KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG. ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Diên (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:13' 13-05-2026
Dung lượng: 479.5 KB
Số lượt tải: 115
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Diên (trang riêng)
Ngày gửi: 18h:13' 13-05-2026
Dung lượng: 479.5 KB
Số lượt tải: 115
Số lượt thích:
0 người
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT (Phần đọc thành tiếng)
A. Tiếng Việt đọc: (10 điểm)
I. Phần đọc thành tiếng: (2 điểm)
GV cho học sinh bắt thăm đọc môt trong các bài đọc sau và trả lời một câu hỏi:
Sáng nay chim sẻ nói gì?; Bông sen trong giếng ngọc; Chú lính chì dũng cảm;
Những người con trai của vua uy-li-am; Hoa tóc tiên.
Đánh giá, ghi điểm theo các yêu cầu sau
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng; tốc độ đạt khoảng 80 tiếng/ 1 phút (0,5 điểm)
- Đọc đúng tiếng, từ (không sai quá 5 tiếng); Đọc diễn cảm (nếu có) (0,5
điểm)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa (0,5 điểm)
- Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc (0,5 điểm)
Đề số 1
SÁNG NAY CHIM SẺ NÓI GÌ?
Đêm nọ, trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho viên ngọc quý nghe được tiếng
nói của loài vật. Rồi bé Na vượt suối băng rừng, thỏa thích lắng nghe muông thú. Bé
Na thích nhất là câu nói của bác Sư Tử. Câu ấy thế này: “Đâu nhất thiết chúng tôi
phải nói tiếng người thì loài người mới hiểu được chúng tôi. Chỉ cần một chút yêu
thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi”…
Sáng sớm hôm ấy, bé Na thức dậy, bước về phía cửa, nơi chiếc chuông gió
đang khúc khích cười. Và kia! Một chú Chim sẻ đang đậu trên dây điện chằng chịt
tự nhiên bay sà xuống ban công. Chim sẻ quẹt quẹt cái mỏ nhỏ xinh xuống nền nhà.
Chim sẻ mổ mổ những hạt cát. Chim sẻ ngẩng lên, tròn xoe đôi mắt nhìn bé Na. Và
rồi bé Na thoảng nghe trong gió:
- Chị ơi, em đói lắm!
- Ai thế? – Bé Na ngơ ngác nhìn quanh. Ai đang nói chuyện với Na thế?
- Em là Chim sẻ nè. Em đói…
Bé Na nhìn sững sờ chú chim nhỏ vài giây. Quả thật, cái mỏ nhỏ cũng vừa mấp máy.
A, mình nghe được tiếng Chim sẻ thật rồi! Bé Na vô cùng thích thú, bé chạy vội
xuống nhà bếp nắm một nắm gạo rồi chạy lên ban công.
- Ôi, em cám ơn chị!
Chim Sẻ nói cảm ơn liên hồi rồi cúi xuống mổ dồn dập.
Theo Phan Đăng Đăng, Báo Nhi đồng số 8/2009
Câu 1: Trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho vật gì và có giá trị ra sao?
Đ. ÁN: trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho viên ngọc quý nghe được tiếng
nói của loài vật.
Câu 2: Bé Na thích nhất điều gì sau khi có viên ngọc quý?
Đ. ÁN Na thích nhất là câu nói của bác Sư Tử. Câu ấy thế này: “Đâu nhất thiết
chúng tôi phải nói tiếng người thì loài người mới hiểu được chúng tôi. Chỉ cần một
chút yêu thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi”…
Câu 3: Khi nghe và biết được tiếng chim sẻ nói, bé Na đã thế nào?
Đ. ÁN: Bé Na vô cùng thích thú, bé chạy vội xuống nhà bếp nắm một nắm gạo rồi
chạy lên ban công.
Đề số 2
BÔNG SEN TRONG GIẾNG NGỌC
Mạc Đĩnh Chi người đen đủi, xấu xí. Nhà nghèo, mẹ con cậu nuôi nhau bằng nghề
kiếm củi. Mới bốn tuổi, Mạc Đĩnh Chi đã tỏ ra rất thông minh. Bấy giờ, Chiêu quốc
công Trần Nhật Duật mở trường dạy học, Mạc Đĩnh Chi xin được vào học. Cậu học
chăm chỉ, miệt mài, sớm trở thành học trò giỏi nhất trường.
Kì thi năm ấy, Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu nhưng vua thấy ông mặt mũi xấu xí, người bé
loắt choắt, lại là con thường dân, toan không cho đỗ.
Thấy nhà vua không trọng người hiền, chỉ trọng hình thức bề ngoài, Mạc Đĩnh Chi
làm bài phú “Bông sen giếng ngọc''nhờ người dâng lên vua. Bài phú đề cao phẩm
chất cao quí khác thường của loài hoa sen, cũng để tỏ rõ chí hướng và tài năng của
mình. Vua đọc bài phú thấy rất hay, quyết định lấy ông đỗ Trạng nguyên.
Về sau, Mạc Đĩnh Chi nhiều lần được giao trọng trách đi sứ. Bằng tài năng của
mình, ông đã đề cao được uy tín đất nước, khiến người nước ngoài phải nể trọng sứ
thần Đại Việt. Vua Nguyên tặng ông danh hiệu Trạng nguyên. Nhân dân ta ngưỡng
mộ, tôn xưng ông là: Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước)
Theo Lâm Ngũ Đường
Câu 1. Mẹ con Mạc Đĩnh Chi nuôi nhau bằng nghề gì ?
Đ. ÁN mẹ con cậu nuôi nhau bằng nghề kiếm củi.
Câu 2. Vì sao lúc đầu nhà vua toan không cho Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên?
Đ. ÁN: Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu nhưng vua thấy ông mặt mũi xấu xí, người bé loắt
choắt, lại là con thường dân, toan không cho đỗ.
Đề số 3
CHÚ LÍNH CHÌ DŨNG CẢM
Ngày xưa, có hai mươi lăm chú lính chì cùng được đúc từ một chiếc muôi cũ.
Chú nào chú ấy bồng súng, mắt nhìn thẳng phía trước, mặc đồng phục xanh đỏ,
trông tuyệt đẹp. Các chú hoàn toàn giống nhau, trừ một chú đúc sau cùng. Vì thiếu
chì, chú chỉ có một chân. Nhưng chú đứng oai vệ chẳng kém gì những chú lính khác.
Các chú lính chì được xếp vào một cái hộp. Cái hộp được tặng cho một cậu bé nhân
ngày sinh nhật.
Đêm tối, cậu chủ cất toán lính chì vào hộp, bỏ quên chú lính chì một chân.
Sáng ra, chị giúp việc đến dọn căn buồng và đặt chú lính chì lên bậu cửa sổ. Đúng
lúc ấy có một luồng gió rất mạnh hất chú lính gác từ gác ba xuống đường. Chú lính
đâm thẳng vào kẽ hở giữa hai viên gạch lát đường. Lưỡi lê và cả thân người chú đều
biến mất, chỉ còn cái chân ngạo nghễ duỗi thẳng lên trời. Cậu chủ xuống tìm chú.
