Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

_chon-mat

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 14h:45' 02-02-2026
Dung lượng: 2.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
CHỒN MẬT | ROBERT RUARK

GIỚI THIỆU

Tại châu Phi có một loài vật khát máu, không biết sợ ai, cái gì... bao giờ,
mang tên Chồn Mật. Có lẽ nó là con vật hạ đẳng nhất thế giới. Nó thích mật
ong, và mọi loài lông vũ. Nó giết chóc nhiều khi không phải là vì đói, vì căm
hận mà chỉ để thỏa tính hung bạo và để.... giải trí. Đặc biệt, khi tấn công con
người, nó không nhắm vào cổ hay bất kỳ đâu mà chỉ nhắm vào chỗ kín.
Bản chất ấy phải chăng được thấy trong một con người Mỹ hiện đại Alex Barr, nhân vật chính của cuốn tiểu thuyết ấn tượng này.
Chồn Mật được coi là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Robert Ruark. Đây
là câu chuyện về một người đàn ông, một nhà văn tài năng, bị giằng xé giữa
công việc và đàn bà. Có lẽ người đọc sẽ không khó nhận ra phần nào nguyên
mẫu của chính tác giả trong đó.
Nhưng Chồn Mật vẫn không mang dáng vẻ của một hồi ký, kể cả khi đã
nhắc không ít tới các nhân vật tiếng tăm có thực với tính cách, tài năng và số
phận thực của họ, như nhà báo Ernie Pyle, nhà văn Ernest Hemingway...

_ QUYỂN I _

ALEX

Nguồn và tạo ebook : Thành viên TVE-4U
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

CHƯƠNG 1
Trời rất nóng và đầy hơi nước, cái nóng của New York ẩm ướt, đặc sệt
lại, đè nặng lên người. Tầng áp mái nhô lên khỏi 17 tầng nhà trên khu đông
Manhattan, khoe ra những cây đào trên sân thượng. Chẳng có chút gió nào
lay động nổi những chiếc lá đào, còn sân thượng được phủ một lớp bồ hóng
xốp mịn. Không có máy điều hòa trong căn hộ kiểu cũ xây tường dày, và
thường khá mát mẻ.
Alexander Barr, với bộ đồ cộc, vừa ra khỏi vòi nước lạnh, và mới chỉ đi
xa buồng tắm hai bước, mồ hôi đã bắt đầu chảy ròng ròng trên người.
Amelia, vợ Alexander Barr, đang ngồi trước bàn trang điểm tô lại đôi
môi, có cái vẻ mát mẻ khiêu khích. Như Alex Barr cảm thấy, nàng trông
giống như người vừa hiện ra từ một thế giới toàn những kẻ vô danh, tất cả
bọn họ đều bị ám ảnh bởi những ý nghĩ ích kỷ nhỏ mọn. Chiếc cốc đầy tới
nửa một thứ gì đó có vẻ như rượu gin pha, rịn ra khá nhiều nước ở cạnh
khuỷu tay nàng. Một điếu thuốc lá có đốm lửa đỏ ở đầu, buồn bã cháy âm ỉ
trong chiếc gạt tàn bóng loáng bên cạnh. Alex Barr đã uống cạn một cốc khi
anh từ ngoài đường vào nhà - mặt bóng nhẫy, mồ hôi ròng ròng, chiếc áo
sơmi ướt sũng dính chặt vào người - nhưng cốc rượu chỉ khiến anh nóng
thêm. Anh liệng chiếc cốc ra ngoài khoảng sân đầy bồ hóng, hy vọng có một
chuyển động đáng thương hại trong không khí, và khi chằm chằm nhìn qua
lan can xuống đường phố tít bên dưới, anh gần như bị ức chế một cách
không thể chịu đựng nổi bởi ý nghĩ cả cái quả đất chưa được thăm dò chứa
đầy những con “người kiến” bé tí xíu, tất cả đều bị tù hãm một cách cuồng
loạn bởi những vấn đề cá nhân.
Đột nhiên toàn bộ thế giới rộng lớn túm được đầu của Alexander Barr
trong bàn tay gồ ghề của nó, bóp mạnh, và ép bộ óc anh phọt ra đằng tai.
Anh cảm thấy như một bên hộp sọ của mình gãy vụn, rồi nở phồng ra, và ở
chỗ vốn là não bộ giờ đây chỉ là một khối bê tông cứng. Alex muốn thét lên,
muốn chạy trốn, muốn núp vào một xó nhà đầy mạng nhện và xé toạc lớp vỏ
bọc đang bao phủ cái hộp sọ bị đổ bê tông, Anh muốn, anh muốn, anh không
biết mình muốn gì nữa. Nhưng anh biết cái anh không muốn. Anh không

