Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Các đề luyện thi

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Như
Ngày gửi: 18h:12' 18-05-2026
Dung lượng: 39.7 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích: 0 người
CHUYÊN ĐỀ 1: PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM THƠ TRUNG ĐẠI
(Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt
Đường luật)
I. Khái quát về dạng đề nghị luận văn học
Có 4 dạng đề nghị luận văn học thường gặp về bài thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt
Đường luật ở lớp 8
*Dạng : Phân tích / Cảm nhận => Dạng đề cơ bản nhất.
VD: Hãy cảm nhận về các câu thơ sau trong bài “Đào hoa thi” của Nguyễn Trãi
Một đóa đào hoa khéo tốt tươi,
Cành Xuân mơn mởn thấy Xuân cười.
Đông phong ắt có tình hay nữa,
Kín tiễn mùi hương dễ động người.
Lưu ý: Đây là là dạng cơ bản nhất. Bởi vậy những phương pháp dưới đây sẽ tập
trung giúp học sinh làm thành thạo (dạng đề phân tích, cảm nhận).
II. Yêu cầu của bài văn phân tích một tác phẩm văn học (bài thơ thất ngôn bát cú
hoặc tứ tuyệt Đường luật
- Xác định được thể thơ: Thất ngôn bát cú hay thất ngôn tứ tuyệt.
- Giới thiệu khái quát về tác giả và bài thơ (nhan đề, đề tài, thể thơ,…); nêu ý kiến chung
cuả người viết về bài thơ.
- Phân tích được nội dung cơ bản của bài thơ (đặc điểm của hình tượng thiên nhiên, con
người; tâm trạng của nhà thơ), khái quát chủ đề bài thơ.
- Phân tích được một số nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật (một số yếu tố thi luật của thể
thơ thất ngôn bát cú hoặc tứ tuyệt Đường luật; nghệ thuật tả cảnh, tả tình; nghệ thuật sử
dụng ngôn ngữ (từ ngữ, biện pháp tu từ,…)
- Khẳng định được vị trí, ý nghĩa của bài thơ.
II. Hướng dẫn quy trình viết
Bước 1: Phân tích đề (2 phút - gạch chân vào đề)
*Gạch chân vào đề:
- Vấn đề nghị luận: đề bài yêu cầu làm rõ điều gì? (thường nằm sau chữ “về...”, “cảm nhận
của em về…”, “phân tích về…”)
- Phạm vi phân tích: những khổ thơ nào, đoạn trích nào, nhân vật nào… cần phân tích
VD1: Phân tích bài thơ “Mùa thu” của Ngô Chi Lan sau đây:
Mùa thu
Ngô Chi Lan
“Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa.

=> Vấn đề nghị luận: Nội dung và nghệ thuật của bài thơ
=> Phạm vi phân tích: Cả bài thơ
*Lưu ý: Ở lớp 8 đối với học sinh bình thường chủ yếu các em sẽ đi phân tích cả bài thơ,
chưa có những yêu cầu riêng về nội dung
Bước 2: Tìm ý và lập dàn ý (10 phút - Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào
đề)
Tìm ý (5 phút - Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề
1. Xác định bố cục: Vì là các tác phẩm ngoài sách giáo khoa nên ta cần đọc kĩ bài thơ
được phân tích nhiều lần để xác định bố cục, thông thường ta chia bố cục theo 2 cách:
*Cách 1: Dựa vào bố cục thể thơ:
+Thất ngôn bát cú: 4 phần: Đề- Thực-Luận-kết
Ví dụ: Viết bài văn nêu cảm nhận của em về bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bình Khiêm?
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp
Nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao

 Bố cục: 4 phần:
-Hai câu đầu: Hoàn cảnh sống của nhà thơ.
-Hai câu tiếp: Quan niệm sống của nhà thơ.
-Hai câu tiếp: Cuộc sống của nhà thơ ở chốn thôn quê.
-Hai câu cuối: Triết lý sống “nhàn”.
+ Thất ngôn tứ tuyệt: 4 phần: Khai-thừa-chuyển-hợp
Ví dụ: Nêu cảm nhận của em về bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí Minh?
Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang
-Câu đầu: Bức tranh về nơi ở, sinh hoạt của Bác tại Pác Bó.
-câu tiếp: Bức tranh về nếp ăn uống của Bác tại Pác Bó.
-câu tiếp: Bức tranh về công việc của Bác tại Pác Bó.
-Câu cuối: Tinh thần hoạt động cách mạng của Bác.
*Cách 2: Chia theo nội dung của bài thơ
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Chợ Đồng” của Nguyễn Khuyến
Tháng chạp hai mươi bốn chợ Đồng,
Năm nay chợ họp có đông không?
Dở trời, mưa bụi còn hơi rét.
Nếm rượu, tường đền được mấy ông?
Hàng quán người về nghe xáo xác,
Nợ nần năm hết hỏi lung tung.
Dăm ba ngày nữa tin xuân tới.
Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng

Bố cục: 2 phần:
+ 6 Câu đầu: Hình ảnh phiên chợ quê
+2 Câu cuối: tâm sự của tác giả.
Ví dụ 2: Ví dụ: Nêu cảm nhận của em về bài thơ “Tức cảnh Pác Bó” của Hồ Chí
Minh?
Sáng ra bờ suối tối vào hang
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng
Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng
Cuộc đời cách mạng thật là sang
Bố cục: 2 phần:
- Ba câu đầu: Cuộc sống làm việc của Bác tại Pác Bó
- Câu cuối: Phong thái ung dung, tinh thần lạc quan của nhân vật trữ tình.
2. Xác định nội dung chính và một số biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong bài
thơ.
a.Chia tách bài thơ thành các phần và xác định nội dung chính của từng phần.
Ví dụ: Hãy cảm nhận về các câu thơ sau trong bài “Đào hoa thi” của Nguyễn Trãi
Một đóa đào hoa khéo tốt tươi,
Cành Xuân mơn mởn thấy Xuân cười.
Đông phong ắt có tình hay nữa,
Kín tiễn mùi hương dễ động người.
+Xác định nội dung hai phần
-Hai câu đầu: Hình ảnh hoa đào trong tiết trời mùa Xuân
-Hai cấu cuối: Tâm tư tình cảm của nhà thơ.
Nội dung: Vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên mùa xuân qua những cánh hoa đào, đồng thời
gửi gắm tình yêu cuộc sống của nhà thơ.
b. Tìm những nét đặc sắc về nội dung và hình thức nghệ thuật của bài thơ (và gạch
chân (thông thường bài thơ thất ngôn hay sử dụng đối, đảo ngữ, ẩn dụ... cần chú ý vào
các biện pháp này)
Ví dụ: Hãy cảm nhận về các câu thơ sau trong bài “Đào hoa thi” của Nguyễn Trãi
Một đóa đào hoa khéo tốt tươi,
Cành Xuân mơn mởn thấy Xuân cười.
Đông phong ắt có tình hay nữa,
Kín tiễn mùi hương dễ động người.
Nghệ thuật:
+ Từ láy: “mơn mởn”, “tốt tươi
+Biện pháp: Ẩn dụ, dừng từ đồng âm” xuân, “đông phong ắt có tình”, Nhân hóa “Xuân
cười”.
c.Từ việc tìm được nội dung và nghệ thuật của bài thơ ta bám sát vào phân tích từng câu
thơ theo hướng nghệ thuật đi tìm nội dung, nhấn mạnh nội dung (Nguyên tắc trong văn
học nghệ thuật luôn đi nhấn mạnh nội dung, làm cho nội dung sáng tổ và hay hơn)
Ví dụ: Hãy cảm nhận về các câu thơ sau trong bài “Đào hoa thi” của Nguyễn Trãi
Một đóa đào hoa khéo tốt tươi,
Cành Xuân mơn mởn thấy Xuân cười.
Đông phong ắt có tình hay nữa,
Kín tiễn mùi hương dễ động người.
Nghệ thuật:

