Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
_thanh-cat-tu-han-va-su-hinh-thanh-the-gioi-hien-dai

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:39' 02-02-2026
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:39' 02-02-2026
Dung lượng: 3.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
epub©vctvegroup
26-9-2018
LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ
(cho ấn bản tại Việt Nam)
THÀNH CÁT TƯ HÃN là nhà chinh phạt vĩ đại nhất trong lịch sử
thế giới. Không nhà chinh phạt phương Tây nào chinh phục được dù
chỉ một nửa số dân hay đất đai của Thành Cát Tư Hãn. Sau khi đế
quốc của ông ra đời vào năm 1206, nó tiếp tục mở rộng suốt gần
một thế kỷ, và cuối cùng kéo từ Thái Bình Dương tới Địa Trung Hải,
và từ Bắc Băng Dương tới Biển Ả-rập. Đế quốc Mông Cổ là đế quốc
duy nhất trong lịch sử bao gồm cả Trung Quốc và Nga, cũng như
nhiều đất nước nhỏ hơn từ Triều Tiên tới Iran, Afghanistan, Syria,
Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ. Với một đội quân chỉ vỏn vẹn mười vạn lính,
quân Mông Cổ đánh bại các đế quốc hàng triệu lính. Dường như
không đất nước nào có thể chống lại đội quân Mông Cổ hùng mạnh.
Chỉ có một thất bại lớn duy nhất trong các cuộc chinh phục của
Mông Cổ: Việt Nam. Đi ngựa bằng đường bộ từ Trung Quốc, rồi
bằng tàu băng qua đại dương, quân Mông Cổ đã nhiều lần cố gắng
xâm chiếm các vương quốc thuộc Việt Nam ngày nay, và dù họ
thắng vài trận đánh, họ không bao giờ có thể sáp nhập Việt Nam
vào đế quốc của mình. Mông Cổ cũng thất bại khi xâm lược Nhật
Bản và Java bằng đường biển, nhưng Việt Nam là nơi duy nhất họ
thất bại cả trên đất liền và biển khơi.
Hầu hết các quốc gia tan rã và thất thủ khi Mông Cổ xâm lược,
nhưng Việt Nam đoàn kết lại và lần đầu xuất hiện trên trường thế
giới. Dù tôi chỉ là một người nước ngoài với rất ít hiểu biết về lịch sử
Việt Nam, tôi thấy rằng có vẻ thời Nguyên Mông là một trong những
giai đoạn quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Các cuộc chiến chống
quân Nguyên đã gắn kết những nhóm người rất khác nhau ở các
vương quốc khác nhau lại để bắt đầu tạo nên đất nước Việt Nam
hiện đại. Triều Nguyên Mông là khởi điểm cho thời kỳ hiện đại của
Việt Nam, và nâng vị thế nước này lên cao hơn nhiều so với các
vương quốc nhỏ hơn trước đó.
Tôi cũng thấy một ảnh hưởng quan trọng thứ hai của thời kỳ này
tới lịch sử Việt Nam. Nhà Nguyên tồn tại tới năm 1368, và trong
phần lớn thời gian này họ cai trị Trung Hoa và Triều Tiên ở Đông Á,
cũng như Iran và Iraq ở Tây Á, nhưng để kết nối hai phần này của
đế quốc bằng đường biển, họ cần quan hệ hòa hữu với Việt Nam.
Do vậy, Việt Nam trở thành một phần quan trọng của hệ thống kinh
tế thế giới mới ra đời này. Tàu nhà Nguyên cần dừng ở cảng Việt
Nam để lấy đồ tiếp tế, và nhà Nguyên cần phải hợp tác với Việt
Nam. Việt Nam trở thành một phần không thể thiếu trên Con đường
Tơ lụa trên biển liên kết Đông Á và Indonesia với Ấn Độ, Tây Á, bán
đảo Ả-rập và châu Phi. Triều đại Nguyên Mông là khi Việt Nam tự
chứng tỏ các bạn là một đất nước hùng mạnh về chính trị, quân sự
và kinh tế.
Tôi cũng có một lý do nữa để viết lời tựa đặc biệt này cho ấn bản
tiếng Việt của cuốn sách này. Lý do này rất cá nhân. Khi tôi còn trẻ,
cha tôi đã tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Ông đã tham gia Thế
chiến II chống quân Phát xít, và dù chỉ là một người lính bình
thường với học thức thấp, ông vẫn rất tự hào vì đã phục vụ đất
nước mình với tư cách người lính. Ông đã lớn tuổi hơn khi tới Việt
Nam, và chỉ là một đầu bếp. Khi cha tôi trở về từ Việt Nam, tôi đã đủ
tuổi nhập ngũ, nhưng cha không cho tôi đi. Ông nói rằng cuộc chiến
này là sai trái. Ông đã tham gia vào cuộc chiến, các con trai ông
không nên đi. Chúng ta không nên tham chiến.
Cha tôi trở về từ Việt Nam và bị nhiễm chất độc màu da cam do
quân đội Hoa Kỳ đã rải bom hóa học xuống đây. Ông chết một cách
chậm chạp, khó khăn và đầy đau đớn. Một cách từ từ, tôi cùng sáu
anh chị em nhìn cha chết bởi cuộc chiến kinh khủng này. Vào thời
gian đó, tôi nhìn thấy những tổn hại mà cuộc chiến này gây ra cho
cha và gia đình tôi. Dù chiến tranh đã lùi xa, nỗi đau vẫn còn lại.
Nhưng chúng tôi chỉ là một gia đình nhỏ. Tôi biết ở Việt Nam, hàng
triệu người phải chịu những nỗi đau còn tồi tệ hơn, và nỗi đau của
họ vẫn còn tiếp tục rất lâu sau khi những trái bom ngừng rơi và lính
Mỹ đã trở về nhà.
Từ chương sách buồn này trong cuộc đời cha tôi, tôi học được
cách tôn trọng người Việt Nam, cả vì nỗi đau và lòng dũng cảm của
họ. Tôi mong rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ dùng những vũ khí
này chống lại bất kỳ ai khác, và tôi hi vọng rằng sau giai đoạn đau
buồn này trong lịch sử hai nước, chúng ta có thể mãi trở thành bạn.
Không bên nào nên quên lãng cuộc chiến, nhưng chúng ta không
nên để hồi ức này cản trở việc cả hai trở thành đồng minh trong
tương lai.
Người dân và quân đội Việt Nam đã cho thấy lòng dũng cảm phi
thường khi chống lại quân Mông Cổ tấn công bằng đường bộ và
đường biển vào thế kỷ mười ba. Người dân và quân đội Việt Nam
đã cho thấy lòng dũng cảm phi thường khi chống lại quân đội Mỹ tấn
công bằng đường biển và đường không vào thế kỷ hai mươi. Người
dân Việt Nam đã đấu tranh quật cường để giành được độc lập và tự
do trong quá khứ. Họ xứng đáng có được vị trí độc tôn trong lịch sử
thế giới và trong hệ thống hiện đại toàn cầu. Tôi hy vọng Việt Nam
giờ đây sẽ mãi mãi mạnh mẽ, độc lập và tự do mà không cần phải
tham gia cuộc chiến nào nữa.