muốn tới chỗ Hazeltines để ăn tối.
“Không,” anh kêu lên. “Không, tôi sẽ không. Chắc chắn là sẽ không!”
“Sẽ không làm gì kia?” Amelia vừa hỏi bằng cái giọng trẻ con vừa quay
mặt khỏi tấm gương nàng đang soi để tô mắt bằng chiếc bút lông. “Nhanh
lên nào, anh yêu, đừng bực nữa. Mình sẽ bị muộn bữa tối với Hazeltines
mất,”
Alex Barr nhìn vợ bằng cặp mắt uể oải, vô hồn, như nhìn vào một người
lạ thờ ơ. Nàng thật đẹp, anh thầm nghĩ, với chiếc áo choàng đen thật gợi
cảm. Năm nay nàng để dài mớ tóc màu hạt dẻ. Nàng đẹp, Alex Barr lại nghĩ,
nhưng với mớ tóc mềm dài như vậy trông nàng rất giống một chú chó con
lông xù. Nàng đã chải lại tóc và sửa móng xong. Chiếc áo dài dạ tiệc màu
đen thanh nhã - một chiếc Hattie xinh xắn - đã được đặt cẩn thận trên chiếc
khăn trải màu đỏ tía của chiếc giường khổ lớn. Khi đánh xong đôi mắt và
trang điểm nốt phần mặt còn lại, nàng chui đầu qua chiếc áo dài Hattie, cẩn
thận với lớp lụa mỏng để không làm son môi dây bẩn lên áo. Sau đó nàng
vuốt lại mái tóc, mím môi để son dàn đều, rồi quay người lại và nói, như
Alex Barr đã biết trước:
“Anh yêu, chúng ta bị muộn mất thôi, đừng đi đi lại lại nữa và hãy mặc
quần áo vào. Anh biết bọn người hầu của Hazeltines giờ giấc chính xác thế
nào rồi đấy. Nếu muốn có chút thời gian để uống gì đó khi đến thì anh phải
nhanh lên.”
“Không,” anh nhắc lại - phải chăng anh đã nói vậy, hay anh mới chỉ nghĩ
là anh đã nói vậy? “Không. Anh sẽ không. Chắc chắn là anh sẽ không”.
Amelia nhìn anh vẻ khó chịu.
“Anh đang nói gì đấy? Chắc chắn không cái gì?”
“Chắc chắn anh sẽ không đến muộn bữa tối của Hazeltines.”
“Nhưng đó chính là điều em đã nói.” Giọng Amelia kiên nhẫn một cách
cáu kỉnh như giọng của bất cứ người mẹ nào. Nàng đứng lên, phô ra dáng vẻ
cao lớn, đầy đặn của một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi, chiếc áo choàng đen
đơn giản dễ thương làm thon nhỏ bộ ngực rắn chắc và cặp mông nảy nở bị
thắt lại một cách ngoan ngoãn nhờ chiếc dây lưng. Nàng có nước da trắng
mịn, cặp mắt xanh sâu thẳm và khuôn mặt mang nét hào phóng của một cô
gái vắt sữa, nếu không tính đến chiếc mũi thắng thường chun lại mỗi khi