+ Từ láy: “mơn mởn”, “tốt tươi”: Nhấn mạnh sự rực rỡ, đầy sức sống của nhành hoa đào
khi độ xuân sang
+Biện pháp: Ẩn dụ, dừng từ đồng âm” xuân: chỉ mùa xuân, tưởi trẻ, “đông phong ắt có
tình”: Ẩn ý chỉ tình yêu của thi nhân với người con gái đẹp trong thơ, với mùa xuân.
Nhân hóa “Xuân cười”: Xuân như con người, duyên dáng nép mình bên hoa đào e thẹn
cười cùng gió.

Lập dàn ý (5 phút - Ghi nhanh ra nháp hoặc gạch vào đề)
Dàn ý cơ bản của dạng đề phân tích bài thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt:
Phần
Nội dung
Mở bài

Dẫn dắt + Đặt vấn đề

Thân bài

-Luận điểm 1: Giới thiệu qua về hoàn cảnh sáng tác, ý nghĩa nhan đề
của bài thơ ( Nếu biết không thì thôi, bỏ qua, Không gộp vào mở
bài)
Luận điểm 2: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung và giá trị nghệ
thuật
Luận điểm 3: Đánh giá (Không trùng với kết bài)

Kết bài

Khẳng định lại vấn đề + Cảm nhận của bản thân

Bước 3: Viết bài (65 đến 70 phút - trình bày sạch sẽ, cẩn thận)
- Khi viết bài, cần bám sát dàn ý đã lập; sử dụng đa dạng các hình thức trích dẫn; kết hợp
phân tích với nhận xét, đánh giá
- Sử dụng từ ngữ chính xác, chọn lọc; diễn đạt sáng rõ, thể hiện được cảm xúc của người
viết
- Chú ý sự khác nhau về yêu cầu, mục đích của kiểu bài ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài
thơ và kiểu bài phân tích một bài thơ
Bước 5: Đọc lại bài (3 phút - nếu còn thời gian)
- Chú ý đọc lại những câu mở bài, thân bài, kết kết xem đã viết đúng, rõ ràng chưa.
- Soát lỗi chính tả.
- Nếu có lỗi cần sửa thì gạch đi sửa lại thật sạch sẽ.
III.Cách viết từng đoạn trong bài văn phân tích
1.Cách viết mở bài
a. Yêu cầu:
- Giới thiệu, dẫn dắt vào vấn đề nghị luận, cần giới thiệu được tên tác giả, tác phẩm
- Đánh giá chung về cảm xúc, tình cảm đối với bài thơ.

