Đề và định hướng đáp án môn Văn THPT

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Thọ
Ngày gửi: 15h:05' 11-06-2026
Dung lượng: 44.3 KB
Số lượt tải: 3
Nguồn:
Người gửi: Lê Trọng Thọ
Ngày gửi: 15h:05' 11-06-2026
Dung lượng: 44.3 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2026
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
Họ, tên thí sinh: ........................................................................................
Số báo danh: .................................................................................................
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
(1) Năm 1440, tại một xưởng cơ khí nhỏ nằm lọt thỏm giữa thành phố Mainz nước Đức, Johannes Gutenberg
phát minh ra máy in. [...]
(2) Trước năm 1440, tri thức là một dạng tài sản bị giam cầm. Nó nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau
những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu mà giá trị của mỗi
cuốn có thể đổi ngang một trang trại trù phú. Sự khan hiếm đó không phải là ngẫu nhiên, nó là một trật tự được thiết
lập. Khi việc sao chép một văn bản đòi hỏi hàng nghìn giờ lao động thủ công của các tu sĩ, tri thức mặc nhiên trở
thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Dân chúng không có quyền tiếp cận văn bản gốc, và do đó, họ không có
quyền nghi ngờ.
(3) Phát minh của Gutenberg phá vỡ sự độc quyền đó bằng một khái niệm mang tính cách mạng: sự nhân bản
công nghiệp của tri thức.
(4) Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn
bản sao với chi phí thấp. Sách bắt đầu tràn xuống đường phố. Những ý tưởng, cả vĩ đại lẫn nguy hiểm, bắt đầu thẩm
thấu vào đại chúng. William Shakespeare được hậu thế tôn vinh là đại văn hào không chỉ bởi tài năng của ông, mà
còn bởi ông sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn. Nếu không có những bản in First Folio¹ được xuất bản
năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn
nhung của nhà hát Globe khép lại.
(5) Sức mạnh của máy in không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa, nó trở thành thước đo cho vận mệnh các
quốc gia. Một sự phân hóa rõ rệt bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà
Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công
suất, đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học. Tri thức không còn bị độc quyền, nó trở thành
nhiên liệu cho Phục Hưng và Cách mạng Công nghiệp, giúp con người phát minh ra động cơ hơi nước và điện.
(6) Ngược lại, ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan² của Đế quốc Ottoman hùng mạnh đã đưa ra một quyết
định định mệnh khi cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt gần 300 năm, vì lo sợ sự lan truyền của
những tư tưởng “lệch lạc”. Hậu quả là trong khi châu Âu đang tranh luận sôi nổi về vật lý và thiên văn học trên
những trang báo in, thì một đế chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu. Sự
thiếu vắng hạ tầng nhân bản tri thức khiến tỷ lệ biết chữ tại đây dậm chân tại chỗ ở mức dưới 5% trong suốt nhiều
thế kỷ. Họ bỏ lỡ hoàn toàn chuyến tàu của Cách mạng Khoa học và kỷ nguyên Khai sáng, đơn giản vì các ý tưởng
đột phá không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ.
(CODE VÀ CÁT - Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới,
Phan Tuấn, NXB Thế giới, 2026, tr.8-10)
¹ Tuyển tập kịch đầu tiên của William Shakespeare. ² Người nắm quyền lực tối cao ở Đế quốc Ottoman.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
Câu 2. Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare
trong đoạn (4).
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5)
được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo
anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay
đổi thế giới.
Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi:
Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
NHỮNG CHIẾC LÁ
Nguyễn Đình Thi³
Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao, những chiếc lá rụng trên mặt cỏ
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo
Đã những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.
Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.
Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây.
Ai bé nhỏ vừa đi tới.
Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xùy xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ.
Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng.
Đi đâu, chú bé vác bao tải to, trên con đường đầy ổ bụi bặm.
Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm,
đợi mẹ đi làm về.
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên.
À, à, vậy chứ, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.
(Thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Kim Đồng, 2025, tr.87-88)
³ Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học có đóng góp lớn cho nền văn học nghệ
thuật nước nhà. Thơ Nguyễn Đình Thi mang phong cách tư duy hiện đại, đậm chất trí tuệ và giàu nội tâm. Ông được tặng Giải thưởng
Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
-------- HẾT --------
– Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
– Giám thị không giải thích gì thêm.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
ĐỊNH HƯỚNG ĐÁP ÁN THAM KHẢO
Môn Ngữ văn – Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm) Trước năm 1440, tri thức được lưu giữ trong các thư viện, tu viện hoặc sau những cánh cổng
sắt của các lâu đài, trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu.