mỉm cười, khiến cái nhìn của nàng càng thêm ngây thơ. Lúc này đây nàng
không mỉm cười,
“Xin anh nhanh lên đi, nếu anh không muốn đến muộn. Nhìn em này, em
đã xong hết rồi, chỉ còn mặc áo nữa thôi.”
Alex Barr không thấy bộ ngực rắn chắc và cặp mông tròn căng. Anh cũng
chẳng nhìn thấy nước da trắng mịn hay cặp mắt xanh sâu thẳm. Anh không
thấy một phụ nữ ngoài ba mươi tuổi cao lớn và đầy đặn. Anh không nhìn
thấy một phụ nữ xinh đẹp trong tranh của Dali và Artzybasheff.
Anh thấy chiếc nhiệt kế cắm vào cặp mông tròn căng. Anh nhìn thấy tờ
biểu đồ được đánh dấu ngày và giờ với những dấu kiểm tra màu đỏ đổi lấy
thời hạn sống. Anh nhìn thấy những chiếc taxi thở hổn hển trên lề đường,
chờ đợi chất lỏng của sự sống tới mức những người nhận được một cuộc
sống mới đáng thèm muốn có thể nhanh chóng đổ xô tới bác sĩ phụ khoa,
người sẽ tiêm thứ chất lỏng của sự sống vào trong cổ tử cung. Anh thấy tinh
trùng di chuyển chậm chạp dưới kính hiển vi (đầy đủ nhưng lười biếng) và
hình ảnh rõ ràng của ống Fallop được bơm thuốc để xác định khuyết tật gây
vô sinh nằm ở đâu.
Anh nhìn thấy chính anh, Alexander Barr, như một con ngựa đực vô sinh,
được mua với giá cao, kiểm tra đi kiểm tra lại, huyênh hoang về mầm lúa mì
cho tới khi những núm tua mọc lên trong tai anh - Alex Barr, con ngựa đực ở
trại ngựa giống không thể làm cho con ngựa cái tự nguyện sinh đẻ được.
Khoái lạc thể chất vẫn còn đó, nếu có thể quên được những chiếc nhiệt kế,
chiếc bơm phun vào cổ tử cung, những chiếc taxi đang đợi, tư thế ngồi xổm,
những ống dẫn trứng đã làm sạch và quyển lịch có đánh dấu đỏ - nếu có thể
quên được sự ngờ nghệch vụng về của những bao cao su kiểu cũ, là cái anh
đã không dùng từ hồi học đại học, là cái khuấy động sự vui vẻ nhất thời và
dương vật không còn cương lên được - thì vâng, khoái lạc thể chất vẫn có.
Và Amelia là một phụ nữ thật xinh đẹp, nếu bạn thích những bức tranh hỗn
hợp bởi Dali hoặc Artzybasheff, trong đó máy móc thống trị xác thịt.
“Anh sẽ không đến Hazeltines muộn bữa tối hoặc bất kỳ cái gì khác một
lần nào nữa. Anh hứa với em đấy.” Những từ ngữ được đều đều thốt ra từ
đôi môi mỏng của Alex Barr một cách cứng rắn, giống như những chú lính
chì nhỏ. “Vì anh không định đến Hazeltines ăn tối.”