b.Các cách viết mở bài
- Cách 1: Vận dụng kiến thức lí luận về quy luật sáng tạo nghệ thuật.
+Bàn về quy luật sáng tạo nghệ thuật, Wiliam, Wour – thi sĩ người Anh từng nói: “Thơ ca là
sự bột phát của những tình cảm mãnh liệt ”. Với ý niệm ấy, mỗi bài thơ là những dòng chảy
cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt, giàu tâm huyết của người cầm bút. Đến với miền thơ, là đi
vào thế giới tâm tình của thi nhân. Bởi thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của tình cảm, cảm xúc.
Nhà thơ với “ trực giác nhiệm màu”, với tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, dễ rung động trước
ngoại cảnh, trước nhu cầu bộc bạch của nỗi lòng đã bật lên tiếng thơ mà góp hương sắc cho
đời. Bài thơ A của nhà thơ B chính là một tiếng thơ như thế!
Ví dụ: Nêu cảm nhận của em về bài thơ “Sông lấp” của Trần Tế Xương?
“Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.”
Bàn về quy luật sáng tạo nghệ thuật, Wiliam, Wour – thi sĩ người Anh từng nói: “Thơ ca
là sự bột phát của những tình cảm mãnh liệt ”. Với ý niệm ấy, mỗi bài thơ là những dòng
chảy cảm xúc mạnh mẽ, mãnh liệt, giàu tâm huyết của người cầm bút. Đến với miền thơ, là
đi vào thế giới tâm tình của thi nhân. Bởi thơ là tiếng lòng, là tiếng nói của tình cảm, cảm
xúc. Nhà thơ với “ trực giác nhiệm màu”, với tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, dễ rung động trước
ngoại cảnh, trước nhu cầu bộc bạch của nỗi lòng đã bật lên tiếng thơ mà góp hương sắc cho
đời. Bài thơ “Sông Lấp” của nhà thơ Trần Tế Xương chính là một tiếng thơ như thế!
+ Chế Lan Viên đã từng khẳng định:
“Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi
Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”
Phải chăng đúng như lời thơ trên, hành trình “nhặt chữ” của mỗi thi nhân để tìm ra vàng
đời thơ ca, chính là luôn đem đến cho bạn đọc những âm vang tinh tế nhất mà cuộc sống
gửi lại. Để rồi bọc lấy gom góp nên trang thơ của riêng mình, nhà thơ A cũng là một trường
hợp đặc biệt như vậy với những trau chuốt mỗi ngày thu lượm từng giọt ngọc long lanh để
tạo nên giếng nhạc độc đáo cho đời thơ mà ông có, một trong số giọt ngọc long lanh, đẹp
đẽ ấy không thể không kể đến tác phẩm B bản tình ca êm đềm, trong veo.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Thu Vịnh” của Nguyễn Khuyến.
Chế Lan Viên đã từng khẳng định:
“Vạt áo của triệu nhà thơ không bọc hết vàng mà đời rơi vãi
Hãy nhặt lấy chữ của đời mà góp nên trang”
Phải chăng đúng như lời thơ trên, hành trình “nhặt chữ” của mỗi thi nhân để tìm ra vàng
đời thơ ca, chính là luôn đem đến cho bạn đọc những âm vang tinh tế nhất mà cuộc sống
gửi lại. Để rồi bọc lấy gom góp nên trang thơ của riêng mình, Nguyễn Khuyễn cũng là một
trường hợp đặc biệt như vậy với những trau chuốt mỗi ngày thu lượm từng giọt ngọc long
lanh để tạo nên giếng nhạc độc đáo cho đời thơ mà ông có, một trong số giọt ngọc long
lanh, đẹp đẽ ấy không thể không kể đến “Thu vịnh”, bản tình ca êm đềm, trong veo.
-Cách 2: Dẫn dắt từ cảm nhận cá nhân, so sánh
Nếu phải tìm bản nhạc hay nhất, có lẽ tôi sẽ chọn văn chương. Bởi chỉ khi đến với văn
chương, người nghệ sĩ mới được tự do để trái tim dẫn dắt, được thể hiện quan niệm của
chính mình và rồi mang đến cho người đọc biết bao giai điệu cảm xúc với nhiều cung bậc.
Và tác giả... đã để tác phẩm của mình là nốt ngân đầy sáng tạo trong bản hòa tấu của văn

học, đặc biệt là đoạn trích...
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương?
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

