
- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thu Thảo
Ngày gửi: 00h:06' 30-03-2026
Dung lượng: 112.9 KB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thu Thảo
Ngày gửi: 00h:06' 30-03-2026
Dung lượng: 112.9 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
1. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất với ý thức và vận dụng mối quan hệ này và
công cuộc đổi mới nước ta hiện nay?
1. Khái niệm vật chất và ý thức
Theo giáo trình Triết học Mác – Lênin, vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức con người phản ánh.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng
động, sáng tạo, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và của
thực tiễn xã hội.
2. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
2.1. Vật chất quyết định ý thức
Đây là nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Vật chất có trước, ý thức có sau; ý thức là sản phẩm của vật chất phát triển đến trình độ
nhất định (bộ não người).
Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự biến đổi của ý thức.
Hoàn cảnh vật chất (điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên…) như thế nào thì ý thức con
người phản ánh như thế đó.
Ví dụ: Điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi sẽ làm thay đổi tư duy, nhận thức, quan điểm
chính trị, pháp luật của con người.
→ Kết luận: Trong mối quan hệ này, vật chất giữ vai trò quyết định.
2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Mặc dù bị vật chất quyết định, nhưng ý thức không hoàn toàn thụ động mà có vai trò tích
cực:
Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động này có thể:
o Tích cực: nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực (khoa học, đúng quy luật).
o Tiêu cực: nếu ý thức sai lầm, chủ quan, duy ý chí.
Ví dụ: Một đường lối đúng đắn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; ngược lại, sai
lầm trong nhận thức có thể gây khủng hoảng.
→ Kết luận: Ý thức có vai trò tác động trở lại, nhưng không thay thế được vai trò quyết
định của vật chất.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ trên, rút ra các nguyên tắc:
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật.
Đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của ý thức.
Chống:
o Chủ nghĩa duy tâm (đề cao ý thức tuyệt đối).
o Chủ nghĩa duy vật tầm thường (coi nhẹ vai trò của ý thức).
3. Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3.1. Xuất phát từ thực tiễn khách quan (vật chất quyết định)
Công cuộc đổi mới (từ năm 1986) là minh chứng rõ ràng cho việc tôn trọng quy luật
khách quan:
1
Trước
đổi mới: cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phù hợp với trình độ lực lượng
sản xuất → khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, xuất phát từ điều kiện thực tế để đề ra đường lối đổi
mới:
o Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
o Vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
→ Đây là sự vận dụng đúng nguyên lý vật chất quyết định ý thức.
3.2. Phát huy vai trò của ý thức (đường lối, chính sách đúng đắn)
Ý thức được thể hiện ở:
Đường lối đổi mới của Đảng.
Chính sách pháp luật của Nhà nước.
Nhận thức và tinh thần đổi mới của toàn dân.
Nhờ ý thức đúng đắn:
Kinh tế tăng trưởng mạnh.
Đời sống nhân dân được cải thiện.
Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao.
→ Điều này chứng minh ý thức có thể tác động mạnh mẽ trở lại vật chất.
3.3. Bài học rút ra trong giai đoạn hiện nay
Tiếp tục tôn trọng quy luật khách quan, không nóng vội, duy ý chí.
Phát huy vai trò của khoa học, tri thức, đổi mới sáng tạo (chuyển đổi số, kinh tế tri
thức).
Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa:
o Điều kiện vật chất (kinh tế, công nghệ)
o Và yếu tố tinh thần (ý chí, tư duy, đường lối)
4. Kết luận
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất giữ vai
trò quyết định, còn ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất. Việc
nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
thực tiễn, nhất là trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Chính nhờ xuất phát từ
thực tế khách quan và phát huy vai trò của ý thức mà nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
2
CÂU 2: Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và nêu ra các yêu cầu phương pháp
luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. ĐCSVN đã và
đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước ta hiện nay?
1. Khái niệm vật chất và ý thức
Theo giáo trình Triết học Mác – Lênin, vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức con người phản ánh.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng
động, sáng tạo, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và của
thực tiễn xã hội.
2. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
2.1. Vật chất quyết định ý thức
Đây là nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Vật chất có trước, ý thức có sau; ý thức là sản phẩm của vật chất phát triển đến trình độ
nhất định (bộ não người).
Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự biến đổi của ý thức.
Hoàn cảnh vật chất (điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên…) như thế nào thì ý thức con
người phản ánh như thế đó.
Ví dụ: Điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi sẽ làm thay đổi tư duy, nhận thức, quan điểm
chính trị, pháp luật của con người.
→ Kết luận: Trong mối quan hệ này, vật chất giữ vai trò quyết định.
2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Mặc dù bị vật chất quyết định, nhưng ý thức không hoàn toàn thụ động mà có vai trò tích
cực:
Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động này có thể:
o Tích cực: nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực (khoa học, đúng quy luật).
o Tiêu cực: nếu ý thức sai lầm, chủ quan, duy ý chí.
Ví dụ: Một đường lối đúng đắn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; ngược lại, sai
lầm trong nhận thức có thể gây khủng hoảng.
→ Kết luận: Ý thức có vai trò tác động trở lại, nhưng không thay thế được vai trò quyết
định của vật chất.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ trên, rút ra các nguyên tắc:
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật.
Đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của ý thức.
Chống:
o Chủ nghĩa duy tâm (đề cao ý thức tuyệt đối).
o Chủ nghĩa duy vật tầm thường (coi nhẹ vai trò của ý thức).
3. Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3.1. Xuất phát từ thực tiễn khách quan (vật chất quyết định)
3
Công cuộc đổi mới (từ năm 1986) là minh chứng rõ ràng cho việc tôn trọng quy luật
khách quan:
Trước đổi mới: cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phù hợp với trình độ lực lượng
sản xuất → khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, xuất phát từ điều kiện thực tế để đề ra đường lối đổi
mới:
o Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
o Vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
→ Đây là sự vận dụng đúng nguyên lý vật chất quyết định ý thức.
3.2. Phát huy vai trò của ý thức (đường lối, chính sách đúng đắn)
Ý thức được thể hiện ở:
Đường lối đổi mới của Đảng.
Chính sách pháp luật của Nhà nước.
Nhận thức và tinh thần đổi mới của toàn dân.
Nhờ ý thức đúng đắn:
Kinh tế tăng trưởng mạnh.
Đời sống nhân dân được cải thiện.
Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao.
→ Điều này chứng minh ý thức có thể tác động mạnh mẽ trở lại vật chất.
3.3. Bài học rút ra trong giai đoạn hiện nay
Tiếp tục tôn trọng quy luật khách quan, không nóng vội, duy ý chí.
Phát huy vai trò của khoa học, tri thức, đổi mới sáng tạo (chuyển đổi số, kinh tế tri
thức).
Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa:
o Điều kiện vật chất (kinh tế, công nghệ)
o Và yếu tố tinh thần (ý chí, tư duy, đường lối)
4. Kết luận
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất giữ vai
trò quyết định, còn ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất. Việc
nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
thực tiễn, nhất là trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Chính nhờ xuất phát từ
thực tế khách quan và phát huy vai trò của ý thức mà nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
4
Câu 3: Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng anh (chị) hãy phân tích làm
sáng tỏ luận điểm sau đây của C.Mac "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể
thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng
lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó
thâm nhập vào quần chúng"
Luận điểm của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng
lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” là
sự khái quát sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa lý
luận và thực tiễn, giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội. Luận điểm này không chỉ
có giá trị lý luận mà còn mang ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với hoạt động nhận
thức và cải tạo thế giới.
Trước hết, xét trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vật chất là phạm trù
triết học chỉ thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người. Trong đời sống xã hội, thực tiễn – với
tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất mang tính lịch sử – xã hội của con người – giữ vai
trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Từ đó có
thể khẳng định rằng, mọi sự biến đổi của hiện thực trước hết phải thông qua hoạt động
thực tiễn, tức là thông qua lực lượng vật chất.
Chính trên cơ sở đó, C.Mác khẳng định: “vũ khí của sự phê phán không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí”. “Vũ khí của sự phê phán” ở đây được hiểu là lý luận, là
sự phê phán bằng tư tưởng; còn “sự phê phán của vũ khí” là hoạt động thực tiễn mang
tính vật chất, đặc biệt là đấu tranh cách mạng nhằm cải biến hiện thực. Điều đó có nghĩa
là, không thể dùng lý luận thuần túy để thay thế cho hành động thực tiễn. Muốn xóa bỏ
một trật tự xã hội cũ, một lực lượng vật chất cũ thì phải có một lực lượng vật chất mới đủ
mạnh để thay thế. Đây là sự khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, đồng thời phê
phán triệt để khuynh hướng duy tâm tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, coi nhẹ vai trò của
hoạt động vật chất.
Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không dừng lại ở việc đề cao vai trò của vật
chất mà còn chỉ ra tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại của ý thức đối với vật
chất. Ý thức, đặc biệt là lý luận khoa học, khi phản ánh đúng hiện thực khách quan và
quy luật vận động của xã hội, có khả năng định hướng, dẫn dắt và tổ chức hoạt động thực
tiễn. Trong ý nghĩa đó, C.Mác nhấn mạnh: “lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất,
một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Như vậy, bản thân lý luận không phải là lực
lượng vật chất trực tiếp, nhưng thông qua hoạt động của con người – đặc biệt là quần
chúng nhân dân – nó được hiện thực hóa thành sức mạnh vật chất.
Luận điểm này đồng thời làm nổi bật vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Theo
quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch
sử, là lực lượng trực tiếp thực hiện các biến đổi xã hội. Do đó, một lý luận dù đúng đắn
đến đâu cũng chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng nếu không được quần chúng tiếp nhận và biến
thành hành động. Khi lý luận thâm nhập vào quần chúng, nó sẽ trở thành niềm tin, động
5
cơ và mục tiêu hành động, từ đó tạo ra sức mạnh vật chất to lớn có khả năng cải biến hiện
thực. Đây chính là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức và hoạt
động vật chất của con người.
Từ những phân tích trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc. Một mặt, cần
khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa giáo
điều, chỉ coi trọng lý luận mà xem nhẹ hành động thực tiễn. Mặt khác, phải thấy được vai
trò to lớn của lý luận, tránh rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, coi nhẹ tư duy lý luận. Đồng
thời, cần đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục nhằm đưa lý luận
khoa học đến với quần chúng, biến nó thành lực lượng vật chất trong thực tiễn. Nói cách
khác, phải thực hiện tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành
động.
Vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có thể thấy rõ giá trị của luận điểm này.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước đã làm cho lý luận cách mạng thâm nhập vào
quần chúng, từ đó tạo nên sức mạnh vật chất to lớn, đưa cách mạng đến thắng lợi. Trong
công cuộc đổi mới hiện nay, những đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng chỉ có thể
phát huy hiệu quả khi được quần chúng nhân dân tiếp nhận, tin tưởng và tổ chức thực
hiện. Điều đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn và giá trị thực tiễn sâu sắc của luận
điểm.
Tóm lại, luận điểm của C.Mác đã phản ánh một cách sâu sắc mối quan hệ biện chứng
giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức và vật chất. Trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết
định, nhưng lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất to lớn.
Việc nhận thức và vận dụng đúng đắn luận điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với hoạt động nhận thức và thực tiễn, góp phần bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
6
o
o
o
Câu 4: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động
nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện ? Hãy
vận dụng nguyên tắc này và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay"
1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép
biện chứng duy vật.
Khái quát nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Theo phép biện chứng duy vật, thế giới là
một chỉnh thể thống nhất, trong đó các sự vật, hiện tượng không tồn tại biệt lập, rời rạc
mà luôn có sự tác động qua lại, ràng buộc, quy định và chuyển hóa lẫn nhau.
Các tính chất của mối liên hệ phổ biến:
Tính khách quan: Mối liên hệ là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
Tính phổ biến: Mối liên hệ diễn ra ở mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội, tư duy), ở mọi không
gian và thời gian.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có những mối liên hệ khác
nhau (liên hệ bên trong - bên ngoài, cơ bản - không cơ bản, chủ yếu - thứ yếu...) và chúng
giữ vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Từ nguyên lý này, Triết học rút ra nguyên tắc phương pháp luận quan trọng là nguyên tắc
toàn diện.
2. Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện?
Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện vì những lý do sau:
Về mặt nhận thức: Do sự vật tồn tại trong hệ thống các mối liên hệ phức tạp, nên để hiểu
đúng bản chất của sự vật, ta phải xem xét nó trong sự tác động của tất cả các mặt, các
mối liên hệ. Nếu chỉ xem xét phiến diện, rời rạc, ta sẽ không thể nắm bắt được chân lý
mà chỉ có được những hiểu biết sai lệch.
Về mặt thực tiễn: Hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật chỉ đạt hiệu quả khi chúng ta
tác động đúng vào các mối liên hệ thực tế của nó. Nếu không có cái nhìn toàn diện,
chúng ta dễ rơi vào tình trạng "vả đâu đánh đấy", gây ra những hậu quả tiêu cực hoặc làm
biến dạng đối tượng do không lường trước được các tác động liên đới.
Chống lại quan điểm siêu hình: Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện giúp chúng ta khắc
phục phương pháp tư duy siêu hình (chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn thể, chỉ thấy
cây mà không thấy rừng) và chủ nghĩa phiến diện trong nhận thức và hành động.
3. Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Vận dụng nguyên tắc toàn diện, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai công cuộc đổi mới
một cách đồng bộ và sâu sắc:
Đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực: Công cuộc đổi mới không chỉ giới hạn ở kinh tế mà
còn mở rộng ra chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong đó,
đổi mới kinh tế được xác định là trọng tâm, đổi mới chính trị là then chốt, đồng thời gắn
liền với xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
7
Giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận: Trong đổi mới kinh tế, phải chú trọng cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; kết hợp giữa phát triển kinh tế với đảm bảo công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Phát huy sức mạnh tổng hợp: Vận dụng bài học "trọng dân" trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, công cuộc đổi mới phải phát huy tối đa
mọi nguồn lực: nguồn lực con người, nguồn lực kinh tế, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.
Chống các biểu hiện phiến diện: Tránh tình trạng chỉ tập trung tăng trưởng kinh tế mà
xem nhẹ đạo đức, lối sống (vấn đề mà các nhà tư tưởng như Khổng Tử đã từng cảnh báo
về sự suy đồi) hoặc chỉ chú trọng ngoại lực mà quên đi nội lực dân tộc.
Kết luận: Nguyên tắc toàn diện không chỉ là một yêu cầu lý luận mà còn là "kim chỉ
nam" cho hoạt động thực tiễn. Trong bối cảnh hiện nay, việc nắm vững và vận dụng sáng
tạo nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
8
Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động
nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển ? Hãy
vận dụng nguyên tắc này và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển chính là Nguyên lý về sự phát triển trong Phép
biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Để hiểu rõ cơ sở này, ta cần làm rõ khái
niệm và các tính chất của sự phát triển.
a. Khái niệm sự phát triển
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt lượng, không
có sự thay đổi về chất; hoặc phát triển là một vòng khép kín, lặp đi lặp lại.
Theo quan điểm biện chứng duy vật: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá
trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Lưu ý: Phát triển không đồng nhất với vận động. Vận động là mọi sự biến đổi nói chung
(có thể đi lên, đi xuống, hoặc tuần hoàn), còn phát triển chỉ là sự vận động theo chiều
hướng tiến lên, sinh ra cái mới thay thế cái cũ.
b. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện
tượng (do mâu thuẫn bên trong sự vật quy định), chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người hay một lực lượng siêu nhiên nào.
Tính phổ biến: Sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác
nhau. Trong những điều kiện không gian và thời gian khác nhau, sự phát triển cũng biểu
hiện khác nhau.