Mong Việt Nam sẽ mãi tồn tại trong thịnh vượng và hòa bình!
Vị vua cao quý này mang tên Thành Cát Tư Hãn,
Trong thời ngài danh tiếng lẫy lừng
Tới mức không nơi đâu ở bất cứ vùng nào
Lại có vị chúa tể xuất chúng về mọi mặt như vậy.
GEOFFREY CHAUCER,
“Truyện của địa chủ,”
Những câu chuyện xứ Canterbury (khoảng năm 1395)
MỞ ĐẦU
NHÀ CHINH PHỤC MẤT TÍCH
Thành Cát Tư Hãn là người hành động
WASHINGTON POST, 1989
NĂM 1937, linh hồn Thành Cát Tư Hãn đã biến mất khỏi tu viện
Phật giáo ở miền trung Mông Cổ, bên dòng Nguyệt Giang dưới chân
dãy núi Shankh ảm đạm, nơi nó được các Lạt Ma trung thành bảo
vệ và thờ phụng suốt nhiều thế kỷ. Suốt thập niên 1930, khoảng ba
vạn người Mông Cổ đã chết trong một chuỗi các chiến dịch đàn áp
văn hóa và tôn giáo bản địa của Liên Xô. Binh lính tàn phá tu viện,
lần lượt từng nơi một, bắn sư sãi, cưỡng bức nữ tu, đập vỡ vật thờ,
cướp bóc thư viện, đốt kinh sách, và san bằng các đền thờ. Nghe
nói có người đã bí mật giải cứu hiện thân của linh hồn Thành Cát Tư
Hãn khỏi Tu viện Shankh và đưa đi cất giữ ở thủ đô Ulaanbaatar, rồi
biến mất hẳn ở đó.
Qua hàng trăm năm, trên những thảo nguyên mênh mang sôi
động vùng Trung Á, một chiến binh kiêm người chăn gia súc mang
theo mình một Dải cờ thiêng, gọi là sulde, được làm từ lông các con
ngựa giống tốt nhất của mình và buộc vào cán một cây giáo, ngay
dưới phần lưỡi giáo. Mỗi khi dựng trại, chiến binh sẽ cắm dải cờ này
ngoài cửa lều để tuyên bố danh tính và làm vật bảo hộ vĩnh viễn. Dải
cờ thiêng luôn được cắm ngoài trời, dưới Thanh thiên Vĩnh hằng mà
người Mông Cổ tôn thờ. Khi những sợi lông bay trong ngọn gió thảo
nguyên không ngừng nghỉ, chúng thu năng lượng của gió, của bầu
trời, của mặt trời, và dải cờ truyền năng lượng này từ thiên nhiên tới
người chiến binh. Ngọn gió lùa qua sợi lông ngựa thôi thúc những
ước mơ của người chiến binh và cổ vũ anh ta theo đuổi định mệnh
của mình. Sợi lông ngựa phất phơ trong gió ra hiệu cho anh ta luôn
luôn tiến lên phía trước, đẩy anh ta khỏi chốn cũ để tìm đến những
nơi mới, đến những đồng cỏ tốt hơn, tìm kiếm những cơ hội và thử
thách mới, để tự tay kiến tạo nên số phận cho đời mình trong thế
giới này. Mối liên kết giữa một người với Dải cờ thiêng của anh ta
chặt chẽ đến mức người ta nói rằng khi người ấy chết đi, linh hồn
chiến binh vĩnh viễn nằm lại trong búi lông ngựa đó. Khi người chiến
binh còn sống, dải cờ lông ngựa mang theo số phận của anh ta; sau
khi chết, nó hóa thân thành linh hồn của anh ta. Thể xác nhanh
chóng bị bỏ lại với tự nhiên, nhưng linh hồn còn sống mãi trong búi
lông ngựa để tiếp tục truyền cảm hứng cho những thế hệ tương lai.
Thành Cát Tư Hãn có một dải cờ từ lông ngựa trắng để dùng
trong thời bình, và một từ lông ngựa đen để dẫn lối trong chiến trận.
Dải cờ trắng đã sớm biến mất khỏi lịch sử, song dải cờ đen vẫn tồn
tại để lưu giữ linh hồn ông. Nhiều thế kỷ sau khi ông mất, người dân
Mông Cổ vẫn thờ phụng dải cờ nơi linh hồn ông yên nghỉ. Vào thế
kỷ mười sáu, một hậu duệ của ông, Lạt Ma Zanabazar, đã xây dựng
tu viện với mục tiêu đặc biệt là treo và bảo vệ dải cờ này. Dù mưa
dông hay bão tuyết, ngoại xâm hay nội chiến, hơn một ngàn vị sư
theo Hoàng Mạo phái của Phật giáo Tây Tạng đã canh giữ dải cờ
này với niềm vinh dự lớn lao, nhưng ngay cả họ cũng chẳng phải đối
thủ của nền chính trị toàn trị thế kỷ hai mươi. Các nhà sư đã bị sát
hại, và Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn biến mất.
Định mệnh không trao số phận cho Thành Cát Tư Hãn; tự tay
ông đã viết nên số phận mình. Khó lòng nghĩ đến chuyện ông có đủ
ngựa để tết được một Dải cờ thiêng, chứ đừng nói là còn theo dải
cờ đó đi khắp thế giới. Cậu bé mà sau này trở thành Thành Cát Tư
Hãn lớn lên trong một thế giới đầy rẫy bạo lực giữa các bộ lạc, bao
gồm giết chóc, bắt cóc và nô lệ. Là con trai một gia đình bị ruồng bỏ
tới chết giữa thảo nguyên, cả tuổi thơ ông có lẽ chỉ gặp vài trăm
người, và không được giáo dục đàng hoàng. Từ bối cảnh khắc
nghiệt này, ông học được – chi tiết đến kinh hoàng – mọi cung bậc
cảm xúc của con người: ham muốn, tham vọng và sự tàn bạo. Khi
còn là một đứa trẻ, ông đã giết người anh cùng mẹ khác cha của
mình, bị bộ lạc thù địch bắt làm nố lệ, và rồi trốn thoát được.