 Nếu phải tìm bản nhạc hay nhất, có lẽ tôi sẽ chọn văn chương. Bởi chỉ khi đến với văn
chương, người nghệ sĩ mới được tự do để trái tim dẫn dắt, được thể hiện quan niệm của
chính mình và rồi mang đến cho người đọc biết bao giai điệu cảm xúc với nhiều cung bậc.
Và tác giả Hồ Xuân Hương đã để tác phẩm của mình là nốt ngân đầy sáng tạo trong bản
hòa tấu của văn học, đặc biệt là bài thơ “Bánh trôi nước” đầy tha thiết về thân phận người
phụ nữ xưa.
- Cách 3: Dẫn dắt mang tính liên tưởng
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông như núi, như người Việt Nam
Tiếng thơ vang vọng như thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt Nam ở
mọi khoảnh khắc, không gian khiến ta đầy say mê, ngây ngất. Chẳng thế mà, không biết tự
bao giờ thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca để từ đó mỗi nhà thơ lại gửi vào đời
những khúc nhạc ngọt ngào, dạt dào đầy mê say, náo nức lúc thì lung linh, huyền diệu như
trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Cũng nằm trong dòng chảy bất tận ấy,
nhà thơ A đã để lại cho mỗi chúng ta những tiếng hát cháy bỏng, da diết qua bài thơ B+
Khái quát nội dung.
Ví dụ: Viết bài văn cảm nhận về bài thơ “hứng thu” của Đoàn Thị Điểm?
Thu về gió mát nhẹ mưa bay,
Muôn mảng thơm trong ắp chén đầy.
Trời biển chừng nhiều đàn sáo nổi,
Cuộc đời may có chuyến chơi nay.
Đoạn văn mẫu
Có nơi đâu đẹp tuyệt vời
Như sông như núi, như người Việt Nam
  
Tiếng thơ vang vọng như thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời Việt
Nam ở mọi khoảnh khắc, không gian khiến ta đầy say mê, ngây ngất. Chẳng thế mà, không
biết tự bao giờ thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca để từ đó mỗi nhà thơ lại gửi vào
đời những khúc nhạc ngọt ngào, dạt dào đầy mê say, náo nức lúc thì lung linh, huyền diệu
như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. Cũng nằm trong dòng chảy bất tận
ấy, Đoàn Thị Điểm đã để lại cho mỗi chúng ta những tiếng hát cháy bỏng, da diết về đất trời
khi mùa thu qua bài thơ “Hứng thu”, nét đẹp đầy ý vị nhân gian nơi trời đất.

THẦY CÔ CẦN TÀI LIỆU ĐẦY ĐỦ VUI LÒNG LIÊN HỆ NÍCH
ZALO HÒA
0789231162
2. Cách viết thân bài
a. Yêu cầu:
-Thân bài phải có hệ thống luận điểm rõ ràng, đầy đủ 3 luận điểm chính:
+LĐ 1: Khái quát (1 đoạn văn)