Tính kế thừa: Sự phát triển không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà là sự phủ định
biện chứng. Cái mới ra đời trên cơ sở giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ của cái cũ và
cải biến chúng cho phù hợp.
Từ nguyên lý khách quan này, Triết học Mác - Lênin rút ra nguyên tắc phát triển làm
phương pháp luận chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn.
2. Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát
triển?
Thế giới khách quan luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Ý thức và tư duy của
con người là sự phản ánh thế giới khách quan đó. Do vậy, để nhận thức đúng đắn và cải
tạo hiệu quả thế giới, chúng ta bắt buộc phải quán triệt nguyên tắc phát triển vì những lý
do sau:
a. Trong hoạt động nhận thức
Sự vật không bao giờ đứng im. Nếu ta nhận thức sự vật trong trạng thái tĩnh tại, cô lập, ta
sẽ có cái nhìn méo mó, sai lệch về bản chất của nó.
Tôn trọng nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, ta phải đặt nó trong sự vận
động, phát hiện ra các xu hướng biến đổi của nó (cả những biến đổi về lượng và biến đổi
về chất).
9
Giúp con người nhận thức được quá khứ, hiện tại và dự báo được tương lai của sự vật, từ
đó có định hướng đúng đắn.
b. Trong hoạt động thực tiễn
Thực tiễn là hoạt động nhằm cải tạo thế giới. Nếu không nắm bắt được quy luật phát triển
của sự vật, hành động của con người sẽ đi ngược lại quy luật khách quan và tất yếu dẫn
đến thất bại.
Tôn trọng nguyên tắc phát triển giúp chúng ta chủ động phát hiện, ủng hộ và bảo vệ cái
mới, cái tiến bộ ngay từ khi nó mới ra đời (còn non yếu).
Giúp chúng ta có thái độ lạc quan, không bi quan dao động khi sự vật trải qua những
bước quanh co, thụt lùi tạm thời (vì khuynh hướng chung của vạn vật là đi lên).
Khắc phục sai lầm: Nguyên tắc này giúp chúng ta chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định
kiến, giáo điều; đồng thời cũng chống lại thái độ chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn
(muốn sự vật phát triển nhưng bỏ qua các quy luật tích luỹ về lượng).
3. Vận dụng nguyên tắc phát triển vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Nhận thức sâu sắc nguyên lý về sự phát triển, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước (từ Đại hội VI - 1986 đến nay). Sự vận dụng này được
thể hiện trên các phương diện nổi bật:
Đổi mới là một tất yếu khách quan: Đảng ta nhận thức rõ mô hình kinh tế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu bao cấp trước đây đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và bộc lộ những hạn
chế, kìm hãm sự phát triển. Đổi mới không phải là sự thay đổi tùy tiện mà là yêu cầu tất
yếu để đưa đất nước đi lên, vươn tới sự hoàn thiện.
Ủng hộ cái mới và phát huy tính năng động: Đảng ta đã dũng cảm từ bỏ tư duy kinh tế
cũ, mạnh dạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động
hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là quá trình phát hiện và ủng hộ cái mới, phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại.
Phát triển có tính kế thừa (Phủ định biện chứng): Công cuộc đổi mới ở nước ta không
phải là sự "phủ định sạch trơn" quá khứ hay từ bỏ mục tiêu Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại,
chúng ta đổi mới để xây dựng Chủ nghĩa xã hội hiệu quả hơn. Chúng ta kế thừa những
thành quả tốt đẹp của lịch sử dân tộc, giữ vững định hướng chính trị, đồng thời tiếp thu
tinh hoa văn hóa và
công cuộc đổi mới nước ta hiện nay?
1. Khái niệm vật chất và ý thức
Theo giáo trình Triết học Mác – Lênin, vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức con người phản ánh.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng
động, sáng tạo, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và của
thực tiễn xã hội.
2. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
2.1. Vật chất quyết định ý thức
Đây là nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Vật chất có trước, ý thức có sau; ý thức là sản phẩm của vật chất phát triển đến trình độ
nhất định (bộ não người).
Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự biến đổi của ý thức.
Hoàn cảnh vật chất (điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên…) như thế nào thì ý thức con
người phản ánh như thế đó.
Ví dụ: Điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi sẽ làm thay đổi tư duy, nhận thức, quan điểm
chính trị, pháp luật của con người.
→ Kết luận: Trong mối quan hệ này, vật chất giữ vai trò quyết định.
2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Mặc dù bị vật chất quyết định, nhưng ý thức không hoàn toàn thụ động mà có vai trò tích
cực:
Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động này có thể:
o Tích cực: nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực (khoa học, đúng quy luật).
o Tiêu cực: nếu ý thức sai lầm, chủ quan, duy ý chí.
Ví dụ: Một đường lối đúng đắn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; ngược lại, sai
lầm trong nhận thức có thể gây khủng hoảng.
→ Kết luận: Ý thức có vai trò tác động trở lại, nhưng không thay thế được vai trò quyết
định của vật chất.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ trên, rút ra các nguyên tắc:
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật.
Đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của ý thức.
Chống:
o Chủ nghĩa duy tâm (đề cao ý thức tuyệt đối).
o Chủ nghĩa duy vật tầm thường (coi nhẹ vai trò của ý thức).
3. Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3.1. Xuất phát từ thực tiễn khách quan (vật chất quyết định)
Công cuộc đổi mới (từ năm 1986) là minh chứng rõ ràng cho việc tôn trọng quy luật
khách quan:
1
Trước
đổi mới: cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phù hợp với trình độ lực lượng
sản xuất → khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, xuất phát từ điều kiện thực tế để đề ra đường lối đổi
mới:
o Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
o Vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
→ Đây là sự vận dụng đúng nguyên lý vật chất quyết định ý thức.
3.2. Phát huy vai trò của ý thức (đường lối, chính sách đúng đắn)
Ý thức được thể hiện ở:
Đường lối đổi mới của Đảng.
Chính sách pháp luật của Nhà nước.
Nhận thức và tinh thần đổi mới của toàn dân.
Nhờ ý thức đúng đắn:
Kinh tế tăng trưởng mạnh.
Đời sống nhân dân được cải thiện.
Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao.
→ Điều này chứng minh ý thức có thể tác động mạnh mẽ trở lại vật chất.
3.3. Bài học rút ra trong giai đoạn hiện nay
Tiếp tục tôn trọng quy luật khách quan, không nóng vội, duy ý chí.
Phát huy vai trò của khoa học, tri thức, đổi mới sáng tạo (chuyển đổi số, kinh tế tri
thức).
Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa:
o Điều kiện vật chất (kinh tế, công nghệ)
o Và yếu tố tinh thần (ý chí, tư duy, đường lối)
4. Kết luận
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất giữ vai
trò quyết định, còn ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất. Việc
nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
thực tiễn, nhất là trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Chính nhờ xuất phát từ
thực tế khách quan và phát huy vai trò của ý thức mà nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
2
CÂU 2: Anh chị hãy phân tích cơ sở lý luận và nêu ra các yêu cầu phương pháp
luận của nguyên tắc khách quan của chủ nghĩa duy vật biện chứng. ĐCSVN đã và
đang vận dụng nguyên tắc này như thế nào vào sự nghiệp xây dựng và phát triển
đất nước ta hiện nay?
1. Khái niệm vật chất và ý thức
Theo giáo trình Triết học Mác – Lênin, vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại
khách quan, tồn tại độc lập với ý thức và được ý thức con người phản ánh.
Ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng
động, sáng tạo, là sản phẩm của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ não người và của
thực tiễn xã hội.
2. Phân tích mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
2.1. Vật chất quyết định ý thức
Đây là nội dung cơ bản nhất của chủ nghĩa duy vật biện chứng:
Vật chất có trước, ý thức có sau; ý thức là sản phẩm của vật chất phát triển đến trình độ
nhất định (bộ não người).
Vật chất quyết định nội dung, bản chất và sự biến đổi của ý thức.
Hoàn cảnh vật chất (điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên…) như thế nào thì ý thức con
người phản ánh như thế đó.
Ví dụ: Điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi sẽ làm thay đổi tư duy, nhận thức, quan điểm
chính trị, pháp luật của con người.
→ Kết luận: Trong mối quan hệ này, vật chất giữ vai trò quyết định.
2.2. Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Mặc dù bị vật chất quyết định, nhưng ý thức không hoàn toàn thụ động mà có vai trò tích
cực:
Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con người.
Sự tác động này có thể:
o Tích cực: nếu ý thức phản ánh đúng hiện thực (khoa học, đúng quy luật).
o Tiêu cực: nếu ý thức sai lầm, chủ quan, duy ý chí.
Ví dụ: Một đường lối đúng đắn có thể thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; ngược lại, sai
lầm trong nhận thức có thể gây khủng hoảng.
→ Kết luận: Ý thức có vai trò tác động trở lại, nhưng không thay thế được vai trò quyết
định của vật chất.
2.3. Ý nghĩa phương pháp luận
Từ mối quan hệ trên, rút ra các nguyên tắc:
Phải xuất phát từ thực tế khách quan, tôn trọng quy luật.
Đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của ý thức.
Chống:
o Chủ nghĩa duy tâm (đề cao ý thức tuyệt đối).
o Chủ nghĩa duy vật tầm thường (coi nhẹ vai trò của ý thức).
3. Vận dụng vào công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay
3.1. Xuất phát từ thực tiễn khách quan (vật chất quyết định)
3
Công cuộc đổi mới (từ năm 1986) là minh chứng rõ ràng cho việc tôn trọng quy luật
khách quan:
Trước đổi mới: cơ chế tập trung quan liêu bao cấp không phù hợp với trình độ lực lượng
sản xuất → khủng hoảng kinh tế – xã hội.
Đảng ta đã nhìn thẳng vào sự thật, xuất phát từ điều kiện thực tế để đề ra đường lối đổi
mới:
o Phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần.
o Vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
→ Đây là sự vận dụng đúng nguyên lý vật chất quyết định ý thức.
3.2. Phát huy vai trò của ý thức (đường lối, chính sách đúng đắn)
Ý thức được thể hiện ở:
Đường lối đổi mới của Đảng.
Chính sách pháp luật của Nhà nước.
Nhận thức và tinh thần đổi mới của toàn dân.
Nhờ ý thức đúng đắn:
Kinh tế tăng trưởng mạnh.
Đời sống nhân dân được cải thiện.
Vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao.
→ Điều này chứng minh ý thức có thể tác động mạnh mẽ trở lại vật chất.
3.3. Bài học rút ra trong giai đoạn hiện nay
Tiếp tục tôn trọng quy luật khách quan, không nóng vội, duy ý chí.