Sống trong hoàn cảnh khủng khiếp như vậy, cậu bé đã thể hiện
bản năng sinh tồn và tự bảo toàn mạng sống, song không bộc lộ
nhiều hứa hẹn về những thành tựu mà sau này ông đạt được. Lúc
còn bé, ông sợ chó và rất dễ khóc. Em trai ông khỏe hơn, bắn cung
và đấu vật cũng hơn ông; người anh cùng mẹ khác cha thường sai
bảo và trêu chọc ông. Thế nhưng, từ xuất thân hèn kém như vậy –
thường xuyên phải chịu đói, chịu nhục, bị bắt cóc và làm nô lệ – ông
bắt đầu chặng đường dài vươn tới quyền lực. Trước khi tới tuổi dậy
thì, ông đã có được hai mối quan hệ quan trọng nhất đời mình. Ông
thề kết nghĩa và trung thành vĩnh viễn với một cậu bé hơn ông ít
tuổi, người trở thành bạn thân nhất của ông thời niên thiếu, và kẻ
thù lớn nhất khi cả hai trưởng thành; và ông tìm thấy cô gái mà ông
yêu thương suốt đời, người ông chọn làm mẹ của mọi hoàng đế sau
này. Tuổi trẻ của Thành Cát Tư Hãn chứa đựng cả tình bạn và sự
thù địch – sự giằng xé này kéo dài xuyên suốt cả cuộc đời, và trở
thành nét quyết định tính cách của ông. Những câu hỏi đẩy dằn vặt
về tình yêu và tình phụ tử sinh ra từ dưới một tấm chăn đắp chung
hay trong ánh lửa chập chờn của bếp sưởi gia đình, đã được phóng
chiếu lên sấn khấu rộng lớn của lịch sử thế giới. Mục tiêu, ước
nguyện, và nỗi sợ của cá nhân ông bao trùm cả địa cầu.
Từ năm này qua năm khác, ông dần đánh bại hết những người
quyền lực hơn mình, cho tới khi chinh phục được mọi bộ lạc trên
thảo nguyên Mông Cổ. Ở tuổi năm mươi, khi phần lớn những nhà
chinh phục vĩ đại đã bỏ những năm tháng chinh chiến lại đằng sau,
Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn lại vẫy gọi ông rời khỏi quê
hương xa xôi để đối đầu với đội quân của các dân tộc văn minh,
những kẻ đã sách nhiễu và nô dịch các bộ lạc du mục suốt nhiều thế
kỷ. Trong những năm còn lại của cuộc đời, ông đi theo Dải cờ thiêng
ấy tới những thắng lợi liên tiếp, vượt qua sa mạc Gobi* và sông
Hoàng Hà, tới các vương quốc ở Trung Hoa, qua miền đất Trung Á
của người Turk và Ba Tư, và vượt các dãy núi của Afghanistan tới
sông Ấn.
Trong các cuộc chinh phạt nối tiếp nhau, quân Mông Cổ biến
chiến tranh thành một sự kiện xuyên lục địa với giao tranh diễn ra
trên nhiều mặt trận trải dài nhiều ngàn dặm. Kỹ thuật chiến đấu sáng
tạo của Thành Cát Tư Hãn biến các hiệp sĩ giáp sắt nặng nề của
châu Âu trung cổ thành thứ lỗi thời, và thay thế họ bằng kỵ binh có
kỷ luật di chuyển thành từng nhóm phối hợp. Thay vì lệ thuộc vào
những công sự phòng thủ, ông tận dụng tài tình tốc độ và sự bất
ngờ trên chiến trường, cũng như hoàn thiện công thành chiến đến
mức chấm dứt luôn thời đại của các thành phố có tường bao. Thành
Cát Tư Hãn không chỉ dạy quân của ông chinh chiến ở những
khoảng cách không tưởng, mà còn hướng dẫn họ duy trì chiến dịch
của mình qua nhiều năm, nhiều thập niên, và cuối cùng, qua hơn ba
thế hệ chiến đấu không ngừng nghỉ.
Trong vòng hai mươi lăm năm, quân đội Mông Cổ đã chiếm
được nhiều đất và người hơn người La Mã trong suốt bốn trăm
năm. Thành Cát Tư Hãn, cùng với các con và cháu của mình, đã hạ
gục những nền văn minh đông dân nhất của thế kỷ mười ba. Dù tính
theo số lượng người bại trận, tổng số quốc gia bị thôn tính, hay tổng
diện tích đất bị chiếm đóng, Thành Cát Tư Hãn đều đã chinh phục
nhiều hơn gấp bội so với bất kỳ người nào khác trong lịch sử. Vó
ngựa quân Mông Cổ đã làm toé nước mọi sông hồ từ Thái Bình
Dương tới Địa Trung Hải. Khi cực thịnh, đế quốc này bao trùm một
khu vực trải khắp 11 tới 12 triệu dặm vuông liên tiếp, bằng diện tích
châu Phi và lớn hơn nhiều Bắc Mỹ – bao gồm Hoa Kỳ, Canada,
Mexico, Trung Mỹ và vùng đảo Caribe hợp lại. Nó trải từ lãnh
nguyên Siberia tuyết phủ tới đồng bằng nhiệt đới Ấn Độ, từ cánh
đồng lúa gạo Việt Nam tới cánh đồng lúa mì Hungary, từ bán đảo
Triều Tiên tới bán đảo Balkan. Phần lớn con người ngày nay sống ở
các nước từng bị quân Mông Cổ xâm chiếm; trên bản đồ hiện đại,
cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn bao gồm ba mươi quốc gia
với hơn ba tỉ dân. Khía cạnh bất ngờ nhất của thành tựu này là toàn
bộ bộ lạc Mông Cổ dưới trướng ông chỉ vỏn vẹn khoảng một triệu
người, ít hơn số nhân công của nhiều công ty ngày nay. Từ một triệu
người này, ông tuyển ra không tới mười vạn lính – dễ dàng chứa
được trong các sân vận động lớn của thời hiện đại.
Nói theo kiểu Mỹ, thành tựu của Thành Cát Tư Hãn có thể hiểu
theo cách là nước Mỹ, thay vì được sáng lập bởi một nhóm thương
nhân có học và chủ đồn điền giàu có, thì lại là do một tên nô lệ
không biết chữ, chỉ nhờ nhân cách, sức lôi cuốn, và quyết tâm, đã
giải phóng Hoa Kỳ khỏi sự cai trị của ngoại bang, đoàn kết dân
chúng, tạo ra bảng chữ cái, viết hiến pháp, đề ra tự do tôn giáo toàn
diện, sáng tạo ra hệ thống chiến tranh kiểu mới, đưa quân đội hành
quân từ Canada tới Brazil, và mở đường thông thương trong một
khu vực thương mại tự do xuyên suốt nhiều châu lục. Trên mọi cấp
độ và từ mọi phương diện, quy mô và phạm vi của những thành tựu
của Thành Cát Tư Hãn thách thức các giới hạn của trí tưởng tượng
và mọi phương pháp lý giải hàn lâm.