Câu 2. (0,5 điểm) Câu văn chứa bằng chứng là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm
1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn
nhung của nhà hát Globe khép lại.”
Câu 3. (1,0 điểm) “Tài sản bị giam cầm” là cách nói ẩn dụ chỉ tri thức quý giá nhưng bị khóa chặt trong không
gian đặc quyền của thư viện, tu viện, lâu đài; chỉ một số ít người được tiếp cận. “Nhiên liệu” là cách nói ẩn dụ
chỉ sức mạnh thúc đẩy của tri thức khi được in ấn, nhân bản và lan truyền rộng rãi, trở thành động lực cho Phục
Hưng, Cách mạng Khoa học, Cách mạng Công nghiệp và sự tiến bộ của nhân loại.
Câu 4. (1,0 điểm) Luận đề và các luận điểm trong văn bản có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất. Luận đề khẳng
định vai trò cách mạng của máy in trong việc giải phóng và phổ biến tri thức. Các luận điểm được triển khai
theo trình tự trước - sau, nguyên nhân - kết quả, đối chiếu - so sánh: trước máy in tri thức bị độc quyền; sau
máy in tri thức được nhân bản, lan truyền, bảo tồn văn hóa, thúc đẩy dân trí và các cuộc cách mạng; ngược lại,
nơi cấm đoán in ấn thì rơi vào trì trệ. Nhờ vậy, các luận điểm cùng làm sáng tỏ luận đề trung tâm, tạo nên lập
luận logic, thuyết phục.
Câu 5. (1,0 điểm) Người trẻ cần sử dụng AI như công cụ hỗ trợ tư duy, học tập, nghiên cứu và sáng tạo, không
xem AI là phương tiện thay thế hoàn toàn trí tuệ con người. Cần biết đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, đối
chiếu nguồn, giữ tư duy phản biện; đồng thời dùng AI để kết nối ý tưởng, chia sẻ tri thức, hợp tác và tạo ra sản
phẩm có ích cho cộng đồng. Việc sử dụng AI phải gắn với đạo đức: không sao chép, không gian lận, không
phát tán thông tin sai lệch. Khi con người làm chủ công nghệ, AI có thể trở thành “máy in” của thời đại mới,
giúp tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ
Yêu cầu trọng tâm: trả lời đúng câu hỏi “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, tức là đề xuất điều
kiện, giải pháp để hình thành những người trẻ Việt Nam có tư duy sáng tạo, năng lực công nghệ, khát vọng đổi
mới và khả năng tạo ra giá trị lớn cho xã hội.
• Giải thích được “Steve Jobs Việt Nam” là hình ảnh chỉ những con người sáng tạo, dám nghĩ khác, có năng
lực công nghệ và khát vọng tạo sản phẩm hữu ích.
• Nêu giải pháp từ giáo dục: khuyến khích tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo, học qua dự án, nghiên cứu
khoa học, thực hành công nghệ.
• Nêu giải pháp từ môi trường xã hội: tôn trọng khác biệt, cho phép thử nghiệm và thất bại, trọng dụng nhân
tài, đầu tư khoa học công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
• Nêu trách nhiệm của người trẻ: tự học, kỷ luật, ngoại ngữ, tư duy số, dám theo đuổi đam mê, bền bỉ trước
khó khăn.
• Diễn đạt mạch lạc, đúng hình thức đoạn văn, khoảng 200 chữ.
Đoạn văn tham khảo
Để có những “Steve Jobs Việt Nam”, trước hết cần hiểu đó không chỉ là những người giỏi công nghệ, mà là
những con người có khát vọng sáng tạo, dám nghĩ khác và có khả năng tạo ra sản phẩm hữu ích cho xã hội.
Muốn vậy, giáo dục phải thay đổi theo hướng khơi dậy tư duy độc lập, năng lực phản biện, tinh thần tự học và
khả năng giải quyết vấn đề, thay vì chỉ chú trọng ghi nhớ kiến thức. Nhà trường cần tạo nhiều cơ hội cho học
sinh, sinh viên làm dự án, nghiên cứu khoa học, tiếp xúc với công nghệ mới và được phép thử nghiệm, thậm chí
được phép thất bại. Gia đình và xã hội cũng cần tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích người trẻ theo đuổi đam
mê chính đáng. Về phía người trẻ, mỗi người phải nuôi dưỡng khát vọng lớn, rèn luyện kỉ luật, ngoại ngữ, tư
duy công nghệ và tinh thần bền bỉ. Bên cạnh đó, đất nước cần có chính sách trọng dụng nhân tài, đầu tư cho
khoa học, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Khi tài năng được phát hiện, bồi dưỡng và đặt vào môi trường phù
hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể có những người tạo ra giá trị lớn cho thế giới.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần bảo đảm các ý cơ bản sau:
• Giới thiệu khái quát về Nguyễn Đình Thi và bài thơ; xác định vấn đề nghị luận: hình tượng những chiếc lá
và ý nghĩa nhân văn của bài thơ.