+LĐ 2: Phân tích (Bám sát vào bố cục, mỗi nội dung được chia trong bố cục ta căn cứ là
một luận cứ để phân tích)
+LĐ 3: Đánh giá (1 đoạn văn)
=>Thân bài gồm nhiều đoạn văn, mỗi đoạn làm rõ một nội dung nhất định (1 luận điểm
hoặc 1 luận cứ, Luận điểm quan trọng nhất là luận điểm phân tích)
b.Cách viết:
*Phương pháp viết LĐ1 :(nếu biết, còn không thì bỏ qua): Khái quát về tác giả, tác phẩm,
hoàn cảnh sáng tác, nhan đề bài thơ để người đọc có cái nhìn về tổng thể, tạo tiền đề dẫn dắt
sang luận điểm phân tích.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Thu Vịnh” của Nguyễn Khuyến
Nguyễn Khuyến sinh năm 1835 và mất năm 1909, lúc nhở tên là Thắng. Quê của ông ở thôn
Vị Hạ, xã Yên Đổ. Ông là một nhà thơ nổi tiếng với rất nhiều những tác phẩm nói về tình
bạn.Thuở nhỏ, nhà ông rất là nghèo, không vì sự nghèo khó đó mà có thể đánh mất chí
thông minh, lòng ham học của ông. Ông đã đi thi và đều đỗ đầu cả 3 kì: Hương, Hội và
Đình. Ba kì này rất là ít ngừi có thể thi đỗ một cách dễ dàng mà chỉ có những người cực kì
thông minh, có lòng ham học như Nguyễn Khuyến thì mới đỗ được. Ông còn có cái tên là
Tam Nguyên Yên Đổ vì ông đã thi đỗ ba kì thi và quê ông ở xã Yên đổ nên mới có cái tên
như vậy. Ông đã được làm quan trong 10 năm và cho đến khi thực dân pháp chiếm Bắc Bộ
thì ông cáo quan về ở ẩn . Và “Thu Vịnh” chính là một trong những thi phẩm thuộc chùm
thơ có đề tài về mùa thu gồm ba bài : “Thu vịnh”, “Thu điếu” và “Thu ẩm”, sáng tác khi
Nguyễn Khuyến đã từ quan về ở ẩn tại quê nhà.
*Phương pháp viết LĐ 2: Phân tích, làm sáng tỏ giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật
+Nội dung:
-Phân tích nội dung chính, phân tích từng hình ảnh, chi tiết trong bài thơ (Nên phân tích
từng câu, từng hình ảnh một theo thứ tự xuất hiện trong bài thơ để không bị xót ý).
Ví dụ: Khi phân tích bài “Hứng thu” của Đoàn Thị Điểm ta bám vào từng chữ để
khai thác nghĩa của câu thơ, ý thơ.
Thu về gió mát nhẹ mưa bay,
Muôn mảng thơm trong ắp chén đầy.
“Thu về” giữa thiên nhiên chẳng biết từ bao giờ chỉ biết mang theo hương thu ấy là tiếng
ngân nga, ngọt ngào của thi nhân trong làn “gió mát” chỉ đủ để làm xao xuyến tâm hồn ai,
chứ chẳng dữ dội, ào ạt làm rối tưng bờ tóc thuôn dài của người thiếu nữ đang đứng lặng im
đôi mắt mơ màng mà “hứng” từng giọt thu, như ôm chặt lại trong trái tim mình vậy. Thế
mới nói, ngay nhan đề bài thơ đọc thôi ta đã thấy thật nhiều ẩn ý trong đó, phải chăng với
thi nhân “hứng thu” là hứng lại hương hoa của vạn vật trong khoảnh khắc giao mùa, hay nó
còn là cái giữ gìn, nâng niu từng phút giây của thời gian để không vội vã làm tuột mất cái
đẹp ở đời. Nhưng ta vẫn thấy hương thu dịu dàng, se se lạnh đúng như dư vị chính đất trời
vẫn đón đợi khi mùa thu sang trong làn “mưa bay” nhẹ nhàng, phất phơ cùng gió. Để rồi
nhờ những giọt mưa nhẹ rơi ấy mà ta bước vào thế giới thi ca của nhà thơ, khẽ nhắm mắt lại
như hiện ra một khoảng trời bao la, nơi thi nhân đứng trên cao, thả mình hứng từng giọt
mưa như từng viên ngọc lấp lánh mà trời đất gửi trao. Không chỉ vậy, nếu câu thơ đầu tác
giả sử dụng thị giác, xúc giác để đắm mình trong mùa thu, thì có lẽ cái hay còn ở khoảnh
khắc thi nhân hít hà hương“thơm” ngát qua “chén đầy”, “chèn đầy” ấy phải chăng là chén