Khi kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn tràn qua thế kỷ mười ba, ông
đã vẽ lại ranh giới của thế giới. Công trình của ông không phải bằng
đá, mà là bằng các quốc gia. Không bằng lòng với một số lượng lớn
các tiểu vương quốc, ông hợp nhất nhiều nước nhỏ thành các nước
lớn hơn. Ở Đông Âu, quân Mông Cổ thống nhất một tá các tiểu
vương quốc Slav và thành phố thành một nước Nga rộng lớn. Ở
Đông Á, qua ba thế hệ, họ tạo ra Trung Hoa bằng cách đan lại với
nhau những tàn tích của nhà Tống ở phía nam với vùng đất của
người Nữ Chân* ở Mãn Châu, Tây Tạng ở phía tây, Tây Hạ* tiếp
giáp sa mạc Gobi, và đất của người Duy Ngô Nhĩ* ở phía đông
Turkistan*. Khi người Mông Cổ mở rộng khu vực cai trị, họ tạo ra
những quốc gia như Triều Tiên và Ấn Độ. Những nước này vẫn tồn
tại tới ngày nay, với đường biên giới gần như không thay đổi từ khi
được người Mông Cổ tạo ra.
Đế chế của Thành Cát Tư Hãn liên kết và hợp nhất các nền văn
minh quanh ông thành một trật tự thế giới mới. Khi ông chào đời
năm 1162, Cựu Thế giới là một chuỗi các nền văn minh địa phương
hoàn toàn không biết gì về các nền văn minh khác ngoài những
nước láng giềng gần gũi nhất. Không ai ở Trung Hoa biết tới châu
Âu, cũng như không ai ở châu Âu từng nghe tới Trung Hoa, và theo
như hiểu biết thời bấy giờ, chưa có ai từng đi lại giữa hai nơi đó cả.
Tới khi qua đời năm 1227, ông đã kết nối hai nơi này bằng những
mối liên lạc ngoại giao và thương mại bền vững tới bây giờ.
Bằng cách đập vỡ hệ thống phong kiến coi trọng quyền lợi quý
tộc và xuất thân, ông đã xây dựng một hệ thống mới và độc đáo dựa
trên năng lực cá nhân, lòng trung thành và thành tích. Ông tập hợp
những thị trấn buôn bán rời rạc và trì trệ dọc theo Con đường Tơ lụa
và sắp xếp chúng thành khu vực thương mại tự do lớn nhất lịch sử.
Ông cắt giảm thuế cho tất cả mọi người, và bỏ hẳn sưu thuế với bác
sĩ, thầy dạy học, thầy tu và các cơ sở giáo dục. Ông thực hiện điều
tra dân số đều đặn, và tạo ra hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên. Đế
chế của ông không tích trữ của cải và kho báu; trái lại, ông phân
phát rộng rãi của cải thu được trong chiến đấu để chúng có thể quay
lại thông thương. Ông thiết lập một bộ luật quốc tế và tuyên bố luật
Thanh thiên Vĩnh hằng tối cao với mọi người dân. Vào thời điểm hầu
hết vua chúa đều đặt mình lên trên pháp luật, Thành Cát Tư Hãn
cương quyết rằng trước pháp luật vua chúa cũng chịu trách nhiệm
bình đẳng như người chăn gia súc hèn kém nhất. Ông công nhận tự
do tôn giáo trong lãnh địa của mình, cho dù ông đòi hỏi lòng trung
thành tuyệt đối từ mọi thần dân đã hàng phục, bất kể họ theo tôn
giáo nào. Ông tin vào pháp quyền và bãi bỏ việc tra tấn, nhưng ông
thực hiện các chiến dịch lớn để tìm và giết những kẻ lục lâm thảo
khấu và thích khách. Ông không chấp nhận giữ con tin và, thay vào
đó, thiết lập tập tục hoàn toàn mới là miễn trừ ngoại giao với mọi sứ
thần và sứ giả, bao gồm cả những người đến từ các quốc gia thù
địch đang chiến tranh với ông.
Thành Cát Tư Hãn để lại cho đế chế của ông một nền tảng vững
chãi tới mức nó tiếp tục lớn mạnh trong vòng 150 năm sau đó. Sau
đó, trong hàng trăm năm sau khi đế quốc ấy sụp đổ, hậu duệ của
ông tiếp tục cai trị nhiều đế quốc nhỏ và quốc gia lớn, từ Nga, Thổ
Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, tới Trung Hoa và Ba Tư. Họ có nhiều tước hiệu
khác nhau, như hãn, hoàng đế, sultan, vua, shah, emir và Đạt Lai
Lạt Ma*. Di sản đế chế này còn được hậu duệ của ông cai trị suốt
bảy thế kỷ. Nhiều người Mogul đứng đầu Ấn Độ tới năm 1857, khi
người Anh phế bỏ Hoàng đế Bahadur Shah II và chặt đầu hai con
trai và cháu trai ngài. Hậu duệ tại vị cuối cùng của Thành Cát Tư
Hãn, Alim Khan, emir của Bukhara, tiếp tục cầm quyền ở Uzbekistan
tới khi bị làn sóng Cách mạng Nga dâng cao lật đổ năm 1920.
Trong lịch sử, hầu hết các nhà chinh phục đều phải chịu cái chết
sớm và bi thảm. Ở tuổi ba mươi ba, Alexander Đại Đế qua đời một
cách bí hiểm ở Babylon, trong khi những kẻ phục tùng ông sát hại
cả gia đình ông và chia chác đất đai. Julius Caesar bị những người
cùng dòng dõi quý tộc với ông và đồng minh cũ đâm tới chết trong
phòng của Viện Nguyên lão La Mã. Sau khi phải nhìn thấy mọi chiến
tích chinh phục của mình bị hủy hoại và đảo ngược, Napoleon, cô
độc và cay đắng, một mình đối diện với cái chết khi bị biệt giam ở
một trong những hòn đảo xa xôi cách trở nhất hành tinh. Thế nhưng,
Thành Cát Tư Hãn, khi đó đã gần bảy mươi tuổi, đã mất trên chiếc
giường cắm trại của mình, giữa vòng vây đầy yêu thương của gia
đình, thân tín, và quân lính trung thành sẵn sàng mạo hiểm tính
mạng theo lệnh của ông. Mùa hè năm 1227, trong chiến dịch chống
lại Tây Hạ ở thượng lưu sông Hoàng Hà, Thành Cát Tư Hãn đã qua
đời – hay, theo cách nói của người Mông Cổ, những người cấm kị
việc nhắc tới chết chóc hay bệnh tật, ông đã “lên thiên đường.”
Nhiều năm sau cái chết của ông, lý do ông mất vẫn không được tiết
lộ, dẫn đến nhiều lời đồn đoán mà sau này trở thành truyền thuyết,
để rồi theo dòng chảy thời gian biến thành sự thật lịch sử. Plano di
Carpini, sứ giả cháu Âu đầu tiên tới Mông Cổ, ghi lại rằng Thành Cát
Tư Hãn chết vì bị sét đánh. Marco Polo, nhà thám hiểm đã có nhiều
chuyến đi khắp Đế chế Mông Cổ dưới thời Hốt Tất Liệt – cháu của
Thành Cát Tư Hãn, kể lại rằng ông qua đời sau khi bị tên đâm trúng
đầu gối. Một số người cho rằng kẻ thù không rõ danh tính đã đầu
độc ông. Có nguồn lại khẳng định ông đã chết vì phép thuật của vua
Tây Hạ khi đang giao chiến. Một câu chuyện được những kẻ chỉ
trích ông lan truyền nói rằng khi bị ông bắt giữ, hoàng hậu Tây Hạ
đã đưa một vật lạ vào vùng kín nhằm kéo đứt bộ phận sinh dục của
Thành Cát Tư Hãn khi quan hệ với bà, và ông đã chết trong đau đởn
cùng cực.