• Phân tích khung cảnh mở đầu: chiều lạnh, vườn cây vắng, lá rụng; gợi cảm giác hoang vắng, tàn phai,
mong manh.
• Phân tích dòng hồi tưởng về đời sống của lá qua các mùa: mùa xuân đón chim, mùa hè che mát, mùa thu
thắp vàng cho tình yêu. Qua đó thấy vẻ đẹp và sự hữu ích âm thầm của những chiếc lá.
• Phân tích sự chuyển mạch sang hiện tại mùa đông: gió bấc rứt và ném lá xuống đất bụi; gợi sự khắc nghiệt
của thời gian, thiên nhiên và số phận nhỏ bé.
• Phân tích hình ảnh chú bé nghèo nhặt lá: “lụi hụi”, “xùy xoa”, “loạt xoạt”; làm nổi bật đời sống lao động
nghèo khó, vất vả nhưng ấm áp tình thân.
• Làm rõ ý nghĩa hình ảnh lá khô nhóm lửa: lá không mất đi vô nghĩa mà tiếp tục dâng hiến, hóa thành hơi
ấm, bữa cơm, sự chờ đợi mẹ. Đây là chiều sâu nhân văn của bài thơ.
• Đánh giá nghệ thuật: hình ảnh giản dị giàu sức gợi; kết cấu hiện tại - hồi tưởng - hiện tại; nhân hóa; điệp
cấu trúc; từ láy giàu nhạc điệu; tương phản lạnh giá và hơi ấm, tàn úa và hồi sinh.
Bài văn tham khảo
Nguyễn Đình Thi là nghệ sĩ đa tài của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Thơ ông thường giàu suy
tưởng, hình ảnh cô đọng, giọng điệu trầm lắng và nhân văn. Bài thơ “Những chiếc lá” là một thi phẩm giản dị
mà gợi nhiều suy ngẫm. Từ hình ảnh những chiếc lá rụng trong một buổi chiều mùa đông, nhà thơ mở ra dòng
hồi tưởng về vẻ đẹp của thiên nhiên, rồi lắng lại ở hình ảnh chú bé nghèo nhặt lá khô nhóm lửa. Qua đó, bài thơ
không chỉ viết về lá mà còn gợi suy nghĩ về sự dâng hiến âm thầm của những điều nhỏ bé trong đời sống.
Bài thơ mở đầu bằng một không gian lạnh lẽo: “Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao,
những chiếc lá rụng trên mặt cỏ”. Những từ ngữ “lạnh cóng”, “vắng tanh”, “lá rụng” gợi cảm giác hoang vắng,
tàn phai. Những chiếc lá không còn xanh tươi trên cành mà đã rơi xuống mặt cỏ, mong manh trước gió lạnh.
Tuy nhiên, từ hình ảnh ấy, nhà thơ không chỉ nhìn thấy sự kết thúc mà còn nhớ lại cả một đời sống đẹp đẽ của
lá.
Ở đoạn tiếp theo, những chiếc lá được hồi tưởng như chứng nhân của các mùa. Dù hiện tại đã “nâu, đen,
rách quăn queo”, chúng từng có những ngày xuân “xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim”, từng “um tùm che
mát” cho người đi đường trong buổi trưa hè, từng “thắp vàng” trên đầu bao đôi người yêu trong chiều thu nhẹ
trong. Một loạt hình ảnh xuân, hè, thu làm hiện lên vẻ đẹp trọn vẹn của vòng đời chiếc lá. Lá đã từng góp phần
làm nên tiếng chim, bóng mát, sắc vàng và vẻ thơ mộng của tình yêu. Điệp từ “chúng ta” cùng biện pháp nhân
hóa khiến những chiếc lá như có linh hồn, có kí ức, có tiếng nói riêng. Qua đó, nhà thơ khẳng định vẻ đẹp và
giá trị của những tồn tại tưởng chừng rất nhỏ bé.