“Anh đang nói cái gì vậy?” Giọng Amelia thực sự bực tức khi nàng nhìn
sang chồng đang vừa dùng một tay nhét áo sơmi vào trong quần, tay kia sờ
soạng trong tủ áo, lần mò tìm chiếc ca vát.
“Anh sẽ không đến Hazeltines, không bây giờ, không ngày mai, không
bao giờ, để ăn tối hoặc để làm bất kỳ cái gì”. Lần này anh đã tìm được ca
vát, chiếc màu xanh, và nhanh chóng thắt nó một cách cẩu thả. Anh vớ lấy
chiếc áo khoác vắt trên thành ghế.
“Anh ra ngoài đây.”
Amelia cau mày lắc đầu. Mớ tóc thắt bím nhảy lên nhảy xuống như con
ếch sau vai cô.
“Ra ngoài đâu? Có chuyện gì xảy ra với anh vậy?”
“Anh không hề có chút ý nghĩ nào để trả lời cho cả hai câu hỏi này,” Alex
Barr nói và lảo đảo biến vào bóng tối của đêm tháng Tám. Đêm xuống chẳng
giúp được gì hơn ban ngày. Trời vẫn đầy hơi nước, hôi hám với cái độ ẩm
cao không thể khắc phục được, một nỗi ô nhục đặc trưng của New York.
Mùi nhựa đường chảy vẫn sực lên trong bóng đêm vừa đổ xuống. Alex Barr
đang trong cơn thịnh nộ không lý giải nổi, phát xuất từ một mớ cảm xúc một chút lo lắng, cáu kỉnh, kích động. Vừa đi anh vừa tự hỏi không biết anh
cáu kỉnh với cái gì, tại sao anh lại cảm thấy thất vọng đến như vậy, tại sao
anh lại tự biến mình thành trò cười chỉ vì một thứ đơn giản như bữa tối ở
Hazeltines.
“Tôi mệt mỏi,” Alex Barr thầm nói. “Mệt mỏi. Tôi phát ốm vì mọi thứ.
Tôi mệt mỏi vì phải đối phó. Tôi không muốn đương đầu với bất kỳ chuyện
gì nữa. Tôi muốn một ai đó làm điều gì đó cho tôi. Muốn có một cái gì đó
đáng để tâm hơn là đến muộn bữa tối ở nhà Hazeltines.”
Hình như với Alex Barr, có những ngày toàn là tin xấu - luỹ tích những
chuyện xấu. Tất nhiên, trước đây đã có nhiều tin xấu xảy ra, và anh đã đối
phó được. Anh đã luôn luôn đối phó. Anh là kẻ đối phó bẩm sinh. Anh đã
phát ốm vì là một kẻ đối phó bẩm sinh. Anh muốn, anh thầm nhủ, có một
chút vui thú không liên quan đến việc đối phó.
Có lẽ bản thông báo thường lệ nửa như xin lỗi của tổng biên tập tờ tạp chí
đã châm ngòi cho phản ứng này. Đó chẳng phải là một thông báo khác
thường; Alex có một hồ sơ đầy những thông báo như vậy. Nó thường chỉ

đơn thuần viết rằng, “Đây không hoàn toàn là cách giải quyết như tôi đã dự
kiến khi chúng ta nói chuyện. Có cái gì đó chưa ổn. Anh sẽ viết lại nó một
lần nữa chứ?”
March Mantell thì nhắn anh qua văn phòng đại diện thường trực. “Alex
thân mến, tôi biết điều này làm anh nhàm chán, nhưng tôi nghĩ đây là lúc có
thể cho Denby một nét nổi bật. Đây thật sự không giống như danh tiếng của
rượu nho Barr. Điều này hơi quá bất ngờ đối với độc giả của Denby. Tôi
nghĩ có lẽ anh đã phạm một sai lầm nhỏ khi để Steve bỏ Ellen. Thực sự chưa
đủ khiêu khích để lý giải cho sự tan vỡ một cuộc hôn nhân chắc chắn đến
như thế. Không chỉ đơn giản là một ngày nóng nực đâu. Anh sẽ thử lại lần
nữa chứ. Và xin hãy tự bảo trọng. Có lẽ anh cần đi chuyến nữa đến Úc hay
Châu Phi hoặc đâu đó. Tôi nghĩ anh đã ở New York lâu quá rồi...”. Còn
nhiều nữa, bao gồm những khoản ghi nợ chảy nước mắt. Ở New York vào
mùa hè, những khoản ghi nợ, giống như nhựa đường, hình như luôn có xu
hướng chảy nước.
Sau đó là bức thư thường lệ của dì Sal từ quê nhà, Carolina, liệt kê phí
tổn trong ba tháng vừa qua. Có thể thừa nhận một điều về dì Sal: Bà luôn tỉ
mỉ ghi lại khoản tiền đã tiêu phí không cần thiết cho những mối lợi đáng ngờ
của cha và mẹ Alex, và, dĩ nhiên, cho cả bản thân bà. Cũng có một danh mục
chi phí duy tu nhà của tổ chức Mantell. Kinh nghiệm lâu năm với các nhân
viên hoàn thuế thu nhập đã bảo cho Alex Barr trả mọi khoản bằng séc, và
nếu có thể được, thông qua tài khoản người đại diện của anh.
Danh mục hằng quý của tổ chức Mantell ghi lại những hóa đơn viện phí
mới đáng kinh hoàng của cha mẹ anh. Nếu như cha mẹ ai đó sưu tầm đồ sứ
cổ hoặc những con bướm hiếm, thì cha mẹ Alex lại sưu tầm những bệnh kỳ
cục không thể xảy ra được trong tâm trí và cơ thể buộc phải sử dụng nhà an
dưỡng cũng kỳ cục không kém và những chuyến xe cấp cứu đường dài. Tất
cả những gì xảy ra cho họ đều được coi là khẩn cấp. Họ không bao giờ viết
thư; họ gọi điện hoặc đánh điện. Cha của Alex, Martin, đơn thuần chỉ là luôn
say xỉn; ông vẫn chưa đạt tới giai đoạn tiêu tiền kinh niên.
“Nhưng,” một hôm Alex đã ghê tởm nói với người đại diện của anh,
Marc Mantell, “ông ấy đã già đâu. Còn sống thì còn hy vọng, tôi không
muốn Martin gây tai tiếng cho gia đình.”