Trái ngược với những câu chuyện về cái chết của ông, việc
Thành Cát Tư Hãn chết trong căn lều ger của người du mục, về cơ
bản là tương tự như nơi ông ra đời, cho thấy thành công của ông
trong việc bảo tồn lối sống truyền thống của dân tộc mình; song, bất
ngờ là bằng cách bảo tồn lối sống của mình, ông đã thay đổi xã hội
loài người. Quân lính của Thành Cát Tư Hãn hộ tống thi thể vị hãn
của họ về quê hương Mông Cổ để bí mật chôn cất. Sau khi chết,
ông được những người theo hầu an táng vô danh trên mảnh đất quê
hương, không lăng tẩm, đền đài, kim tự tháp, hay thậm chí là cả một
tấm bia nhỏ đánh dấu nơi ông nằm lại. Theo tín ngưỡng Mông Cổ,
thân thể người chết nên được để trong yên bình, không cần lăng
mộ, vì linh hồn họ không còn đó nữa mà sẽ sống tiếp trong Dải cờ
thiêng. Khi được mai táng, Thành Cát Tư Hãn thẩm lặng biến mất
vào cõi thinh không mênh mang của miền đất Mông Cổ quê hương.
Không ai biết nơi an nghỉ cuối cùng của ông ở đâu, song bởi không
có nguồn tư liệu xác thực nhiều người đã tự tay viết nên lịch sử và
thêm thắt nhiều chi tiết kịch tính. Một câu chuyện thường được nhắc
lại là trong chuyến hành trình dài bốn mươi ngày, quân lính trong
đoàn đưa tang ông đã giết toàn bộ người và thú vật mà họ gặp trên
đường, và sau đám tang bí mật, tám trăm kỵ binh đã cưỡi ngựa
giẫm lên khu vực chôn cất nhiều lần để che giấu nơi đặt mộ. Sau đó,
theo lời kể đầy sáng tạo này, những kỵ binh này đã lại bị giết bởi
một toán lính khác nhằm đảm bảo họ không thể chỉ điểm nơi này; và
rồi những người lính này lại bị một nhóm chiến binh khác giết.
Sau khi ông được chôn cất bí mật ở quê nhà, quân lính cho
phong toả cả khu vực rộng vài trăm dặm vuông này. Không ai có thể
vào trừ người nhà Thành Cát Tư Hãn và một nhóm chiến bính tinh
nhuệ đóng quân ở đó nhằm hạ sát mọi kẻ xâm nhập. Trong gần tám
trăm năm, khu vực này – gọi là Ikh Khorig, vùng Đại Cấm địa nằm
sâu trong lòng châu Á – luôn đóng cửa im lìm. Mọi bí mật về đế chế
của Thành Cát Tư Hãn dường như đã bị khoá lại trong quê hương
thần bí của ông. Rất lâu sau khi Đế chế Mông Cổ sụp đổ, và khi một
phần nước Mông Cổ đã bị ngoại bang xâm chiếm, người Mông Cổ
vẫn ngăn cản bất kỳ ai đặt chân vào vùng đất linh thiêng của tổ tiên
họ. Dù người Mông Cổ cuối cùng đã cải sang đạo Phật, những
người nối ngôi Thành Cát Tư Hãn vẫn không cho phép các nhà sư
xây điện thờ, tu viện, hay đài tưởng niệm để đánh dấu mộ của ông.
Vào thế kỷ hai mươi, để đảm bảo nơi sinh và mất của Thành Cát
Tư Hãn không trở thành địa điểm tập kết của các nhà dân tộc học,
những người đứng đầu Liên Xô đã canh gác nơi đây rất cẩn mật.
Thay vì Đại Cấm địa hay bất kỳ tên gọi lịch sử nào có thể gợi nhắc
tới Thành Cát Tư Hãn, Liên Xô đặt cho nơi đây cái tên hành chính
Khu vực Hạn chế Cao. Về mặt hành chính, họ tách biệt nơi này với
các tỉnh lân cận và đặt nó dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính
26-9-2018
LỜI TỰA CỦA TÁC GIẢ
(cho ấn bản tại Việt Nam)
THÀNH CÁT TƯ HÃN là nhà chinh phạt vĩ đại nhất trong lịch sử
thế giới. Không nhà chinh phạt phương Tây nào chinh phục được dù
chỉ một nửa số dân hay đất đai của Thành Cát Tư Hãn. Sau khi đế
quốc của ông ra đời vào năm 1206, nó tiếp tục mở rộng suốt gần
một thế kỷ, và cuối cùng kéo từ Thái Bình Dương tới Địa Trung Hải,
và từ Bắc Băng Dương tới Biển Ả-rập. Đế quốc Mông Cổ là đế quốc
duy nhất trong lịch sử bao gồm cả Trung Quốc và Nga, cũng như
nhiều đất nước nhỏ hơn từ Triều Tiên tới Iran, Afghanistan, Syria,
Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ. Với một đội quân chỉ vỏn vẹn mười vạn lính,
quân Mông Cổ đánh bại các đế quốc hàng triệu lính. Dường như
không đất nước nào có thể chống lại đội quân Mông Cổ hùng mạnh.
Chỉ có một thất bại lớn duy nhất trong các cuộc chinh phục của
Mông Cổ: Việt Nam. Đi ngựa bằng đường bộ từ Trung Quốc, rồi
bằng tàu băng qua đại dương, quân Mông Cổ đã nhiều lần cố gắng
xâm chiếm các vương quốc thuộc Việt Nam ngày nay, và dù họ
thắng vài trận đánh, họ không bao giờ có thể sáp nhập Việt Nam
vào đế quốc của mình. Mông Cổ cũng thất bại khi xâm lược Nhật
Bản và Java bằng đường biển, nhưng Việt Nam là nơi duy nhất họ
thất bại cả trên đất liền và biển khơi.
Hầu hết các quốc gia tan rã và thất thủ khi Mông Cổ xâm lược,
nhưng Việt Nam đoàn kết lại và lần đầu xuất hiện trên trường thế
giới. Dù tôi chỉ là một người nước ngoài với rất ít hiểu biết về lịch sử
Việt Nam, tôi thấy rằng có vẻ thời Nguyên Mông là một trong những
giai đoạn quan trọng nhất lịch sử Việt Nam. Các cuộc chiến chống
quân Nguyên đã gắn kết những nhóm người rất khác nhau ở các
vương quốc khác nhau lại để bắt đầu tạo nên đất nước Việt Nam
hiện đại. Triều Nguyên Mông là khởi điểm cho thời kỳ hiện đại của
Việt Nam, và nâng vị thế nước này lên cao hơn nhiều so với các
vương quốc nhỏ hơn trước đó.