Cậu suýt giẫm phải chú. Chú định kêu lên: “Có tôi!” nhưng sực nhớ đến điều lệnh
của quân đội cấm nói khi đang bồng súng, chú lại im bặt.
Sau đó, có hai đứa trẻ đi qua. Một đứa nói:
- A ha! Bắt được chú lính chì một chân! Chắc cu cậu đi đánh trận về đây mà?
Hai đứa đặt chú lính chì vào một chiếc thuyền làm bằng báo cũ và thả thuyền xuống
rãnh. Dòng nước đưa thuyền đi. Hai đứa chạy theo vỗ tay reo mừng. Chiếc thuyền
chui vào một đoạn cống ngầm tối đen. Một con chuột cống to tướng bỗng nhô ra,
hỏi:
- Tên kia, có giấy thông hành không?
Chú lính im lặng, không muốn dây với con vật kinh tởm ấy.
Theo An-đéc-xen
Câu 1. Chú lính chì đúc sau cùng có gì khác 24 chú lính chì đúc trước?
Đ. ÁN: Vì thiếu chì, chú chỉ có một chân.
Câu 2. Chuyện gì không may xảy ra với chú lính chì vào một buổi sáng?
Đ. ÁN: Sáng ra, chị giúp việc đến dọn căn buồng và đặt chú lính chì lên bậu cửa sổ.
Đúng lúc ấy có một luồng gió rất mạnh hất chú lính gác từ gác ba xuống đường.
Câu 3. Ai tìm được chú lính chì và đưa chú lên chiếc thuyền giấy?
Đ. ÁN: có hai đứa trẻ
Đề số 4
NHỮNG NGƯỜI CON TRAI CỦA VUA UY-LI-AM
Vua Uy-li-am có ba người con trai nhỏ. Một hôm, nhà vua cho gọi các con đến
và hỏi: "Nếu Thượng để biến con thành một con chim, con muốn trở thành chim
gì?". Hoàng tử cả nói: "Một con diều hâu vì nó khiến con liên tưởng đến một người
dũng mãnh.". Hoàng tử thứ hai nói: "Con muốn trở thành một con đại bàng vì chim
chóc nào cũng sợ nó.". Hoàng tử út nhẹ nhàng trả lời: “Con xin được trở thành một
chú chim sáo đá. Bởi nó rất ngoan, không bao giờ đối xử tàn nhẫn với những những
con chim khác.".
Sau khi các hoàng tử ra về, nhà vua hỏi ý kiến các nhà thông thái đang đứng
sau rèm. Các nhà thông thái trả lời nhà vua: "Chúng tôi thấy hoàng tử cả có thể làm
được những điều lớn lao nhưng sẽ đến lúc phải rơi vào tay của kẻ thù. Hoàng tử thứ
hai mạnh mẽ nhưng có thể sẽ khiến dân chúng khiếp sợ và oán giận. Hoàng tử út sẽ
trở thành người yêu chuộng hoà bình, biết suy xét kĩ càng khi đưa ra quyết định,
chắc chắn sau này người dân sẽ yêu mến và kính trọng.".
Nhiều năm trôi qua, khi các hoàng tử đã trưởng thành, nhà vua không nghe theo
lời của các nhà thông thái. Ông chia đôi vương quốc cho hai người con trai lớn, và
chỉ để cho hoàng tử út một ít tiền thừa kế. Nhưng chuyện xảy ra không khác với tiên
đoán của các nhà thông thái là bao. Hoàng tử cả xông pha liều lĩnh trên chiến
trường, nhưng rồi mất tất cả đất nước vào tay quân địch và bị bỏ tù. Hoàng tử thứ hai
khiến dân chúng khiếp sợ và thù hận. Thế rồi, ông bị chính quân lính lật đổ vì sự độc
ác của mình. Hoàng tử út thông thái, điềm tĩnh và nhân hậu cuối cùng được dân
chúng tôn vinh làm vua của cả vương quốc.
(Theo Nguyễn Ngoan)
Câu hỏi:
1. Theo các nhà thông thái, ai thích hợp để lên làm vua?
Đ. ÁN: Hoàng tử út sẽ trở thành người yêu chuộng hoà bình, biết suy xét kĩ
càng khi đưa ra quyết định, chắc chắn sau này người dân sẽ yêu mến và kính trọng.".
2. Nhà vua đã phân chia tài sản của mình như thế nào?
Đ. ÁN: Ông chia đôi vương quốc cho hai người con trai lớn, và chỉ để cho hoàng tử
út một ít tiền thừa kế
3. Kết thúc câu chuyện, cuộc đời của hoàng tử út như thế nào?
Đ. ÁN: Hoàng tử út thông thái, điềm tĩnh và nhân hậu cuối cùng được dân
chúng tôn vinh làm vua của cả vương quốc.
Đề số 5
HOA TÓC TIÊN
Thầy giáo dạy cấp một của tôi có một khoảnh vườn tí tẹo, chỉ độ vài mét
vuông. Mọc um tùm với nhau là những thứ quen thuộc : xương xông, lá lốt, bạc hà,
kinh giới. Có cả cây ớt lẫn cây hoa hồng lúc nào cũng bừng lên bông hoa rực rỡ. Đặc
biệt là viền bốn xung quanh mảnh vườn có hàng tóc tiên, xanh và mềm quanh năm.
Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ này mới
có tên gọi như thế.
Mùa hè, tôi thường đến nhà thầy, đúng mùa hoa tóc tiên. Sáng sáng hoa tóc
tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng
cánh sen. Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương
đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương,
muốn ăn ngay.
Thầy thường sai tôi ra ngắt dăm bông cắm vào chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt,
có nước mưa cũng trong suốt, để lên bàn thầy. Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết
làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà
cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy, tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ
trong đến ngoài.
Bây giờ nhiều nơi trồng tóc tiên, hoa tóc tiên có ở nhiều nhà nhiều vườn, có cả hoa
màu trắng, nhưng ít ai cắm hoa tóc tiên trong bình.
Riêng tôi, tôi nhớ cốc hoa tóc tiên trên bàn thầy giáo cách đây mấy chục năm
ở một cái thôn hẻo lánh, hoa có màu cánh sen nhẹ, lá thì xanh biếc, còn hương thơm
thì thoảng nhẹ và ngon lành như một thứ bánh. Thầy giáo tôi đã mất. Nhưng chắc ở
trên trời, thầy vẫn có cốc hoa tóc tiên tinh khiết của mình…
(Theo Băng Sơn)
1.Tác giả cho rằng tên gọi cây tóc tiên có nguồn gốc là do đâu ?
Đ. ÁN: Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ
này mới có tên gọi như thế.
2. Tác giả so sánh mùi thơm của hoa tóc tiên với gì?
Đ. ÁN: mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương,
muốn ăn ngay.