Phát huy vai trò của khoa học, tri thức, đổi mới sáng tạo (chuyển đổi số, kinh tế tri
thức).
Nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ và nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa:
o Điều kiện vật chất (kinh tế, công nghệ)
o Và yếu tố tinh thần (ý chí, tư duy, đường lối)
4. Kết luận
Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức là mối quan hệ biện chứng, trong đó vật chất giữ vai
trò quyết định, còn ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất. Việc
nhận thức và vận dụng đúng đắn mối quan hệ này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
thực tiễn, nhất là trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Chính nhờ xuất phát từ
thực tế khách quan và phát huy vai trò của ý thức mà nước ta đã đạt được những thành
tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.
4
Câu 3: Trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng anh (chị) hãy phân tích làm
sáng tỏ luận điểm sau đây của C.Mac "Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể
thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng
lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó
thâm nhập vào quần chúng"
Luận điểm của C.Mác: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê
phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng
lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” là
sự khái quát sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về mối quan hệ giữa lý
luận và thực tiễn, giữa ý thức và vật chất trong đời sống xã hội. Luận điểm này không chỉ
có giá trị lý luận mà còn mang ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc đối với hoạt động nhận
thức và cải tạo thế giới.
Trước hết, xét trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, vật chất là phạm trù
triết học chỉ thực tại khách quan, tồn tại độc lập với ý thức, còn ý thức chỉ là sự phản ánh
hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người. Trong đời sống xã hội, thực tiễn – với
tư cách là toàn bộ hoạt động vật chất mang tính lịch sử – xã hội của con người – giữ vai
trò là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức và là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý. Từ đó có
thể khẳng định rằng, mọi sự biến đổi của hiện thực trước hết phải thông qua hoạt động
thực tiễn, tức là thông qua lực lượng vật chất.
Chính trên cơ sở đó, C.Mác khẳng định: “vũ khí của sự phê phán không thể thay thế
được sự phê phán của vũ khí”. “Vũ khí của sự phê phán” ở đây được hiểu là lý luận, là
sự phê phán bằng tư tưởng; còn “sự phê phán của vũ khí” là hoạt động thực tiễn mang
tính vật chất, đặc biệt là đấu tranh cách mạng nhằm cải biến hiện thực. Điều đó có nghĩa
là, không thể dùng lý luận thuần túy để thay thế cho hành động thực tiễn. Muốn xóa bỏ
một trật tự xã hội cũ, một lực lượng vật chất cũ thì phải có một lực lượng vật chất mới đủ
mạnh để thay thế. Đây là sự khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, đồng thời phê
phán triệt để khuynh hướng duy tâm tuyệt đối hóa vai trò của ý thức, coi nhẹ vai trò của
hoạt động vật chất.
Tuy nhiên, chủ nghĩa duy vật biện chứng không dừng lại ở việc đề cao vai trò của vật
chất mà còn chỉ ra tính độc lập tương đối và vai trò tác động trở lại của ý thức đối với vật
chất. Ý thức, đặc biệt là lý luận khoa học, khi phản ánh đúng hiện thực khách quan và
quy luật vận động của xã hội, có khả năng định hướng, dẫn dắt và tổ chức hoạt động thực
tiễn. Trong ý nghĩa đó, C.Mác nhấn mạnh: “lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất,
một khi nó thâm nhập vào quần chúng”. Như vậy, bản thân lý luận không phải là lực
lượng vật chất trực tiếp, nhưng thông qua hoạt động của con người – đặc biệt là quần
chúng nhân dân – nó được hiện thực hóa thành sức mạnh vật chất.
Luận điểm này đồng thời làm nổi bật vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Theo
quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo lịch
sử, là lực lượng trực tiếp thực hiện các biến đổi xã hội. Do đó, một lý luận dù đúng đắn
đến đâu cũng chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng nếu không được quần chúng tiếp nhận và biến
thành hành động. Khi lý luận thâm nhập vào quần chúng, nó sẽ trở thành niềm tin, động
5
cơ và mục tiêu hành động, từ đó tạo ra sức mạnh vật chất to lớn có khả năng cải biến hiện
thực. Đây chính là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức và hoạt
động vật chất của con người.
Từ những phân tích trên có thể rút ra ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc. Một mặt, cần
khẳng định vai trò quyết định của thực tiễn, chống lại mọi biểu hiện của chủ nghĩa giáo
điều, chỉ coi trọng lý luận mà xem nhẹ hành động thực tiễn. Mặt khác, phải thấy được vai
trò to lớn của lý luận, tránh rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, coi nhẹ tư duy lý luận. Đồng
thời, cần đặc biệt coi trọng công tác tư tưởng, tuyên truyền, giáo dục nhằm đưa lý luận
khoa học đến với quần chúng, biến nó thành lực lượng vật chất trong thực tiễn. Nói cách
khác, phải thực hiện tốt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa nhận thức và hành
động.
Vận dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có thể thấy rõ giá trị của luận điểm này.
Trong cách mạng giải phóng dân tộc, việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong
trào công nhân và phong trào yêu nước đã làm cho lý luận cách mạng thâm nhập vào
quần chúng, từ đó tạo nên sức mạnh vật chất to lớn, đưa cách mạng đến thắng lợi. Trong
công cuộc đổi mới hiện nay, những đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng chỉ có thể
phát huy hiệu quả khi được quần chúng nhân dân tiếp nhận, tin tưởng và tổ chức thực
hiện. Điều đó một lần nữa khẳng định tính đúng đắn và giá trị thực tiễn sâu sắc của luận
điểm.