Alex đã không cảm thấy khó chịu đến thế vào cái ngày thứ bảy nóng nực
này khi vứt bỏ chiếc áo choàng và bữa tối không mong muốn. Nỗi đau và sự
thương xót bản thân mới đúng là tâm trạng của anh. Anh chẳng cảm thấy dễ
chịu chút nào với yêu cầu rõ ràng là mang ý tốt của Marc Mantell rằng anh
cần tự chăm sóc mình. Đối với Alex có vẻ như tất cả mọi người, từ Amelia,
vợ anh, đến Marc Mantell, người đại diện của anh, đều cố thuyết phục anh tự
bảo vệ mình. Anh nghĩ, không bằng một nghệ nhân, nhưng cũng ngang một
người thợ lành nghề. Alex là nguồn năng lượng sơ khai truyền đi một cách
thích hợp từ chiếc bàn giấy bề bộn, đẩy gọn gàng lên danh mục sách bán
chạy nhất của tờ The Time và The Herald Tribune, quay trở lại tạo ra một
chút danh tiếng và một chút may mắn khá thường xuyên.
Nếu trời phú cho Alex một bản tính ngang bướng để đi lang thang dưới
tuyết mà không mang ủng và mắc chứng viêm phổi chết người, để cố ý say
mềm đến chết, để chết vì ung thư hoặc phung phí bộ óc vào một trong những
khoảnh khắc tuyệt vọng đen tối thường xuyên tấn công anh, anh thường có
cảm giác bức bối khó chịu rằng cả Amelia và Marc Mantell, cũng như cả cha
và mẹ anh, cả người thu thuế và luật sư của anh, cả những thư ký và nhà xuất
bản, tất cả đều xem như bản thân họ đang bị lừa đảo, như thể một người nào
đó đã lấy trộm của họ cái gì đó hữu hình cụ thể như một chiếc ô tô, một cái
áo lông chồn, hay có lẽ là việc bán một bộ phim.
Tất cả mọi người đều hài lòng với ý nghĩ phi thực tế coi Alex là người
không thể gục ngã, ngoại trừ chính bản thân Alex, người lúc nào cũng cảm
thấy muốn thét lên, ngồi sụp xuống đường rồi nức nở khóc cho đến khi ngủ
thiếp đi. Nhưng thường thì anh sẽ tự lôi mình dậy và tìm cách đối phó. Giờ
đây anh không muốn đối phó nữa. Đây là một trong những ngày để gào thét,
suy sụp và nức nở. Alex quyết định rằng đây chính là thời điểm tốt nhất
trong năm để đi ngay đến Tiera del Fuego.
Khi bước đi, mồ hôi bốc hơi trong bóng chiều chạng vạng, anh rầu rĩ nghĩ
rằng mình đã từng phải chịu sự bực bội mơ hồ kể từ chuyến đi tới Chicago
ấy. Chẳng có lỗi lầm gì; trước đó Alex Barr đã không chung thủy, và một
chút cắn rứt lương tâm không làm anh bị dày vò lâu khi thỉnh thoảng say
mềm rồi ngã vào một chiếc giường lạ. Không, chắc chắn đó không phải là lỗi
lầm thể xác; đó là sự bất mãn buồn rầu, bất mãn với Amelia, với cuộc sống

