuổi, cuộc
sống giản dị, luôn dành trọn tình yêu thương, chăm sóc, nuôi dưỡng
cháu.
+ Bà chuẩn bị áo nhung đỏ kim tuyến khi bé chưa ra đời.
+ Tần tảo, chắt chiu dành dụm mua cho bé những món quà đặc biệt
bé thích.
+ Thường kể những câu chuyện cổ tích để nuôi dưỡng trong tâm
hồn bé những tình cảm trong sáng, cao đẹp của cuộc sống.
+ Thường đưa bé đi lễ chùa cùng bà, luôn lo lắng và chăm sóc bé
chu đáo.

0,5

1,5

+ Dạy dỗ bé bằng những lời nhắc nhở nhẹ nhàng như: người ngoan
không làm bẩn bàn học hay người ngoan đi đứng cẩn thận...
- Đánh giá về nhân vật: Bà là người yêu thương, chăm sóc, hy sinh
cho cháu vô điều kiện. Bà là biểu tượng của tình yêu gia đình và giá
trị truyền thống. Qua vẻ đẹp của nhân vật người bà, truyện đã khơi
gợi sự trân trọng đối với những người bà trong đời, đồng thời nhắc
nhở về giá trị của tình thân và việc giữ gìn những truyền thống tốt
đẹp.
- Những đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Nghệ thuật kể chuyện tự nhiên,ngôn ngữ giản dị, trong sáng
nhưng giàu cảm xúc.
+ Đặt nhân vật trong cốt truyện nhẹ nhàng, đơn giản nhưng giàu ý
nghĩa, tình huống truyện thú vị, đặc sắc .
+ Miêu tả nhân vật qua lời nói, hành động, suy nghĩ và cảm xúc …
- Khẳng định lại giá trị và sức sống của tác phẩm.

II

Viết

Để có kết quả học tập tốt thì mỗi học sinh cần phải xây dựng
cho mình những thói quen tự học hiệu quả. Tuy nhiên, hiện nay
đang còn có một bộ phận học sinh chưa có thói quen tự học phù
hợp. Vậy, theo em mỗi học sinh cần phải làm thế nào để xây
dựng thói quen tự học hiệu quả? Em hãy trình bày bằng một bài
văn nghị luận xã hội (khoảng 400 chữ)
- Yêu cầu: Về hình thức
+ Làm đúng kiểu bài nghị luận xã hội
+ Biết cách xây dựng và trình bày hệ thống luận điểm một cách hợp

+ Bố cục rõ ràng; kết cấu chặt chẽ; diễn đạt lưu loát, mạch lạc.
+ Không mắc các lỗi: chính tả, dùng từ, ngữ pháp,...
- Về nội dung: Bài làm có thể trình bày theo những cách khác nhau
nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
a. Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận: Vấn đề tự học
b. Thân bài
* Giải thích vấn đề
Tự học là quá trình chủ động tiếp thu kiến thức, kỹ năng và
kinh nghiệm thông qua các hoạt động như đọc sách, nghiên cứu,
thực hành, trao đổi và chia sẻ. Tự học không chỉ giới hạn trong việc
học các môn học ở trường mà còn bao gồm việc học hỏi từ cuộc
sống, từ những người xung quanh và từ chính bản thân mình.

4,0

0,25

3,5

* Thực trạng:
- Thực tế, hiện nay đang có rất nhiều em học sinh gặp khó khăn
trong việc tự học và chưa có phương pháp học tập cụ thể, phù hợp.
Điều này cho thấy đa số học sinh vẫn còn phụ thuộc nhiều vào sự
hướng dẫn của giáo viên và chưa có ý thức tự giác trong việc học
tập…
* Nguyên nhân:
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên, trong đó có thể kể
đến:
- Chương trình học quá tải, áp lực thi cử khiến học sinh không có
thời gian và tâm trí để tự học.
- Chưa có các phương pháp học phù hợp còn nặng tính lý thuyết, ít
chú trọng đến việc phát triển kỹ năng tự học cho học sinh.
- Thiếu sự quan tâm, định hướng và hỗ trợ từ phía gia đình và nhà
trường.
- Nhiều em học sinh chưa có ý thức tự giác trong học tập, thiếu kỹ
năng quản lý thời gian và phương pháp học tập phù hợp.
- Sự tác động của các yếu tố bên ngoài như mạng xã hội, game
online, khiến học sinh dễ bị sao nhãng và mất tập trung cho việc học.