Tôi cũng thấy một ảnh hưởng quan trọng thứ hai của thời kỳ này
tới lịch sử Việt Nam. Nhà Nguyên tồn tại tới năm 1368, và trong
phần lớn thời gian này họ cai trị Trung Hoa và Triều Tiên ở Đông Á,
cũng như Iran và Iraq ở Tây Á, nhưng để kết nối hai phần này của
đế quốc bằng đường biển, họ cần quan hệ hòa hữu với Việt Nam.
Do vậy, Việt Nam trở thành một phần quan trọng của hệ thống kinh
tế thế giới mới ra đời này. Tàu nhà Nguyên cần dừng ở cảng Việt
Nam để lấy đồ tiếp tế, và nhà Nguyên cần phải hợp tác với Việt
Nam. Việt Nam trở thành một phần không thể thiếu trên Con đường
Tơ lụa trên biển liên kết Đông Á và Indonesia với Ấn Độ, Tây Á, bán
đảo Ả-rập và châu Phi. Triều đại Nguyên Mông là khi Việt Nam tự
chứng tỏ các bạn là một đất nước hùng mạnh về chính trị, quân sự
và kinh tế.
Tôi cũng có một lý do nữa để viết lời tựa đặc biệt này cho ấn bản
tiếng Việt của cuốn sách này. Lý do này rất cá nhân. Khi tôi còn trẻ,
cha tôi đã tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Ông đã tham gia Thế
chiến II chống quân Phát xít, và dù chỉ là một người lính bình
thường với học thức thấp, ông vẫn rất tự hào vì đã phục vụ đất
nước mình với tư cách người lính. Ông đã lớn tuổi hơn khi tới Việt
Nam, và chỉ là một đầu bếp. Khi cha tôi trở về từ Việt Nam, tôi đã đủ
tuổi nhập ngũ, nhưng cha không cho tôi đi. Ông nói rằng cuộc chiến
này là sai trái. Ông đã tham gia vào cuộc chiến, các con trai ông
không nên đi. Chúng ta không nên tham chiến.
Cha tôi trở về từ Việt Nam và bị nhiễm chất độc màu da cam do
quân đội Hoa Kỳ đã rải bom hóa học xuống đây. Ông chết một cách
chậm chạp, khó khăn và đầy đau đớn. Một cách từ từ, tôi cùng sáu
anh chị em nhìn cha chết bởi cuộc chiến kinh khủng này. Vào thời
gian đó, tôi nhìn thấy những tổn hại mà cuộc chiến này gây ra cho
cha và gia đình tôi. Dù chiến tranh đã lùi xa, nỗi đau vẫn còn lại.
Nhưng chúng tôi chỉ là một gia đình nhỏ. Tôi biết ở Việt Nam, hàng
triệu người phải chịu những nỗi đau còn tồi tệ hơn, và nỗi đau của
họ vẫn còn tiếp tục rất lâu sau khi những trái bom ngừng rơi và lính
Mỹ đã trở về nhà.
Từ chương sách buồn này trong cuộc đời cha tôi, tôi học được
cách tôn trọng người Việt Nam, cả vì nỗi đau và lòng dũng cảm của
họ. Tôi mong rằng nước Mỹ sẽ không bao giờ dùng những vũ khí
này chống lại bất kỳ ai khác, và tôi hi vọng rằng sau giai đoạn đau
buồn này trong lịch sử hai nước, chúng ta có thể mãi trở thành bạn.
Không bên nào nên quên lãng cuộc chiến, nhưng chúng ta không
nên để hồi ức này cản trở việc cả hai trở thành đồng minh trong
tương lai.
Người dân và quân đội Việt Nam đã cho thấy lòng dũng cảm phi
thường khi chống lại quân Mông Cổ tấn công bằng đường bộ và
đường biển vào thế kỷ mười ba. Người dân và quân đội Việt Nam
đã cho thấy lòng dũng cảm phi thường khi chống lại quân đội Mỹ tấn
công bằng đường biển và đường không vào thế kỷ hai mươi. Người
dân Việt Nam đã đấu tranh quật cường để giành được độc lập và tự
do trong quá khứ. Họ xứng đáng có được vị trí độc tôn trong lịch sử
thế giới và trong hệ thống hiện đại toàn cầu. Tôi hy vọng Việt Nam
giờ đây sẽ mãi mãi mạnh mẽ, độc lập và tự do mà không cần phải
tham gia cuộc chiến nào nữa.
Mong Việt Nam sẽ mãi tồn tại trong thịnh vượng và hòa bình!
Vị vua cao quý này mang tên Thành Cát Tư Hãn,
Trong thời ngài danh tiếng lẫy lừng
Tới mức không nơi đâu ở bất cứ vùng nào
Lại có vị chúa tể xuất chúng về mọi mặt như vậy.
GEOFFREY CHAUCER,
“Truyện của địa chủ,”
Những câu chuyện xứ Canterbury (khoảng năm 1395)
MỞ ĐẦU
NHÀ CHINH PHỤC MẤT TÍCH
Thành Cát Tư Hãn là người hành động
WASHINGTON POST, 1989
NĂM 1937, linh hồn Thành Cát Tư Hãn đã biến mất khỏi tu viện
Phật giáo ở miền trung Mông Cổ, bên dòng Nguyệt Giang dưới chân
dãy núi Shankh ảm đạm, nơi nó được các Lạt Ma trung thành bảo
vệ và thờ phụng suốt nhiều thế kỷ. Suốt thập niên 1930, khoảng ba
vạn người Mông Cổ đã chết trong một chuỗi các chiến dịch đàn áp
văn hóa và tôn giáo bản địa của Liên Xô. Binh lính tàn phá tu viện,
lần lượt từng nơi một, bắn sư sãi, cưỡng bức nữ tu, đập vỡ vật thờ,
cướp bóc thư viện, đốt kinh sách, và san bằng các đền thờ. Nghe
nói có người đã bí mật giải cứu hiện thân của linh hồn Thành Cát Tư
Hãn khỏi Tu viện Shankh và đưa đi cất giữ ở thủ đô Ulaanbaatar, rồi
biến mất hẳn ở đó.