3. Ngắm cốc hoa tóc tiên tinh khiết, tác giả liên tưởng đến điều gì?
Đ. ÁN: Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như
tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy,
tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ trong đến ngoài.
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC: 2025-2026
MÔN: TIẾNG VIỆT
Mạch kiến thức, kĩ
năng
Đọc hiểu văn bản
- Đọc thầm văn bản
hoặc đoạn văn, thơ,
truyện có trả lời câu
hỏi theo các yêu cầu.
Kiến thức Tiếng việt
- Đặt câu có trạng ngữ
và xác định được thành
phần trong câu. (Trạng
ngữ, chủ ngữ, vị ngữ)
- Xác định được cách
viết đúng tên cơ quan, tổ
chức nhà nước.
- Nối hoặc tìm từ thích
hợp điền vào chỗ trống
sao cho phù hợp về
ngữ nghĩa, tạo câu văn
ấn tượng.
- Viết đoạn văn có sử
dụng một trong các dấu
câu: dấu ngoặc kép, dấu
ngoặc đơn.
Tổng
Đọc thành tiếng
Viết
Số câu, số
điểm
MỨC 1
TN
MỨC 2
TL
TN
TL
MỨC 3
TN
Tổng
TL
TN
TL
4
2
Số câu
4
2
1
Câu số
1,2,3,4
5,6
7
Số điểm
2,0
2,0
1,0
2
3
Số câu
2
1
1
2
2
Câu số
8,9
10
11
Số điểm
1
1
1
2
3
2
6
5
3
2
3
5
Số câu
Số điểm
6
3
1
Số điểm
Số điểm
2
10
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM
Tên HS: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lớp: 4/…
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Năm học: 2025 – 2026
Môn: Tiếng Việt ( đọc-hiểu)
Thời gian: 35 phút
Ngày KT: ....../....../ 2026
Giám thị
Giám khảo
A. TIẾNG VIỆT ( Đọc) : 10 điểm
I. Đọc thành tiếng: 2 điểm ....... điểm
II. Đọc hiểu: 8 điểm
....... điểm
Đọc thầm bài văn sau :
Ý CHÍ NGƯỜI CHIẾN SĨ
Trong một trận càn của giặc Pháp, anh Bẩm bị giặc bắt. Giặc dụ dỗ anh khai ra
đồng chí của mình nhưng anh không nói nửa lời. Giặc quấn băng kín hai bàn tay anh
rồi tẩm xăng, châm lửa đốt. Hai bàn tay anh bị đốt đen thui trơ xương và gân. Rồi
một đêm, chúng giải anh và mấy chiến sĩ xuống thuyền, chèo ra giữa sông, lần lượt
quăng từng người xuống nước.
May vì hai tay không bị xích, anh Bẩm cố sức ngoi lên. Một đợt sóng mạnh
như núi đè anh xuống. Nước xoáy tít, hút anh xuống vực thẳm. Anh lại cố đem sức
tàn ngoi lên. Cuối cùng, anh mệt lử, nhưng đã thoát khỏi vực sâu.
Sáng hôm ấy, anh dạt vào một bãi cát. Đề phòng địch phát hiện, anh nấp sau
một đống rạ lớn, đợi trời tối mới về làng.
Tựa vào đống rạ, anh thiu thiu ngủ. Đang chập chờn, anh bỗng thấy một đàn
quạ đen bay đến, kêu inh ỏi, lao vào người anh đòi rỉa đôi tay. Anh xua chúng đi,
chúng càng lăn xả vào một cách dữ tợn. Anh đành nghiến răng, thọc sâu 2 tay xuống
cát. Đàn quạ không làm gì được, đành vỗ cánh bay đi.
Bỗng anh thấy rát bỏng. Thì ra kiến lửa đang xúm vào đốt cả tay chân. Nước
mắt chảy ròng ròng, nhưng sợ lộ, anh không dám ra khỏi đống rạ. Anh tự nhủ: nhất
định phải sống để tiếp tục chiến đấu.
Trời nhá nhem tối, anh Bẩm đứng dậy. Để tránh địch, anh không dám đi trên
đường cái mà lội quanh hết ruộng này đến ruộng khác để tìm đường về thôn nhà.
Đứng trước cái lều con của mẹ, anh khẽ gọi:
- U ơi! U!
Có tiếng mẹ già hốt hoảng hỏi vọng ra. Anh run rẩy nói:
- Con, Bẩm đây. U mở cửa cho con!
Cánh liếp nâng lên. Mẹ già cầm ngọn đèn hiện ra. Anh giơ tay định ôm lấy mẹ,
song đầu gối anh bủn rủn, mắt hoa lên, kiệt sức, anh ngã khuỵu dưới chân mẹ.
(Theo Nguyễn Huy Tưởng)
√ Em hãy khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng nhất và viết câu trả lời của
em cho từng câu hỏi dưới đây:
Câu 1. Anh Bẩm bị bắt trong trường hợp nào? (0,5 điểm-M1)
A. Khi anh đang đi dạo.
B. Khi anh đang làm việc ngoài đồng.
C. Trong một trận càn của giặc Pháp.
D. Khi anh cãi nhau với giặc Pháp.
Câu 2. Dòng nào dưới đây gồm các chi tiết cho thấy anh Bẩm bị giặc Pháp đối
xử rất dã man? (0,5 điểm-M1)
A. Dụ dỗ anh khai ra đồng chí của mình; tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen
thui, trơ trụi xương và gân
B. Tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen thui, trơ xương và gân; quăng xuống
giữa sông trong đêm
C. Tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen thui; trói anh và để bầy kiến lửa đốt
anh.
D. Tẩm xăng hai tay anh; cho bầy kiến lửa đốt anh.
Câu 3. Sau khi thoát khỏi vực sâu, anh Bẩm còn phải vượt qua những thử
thách gì? (0,5 điểm-M1)
A. Bị dạt vào một bãi cát, phải nấp sau một đống rạ lớn kẻo địch phát hiện
B. Đàn quạ lao vào đòi rỉa chân tay bị thương; kiến lửa xúm vào đốt khắp người
C. Phải đi qua khu vực địch đang ngủ, bị quạ rỉa tay.
D. Đàn quạ lao vào đòi rỉa đôi tay bị thương; kiến lửa xúm vào đốt cả tay chân.
Câu 4. Để tránh địch, anh Bẩm đã tìm đường về nhà bằng cách nào? (0,5 điểmM1)
A. Lội quanh hết ruộng này đến ruộng khác.
B. Lách qua những bụi gai
C. Lội qua mấy con kênh
D. Bơi qua vực sâu.
Câu 5. Vì sao anh Bẩm bị giặc tra tấn dã man? (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 6. Câu chuyện “ý chí người chiến sĩ” ca ngợi điều gì? (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 7. Chi tiết cuối bài khi anh Bẩm đã gặp lại được mẹ gợi cho em cảm nghĩ
gì? (1 điểm-M3)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 8. Chọn từ ngữ ( đỏ rực, nở rộ, đỏ tía, khoe sắc) phù hợp điền vào chỗ trống
để tạo được câu văn ấn tượng. (1 điểm-M1)
a) Ngoài vườn, những bông hoa hướng dương đang………………… dưới ánh nắng.
b) Trên cành cao, những bông hoa phượng bắt đầu nở…………………..