của họ, sự bất mãn chua chát với chính anh. Chicago đã mở ra một cánh cửa
mới - hơn thế nữa, nó đã mở lại một cánh cửa cũ. Cánh cửa ấy đã đóng sầm
lại khi chiến tranh chấm dứt, và anh trở về nhà để đối mặt với thực tế xám xịt
của hòa bình. Cái cánh cửa bí mật cũ kỹ đã vỡ tan chỉ trong khoảnh khắc, và
để lộ ra một Alex Barr mà anh đã gần như quên mất. Có lẽ người áy náy một
chút cho Barbara, nhưng có lẽ còn hơn cái chạm nhẹ nhàng thơm ngát của
Barbara Bayne, có lẽ còn hơn những cơ chế tàn nhẫn của tòa nhà mới xây, có
lẽ còn hơn lời thông báo John thân mến của tổng biên tập và của người đại
diện, có lẽ còn hơn tờ hóa đơn chán ngắt của bà dì Sal chán ngắt về những
khoản chi chán ngắt của hai bậc sinh thành cũng chán ngắt của anh, có lẽ còn
hơn cái ngày nóng bức không thể tả nổi và sự cáu kỉnh tất yếu với việc mặc
quần áo để dự cuộc tra tấn tao nhã tinh vi ở nhà Hazeltines - có lẽ nó đã gần
như là những bộ quân phục đáng ghét đó. Chắc chắn là Amelia nên tống
chúng đi. Cô thực sự không cần lưu giữ chúng cùng với tất cả những oán
ghét khác của cô trên tầng áp mái tòa nhà lớn ở New Jersey.
Ở tuổi 42, Alexander Barr đang ở một giai đoạn không ổn định để đương
đầu với cả những thất bại trong việc có con và kỷ niệm của một kỳ nghỉ hạnh
phúc gần đây từ trách nhiệm người chồng, lỗi lầm sôi động trong chuyến
phiêu lưu nhỏ mới đây ở Chicago với Barbara Bayne. Vào cái thời khắc ẩm
ướt này, anh cũng nhớ đến Sheila với lòng thương hại.