Qua hàng trăm năm, trên những thảo nguyên mênh mang sôi
động vùng Trung Á, một chiến binh kiêm người chăn gia súc mang
theo mình một Dải cờ thiêng, gọi là sulde, được làm từ lông các con
ngựa giống tốt nhất của mình và buộc vào cán một cây giáo, ngay
dưới phần lưỡi giáo. Mỗi khi dựng trại, chiến binh sẽ cắm dải cờ này
ngoài cửa lều để tuyên bố danh tính và làm vật bảo hộ vĩnh viễn. Dải
cờ thiêng luôn được cắm ngoài trời, dưới Thanh thiên Vĩnh hằng mà
người Mông Cổ tôn thờ. Khi những sợi lông bay trong ngọn gió thảo
nguyên không ngừng nghỉ, chúng thu năng lượng của gió, của bầu
trời, của mặt trời, và dải cờ truyền năng lượng này từ thiên nhiên tới
người chiến binh. Ngọn gió lùa qua sợi lông ngựa thôi thúc những
ước mơ của người chiến binh và cổ vũ anh ta theo đuổi định mệnh
của mình. Sợi lông ngựa phất phơ trong gió ra hiệu cho anh ta luôn
luôn tiến lên phía trước, đẩy anh ta khỏi chốn cũ để tìm đến những
nơi mới, đến những đồng cỏ tốt hơn, tìm kiếm những cơ hội và thử
thách mới, để tự tay kiến tạo nên số phận cho đời mình trong thế
giới này. Mối liên kết giữa một người với Dải cờ thiêng của anh ta
chặt chẽ đến mức người ta nói rằng khi người ấy chết đi, linh hồn
chiến binh vĩnh viễn nằm lại trong búi lông ngựa đó. Khi người chiến
binh còn sống, dải cờ lông ngựa mang theo số phận của anh ta; sau
khi chết, nó hóa thân thành linh hồn của anh ta. Thể xác nhanh
chóng bị bỏ lại với tự nhiên, nhưng linh hồn còn sống mãi trong búi
lông ngựa để tiếp tục truyền cảm hứng cho những thế hệ tương lai.
Thành Cát Tư Hãn có một dải cờ từ lông ngựa trắng để dùng
trong thời bình, và một từ lông ngựa đen để dẫn lối trong chiến trận.
Dải cờ trắng đã sớm biến mất khỏi lịch sử, song dải cờ đen vẫn tồn
tại để lưu giữ linh hồn ông. Nhiều thế kỷ sau khi ông mất, người dân
Mông Cổ vẫn thờ phụng dải cờ nơi linh hồn ông yên nghỉ. Vào thế
kỷ mười sáu, một hậu duệ của ông, Lạt Ma Zanabazar, đã xây dựng
tu viện với mục tiêu đặc biệt là treo và bảo vệ dải cờ này. Dù mưa
dông hay bão tuyết, ngoại xâm hay nội chiến, hơn một ngàn vị sư
theo Hoàng Mạo phái của Phật giáo Tây Tạng đã canh giữ dải cờ
này với niềm vinh dự lớn lao, nhưng ngay cả họ cũng chẳng phải đối
thủ của nền chính trị toàn trị thế kỷ hai mươi. Các nhà sư đã bị sát
hại, và Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn biến mất.
Định mệnh không trao số phận cho Thành Cát Tư Hãn; tự tay
ông đã viết nên số phận mình. Khó lòng nghĩ đến chuyện ông có đủ
ngựa để tết được một Dải cờ thiêng, chứ đừng nói là còn theo dải
cờ đó đi khắp thế giới. Cậu bé mà sau này trở thành Thành Cát Tư
Hãn lớn lên trong một thế giới đầy rẫy bạo lực giữa các bộ lạc, bao
gồm giết chóc, bắt cóc và nô lệ. Là con trai một gia đình bị ruồng bỏ
tới chết giữa thảo nguyên, cả tuổi thơ ông có lẽ chỉ gặp vài trăm
người, và không được giáo dục đàng hoàng. Từ bối cảnh khắc
nghiệt này, ông học được – chi tiết đến kinh hoàng – mọi cung bậc
cảm xúc của con người: ham muốn, tham vọng và sự tàn bạo. Khi
còn là một đứa trẻ, ông đã giết người anh cùng mẹ khác cha của
mình, bị bộ lạc thù địch bắt làm nố lệ, và rồi trốn thoát được.
Sống trong hoàn cảnh khủng khiếp như vậy, cậu bé đã thể hiện
bản năng sinh tồn và tự bảo toàn mạng sống, song không bộc lộ
nhiều hứa hẹn về những thành tựu mà sau này ông đạt được. Lúc
còn bé, ông sợ chó và rất dễ khóc. Em trai ông khỏe hơn, bắn cung
và đấu vật cũng hơn ông; người anh cùng mẹ khác cha thường sai
bảo và trêu chọc ông. Thế nhưng, từ xuất thân hèn kém như vậy –
thường xuyên phải chịu đói, chịu nhục, bị bắt cóc và làm nô lệ – ông
bắt đầu chặng đường dài vươn tới quyền lực. Trước khi tới tuổi dậy
thì, ông đã có được hai mối quan hệ quan trọng nhất đời mình. Ông
thề kết nghĩa và trung thành vĩnh viễn với một cậu bé hơn ông ít
tuổi, người trở thành bạn thân nhất của ông thời niên thiếu, và kẻ
thù lớn nhất khi cả hai trưởng thành; và ông tìm thấy cô gái mà ông
yêu thương suốt đời, người ông chọn làm mẹ của mọi hoàng đế sau
này. Tuổi trẻ của Thành Cát Tư Hãn chứa đựng cả tình bạn và sự
thù địch – sự giằng xé này kéo dài xuyên suốt cả cuộc đời, và trở
thành nét quyết định tính cách của ông. Những câu hỏi đẩy dằn vặt
về tình yêu và tình phụ tử sinh ra từ dưới một tấm chăn đắp chung
hay trong ánh lửa chập chờn của bếp sưởi gia đình, đã được phóng
chiếu lên sấn khấu rộng lớn của lịch sử thế giới. Mục tiêu, ước
nguyện, và nỗi sợ của cá nhân ông bao trùm cả địa cầu.
Từ năm này qua năm khác, ông dần đánh bại hết những người
quyền lực hơn mình, cho tới khi chinh phục được mọi bộ lạc trên
thảo nguyên Mông Cổ. Ở tuổi năm mươi, khi phần lớn những nhà
chinh phục vĩ đại đã bỏ những năm tháng chinh chiến lại đằng sau,
Dải cờ thiêng của Thành Cát Tư Hãn lại vẫy gọi ông rời khỏi quê
hương xa xôi để đối đầu với đội quân của các dân tộc văn minh,
những kẻ đã sách nhiễu và nô dịch các bộ lạc du mục suốt nhiều thế
kỷ. Trong những năm còn lại của cuộc đời, ông đi theo Dải cờ thiêng
ấy tới những thắng lợi liên tiếp, vượt qua sa mạc Gobi* và sông
Hoàng Hà, tới các vương quốc ở Trung Hoa, qua miền đất Trung Á
của người Turk và Ba Tư, và vượt các dãy núi của Afghanistan tới
sông Ấn.