Câu 9. Em hãy điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào các ô trống sau: (1 điểm-M2)
Sở Giáo dục và đào tạo
Nhà xuất bản Kim Đồng
Hội bảo trợ trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh
Hội chữ thập đỏ Việt Nam
Câu 10. Đặt một câu có trạng ngữ chỉ mục đích, xác định trạng ngữ, chủ ngữ,
vị ngữ trong câu. (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 11. Viết đoạn văn ( 2 - 3 câu ) giới thiệu về một di tích hoặc danh lam,
thắng cảnh mà em biết, trong đó có dùng dấu ngoặc đơn. (1 điểm-M3)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…...
…………………………………………………………………………………………
…...
…………………………………………………………………………………………
…...…………………………………………………………………………
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT (Phần viết)
B/ TIẾNG VIỆT (viết) (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây mà em yêu thích nhất.
TRƯỜNG TH-THCS CÂY
TRƯỜNG
Tên HS: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lớp: 4/…
ĐIỂM
NHẬN XÉT
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM
Năm học: 2025 – 2026
Môn: Tiếng Việt ( viết)
Thời gian: 35 phút
Ngày KT: ....../....../ 2026
Giám thị
B/ TIẾNG VIỆT (viết) (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây mà em yêu thích nhất.
Bài làm
Giám khảo
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC: 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT
A. KIỂM TRA ĐỌC: 10 điểm.
1. Đọc thành tiếng: (2 điểm) trong đó:
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng; tốc độ đạt khoảng 80 tiếng/ 1 phút (0,5 điểm)
- Đọc đúng tiếng, từ (không sai quá 5 tiếng); Đọc diễn cảm (nếu có) (0,5 điểm)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa (0,5 điểm)
- Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc (0,5 điểm)
2. Đọc hiểu: (8 điểm)
Câu
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Câu 9
Đáp án
C
B
D
A
S;Đ;S;S
Điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
1 điểm
Câu 5. Anh Bẩm bị giặc tra tấn dã man vì: Giặc dụ dỗ anh khai ra đồng chí của
mình nhưng anh không nói nửa lời.
Câu 6. Ý chí kiên cường, tình yêu quê hương, yêu gia đình và yêu mẹ của anh Bẩm.
(1 điểm)
Câu 7. Tình mẫu tử đáng quý, tình yêu thương sâu sắc anh dành cho mẹ. (1 điểm)
(Tùy câu trả lời của HS mà GV cho điểm hợp lí)
Câu 8. (1 điểm) Mỗi từ chọn điền đúng được 0,5 điểm
a) Dưới ánh mặt trời, những bông hoa hướng dương khoe sắc dưới ánh nắng.
b) Trên cành cao, những bông hoa phượng bắt đầu nở đỏ rực.
Câu 10. (1 điểm)
- Đặt đúng câu có trạng ngữ chỉ phương tiện (0,5 điểm)
- Xác định TN, CN, VN đúng được (0,5 điểm) (Tùy câu trả lời của HS mà GV cho
điểm hợp lí)( Học sinh viết thiếu dấu chấm cuối câu hoặc xác định sai 1 thành phần
trong câu trừ 0,25đ)
Câu 11. (1 điểm)
Ví dụ: Ở xã Trừ Văn Thố nơi em sinh sống nổi tiếng với khu di tích lịch sử Bót Cây
Trường. Bót Cây Trường nay thuộc ấp Dinh Điền xã Trừ Văn Thố ( Trước kia thuộc
xã Cây Trường I) . (Tùy câu trả lời của HS mà GV cho điểm hợp lí. Nếu toàn bộ
đoạn văn không sử dụng dấu chấm phân cách các câu trừ 0,5đ)
B. KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây (Cây ăn quả, cây hoa hoặc cây
che bóng mát) mà em yêu thích nhất.
Nội dung
đánh giá
Bố cục
Mức điểm
Tiêu chí
1,5 điểm
Nội dung
4 điểm
Kĩ năng
(dùng từ, đặt
câu, cách
sắp xếp ý,
…)
(3 điểm)
- Bài văn thể hiện rõ 3 phần: Mở đầu, Thân bài, Kết bài.
Trong đó mở đầu, kết bài tạo được ấn tượng riêng (có
sự sáng tạo).
(Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 0,5 ; 1; 1,5)
- Giới thiệu được tên loài cây và nơi trồng loài cây mà
mình yêu thích.
- Tả được bao quát về cây.
- Miêu tả chi tiết những bộ phận nổi bật của cây.
- Nêu được lợi ích của cây.
- Thể hiện được tình cảm, cảm xúc đối với cây.
(Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 2 ; 2;5; 3; 3,5;
4)
HS không mắc lỗi về kĩ năng, hoặc chỉ mắc 1 lỗi nhỏ về
dùng từ hoặc viết câu nhưng có sáng tạo trong việc lựa
chọn từ ngữ, sử dụng kiểu câu hoặc sắp xếp ý,…) như:
- Dùng từ, đặt câu: viết câu đúng ngữ pháp, đầy đủ chủ
ngữ, vị ngữ, dấu câu …
- Diễn đạt câu chính xác, thể hiện ý rõ ràng.
- Viết câu mạch lạc, đúng ngữ pháp, lời văn diễn đạt tự
nhiên, sinh động, lôi cuốn.
Hình thức
1,5 điểm
( Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 2 ; 2;5; 3)
- Bài làm không mắc lỗi (chữ viết đúng và đủ nét,
không mắc lỗi chính tả, trình bày bài sạch đẹp,…)
- Sai 5 -10 lỗi chính tả trừ 0,5đ.
- Sai từ 11 lỗi trở lên trừ 1đ.
( Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 0,5 ; 1;1;5)
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT (Phần đọc thành tiếng)
A. Tiếng Việt đọc: (10 điểm)
I. Phần đọc thành tiếng: (2 điểm)
GV cho học sinh bắt thăm đọc môt trong các bài đọc sau và trả lời một câu hỏi:
Sáng nay chim sẻ nói gì?; Bông sen trong giếng ngọc; Chú lính chì dũng cảm;
Những người con trai của vua uy-li-am; Hoa tóc tiên.
Đánh giá, ghi điểm theo các yêu cầu sau
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng; tốc độ đạt khoảng 80 tiếng/ 1 phút (0,5 điểm)
- Đọc đúng tiếng, từ (không sai quá 5 tiếng); Đọc diễn cảm (nếu có) (0,5
điểm)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa (0,5 điểm)
- Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc (0,5 điểm)
Đề số 1
SÁNG NAY CHIM SẺ NÓI GÌ?