Nhưng thời gian và thiên nhiên thật khắc nghiệt. “Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất
bụi.” Các động từ “rứt”, “ném” gợi sự phũ phàng, vùi dập. Những chiếc lá rơi xuống đất bụi như bước vào phần
cuối của đời mình. Từ đây, bài thơ chuyển từ vẻ đẹp thiên nhiên sang vẻ đẹp đời thường. Hình ảnh chú bé xuất
hiện giữa gió buốt: “lụi hụi xùy xoa”, chiếc chổi tre “loạt xoạt” quét lá trên mặt cỏ. Những từ láy giàu sức gợi
đã khắc họa rõ dáng vẻ nhỏ bé, lam lũ của em trong cái lạnh mùa đông. Chú bé nhặt lá, ôm lá vào bao tải, vác
bao tải đi trên con đường đầy bụi bặm. Chiếc lá lúc này không chỉ thuộc về thiên nhiên mà đã bước vào đời
sống nghèo khó của con người.
Ý nghĩa nhân văn của bài thơ lắng sâu ở hình ảnh cuối: dưới mái bếp tranh, chú bé dùng từng nắm lá khô
nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm về. Những chiếc lá khô tưởng như vô dụng lại trở thành chất đốt, tạo nên
hơi ấm, bữa cơm và sự chờ đợi yêu thương. Hình ảnh “khói hắc hắc thơm thơm bay lên” vừa gợi cái cay khét
của lá khô, vừa gợi mùi thơm ấm áp của bếp lửa gia đình. Tiếng lá “reo phù phù, nhảy nhót” ở cuối bài khiến
những chiếc lá như được hồi sinh trong ngọn lửa. Chúng đã sống một đời đẹp đẽ và đến khi rụng xuống vẫn
tiếp tục dâng hiến cho con người.
Bài thơ thành công bởi hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi, giọng thơ nhẹ nhàng, kết cấu tự nhiên từ hiện tại
đến hồi tưởng rồi trở về hiện tại. Các từ láy như “lao xao”, “lụi hụi”, “loạt xoạt”, “hắc hắc thơm thơm”, “phù
phù” tạo nên âm thanh và hơi thở đời sống. Qua “Những chiếc lá”, Nguyễn Đình Thi nhắc người đọc biết trân
trọng những điều nhỏ bé, âm thầm quanh mình. Bởi ngay cả một chiếc lá khô cũng có thể làm đẹp cho đời, che
mát cho người, rồi hóa thành hơi ấm trong bếp lửa nghèo.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
KỲ THI TỐT NGHIỆP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NĂM 2026
Môn thi: NGỮ VĂN
Thời gian làm bài: 120 phút, không kể thời gian phát đề
ĐỀ THI CHÍNH THỨC
(Đề thi có 02 trang)
Họ, tên thí sinh: ........................................................................................
Số báo danh: .................................................................................................
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
(1) Năm 1440, tại một xưởng cơ khí nhỏ nằm lọt thỏm giữa thành phố Mainz nước Đức, Johannes Gutenberg
phát minh ra máy in. [...]
(2) Trước năm 1440, tri thức là một dạng tài sản bị giam cầm. Nó nằm im lìm trong các thư viện, tu viện hay sau
những cánh cổng sắt của các lâu đài, được lưu giữ trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu mà giá trị của mỗi
cuốn có thể đổi ngang một trang trại trù phú. Sự khan hiếm đó không phải là ngẫu nhiên, nó là một trật tự được thiết
lập. Khi việc sao chép một văn bản đòi hỏi hàng nghìn giờ lao động thủ công của các tu sĩ, tri thức mặc nhiên trở
thành đặc quyền của tầng lớp tinh hoa. Dân chúng không có quyền tiếp cận văn bản gốc, và do đó, họ không có
quyền nghi ngờ.
(3) Phát minh của Gutenberg phá vỡ sự độc quyền đó bằng một khái niệm mang tính cách mạng: sự nhân bản
công nghiệp của tri thức.
(4) Lần đầu tiên trong lịch sử, tư tưởng của một con người có thể tách rời khỏi thể xác họ và nhân ra hàng ngàn
bản sao với chi phí thấp. Sách bắt đầu tràn xuống đường phố. Những ý tưởng, cả vĩ đại lẫn nguy hiểm, bắt đầu thẩm
thấu vào đại chúng. William Shakespeare được hậu thế tôn vinh là đại văn hào không chỉ bởi tài năng của ông, mà
còn bởi ông sống đúng vào điểm rơi của công nghệ in ấn. Nếu không có những bản in First Folio¹ được xuất bản
năm 1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn
nhung của nhà hát Globe khép lại.