* Hậu quả:
- Học sinh sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức, phát
triển tư duy và kỹ năng.
+ Dẫn đến việc nghiện các trò chơi điện tử, đi chơi, hư hỏng…
+ Kết quả học tập yếu kém, sa sút, không hiểu bài, không làm được
các bài tập theo yêu cầu của GV.
+ Việc thiếu kỹ năng tự học và tư duy sáng tạo cũng sẽ là một rào
cản lớn trong quá trình hội nhập và phát triển của học sinh trong xã
hội hiện đại….
* Ý kiến trái chiều/phản biện: HS trình bày ý kiến phù hợp với vấn
đề đưa ra nghị luận.
* Giải pháp:
- Để xây dựng phương pháp tự học hiệu quả, học sinh cần phải
là chủ thể của quá trình tự học, phải xác định mục tiêu học tập
rõ ràng. Học sinh cần xác định rõ mình muốn đạt được gì thông qua
việc tự học, từ đó có động lực và định hướng cụ thể. Ví dụ, mục tiêu
có thể là đạt điểm cao trong kỳ thi, hiểu sâu một môn học, hay trau
dồi một kỹ năng mới.
+ Lập kế hoạch học tập chi tiết: Kế hoạch học tập giúp học sinh
phân bổ thời gian hợp lý, tập trung vào những nội dung quan trọng,
tránh tình trạng học dồn, học tủ. Kế hoạch cần linh hoạt, điều chỉnh
phù hợp với năng lực và tiến độ của từng cá nhân.

+ Tạo môi trường học tập thuận lợi: Học sinh cần tìm một không
gian yên tĩnh, đủ ánh sáng, tránh xa các yếu tố gây xao nhãng như
điện thoại, tivi. Chuẩn bị đầy đủ sách vở, tài liệu cần thiết trước khi
bắt đầu học.
+ Áp dụng nhiều phương pháp học tập phù hợp: Mỗi học sinh có
cách tiếp thu kiến thức khác nhau. Có người thích học qua hình ảnh,
người khác lại thích học qua âm thanh. Học sinh cần thử nghiệm
nhiều phương pháp khác nhau để tìm ra cách học hiệu quả nhất cho
mình…
- Bên cạnh đó gia đình chính là hậu phương vững chắc, cần tạo
không khí học tập tích cực cho các con. Cha mẹ nên khuyến khích,
động viên con cái tự học, không tạo áp lực quá lớn. Quan tâm đến
tiến bộ của con, khen ngợi kịp thời những thành công nhỏ.
- Ngoài ra nhà trường cũng chính là người đồng hành tin cậy:
+ Các thầy cô giáo phải luôn đổi mới phương pháp dạy học, nên
áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, khuyến khích học sinh
chủ động khám phá kiến thức, thay vì chỉ truyền thụ kiến thức một
chiều.
+ Nhà trường cần phải tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp
học sinh mở rộng kiến thức, rèn luyện kỹ năng mềm, tạo hứng thú
học tập.
+ Xây dựng thư viện, phòng học đa phương tiện: Nhà trường cần
đầu tư xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi cho
học sinh tự học.
+ Dẫn chứng (HS lấy 01 dẫn chứng tiêu biểu)
* Liên hệ bản thân (HS có sự liên hệ phù hợp)
c. Kết bài: Khẳng định lại tầm quan trọng của vấn đề nghị luận; Nêu
bài học nhận thức và hành động; Rút ra thông điệp.
3. Sáng tạo
- Sáng tạo về nội dung: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị
luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
- Sáng tạo về hình thức: Mở bài, kết bài, tổ chức bài viết
*Lưu ý: HS có thể có cách trình bày khác nhưng hợp lí, GV linh
động cho điểm

0,25
 
Gửi ý kiến