Đêm nọ, trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho viên ngọc quý nghe được tiếng
nói của loài vật. Rồi bé Na vượt suối băng rừng, thỏa thích lắng nghe muông thú. Bé
Na thích nhất là câu nói của bác Sư Tử. Câu ấy thế này: “Đâu nhất thiết chúng tôi
phải nói tiếng người thì loài người mới hiểu được chúng tôi. Chỉ cần một chút yêu
thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi”…
Sáng sớm hôm ấy, bé Na thức dậy, bước về phía cửa, nơi chiếc chuông gió
đang khúc khích cười. Và kia! Một chú Chim sẻ đang đậu trên dây điện chằng chịt
tự nhiên bay sà xuống ban công. Chim sẻ quẹt quẹt cái mỏ nhỏ xinh xuống nền nhà.
Chim sẻ mổ mổ những hạt cát. Chim sẻ ngẩng lên, tròn xoe đôi mắt nhìn bé Na. Và
rồi bé Na thoảng nghe trong gió:
- Chị ơi, em đói lắm!
- Ai thế? – Bé Na ngơ ngác nhìn quanh. Ai đang nói chuyện với Na thế?
- Em là Chim sẻ nè. Em đói…
Bé Na nhìn sững sờ chú chim nhỏ vài giây. Quả thật, cái mỏ nhỏ cũng vừa mấp máy.
A, mình nghe được tiếng Chim sẻ thật rồi! Bé Na vô cùng thích thú, bé chạy vội
xuống nhà bếp nắm một nắm gạo rồi chạy lên ban công.
- Ôi, em cám ơn chị!
Chim Sẻ nói cảm ơn liên hồi rồi cúi xuống mổ dồn dập.
Theo Phan Đăng Đăng, Báo Nhi đồng số 8/2009
Câu 1: Trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho vật gì và có giá trị ra sao?
Đ. ÁN: trong giấc mơ, bé Na được ông Bụt ban cho viên ngọc quý nghe được tiếng
nói của loài vật.
Câu 2: Bé Na thích nhất điều gì sau khi có viên ngọc quý?
Đ. ÁN Na thích nhất là câu nói của bác Sư Tử. Câu ấy thế này: “Đâu nhất thiết
chúng tôi phải nói tiếng người thì loài người mới hiểu được chúng tôi. Chỉ cần một
chút yêu thương, gần gũi, các bạn sẽ hiểu chúng tôi”…
Câu 3: Khi nghe và biết được tiếng chim sẻ nói, bé Na đã thế nào?
Đ. ÁN: Bé Na vô cùng thích thú, bé chạy vội xuống nhà bếp nắm một nắm gạo rồi
chạy lên ban công.
Đề số 2
BÔNG SEN TRONG GIẾNG NGỌC
Mạc Đĩnh Chi người đen đủi, xấu xí. Nhà nghèo, mẹ con cậu nuôi nhau bằng nghề
kiếm củi. Mới bốn tuổi, Mạc Đĩnh Chi đã tỏ ra rất thông minh. Bấy giờ, Chiêu quốc
công Trần Nhật Duật mở trường dạy học, Mạc Đĩnh Chi xin được vào học. Cậu học
chăm chỉ, miệt mài, sớm trở thành học trò giỏi nhất trường.
Kì thi năm ấy, Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu nhưng vua thấy ông mặt mũi xấu xí, người bé
loắt choắt, lại là con thường dân, toan không cho đỗ.
Thấy nhà vua không trọng người hiền, chỉ trọng hình thức bề ngoài, Mạc Đĩnh Chi
làm bài phú “Bông sen giếng ngọc''nhờ người dâng lên vua. Bài phú đề cao phẩm
chất cao quí khác thường của loài hoa sen, cũng để tỏ rõ chí hướng và tài năng của
mình. Vua đọc bài phú thấy rất hay, quyết định lấy ông đỗ Trạng nguyên.
Về sau, Mạc Đĩnh Chi nhiều lần được giao trọng trách đi sứ. Bằng tài năng của
mình, ông đã đề cao được uy tín đất nước, khiến người nước ngoài phải nể trọng sứ
thần Đại Việt. Vua Nguyên tặng ông danh hiệu Trạng nguyên. Nhân dân ta ngưỡng
mộ, tôn xưng ông là: Lưỡng quốc Trạng nguyên (Trạng nguyên hai nước)
Theo Lâm Ngũ Đường
Câu 1. Mẹ con Mạc Đĩnh Chi nuôi nhau bằng nghề gì ?
Đ. ÁN mẹ con cậu nuôi nhau bằng nghề kiếm củi.
Câu 2. Vì sao lúc đầu nhà vua toan không cho Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên?
Đ. ÁN: Mạc Đĩnh Chi đỗ đầu nhưng vua thấy ông mặt mũi xấu xí, người bé loắt
choắt, lại là con thường dân, toan không cho đỗ.
Đề số 3
CHÚ LÍNH CHÌ DŨNG CẢM
Ngày xưa, có hai mươi lăm chú lính chì cùng được đúc từ một chiếc muôi cũ.
Chú nào chú ấy bồng súng, mắt nhìn thẳng phía trước, mặc đồng phục xanh đỏ,
trông tuyệt đẹp. Các chú hoàn toàn giống nhau, trừ một chú đúc sau cùng. Vì thiếu
chì, chú chỉ có một chân. Nhưng chú đứng oai vệ chẳng kém gì những chú lính khác.
Các chú lính chì được xếp vào một cái hộp. Cái hộp được tặng cho một cậu bé nhân
ngày sinh nhật.
Đêm tối, cậu chủ cất toán lính chì vào hộp, bỏ quên chú lính chì một chân.
Sáng ra, chị giúp việc đến dọn căn buồng và đặt chú lính chì lên bậu cửa sổ. Đúng
lúc ấy có một luồng gió rất mạnh hất chú lính gác từ gác ba xuống đường. Chú lính
đâm thẳng vào kẽ hở giữa hai viên gạch lát đường. Lưỡi lê và cả thân người chú đều
biến mất, chỉ còn cái chân ngạo nghễ duỗi thẳng lên trời. Cậu chủ xuống tìm chú.
Cậu suýt giẫm phải chú. Chú định kêu lên: “Có tôi!” nhưng sực nhớ đến điều lệnh
của quân đội cấm nói khi đang bồng súng, chú lại im bặt.
Sau đó, có hai đứa trẻ đi qua. Một đứa nói:
- A ha! Bắt được chú lính chì một chân! Chắc cu cậu đi đánh trận về đây mà?
Hai đứa đặt chú lính chì vào một chiếc thuyền làm bằng báo cũ và thả thuyền xuống
rãnh. Dòng nước đưa thuyền đi. Hai đứa chạy theo vỗ tay reo mừng. Chiếc thuyền
chui vào một đoạn cống ngầm tối đen. Một con chuột cống to tướng bỗng nhô ra,
hỏi:
- Tên kia, có giấy thông hành không?