(5) Sức mạnh của máy in không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn văn hóa, nó trở thành thước đo cho vận mệnh các
quốc gia. Một sự phân hóa rõ rệt bắt đầu xuất hiện trên bản đồ thế giới. Những quốc gia phương Tây như Anh, Hà
Lan hay Đức, nơi chấp nhận các phiên bản cải tiến sau này của máy in Gutenberg và để chúng vận hành hết công
suất, đã chứng kiến sự bùng nổ chưa từng có về dân trí và khoa học. Tri thức không còn bị độc quyền, nó trở thành
nhiên liệu cho Phục Hưng và Cách mạng Công nghiệp, giúp con người phát minh ra động cơ hơi nước và điện.
(6) Ngược lại, ở phía bên kia Địa Trung Hải, các Sultan² của Đế quốc Ottoman hùng mạnh đã đưa ra một quyết
định định mệnh khi cấm in ấn bằng tiếng Ả Rập và Thổ Nhĩ Kỳ trong suốt gần 300 năm, vì lo sợ sự lan truyền của
những tư tưởng “lệch lạc”. Hậu quả là trong khi châu Âu đang tranh luận sôi nổi về vật lý và thiên văn học trên
những trang báo in, thì một đế chế từng là trung tâm văn minh của thế giới lại dần chìm vào sự trì trệ và lạc hậu. Sự
thiếu vắng hạ tầng nhân bản tri thức khiến tỷ lệ biết chữ tại đây dậm chân tại chỗ ở mức dưới 5% trong suốt nhiều
thế kỷ. Họ bỏ lỡ hoàn toàn chuyến tàu của Cách mạng Khoa học và kỷ nguyên Khai sáng, đơn giản vì các ý tưởng
đột phá không có cơ hội được sao chép, lan truyền để tạo ra sự cộng hưởng trí tuệ.
(CODE VÀ CÁT - Những quyền lực công nghệ xoay chuyển thế giới,
Phan Tuấn, NXB Thế giới, 2026, tr.8-10)
¹ Tuyển tập kịch đầu tiên của William Shakespeare. ² Người nắm quyền lực tối cao ở Đế quốc Ottoman.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo văn bản, trước năm 1440, tri thức được lưu giữ ở đâu?
Câu 2. Chỉ ra câu văn chứa đựng bằng chứng về vai trò của máy in đối với tác phẩm của William Shakespeare
trong đoạn (4).
Câu 3. Anh/Chị hiểu như thế nào về nghĩa của cụm từ tài sản bị giam cầm (đoạn 2) và từ nhiên liệu (đoạn 5)
được tác giả sử dụng khi nói về tri thức trước và sau năm 1440?
Câu 4. Nhận xét về mối liên hệ giữa luận đề và các luận điểm trong văn bản.
Câu 5. Trong bối cảnh cần có những đột phá về khoa học công nghệ hiện nay, từ góc nhìn của người trẻ, theo
anh/chị, cần sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) như thế nào để tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
Nước Mĩ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk,… với những phát minh công nghệ góp phần làm thay
đổi thế giới.
Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi:
Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?
Câu 2 (4,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau:
NHỮNG CHIẾC LÁ
Nguyễn Đình Thi³
Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao, những chiếc lá rụng trên mặt cỏ
Những chiếc lá nâu, đen, rách quăn queo
Đã những ngày xuân, chúng ta xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim.
Những buổi trưa hè, chúng ta um tùm che mát cho người đi đường mồ hôi nhễ nhại.
Những chiều thu nhẹ trong, chúng ta thắp vàng trên đầu bao đôi người yêu.
Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất bụi.
Chiều lạnh cóng, những chiếc lá rụng bay lao xao trong vườn cây.
Ai bé nhỏ vừa đi tới.
Giữa gió buốt, chú bé lụi hụi xùy xoa, loạt xoạt, loạt xoạt, chiếc chổi tre quét trên mặt cỏ.
Sắp tối rồi. Chú bé ôm từng ôm lá nén vào chiếc bao tải dần căng phồng.
Đi đâu, chú bé vác bao tải to, trên con đường đầy ổ bụi bặm.
Đây rồi, dưới mái bếp tranh, chú bé ngồi vốc từng nắm lá khô nhóm lửa, đặt nồi cơm,
đợi mẹ đi làm về.