rượu cay nồng mà thi sĩ nhấp nhẹ để uống giữa trời đất? Hay đó là “chén đầy” của thiên
nhiên gom tất cả mĩ vị nhân gian với “muôn mảng” màu hấp dẫn, lí thú khiến ai cũng phải
say đắm, ngỡ ngàng, nâng niu.
(Màu đỏ: từ trong bài thơ được tách ra phân tích, Màu đen: cảm nhận, tách nghĩa
từng ý thơ)
- Khi phân tích có thể so sánh liên hệ với các tác phẩm cùng nội dung hoặc khác nội dung
để nhấn mạnh bài thơ mình phân tích.
Ví dụ: Khi phân tích bài thơ “bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, ta có thể liên hệ
với ca dao, các bài thơ cùng chủ đề..
Có lẽ khi đọc những vần thơ đầu nếu một người chưa từng biết đến Hồ Xuân Hương,
không nghe đôi phím nhạc gai góc, ngang ngạnh trong các sáng tác của bà sẽ dễ dàng nói
đây là bài ca dao quen thuộc với chủ đề “thân em” hay được dùng trong văn học dân gian.
Thế nhưng, người tinh tế và say mê cái đẹp trong các thi phẩm của “Bà chúa thơ Nôm” sẽ
dễ dàng phát hiện ra, dù lấy cùng đề tài với ca dao xưa mà thơ của bà vẫn khác quá, lạ lắm,
độc đáo vô cùng. Chẳng độc đáo sao dân gian ví von về người phụ nữ thường so sánh có khi
nâng niu như:
“Thân em như tấm lụa đào
Phất phơ giũa chợ biết vào tay ai?”
Hay lúc xót xa với:
“Thân em như hạt mưa sa
Hạt vào giếng nước hạt ra ruộng cày”
Rồi tủi cực cùng:
“Thân em như trái bần trôi
Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu”
Song cái hay của thi sĩ họ Hồ là ở chỗ, có rất nhiều hình tượng được người xưa đem ra mổ
xẻ, ẩn ý nói tới người phụ nữ giống “hạt mưa”, “tấm lụa”, “giếng nước”... thế mà hình
ảnh của bà lại thường gần gũi, thân thuộc đến mức ta như thấy nó mỗi ngày tựa chiếc
“bánh trôi”, hay “quả mít”, nhưng lại đan xen chút lạ lẫm quá vì chả ai đem ra mà nói
như bà cả.
(Màu đỏ: dẫn dắt, màu xanh: Đánh giá sự nổi bật của bài thơ so với bài được so sánh,
màu vàng: trích các bài thơ, ca dao được so sánh cùng hoặc khác chủ đề)
+Nghệ thuật: Xác định những đặc sắc nghệ thuật của dẫn chứng đã phân tích, nêu tác dụng
của từng biện pháp nghệ thuật xuất hiện trong bài (nên đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho
những đặc sắc nghệ thuật đó), đánh giá về thể thơ, hình ảnh thơ, nhịp điệu, các biện pháp tu
từ, giọng điệu…
Bám sát cách lập dàn ý: Đi từ nghệ thuật ra nội dung, nghệ thuật nhằm nhấn mạnh nội
dung.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
*Dàn ý:
a. Hai câu đề:
+ Bằng cách sử dụng những vật dụng quen thuộc của người dân lao động cho thấy cảnh
nghèo khó nhưng an nhàn, thanh bình biết bao.
+ Tâm trạng của nhà thơ là tâm trạng của một kẻ sĩ “an bần lạc đạo” vượt lên trên nỗi lo
lắng bon chen của đời thường để tìm đến thú vui của ẩn sĩ.
+Điệp từ “Một”: Đếm rành rọt, rõ ràng

+Ngắt nhịp 2/2/3, 2/5: đều, chậm vừa phải giúp câu thơ diễn tả trạng thái ung dung, nhàn
tản của kẻ sĩ khi trở về thôn quê yên bình, tách câu thơ làm hai vế.
+Phép liệt kê gợi ra sự đầy đủ, sẵn sàng, như dư thừa, thong dong trong cuộc sống mưu sinh
chẳng vướng bận lo toan cùng những vật dụng thân thuộc
+“Thơ thẩn” qua từ láy tượng hình gợi tư thế, dáng điệu chậm rãi thong dong
b.Hai câu thực:
+Cách sử dụng phép đối: dại >< khôn, nơi vắng vẻ >< chốn lao xao, cách xưng hô “ta”,
“người”cho thấy được sự khác nhau giữa lối sống của tác giả và người đời thường. Ông cho
rằng nơi vắng vẻ là nơi thôn quê yên bình ở đó không còn bon chen chốn quan trường, đây
mới thực là cuộc sống.
c. Hai câu luận:
+ Cuộc sống giản dị không cần những thứ giàu sang hào nhoáng chỉ là sản vật từ nhiên
nhiên “măng trúc” “giá” -> Thấy được cuộc sống an nhàn, đạm bạc thanh cao, lối sống hòa
nhập với thiên nhiên của tác giả.
d. Hai câu kết:
+ Xem nhẹ lẽ đời sống sa hoa phú quý, ông ngậm ngùi coi đó như một giấc chiêm bao.
+ Lối sống thanh cao vượt lên trên lẽ đời thường
Đoạn văn tham khảo (Phân tích hai câu đầu)
“Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”.