Chú lính im lặng, không muốn dây với con vật kinh tởm ấy.
Theo An-đéc-xen
Câu 1. Chú lính chì đúc sau cùng có gì khác 24 chú lính chì đúc trước?
Đ. ÁN: Vì thiếu chì, chú chỉ có một chân.
Câu 2. Chuyện gì không may xảy ra với chú lính chì vào một buổi sáng?
Đ. ÁN: Sáng ra, chị giúp việc đến dọn căn buồng và đặt chú lính chì lên bậu cửa sổ.
Đúng lúc ấy có một luồng gió rất mạnh hất chú lính gác từ gác ba xuống đường.
Câu 3. Ai tìm được chú lính chì và đưa chú lên chiếc thuyền giấy?
Đ. ÁN: có hai đứa trẻ
Đề số 4
NHỮNG NGƯỜI CON TRAI CỦA VUA UY-LI-AM
Vua Uy-li-am có ba người con trai nhỏ. Một hôm, nhà vua cho gọi các con đến
và hỏi: "Nếu Thượng để biến con thành một con chim, con muốn trở thành chim
gì?". Hoàng tử cả nói: "Một con diều hâu vì nó khiến con liên tưởng đến một người
dũng mãnh.". Hoàng tử thứ hai nói: "Con muốn trở thành một con đại bàng vì chim
chóc nào cũng sợ nó.". Hoàng tử út nhẹ nhàng trả lời: “Con xin được trở thành một
chú chim sáo đá. Bởi nó rất ngoan, không bao giờ đối xử tàn nhẫn với những những
con chim khác.".
Sau khi các hoàng tử ra về, nhà vua hỏi ý kiến các nhà thông thái đang đứng
sau rèm. Các nhà thông thái trả lời nhà vua: "Chúng tôi thấy hoàng tử cả có thể làm
được những điều lớn lao nhưng sẽ đến lúc phải rơi vào tay của kẻ thù. Hoàng tử thứ
hai mạnh mẽ nhưng có thể sẽ khiến dân chúng khiếp sợ và oán giận. Hoàng tử út sẽ
trở thành người yêu chuộng hoà bình, biết suy xét kĩ càng khi đưa ra quyết định,
chắc chắn sau này người dân sẽ yêu mến và kính trọng.".
Nhiều năm trôi qua, khi các hoàng tử đã trưởng thành, nhà vua không nghe theo
lời của các nhà thông thái. Ông chia đôi vương quốc cho hai người con trai lớn, và
chỉ để cho hoàng tử út một ít tiền thừa kế. Nhưng chuyện xảy ra không khác với tiên
đoán của các nhà thông thái là bao. Hoàng tử cả xông pha liều lĩnh trên chiến
trường, nhưng rồi mất tất cả đất nước vào tay quân địch và bị bỏ tù. Hoàng tử thứ hai
khiến dân chúng khiếp sợ và thù hận. Thế rồi, ông bị chính quân lính lật đổ vì sự độc
ác của mình. Hoàng tử út thông thái, điềm tĩnh và nhân hậu cuối cùng được dân
chúng tôn vinh làm vua của cả vương quốc.
(Theo Nguyễn Ngoan)
Câu hỏi:
1. Theo các nhà thông thái, ai thích hợp để lên làm vua?
Đ. ÁN: Hoàng tử út sẽ trở thành người yêu chuộng hoà bình, biết suy xét kĩ
càng khi đưa ra quyết định, chắc chắn sau này người dân sẽ yêu mến và kính trọng.".
2. Nhà vua đã phân chia tài sản của mình như thế nào?
Đ. ÁN: Ông chia đôi vương quốc cho hai người con trai lớn, và chỉ để cho hoàng tử
út một ít tiền thừa kế
3. Kết thúc câu chuyện, cuộc đời của hoàng tử út như thế nào?
Đ. ÁN: Hoàng tử út thông thái, điềm tĩnh và nhân hậu cuối cùng được dân
chúng tôn vinh làm vua của cả vương quốc.
Đề số 5
HOA TÓC TIÊN
Thầy giáo dạy cấp một của tôi có một khoảnh vườn tí tẹo, chỉ độ vài mét
vuông. Mọc um tùm với nhau là những thứ quen thuộc : xương xông, lá lốt, bạc hà,
kinh giới. Có cả cây ớt lẫn cây hoa hồng lúc nào cũng bừng lên bông hoa rực rỡ. Đặc
biệt là viền bốn xung quanh mảnh vườn có hàng tóc tiên, xanh và mềm quanh năm.
Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ này mới
có tên gọi như thế.
Mùa hè, tôi thường đến nhà thầy, đúng mùa hoa tóc tiên. Sáng sáng hoa tóc
tiên nở rộ như đua nhau khoe màu, biến đường viền xanh thành đường viền hồng
cánh sen. Cầm một bông tóc tiên thường là năm cánh, mỏng như lụa, còn mát sương
đêm, sẽ thấy mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương,
muốn ăn ngay.
Thầy thường sai tôi ra ngắt dăm bông cắm vào chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt,
có nước mưa cũng trong suốt, để lên bàn thầy. Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết
làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà
cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy, tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ
trong đến ngoài.
Bây giờ nhiều nơi trồng tóc tiên, hoa tóc tiên có ở nhiều nhà nhiều vườn, có cả hoa
màu trắng, nhưng ít ai cắm hoa tóc tiên trong bình.
Riêng tôi, tôi nhớ cốc hoa tóc tiên trên bàn thầy giáo cách đây mấy chục năm
ở một cái thôn hẻo lánh, hoa có màu cánh sen nhẹ, lá thì xanh biếc, còn hương thơm
thì thoảng nhẹ và ngon lành như một thứ bánh. Thầy giáo tôi đã mất. Nhưng chắc ở
trên trời, thầy vẫn có cốc hoa tóc tiên tinh khiết của mình…
(Theo Băng Sơn)
1.Tác giả cho rằng tên gọi cây tóc tiên có nguồn gốc là do đâu ?
Đ. ÁN: Chắc là những cô tiên không bao giờ già, tóc không bao giờ bạc nên thứ cỏ
này mới có tên gọi như thế.
2. Tác giả so sánh mùi thơm của hoa tóc tiên với gì?
Đ. ÁN: mùi hương ngòn ngọt và thơm thơm của phong bánh đậu Hải Dương,
muốn ăn ngay.
3. Ngắm cốc hoa tóc tiên tinh khiết, tác giả liên tưởng đến điều gì?
Đ. ÁN: Cốc hoa tóc tiên trông mới tinh khiết làm sao, trong sạch làm sao, tưởng như
tôi vừa cắm cả buổi sáng vào trong cốc, mà cũng tưởng như đó là nếp sống của thầy,
tinh khiết, giản dị, trong sáng, trong sáng từ trong đến ngoài.