Khói hắc hắc thơm thơm bay lên.
À, à, vậy chứ, vậy chứ, - những chiếc lá reo phù phù, nhảy nhót.
(Thơ Nguyễn Đình Thi, NXB Kim Đồng, 2025, tr.87-88)
³ Nguyễn Đình Thi (1924-2003) là nhạc sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà phê bình văn học có đóng góp lớn cho nền văn học nghệ
thuật nước nhà. Thơ Nguyễn Đình Thi mang phong cách tư duy hiện đại, đậm chất trí tuệ và giàu nội tâm. Ông được tặng Giải thưởng
Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996.
-------- HẾT --------
– Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
– Giám thị không giải thích gì thêm.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
ĐỊNH HƯỚNG ĐÁP ÁN THAM KHẢO
Môn Ngữ văn – Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm) Trước năm 1440, tri thức được lưu giữ trong các thư viện, tu viện hoặc sau những cánh cổng
sắt của các lâu đài, trên những cuốn sách chép tay bằng da cừu.
Câu 2. (0,5 điểm) Câu văn chứa bằng chứng là: “Nếu không có những bản in First Folio được xuất bản năm
1623, những vở kịch kinh điển như Macbeth hay Hamlet có lẽ đã tan biến vào hư không ngay sau khi tấm màn
nhung của nhà hát Globe khép lại.”
Câu 3. (1,0 điểm) “Tài sản bị giam cầm” là cách nói ẩn dụ chỉ tri thức quý giá nhưng bị khóa chặt trong không
gian đặc quyền của thư viện, tu viện, lâu đài; chỉ một số ít người được tiếp cận. “Nhiên liệu” là cách nói ẩn dụ
chỉ sức mạnh thúc đẩy của tri thức khi được in ấn, nhân bản và lan truyền rộng rãi, trở thành động lực cho Phục
Hưng, Cách mạng Khoa học, Cách mạng Công nghiệp và sự tiến bộ của nhân loại.
Câu 4. (1,0 điểm) Luận đề và các luận điểm trong văn bản có mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất. Luận đề khẳng
định vai trò cách mạng của máy in trong việc giải phóng và phổ biến tri thức. Các luận điểm được triển khai
theo trình tự trước - sau, nguyên nhân - kết quả, đối chiếu - so sánh: trước máy in tri thức bị độc quyền; sau
máy in tri thức được nhân bản, lan truyền, bảo tồn văn hóa, thúc đẩy dân trí và các cuộc cách mạng; ngược lại,
nơi cấm đoán in ấn thì rơi vào trì trệ. Nhờ vậy, các luận điểm cùng làm sáng tỏ luận đề trung tâm, tạo nên lập
luận logic, thuyết phục.
Câu 5. (1,0 điểm) Người trẻ cần sử dụng AI như công cụ hỗ trợ tư duy, học tập, nghiên cứu và sáng tạo, không
xem AI là phương tiện thay thế hoàn toàn trí tuệ con người. Cần biết đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, đối
chiếu nguồn, giữ tư duy phản biện; đồng thời dùng AI để kết nối ý tưởng, chia sẻ tri thức, hợp tác và tạo ra sản
phẩm có ích cho cộng đồng. Việc sử dụng AI phải gắn với đạo đức: không sao chép, không gian lận, không
phát tán thông tin sai lệch. Khi con người làm chủ công nghệ, AI có thể trở thành “máy in” của thời đại mới,
giúp tạo nên sự cộng hưởng trí tuệ.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm): Đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ
Yêu cầu trọng tâm: trả lời đúng câu hỏi “Làm thế nào để có những Steve Jobs Việt Nam?”, tức là đề xuất điều
kiện, giải pháp để hình thành những người trẻ Việt Nam có tư duy sáng tạo, năng lực công nghệ, khát vọng đổi
mới và khả năng tạo ra giá trị lớn cho xã hội.
• Giải thích được “Steve Jobs Việt Nam” là hình ảnh chỉ những con người sáng tạo, dám nghĩ khác, có năng
lực công nghệ và khát vọng tạo sản phẩm hữu ích.
• Nêu giải pháp từ giáo dục: khuyến khích tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo, học qua dự án, nghiên cứu
khoa học, thực hành công nghệ.