CHƯƠNG 2
Alex Barr đang lục lọi khắp cái kho chứa đồ trên gác ngôi nhà ở New
Jessey để tìm chiếc áo vét mặc đi câu cá đã bị thất lạc từ lâu thì trông thấy bộ
quân phục. Tất cả chúng: Bộ quần áo màu xanh vải gabađin, áo choàng, áo
mưa, mũ (cả mũ lưỡi trai và mũ calô), thậm chí cả một số bộ quần áo màu
xám kinh khủng mà Ernie King quá cố đã quảng cáo là loại vải kaki bạc màu
rất đẹp. Chúng được treo sau chiếc màn che thoát khỏi đôi mắt của anh - mà
anh lại là kẻ nghiện lục lọi cái tầng gác mái của mình - trong suốt những năm
kể từ khi quân Nhật ngừng bắn và anh được trở về nhà.
Anh mỉm cười khi thấy chiếc mũ sỹ quan còn đầy đủ dải viền vàng trên
lưỡi trai.
“Ơn Chúa,” Alex Barr nói to - một thói quen đang ngày càng trở nên phổ
biến, và thường làm anh khó chịu, khi anhthôi không nghĩ về nó, “ơn Chúa,
mình thật sự mong quay về thời gian còn ước muốn chiếc mũ này với tất cả
sự hăng hái. Nó dường như chẳng dễ dàng gì vào cái lúc quân Nhật phản bội
mình bằng cách phủi tay nhanh đến như vậy.”
Anh đội chiếc mũ sỹ quan lên đầu và đi xuống nhà dưới tìm gương. Chiếc
mũ trông cũng hợp với bộ đồng phục nhà văn gồm áo nịt len và quần anh
đang mặc, vì vậy anh quay trở lại tầng gác và giũ tung bộ quần áo màu xanh
với đường viền vàng đã mờ trên hai ống tay áo. Anh mặc vội chiếc áo khoác,
cài kín khuy cổ chiếc áo nịt len màu xanh, giống một thuỷ thủ tàu ngầm Đức,
và liếc nhìn bóng mình trong gương, hếch chiếc lưỡi trai đỏm dáng lệch sang
bên. Chiếc áo khoác vẫn vừa vặn một cách dễ chịu.
“Ơn Chúa,” anh lại nói to. “Mình đã trở thành một sỹ quan bàn giấy điển
trai. Ai biết được? Nếu chiến tranh còn kéo dài vài năm nữa thì thậm chí
mình có thể trở thành một đô đốc hậu cần cũng nên.” Chẳng phải ngon xơi
đâu, anh nghĩ. Hải quân đã có quá nhiều đô đốc hậu cần mặt đầy trứng cá từ
khi họ thôi không phong thiếu tướng thanh niên cho những thuyền trưởng
thiếu niên.
Anh nhún vai trước cái áo vét, và quyết định sẽ gửi nó cho Đội quân cứu
tế, hoặc một ai đó, vào một ngày nào đó. Chiếc mũ sỹ quan đầy đủ sẽ có thể

làm cho mọi người khỏi cười phá lên. Chí ít nó là một món đồ hài hước, như
bộ huy chương anh đã gom góp được và chỉ là biểu hiện cho một đức tính
anh hùng mà anh chưa bao giờ thừa nhận, ngay cả khi nó trói buộc anh.
Anh quay xuống dưới phòng làm việc, và, như thường lệ, hơi giật mình
không thấy Amelia đang nằm sấp đọc sách trên chiếc đivăng trong căn
phòng nhỏ. Amelia chưa bao giờ ra khỏi ngôi nhà Jersey. Anh thật sự không
hiểu nổi cái tư thế bất tiện của Amelia khi nàng đọc. Nhưng anh thì có bao
giờ hiểu rõ Amelia, trừ một điều: Anh hiểu rằng nàng có một thiên hướng rõ
rệt, một thiên hướng tận tâm khám phá chỉ để biết những sự việc nhỏ nhặt
mà cuối cùng hóa ra là khó chịu, nếu không nói thẳng là kinh tởm. Anh đã
hiểu điều đó. Việc tìm bới những khuyết tật nhỏ này trong tính cách anh nảy
sinh từ khi cuối cùng anh đã đứng thất kinh khi tổng kết những lỗi lầm của
mình, tổng kết những lời ta thán nhỏ nhặt nàng đã thốt ra qua nhiều năm.
Anh cho rằng đó là những gì đang xảy ra - đã xảy ra - với cuộc hôn nhân.
Điều đó - và anh không thể ngăn được một cái cười bực dọc xấu hổ - và thực
tế là anh đã đóng góp nhiều hơn bình thường những lời châm chọc nếu một
cô gái gặp khó khăn.
“Mình đã làm hỏng một món đồ đẹp,” anh nói to. “Nhưng mình tự hỏi
không biết tại sao cô ấy lại giữ những bộ quân phục chết tiệt này suốt chừng
ấy năm? Đó phải chăng là một kiểu hành xác để nhắc cô ấy cái thời đã qua,
cái thời duy nhất mình không có nhà mà không bị nghi là có những niềm
đam mê khác hoặc có những người đàn bà khác?”
Đã qua lâu rồi từ khi Alex Barr thật sự mang những ý nghĩ nặng nề về
chiến tranh. Những ý nghĩ ích kỷ khác đã chiếm giữ anh; sự phiền nhiễu
phức tạp về tài chính, những rắc rối trong cốt truyện, và sự cáu kỉnh về việc
liệu anh sẽ dùng văn phong hồi cổ trong cuốn truyện mới này, hay chỉ thử
phối hợp nó và có cơ làm độc giả nhàm chán. Khi AlexBarr thai nghén cuốn
sách mới, như Amelia sẽ là người đầu tiên nói với bạn, anh là người hầu như
vô dụng. Alex Barr thực sự bỏ rơi Amelia khi anh làm việc; điều đầu tiên
phải nói là anh luôn bỏ rơi nàng, vượt quá sự thành thực say đắm đối với
những đam mê của bạn. Nỗi đam mê dành cho những thích thú của riêng anh
đã giết chết nhiều cuộc đối thoại giữa họ. Alex Barr là loại đàn ông không
muốn biểu hiện niềm đam mê của mình ra bên ngoài, vì anh ghét phải thừa