Tóm lại, luận điểm của C.Mác đã phản ánh một cách sâu sắc mối quan hệ biện chứng
giữa lý luận và thực tiễn, giữa ý thức và vật chất. Trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết
định, nhưng lý luận khi thâm nhập vào quần chúng sẽ trở thành lực lượng vật chất to lớn.
Việc nhận thức và vận dụng đúng đắn luận điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối
với hoạt động nhận thức và thực tiễn, góp phần bảo đảm cho sự thành công của sự nghiệp
xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.
6
o
o
o
Câu 4: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện. Vì sao trong hoạt động
nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện ? Hãy
vận dụng nguyên tắc này và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay"
1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện
Cơ sở lý luận của nguyên tắc toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép
biện chứng duy vật.
Khái quát nguyên lý về mối liên hệ phổ biến: Theo phép biện chứng duy vật, thế giới là
một chỉnh thể thống nhất, trong đó các sự vật, hiện tượng không tồn tại biệt lập, rời rạc
mà luôn có sự tác động qua lại, ràng buộc, quy định và chuyển hóa lẫn nhau.
Các tính chất của mối liên hệ phổ biến:
Tính khách quan: Mối liên hệ là cái vốn có của bản thân sự vật, hiện tượng, không phụ
thuộc vào ý chí chủ quan của con người.
Tính phổ biến: Mối liên hệ diễn ra ở mọi lĩnh vực (tự nhiên, xã hội, tư duy), ở mọi không
gian và thời gian.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có những mối liên hệ khác
nhau (liên hệ bên trong - bên ngoài, cơ bản - không cơ bản, chủ yếu - thứ yếu...) và chúng
giữ vai trò khác nhau đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật.
Từ nguyên lý này, Triết học rút ra nguyên tắc phương pháp luận quan trọng là nguyên tắc
toàn diện.
2. Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện?
Chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc toàn diện vì những lý do sau:
Về mặt nhận thức: Do sự vật tồn tại trong hệ thống các mối liên hệ phức tạp, nên để hiểu
đúng bản chất của sự vật, ta phải xem xét nó trong sự tác động của tất cả các mặt, các
mối liên hệ. Nếu chỉ xem xét phiến diện, rời rạc, ta sẽ không thể nắm bắt được chân lý
mà chỉ có được những hiểu biết sai lệch.
Về mặt thực tiễn: Hoạt động thực tiễn nhằm cải tạo sự vật chỉ đạt hiệu quả khi chúng ta
tác động đúng vào các mối liên hệ thực tế của nó. Nếu không có cái nhìn toàn diện,
chúng ta dễ rơi vào tình trạng "vả đâu đánh đấy", gây ra những hậu quả tiêu cực hoặc làm
biến dạng đối tượng do không lường trước được các tác động liên đới.
Chống lại quan điểm siêu hình: Việc tuân thủ nguyên tắc toàn diện giúp chúng ta khắc
phục phương pháp tư duy siêu hình (chỉ thấy bộ phận mà không thấy toàn thể, chỉ thấy
cây mà không thấy rừng) và chủ nghĩa phiến diện trong nhận thức và hành động.
3. Vận dụng nguyên tắc toàn diện vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Vận dụng nguyên tắc toàn diện, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai công cuộc đổi mới
một cách đồng bộ và sâu sắc:
Đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực: Công cuộc đổi mới không chỉ giới hạn ở kinh tế mà
còn mở rộng ra chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong đó,
đổi mới kinh tế được xác định là trọng tâm, đổi mới chính trị là then chốt, đồng thời gắn
liền với xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
7
Giải quyết mối quan hệ giữa các bộ phận: Trong đổi mới kinh tế, phải chú trọng cả lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất; kết hợp giữa phát triển kinh tế với đảm bảo công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường.
Phát huy sức mạnh tổng hợp: Vận dụng bài học "trọng dân" trong lịch sử tư tưởng Việt
Nam và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, công cuộc đổi mới phải phát huy tối đa
mọi nguồn lực: nguồn lực con người, nguồn lực kinh tế, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân
tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.
Chống các biểu hiện phiến diện: Tránh tình trạng chỉ tập trung tăng trưởng kinh tế mà
xem nhẹ đạo đức, lối sống (vấn đề mà các nhà tư tưởng như Khổng Tử đã từng cảnh báo
về sự suy đồi) hoặc chỉ chú trọng ngoại lực mà quên đi nội lực dân tộc.
Kết luận: Nguyên tắc toàn diện không chỉ là một yêu cầu lý luận mà còn là "kim chỉ
nam" cho hoạt động thực tiễn. Trong bối cảnh hiện nay, việc nắm vững và vận dụng sáng
tạo nguyên tắc này là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
8
Câu 5: Phân tích cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển. Vì sao trong hoạt động
nhận thức và trong thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát triển ? Hãy
vận dụng nguyên tắc này và công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
1. Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển
Cơ sở lý luận của nguyên tắc phát triển chính là Nguyên lý về sự phát triển trong Phép
biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Để hiểu rõ cơ sở này, ta cần làm rõ khái
niệm và các tính chất của sự phát triển.
a. Khái niệm sự phát triển
Theo quan điểm siêu hình: Phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi về mặt lượng, không
có sự thay đổi về chất; hoặc phát triển là một vòng khép kín, lặp đi lặp lại.