• Nêu giải pháp từ môi trường xã hội: tôn trọng khác biệt, cho phép thử nghiệm và thất bại, trọng dụng nhân
tài, đầu tư khoa học công nghệ, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
• Nêu trách nhiệm của người trẻ: tự học, kỷ luật, ngoại ngữ, tư duy số, dám theo đuổi đam mê, bền bỉ trước
khó khăn.
• Diễn đạt mạch lạc, đúng hình thức đoạn văn, khoảng 200 chữ.
Đoạn văn tham khảo
Để có những “Steve Jobs Việt Nam”, trước hết cần hiểu đó không chỉ là những người giỏi công nghệ, mà là
những con người có khát vọng sáng tạo, dám nghĩ khác và có khả năng tạo ra sản phẩm hữu ích cho xã hội.
Muốn vậy, giáo dục phải thay đổi theo hướng khơi dậy tư duy độc lập, năng lực phản biện, tinh thần tự học và
khả năng giải quyết vấn đề, thay vì chỉ chú trọng ghi nhớ kiến thức. Nhà trường cần tạo nhiều cơ hội cho học
sinh, sinh viên làm dự án, nghiên cứu khoa học, tiếp xúc với công nghệ mới và được phép thử nghiệm, thậm chí
được phép thất bại. Gia đình và xã hội cũng cần tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích người trẻ theo đuổi đam
mê chính đáng. Về phía người trẻ, mỗi người phải nuôi dưỡng khát vọng lớn, rèn luyện kỉ luật, ngoại ngữ, tư
duy công nghệ và tinh thần bền bỉ. Bên cạnh đó, đất nước cần có chính sách trọng dụng nhân tài, đầu tư cho
khoa học, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp. Khi tài năng được phát hiện, bồi dưỡng và đặt vào môi trường phù
hợp, Việt Nam hoàn toàn có thể có những người tạo ra giá trị lớn cho thế giới.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
Câu 2 (4,0 điểm): Bài văn nghị luận khoảng 600 chữ
Học sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần bảo đảm các ý cơ bản sau:
• Giới thiệu khái quát về Nguyễn Đình Thi và bài thơ; xác định vấn đề nghị luận: hình tượng những chiếc lá
và ý nghĩa nhân văn của bài thơ.
• Phân tích khung cảnh mở đầu: chiều lạnh, vườn cây vắng, lá rụng; gợi cảm giác hoang vắng, tàn phai,
mong manh.
• Phân tích dòng hồi tưởng về đời sống của lá qua các mùa: mùa xuân đón chim, mùa hè che mát, mùa thu
thắp vàng cho tình yêu. Qua đó thấy vẻ đẹp và sự hữu ích âm thầm của những chiếc lá.
• Phân tích sự chuyển mạch sang hiện tại mùa đông: gió bấc rứt và ném lá xuống đất bụi; gợi sự khắc nghiệt
của thời gian, thiên nhiên và số phận nhỏ bé.
• Phân tích hình ảnh chú bé nghèo nhặt lá: “lụi hụi”, “xùy xoa”, “loạt xoạt”; làm nổi bật đời sống lao động
nghèo khó, vất vả nhưng ấm áp tình thân.
• Làm rõ ý nghĩa hình ảnh lá khô nhóm lửa: lá không mất đi vô nghĩa mà tiếp tục dâng hiến, hóa thành hơi
ấm, bữa cơm, sự chờ đợi mẹ. Đây là chiều sâu nhân văn của bài thơ.
• Đánh giá nghệ thuật: hình ảnh giản dị giàu sức gợi; kết cấu hiện tại - hồi tưởng - hiện tại; nhân hóa; điệp
cấu trúc; từ láy giàu nhạc điệu; tương phản lạnh giá và hơi ấm, tàn úa và hồi sinh.
Bài văn tham khảo
Nguyễn Đình Thi là nghệ sĩ đa tài của văn học nghệ thuật Việt Nam hiện đại. Thơ ông thường giàu suy
tưởng, hình ảnh cô đọng, giọng điệu trầm lắng và nhân văn. Bài thơ “Những chiếc lá” là một thi phẩm giản dị
mà gợi nhiều suy ngẫm. Từ hình ảnh những chiếc lá rụng trong một buổi chiều mùa đông, nhà thơ mở ra dòng
hồi tưởng về vẻ đẹp của thiên nhiên, rồi lắng lại ở hình ảnh chú bé nghèo nhặt lá khô nhóm lửa. Qua đó, bài thơ
không chỉ viết về lá mà còn gợi suy nghĩ về sự dâng hiến âm thầm của những điều nhỏ bé trong đời sống.