nhận sự thật khắc nghiệt về những khuyết điểm riêng. Anh biết anh có
chúng, những khuyết điểm thoáng qua đó, nhưng nếu anh phớt lờ chúng, có
lẽ một ngày nào đó chúng sẽ mất đi. Đó là lý do tại sao anh không bao giờ
cho người đại diện của anh biết bản thảo ban đầu của một cuốn sách; anh
muốn nó được gọt giũa kỹ càng và làm tròn các góc cạnh trước khi nó khơi
ra một cuộc chỉ trích. Đó là lý do tại sao, từ nhiều năm nay, anh không bao
giờ nói chuyện với Amelia về những đề tài của anh - có lẽ, anh nhớ lại với sự
tự phê phán đau đớn - đó là lý do tại sao nàng cảm thấy xa lạ với công việc
và cuộc đời anh. Nực cười làm sao một thuyền trưởng chỉ cảm thấy hạnh
phúc khi anh ta hoặc sống độc thân và rầu rĩ hoặc lái thuyền đi và trở nên vui
sướng. Có lẽ đó là lý do khiến anh cảm thấy dễ chịu đến thế suốt cuộc chiến
tranh dài đằng đẵng vừa qua. Cuộc chiến tranh chỉ là một hoạt động kéo dài
của đêm trước lễ Giáng sinh, ngay cả sau khi bạn đã bỏ đi và liều mạng một
chặng đường dài. Sau đó chẳng có ai chỉ trích bạn vì đã bỏ đi. Không có
những cuộc xung đột được biết trước và sau đó không có sự trả đũa của
người vợ. Chính phủ đã tài trợ cho chuyến đi. Bạn có thể làm một lãng tử
được trả bằng tiền thuế, với đầy đủ con dấu cho phép chính thức của Tổng
thống Roosevelt.
“Tôi phải nói, thưa ngài sỹ quan,” Alex Barr nói to một lần nữa khi anh
nhìn chiếc bàn bề bộn và trang giấy mới đánh được một nửa trên chiếc máy
chữ cổ hiệu Underwood đang chọc những lỗ thủng, lại đúng chữ “o”. “Tôi
phải nói rằng đối với một quí bà ngài chỉ là một món hời không hơn, nhất là
với những quí bà có quan niệm kỳ quặc rằng chồng thỉnh thoảng về nhà để
ăn cơm, và hoàn toàn có thể thảo luận công việc hằng ngày ở văn phòng.”
Sự dè dặt vô lý trong việc chia xẻ bất cứ chuyện gì này đã được áp dụng
ngay cả vào chiến tranh. Do thực sự không có mục đích của mình, khá nhiều
điều thú vị đã xảy đến với Alex Barr trong thời chiến, và anh hiếm khi có thể
đưa chính mình ra để nói đến chúng. Một lần đã có người hỏi anh: “Nhưng
ông đã làm cái gì trong bốn năm chiến tranh ấy?” Và anh đã trả lời, không có
ý thô lỗ,
 
Gửi ý kiến