Theo quan điểm biện chứng duy vật: Phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá
trình vận động của sự vật, hiện tượng theo khuynh hướng đi lên: từ thấp đến cao, từ đơn
giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Lưu ý: Phát triển không đồng nhất với vận động. Vận động là mọi sự biến đổi nói chung
(có thể đi lên, đi xuống, hoặc tuần hoàn), còn phát triển chỉ là sự vận động theo chiều
hướng tiến lên, sinh ra cái mới thay thế cái cũ.
b. Tính chất của sự phát triển
Tính khách quan: Nguồn gốc của sự phát triển nằm ngay trong bản thân sự vật, hiện
tượng (do mâu thuẫn bên trong sự vật quy định), chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ
quan của con người hay một lực lượng siêu nhiên nào.
Tính phổ biến: Sự phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy con người.
Tính đa dạng, phong phú: Mỗi sự vật, hiện tượng khác nhau có quá trình phát triển khác
nhau. Trong những điều kiện không gian và thời gian khác nhau, sự phát triển cũng biểu
hiện khác nhau.
Tính kế thừa: Sự phát triển không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà là sự phủ định
biện chứng. Cái mới ra đời trên cơ sở giữ lại những yếu tố tích cực, tiến bộ của cái cũ và
cải biến chúng cho phù hợp.
Từ nguyên lý khách quan này, Triết học Mác - Lênin rút ra nguyên tắc phát triển làm
phương pháp luận chỉ đạo hoạt động nhận thức và thực tiễn.
2. Vì sao trong hoạt động nhận thức và thực tiễn chúng ta phải tôn trọng nguyên tắc phát
triển?
Thế giới khách quan luôn luôn vận động và phát triển không ngừng. Ý thức và tư duy của
con người là sự phản ánh thế giới khách quan đó. Do vậy, để nhận thức đúng đắn và cải
tạo hiệu quả thế giới, chúng ta bắt buộc phải quán triệt nguyên tắc phát triển vì những lý
do sau:
a. Trong hoạt động nhận thức
Sự vật không bao giờ đứng im. Nếu ta nhận thức sự vật trong trạng thái tĩnh tại, cô lập, ta
sẽ có cái nhìn méo mó, sai lệch về bản chất của nó.
Tôn trọng nguyên tắc phát triển đòi hỏi khi xem xét sự vật, ta phải đặt nó trong sự vận
động, phát hiện ra các xu hướng biến đổi của nó (cả những biến đổi về lượng và biến đổi
về chất).
9
Giúp con người nhận thức được quá khứ, hiện tại và dự báo được tương lai của sự vật, từ
đó có định hướng đúng đắn.
b. Trong hoạt động thực tiễn
Thực tiễn là hoạt động nhằm cải tạo thế giới. Nếu không nắm bắt được quy luật phát triển
của sự vật, hành động của con người sẽ đi ngược lại quy luật khách quan và tất yếu dẫn
đến thất bại.
Tôn trọng nguyên tắc phát triển giúp chúng ta chủ động phát hiện, ủng hộ và bảo vệ cái
mới, cái tiến bộ ngay từ khi nó mới ra đời (còn non yếu).
Giúp chúng ta có thái độ lạc quan, không bi quan dao động khi sự vật trải qua những
bước quanh co, thụt lùi tạm thời (vì khuynh hướng chung của vạn vật là đi lên).
Khắc phục sai lầm: Nguyên tắc này giúp chúng ta chống lại tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định
kiến, giáo điều; đồng thời cũng chống lại thái độ chủ quan, nóng vội, đốt cháy giai đoạn
(muốn sự vật phát triển nhưng bỏ qua các quy luật tích luỹ về lượng).
3. Vận dụng nguyên tắc phát triển vào công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay
Nhận thức sâu sắc nguyên lý về sự phát triển, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công
cuộc đổi mới toàn diện đất nước (từ Đại hội VI - 1986 đến nay). Sự vận dụng này được
thể hiện trên các phương diện nổi bật:
Đổi mới là một tất yếu khách quan: Đảng ta nhận thức rõ mô hình kinh tế kế hoạch hóa
tập trung quan liêu bao cấp trước đây đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và bộc lộ những hạn
chế, kìm hãm sự phát triển. Đổi mới không phải là sự thay đổi tùy tiện mà là yêu cầu tất
yếu để đưa đất nước đi lên, vươn tới sự hoàn thiện.
Ủng hộ cái mới và phát huy tính năng động: Đảng ta đã dũng cảm từ bỏ tư duy kinh tế
cũ, mạnh dạn chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; chủ động
hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là quá trình phát hiện và ủng hộ cái mới, phù hợp với xu
thế phát triển của thời đại.
Phát triển có tính kế thừa (Phủ định biện chứng): Công cuộc đổi mới ở nước ta không
phải là sự "phủ định sạch trơn" quá khứ hay từ bỏ mục tiêu Chủ nghĩa xã hội. Ngược lại,
chúng ta đổi mới để xây dựng Chủ nghĩa xã hội hiệu quả hơn. Chúng ta kế thừa những
thành quả tốt đẹp của lịch sử dân tộc, giữ vững định hướng chính trị, đồng thời tiếp thu
tinh hoa văn hóa và
 








Các ý kiến mới nhất