Bài thơ mở đầu bằng một không gian lạnh lẽo: “Chiều lạnh cóng, vườn cây vắng tanh, gió thổi bay lao xao,
những chiếc lá rụng trên mặt cỏ”. Những từ ngữ “lạnh cóng”, “vắng tanh”, “lá rụng” gợi cảm giác hoang vắng,
tàn phai. Những chiếc lá không còn xanh tươi trên cành mà đã rơi xuống mặt cỏ, mong manh trước gió lạnh.
Tuy nhiên, từ hình ảnh ấy, nhà thơ không chỉ nhìn thấy sự kết thúc mà còn nhớ lại cả một đời sống đẹp đẽ của
lá.
Ở đoạn tiếp theo, những chiếc lá được hồi tưởng như chứng nhân của các mùa. Dù hiện tại đã “nâu, đen,
rách quăn queo”, chúng từng có những ngày xuân “xòe biếc đón về ríu rít những đàn chim”, từng “um tùm che
mát” cho người đi đường trong buổi trưa hè, từng “thắp vàng” trên đầu bao đôi người yêu trong chiều thu nhẹ
trong. Một loạt hình ảnh xuân, hè, thu làm hiện lên vẻ đẹp trọn vẹn của vòng đời chiếc lá. Lá đã từng góp phần
làm nên tiếng chim, bóng mát, sắc vàng và vẻ thơ mộng của tình yêu. Điệp từ “chúng ta” cùng biện pháp nhân
hóa khiến những chiếc lá như có linh hồn, có kí ức, có tiếng nói riêng. Qua đó, nhà thơ khẳng định vẻ đẹp và
giá trị của những tồn tại tưởng chừng rất nhỏ bé.
Nhưng thời gian và thiên nhiên thật khắc nghiệt. “Đến hôm nay, gió bấc đã rứt chúng ta, ném xuống đất
bụi.” Các động từ “rứt”, “ném” gợi sự phũ phàng, vùi dập. Những chiếc lá rơi xuống đất bụi như bước vào phần
cuối của đời mình. Từ đây, bài thơ chuyển từ vẻ đẹp thiên nhiên sang vẻ đẹp đời thường. Hình ảnh chú bé xuất
hiện giữa gió buốt: “lụi hụi xùy xoa”, chiếc chổi tre “loạt xoạt” quét lá trên mặt cỏ. Những từ láy giàu sức gợi
đã khắc họa rõ dáng vẻ nhỏ bé, lam lũ của em trong cái lạnh mùa đông. Chú bé nhặt lá, ôm lá vào bao tải, vác
bao tải đi trên con đường đầy bụi bặm. Chiếc lá lúc này không chỉ thuộc về thiên nhiên mà đã bước vào đời
sống nghèo khó của con người.
Ý nghĩa nhân văn của bài thơ lắng sâu ở hình ảnh cuối: dưới mái bếp tranh, chú bé dùng từng nắm lá khô
nhóm lửa, đặt nồi cơm, đợi mẹ đi làm về. Những chiếc lá khô tưởng như vô dụng lại trở thành chất đốt, tạo nên
hơi ấm, bữa cơm và sự chờ đợi yêu thương. Hình ảnh “khói hắc hắc thơm thơm bay lên” vừa gợi cái cay khét
của lá khô, vừa gợi mùi thơm ấm áp của bếp lửa gia đình. Tiếng lá “reo phù phù, nhảy nhót” ở cuối bài khiến
những chiếc lá như được hồi sinh trong ngọn lửa. Chúng đã sống một đời đẹp đẽ và đến khi rụng xuống vẫn
tiếp tục dâng hiến cho con người.
Bài thơ thành công bởi hình ảnh giản dị mà giàu sức gợi, giọng thơ nhẹ nhàng, kết cấu tự nhiên từ hiện tại
đến hồi tưởng rồi trở về hiện tại. Các từ láy như “lao xao”, “lụi hụi”, “loạt xoạt”, “hắc hắc thơm thơm”, “phù
phù” tạo nên âm thanh và hơi thở đời sống. Qua “Những chiếc lá”, Nguyễn Đình Thi nhắc người đọc biết trân
trọng những điều nhỏ bé, âm thầm quanh mình. Bởi ngay cả một chiếc lá khô cũng có thể làm đẹp cho đời, che
mát cho người, rồi hóa thành hơi ấm trong bếp lửa nghèo.
Tài liệu dùng để in ôn tập, tham khảo
 








Các ý kiến mới nhất