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
MA TRẬN ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC: 2025-2026
MÔN: TIẾNG VIỆT
Mạch kiến thức, kĩ
năng
Đọc hiểu văn bản
- Đọc thầm văn bản
hoặc đoạn văn, thơ,
truyện có trả lời câu
hỏi theo các yêu cầu.
Kiến thức Tiếng việt
- Đặt câu có trạng ngữ
và xác định được thành
phần trong câu. (Trạng
ngữ, chủ ngữ, vị ngữ)
- Xác định được cách
viết đúng tên cơ quan, tổ
chức nhà nước.
- Nối hoặc tìm từ thích
hợp điền vào chỗ trống
sao cho phù hợp về
ngữ nghĩa, tạo câu văn
ấn tượng.
- Viết đoạn văn có sử
dụng một trong các dấu
câu: dấu ngoặc kép, dấu
ngoặc đơn.
Tổng
Đọc thành tiếng
Viết
Số câu, số
điểm
MỨC 1
TN
MỨC 2
TL
TN
TL
MỨC 3
TN
Tổng
TL
TN
TL
4
2
Số câu
4
2
1
Câu số
1,2,3,4
5,6
7
Số điểm
2,0
2,0
1,0
2
3
Số câu
2
1
1
2
2
Câu số
8,9
10
11
Số điểm
1
1
1
2
3
2
6
5
3
2
3
5
Số câu
Số điểm
6
3
1
Số điểm
Số điểm
2
10
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM
Tên HS: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lớp: 4/…
ĐIỂM
NHẬN XÉT
Năm học: 2025 – 2026
Môn: Tiếng Việt ( đọc-hiểu)
Thời gian: 35 phút
Ngày KT: ....../....../ 2026
Giám thị
Giám khảo
A. TIẾNG VIỆT ( Đọc) : 10 điểm
I. Đọc thành tiếng: 2 điểm ....... điểm
II. Đọc hiểu: 8 điểm
....... điểm
Đọc thầm bài văn sau :
Ý CHÍ NGƯỜI CHIẾN SĨ
Trong một trận càn của giặc Pháp, anh Bẩm bị giặc bắt. Giặc dụ dỗ anh khai ra
đồng chí của mình nhưng anh không nói nửa lời. Giặc quấn băng kín hai bàn tay anh
rồi tẩm xăng, châm lửa đốt. Hai bàn tay anh bị đốt đen thui trơ xương và gân. Rồi
một đêm, chúng giải anh và mấy chiến sĩ xuống thuyền, chèo ra giữa sông, lần lượt
quăng từng người xuống nước.
May vì hai tay không bị xích, anh Bẩm cố sức ngoi lên. Một đợt sóng mạnh
như núi đè anh xuống. Nước xoáy tít, hút anh xuống vực thẳm. Anh lại cố đem sức
tàn ngoi lên. Cuối cùng, anh mệt lử, nhưng đã thoát khỏi vực sâu.
Sáng hôm ấy, anh dạt vào một bãi cát. Đề phòng địch phát hiện, anh nấp sau
một đống rạ lớn, đợi trời tối mới về làng.
Tựa vào đống rạ, anh thiu thiu ngủ. Đang chập chờn, anh bỗng thấy một đàn
quạ đen bay đến, kêu inh ỏi, lao vào người anh đòi rỉa đôi tay. Anh xua chúng đi,
chúng càng lăn xả vào một cách dữ tợn. Anh đành nghiến răng, thọc sâu 2 tay xuống
cát. Đàn quạ không làm gì được, đành vỗ cánh bay đi.
Bỗng anh thấy rát bỏng. Thì ra kiến lửa đang xúm vào đốt cả tay chân. Nước
mắt chảy ròng ròng, nhưng sợ lộ, anh không dám ra khỏi đống rạ. Anh tự nhủ: nhất
định phải sống để tiếp tục chiến đấu.
Trời nhá nhem tối, anh Bẩm đứng dậy. Để tránh địch, anh không dám đi trên
đường cái mà lội quanh hết ruộng này đến ruộng khác để tìm đường về thôn nhà.
Đứng trước cái lều con của mẹ, anh khẽ gọi:
- U ơi! U!
Có tiếng mẹ già hốt hoảng hỏi vọng ra. Anh run rẩy nói:
- Con, Bẩm đây. U mở cửa cho con!
Cánh liếp nâng lên. Mẹ già cầm ngọn đèn hiện ra. Anh giơ tay định ôm lấy mẹ,
song đầu gối anh bủn rủn, mắt hoa lên, kiệt sức, anh ngã khuỵu dưới chân mẹ.
(Theo Nguyễn Huy Tưởng)
√ Em hãy khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng nhất và viết câu trả lời của
em cho từng câu hỏi dưới đây:
Câu 1. Anh Bẩm bị bắt trong trường hợp nào? (0,5 điểm-M1)
A. Khi anh đang đi dạo.
B. Khi anh đang làm việc ngoài đồng.
C. Trong một trận càn của giặc Pháp.
D. Khi anh cãi nhau với giặc Pháp.
Câu 2. Dòng nào dưới đây gồm các chi tiết cho thấy anh Bẩm bị giặc Pháp đối
xử rất dã man? (0,5 điểm-M1)
A. Dụ dỗ anh khai ra đồng chí của mình; tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen
thui, trơ trụi xương và gân
B. Tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen thui, trơ xương và gân; quăng xuống
giữa sông trong đêm
C. Tẩm xăng hai bàn tay anh, châm lửa đốt đen thui; trói anh và để bầy kiến lửa đốt
anh.
D. Tẩm xăng hai tay anh; cho bầy kiến lửa đốt anh.
Câu 3. Sau khi thoát khỏi vực sâu, anh Bẩm còn phải vượt qua những thử
thách gì? (0,5 điểm-M1)
A. Bị dạt vào một bãi cát, phải nấp sau một đống rạ lớn kẻo địch phát hiện
B. Đàn quạ lao vào đòi rỉa chân tay bị thương; kiến lửa xúm vào đốt khắp người
C. Phải đi qua khu vực địch đang ngủ, bị quạ rỉa tay.
D. Đàn quạ lao vào đòi rỉa đôi tay bị thương; kiến lửa xúm vào đốt cả tay chân.
Câu 4. Để tránh địch, anh Bẩm đã tìm đường về nhà bằng cách nào? (0,5 điểmM1)
A. Lội quanh hết ruộng này đến ruộng khác.
B. Lách qua những bụi gai
C. Lội qua mấy con kênh
D. Bơi qua vực sâu.
Câu 5. Vì sao anh Bẩm bị giặc tra tấn dã man? (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 6. Câu chuyện “ý chí người chiến sĩ” ca ngợi điều gì? (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 7. Chi tiết cuối bài khi anh Bẩm đã gặp lại được mẹ gợi cho em cảm nghĩ
gì? (1 điểm-M3)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 8. Chọn từ ngữ ( đỏ rực, nở rộ, đỏ tía, khoe sắc) phù hợp điền vào chỗ trống
để tạo được câu văn ấn tượng. (1 điểm-M1)
a) Ngoài vườn, những bông hoa hướng dương đang………………… dưới ánh nắng.
b) Trên cành cao, những bông hoa phượng bắt đầu nở…………………..