Hai câu thơ vang lên, như tiếng hát ngân nga, trầm bổng, trong veo nơi hạ thế của con người
ung dung, thanh thản khi bậc hiền triết đã nhận ra đầy đủ thịnh suy lẽ đời bằng cách sử dụng
điệp từ “một” như đếm rõ ràng, rành rọt, nhẹ nhàng, chỉ sẵn có một mình ta mang “mai”
cùng “cuốc” với “cần câu” khoan thai bước trên dòng đời. Không những vậy ông còn khéo
léo dùng lối ngắt nhịp 2/2/3 đều, chậm vừa phải giúp câu thơ diễn tả trạng thái ung dung,
nhàn tản của kẻ sĩ khi trở về thôn quê yên bình. Để rồi hiện ra trước mắt người đọc là một
lão nông tri điền với những công việc bình dị hằng ngày, làm bạn với dụng cụ nhà nông
thân thuộc mà chẳng vất vả như bao người nghĩ suy. “Một” vẫn là từ chỉ số ít đấy nhưng
được lặp lại kết hợp với phép liệt kê gợi ra sự đầy đủ, sẵn sàng, như dư thừa, thong dong
trong cuộc sống mưu sinh chẳng vướng bận lo toan cùng những vật dụng thân thuộc.
Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đưa được cái bình dị, dân dã vào thơ ca chứ không chỉ là những
điển tích, điển cố cũ kĩ trở thành mẫu mực của thơ Đường trong cuộc sống lao động vì thế
nó không đem cảm giác mệt mỏi, khổ cực mà lại gợi sự ung dung trong niềm vui của nhà
thơ. Vui vì được lao động, sống giản dị như bao người dân bình thường khác, chẳng bon
chen với đời, ganh đua cùng người như những kẻ trong vòng danh lợi kia. Để rồi sau những
giây phút chăm chỉ cùng “cuốc”, “mai” là hình ảnh với chiếc “cần câu” gợi đến công việc
kiếm sống trong dáng vẻ trầm ngâm ngắm nhìn mây trời, thả hồn cùng ao hồ, bên những
chú cá chốc chốc lạ lẫm ngoi lên đớp vài giọt nước, đùa nghịch rồi thẹn thùng lặn ngay, đó
chẳng phải một thú vui và những giây tĩnh lặng, thảnh thơi thi vị mà ai cũng ao ước ở đời
hay sao? Dáng vẻ trầm ngân ấy như hiện rõ hơn trong ánh nhìn “Thơ thẩn” qua từ láy tượng
hình gợi tư thế, dáng điệu chậm rãi thong dong, như đang ngẩn ngơ trước cảnh đẹp, bỗng
ngưng lại trong khoảnh khắc tinh khôi mà cuộc đời gửi nơi lòng người. Hay “Thơ thẩn” còn
là giây phút tận hưởng đâu nhớ, không quên, chẳng buồn chỉ có niềm vui, thanh thản, nhẹ

bẫng như mây trong tim thi nhân mà thôi . Hình ảnh ấy, dáng vẻ đó, cần câu kia gợi cho t
 
Gửi ý kiến