Câu 9. Em hãy điền đúng (Đ) hoặc sai (S) vào các ô trống sau: (1 điểm-M2)
Sở Giáo dục và đào tạo
Nhà xuất bản Kim Đồng
Hội bảo trợ trẻ em Thành phố Hồ Chí Minh
Hội chữ thập đỏ Việt Nam
Câu 10. Đặt một câu có trạng ngữ chỉ mục đích, xác định trạng ngữ, chủ ngữ,
vị ngữ trong câu. (1 điểm-M2)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
Câu 11. Viết đoạn văn ( 2 - 3 câu ) giới thiệu về một di tích hoặc danh lam,
thắng cảnh mà em biết, trong đó có dùng dấu ngoặc đơn. (1 điểm-M3)
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…...
…………………………………………………………………………………………
…...
…………………………………………………………………………………………
…...…………………………………………………………………………
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT (Phần viết)
B/ TIẾNG VIỆT (viết) (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây mà em yêu thích nhất.
TRƯỜNG TH-THCS CÂY
TRƯỜNG
Tên HS: . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
Lớp: 4/…
ĐIỂM
NHẬN XÉT
ĐỀ KIỂM TRA CUỐI NĂM
Năm học: 2025 – 2026
Môn: Tiếng Việt ( viết)
Thời gian: 35 phút
Ngày KT: ....../....../ 2026
Giám thị
B/ TIẾNG VIỆT (viết) (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây mà em yêu thích nhất.
Bài làm
Giám khảo
UBND XÃ TRỪ VĂN THỐ
TRƯỜNG TH-THCS CÂY TRƯỜNG
HƯỚNG DẪN CHẤM KIỂM TRA CUỐI NĂM - LỚP 4
NĂM HỌC: 2025 – 2026
MÔN: TIẾNG VIỆT
A. KIỂM TRA ĐỌC: 10 điểm.
1. Đọc thành tiếng: (2 điểm) trong đó:
- Đọc vừa đủ nghe, rõ ràng; tốc độ đạt khoảng 80 tiếng/ 1 phút (0,5 điểm)
- Đọc đúng tiếng, từ (không sai quá 5 tiếng); Đọc diễn cảm (nếu có) (0,5 điểm)
- Ngắt nghỉ hơi đúng ở các dấu câu, các cụm từ rõ nghĩa (0,5 điểm)
- Trả lời đúng câu hỏi về nội dung đoạn đọc (0,5 điểm)
2. Đọc hiểu: (8 điểm)
Câu
Câu 1
Câu 2
Câu 3
Câu 4
Câu 9
Đáp án
C
B
D
A
S;Đ;S;S
Điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
0,5 điểm
1 điểm
Câu 5. Anh Bẩm bị giặc tra tấn dã man vì: Giặc dụ dỗ anh khai ra đồng chí của
mình nhưng anh không nói nửa lời.
Câu 6. Ý chí kiên cường, tình yêu quê hương, yêu gia đình và yêu mẹ của anh Bẩm.
(1 điểm)
Câu 7. Tình mẫu tử đáng quý, tình yêu thương sâu sắc anh dành cho mẹ. (1 điểm)
(Tùy câu trả lời của HS mà GV cho điểm hợp lí)
Câu 8. (1 điểm) Mỗi từ chọn điền đúng được 0,5 điểm
a) Dưới ánh mặt trời, những bông hoa hướng dương khoe sắc dưới ánh nắng.
b) Trên cành cao, những bông hoa phượng bắt đầu nở đỏ rực.
Câu 10. (1 điểm)
- Đặt đúng câu có trạng ngữ chỉ phương tiện (0,5 điểm)
- Xác định TN, CN, VN đúng được (0,5 điểm) (Tùy câu trả lời của HS mà GV cho
điểm hợp lí)( Học sinh viết thiếu dấu chấm cuối câu hoặc xác định sai 1 thành phần
trong câu trừ 0,25đ)
Câu 11. (1 điểm)
Ví dụ: Ở xã Trừ Văn Thố nơi em sinh sống nổi tiếng với khu di tích lịch sử Bót Cây
Trường. Bót Cây Trường nay thuộc ấp Dinh Điền xã Trừ Văn Thố ( Trước kia thuộc
xã Cây Trường I) . (Tùy câu trả lời của HS mà GV cho điểm hợp lí. Nếu toàn bộ
đoạn văn không sử dụng dấu chấm phân cách các câu trừ 0,5đ)
B. KIỂM TRA VIẾT: (10 điểm)
Đề bài: Em hãy viết bài văn miêu tả một loài cây (Cây ăn quả, cây hoa hoặc cây
che bóng mát) mà em yêu thích nhất.
Nội dung
đánh giá
Bố cục
Mức điểm
Tiêu chí
1,5 điểm
Nội dung
4 điểm
Kĩ năng
(dùng từ, đặt
câu, cách
sắp xếp ý,
…)
(3 điểm)
- Bài văn thể hiện rõ 3 phần: Mở đầu, Thân bài, Kết bài.
Trong đó mở đầu, kết bài tạo được ấn tượng riêng (có
sự sáng tạo).
(Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 0,5 ; 1; 1,5)
- Giới thiệu được tên loài cây và nơi trồng loài cây mà
mình yêu thích.
- Tả được bao quát về cây.
- Miêu tả chi tiết những bộ phận nổi bật của cây.
- Nêu được lợi ích của cây.
- Thể hiện được tình cảm, cảm xúc đối với cây.
(Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 2 ; 2;5; 3; 3,5;
4)
HS không mắc lỗi về kĩ năng, hoặc chỉ mắc 1 lỗi nhỏ về
dùng từ hoặc viết câu nhưng có sáng tạo trong việc lựa
chọn từ ngữ, sử dụng kiểu câu hoặc sắp xếp ý,…) như:
- Dùng từ, đặt câu: viết câu đúng ngữ pháp, đầy đủ chủ
ngữ, vị ngữ, dấu câu …
- Diễn đạt câu chính xác, thể hiện ý rõ ràng.
- Viết câu mạch lạc, đúng ngữ pháp, lời văn diễn đạt tự
nhiên, sinh động, lôi cuốn.
Hình thức
1,5 điểm
( Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 2 ; 2;5; 3)
- Bài làm không mắc lỗi (chữ viết đúng và đủ nét,
không mắc lỗi chính tả, trình bày bài sạch đẹp,…)
- Sai 5 -10 lỗi chính tả trừ 0,5đ.
- Sai từ 11 lỗi trở lên trừ 1đ.
( Tùy vào mức độ HS đạt các mức điểm: 0,5 ; 1;1;5)
Giáo viên
Nguyễn Thị Diên
 









Các ý kiến mới nhất