Trong các cuộc chinh phạt nối tiếp nhau, quân Mông Cổ biến
chiến tranh thành một sự kiện xuyên lục địa với giao tranh diễn ra
trên nhiều mặt trận trải dài nhiều ngàn dặm. Kỹ thuật chiến đấu sáng
tạo của Thành Cát Tư Hãn biến các hiệp sĩ giáp sắt nặng nề của
châu Âu trung cổ thành thứ lỗi thời, và thay thế họ bằng kỵ binh có
kỷ luật di chuyển thành từng nhóm phối hợp. Thay vì lệ thuộc vào
những công sự phòng thủ, ông tận dụng tài tình tốc độ và sự bất
ngờ trên chiến trường, cũng như hoàn thiện công thành chiến đến
mức chấm dứt luôn thời đại của các thành phố có tường bao. Thành
Cát Tư Hãn không chỉ dạy quân của ông chinh chiến ở những
khoảng cách không tưởng, mà còn hướng dẫn họ duy trì chiến dịch
của mình qua nhiều năm, nhiều thập niên, và cuối cùng, qua hơn ba
thế hệ chiến đấu không ngừng nghỉ.
Trong vòng hai mươi lăm năm, quân đội Mông Cổ đã chiếm
được nhiều đất và người hơn người La Mã trong suốt bốn trăm
năm. Thành Cát Tư Hãn, cùng với các con và cháu của mình, đã hạ
gục những nền văn minh đông dân nhất của thế kỷ mười ba. Dù tính
theo số lượng người bại trận, tổng số quốc gia bị thôn tính, hay tổng
diện tích đất bị chiếm đóng, Thành Cát Tư Hãn đều đã chinh phục
nhiều hơn gấp bội so với bất kỳ người nào khác trong lịch sử. Vó
ngựa quân Mông Cổ đã làm toé nước mọi sông hồ từ Thái Bình
Dương tới Địa Trung Hải. Khi cực thịnh, đế quốc này bao trùm một
khu vực trải khắp 11 tới 12 triệu dặm vuông liên tiếp, bằng diện tích
châu Phi và lớn hơn nhiều Bắc Mỹ – bao gồm Hoa Kỳ, Canada,
Mexico, Trung Mỹ và vùng đảo Caribe hợp lại. Nó trải từ lãnh
nguyên Siberia tuyết phủ tới đồng bằng nhiệt đới Ấn Độ, từ cánh
đồng lúa gạo Việt Nam tới cánh đồng lúa mì Hungary, từ bán đảo
Triều Tiên tới bán đảo Balkan. Phần lớn con người ngày nay sống ở
các nước từng bị quân Mông Cổ xâm chiếm; trên bản đồ hiện đại,
cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn bao gồm ba mươi quốc gia
với hơn ba tỉ dân. Khía cạnh bất ngờ nhất của thành tựu này là toàn
bộ bộ lạc Mông Cổ dưới trướng ông chỉ vỏn vẹn khoảng một triệu
người, ít hơn số nhân công của nhiều công ty ngày nay. Từ một triệu
người này, ông tuyển ra không tới mười vạn lính – dễ dàng chứa
được trong các sân vận động lớn của thời hiện đại.
Nói theo kiểu Mỹ, thành tựu của Thành Cát Tư Hãn có thể hiểu
theo cách là nước Mỹ, thay vì được sáng lập bởi một nhóm thương
nhân có học và chủ đồn điền giàu có, thì lại là do một tên nô lệ
không biết chữ, chỉ nhờ nhân cách, sức lôi cuốn, và quyết tâm, đã
giải phóng Hoa Kỳ khỏi sự cai trị của ngoại bang, đoàn kết dân
chúng, tạo ra bảng chữ cái, viết hiến pháp, đề ra tự do tôn giáo toàn
diện, sáng tạo ra hệ thống chiến tranh kiểu mới, đưa quân đội hành
quân từ Canada tới Brazil, và mở đường thông thương trong một
khu vực thương mại tự do xuyên suốt nhiều châu lục. Trên mọi cấp
độ và từ mọi phương diện, quy mô và phạm vi của những thành tựu
của Thành Cát Tư Hãn thách thức các giới hạn của trí tưởng tượng
và mọi phương pháp lý giải hàn lâm.
Khi kỵ binh của Thành Cát Tư Hãn tràn qua thế kỷ mười ba, ông
đã vẽ lại ranh giới của thế giới. Công trình của ông không phải bằng
đá, mà là bằng các quốc gia. Không bằng lòng với một số lượng lớn
các tiểu vương quốc, ông hợp nhất nhiều nước nhỏ thành các nước
lớn hơn. Ở Đông Âu, quân Mông Cổ thống nhất một tá các tiểu
vương quốc Slav và thành phố thành một nước Nga rộng lớn. Ở
Đông Á, qua ba thế hệ, họ tạo ra Trung Hoa bằng cách đan lại với
nhau những tàn tích của nhà Tống ở phía nam với vùng đất của
người Nữ Chân* ở Mãn Châu, Tây Tạng ở phía tây, Tây Hạ* tiếp
giáp sa mạc Gobi, và đất của người Duy Ngô Nhĩ* ở phía đông
Turkistan*. Khi người Mông Cổ mở rộng khu vực cai trị, họ tạo ra
những quốc gia như Triều Tiên và Ấn Độ. Những nước này vẫn tồn
tại tới ngày nay, với đường biên giới gần như không thay đổi từ khi
được người Mông Cổ tạo ra.
Đế chế của Thành Cát Tư Hãn liên kết và hợp nhất các nền văn
minh quanh ông thành một trật tự thế giới mới. Khi ông chào đời
năm 1162, Cựu Thế giới là một chuỗi các nền văn minh địa phương
hoàn toàn không biết gì về các nền văn minh khác ngoài những
nước láng giềng gần gũi nhất. Không ai ở Trung Hoa biết tới châu
Âu, cũng như không ai ở châu Âu từng nghe tới Trung Hoa, và theo
như hiểu biết thời bấy giờ, chưa có ai từng đi lại giữa hai nơi đó cả.
Tới khi qua đời năm 1227, ông đã kết nối hai nơi này bằng những
mối liên lạc ngoại giao và thương mại bền vững tới bây giờ.
Bằng cách đập vỡ hệ thống phong kiến coi trọng quyền lợi quý
tộc và xuất thân, ông đã xây dựng một hệ thống mới và độc đáo dựa
trên năng lực cá nhân, lòng trung thành và thành tích. Ông tập hợp
những thị trấn buôn bán rời rạc và trì trệ dọc theo Con đường Tơ lụa
và sắp xếp chúng thành khu vực thương mại tự do lớn nhất lịch sử.
Ông cắt giảm thuế cho tất cả mọi người, và bỏ hẳn sưu thuế với bác
sĩ, thầy dạy học, thầy tu và các cơ sở giáo dục. Ông thực hiện điều
tra dân số đều đặn, và tạo ra hệ thống thư tín quốc tế đầu tiên. Đế
chế của ông không tích trữ của cải và kho báu; trái lại, ông phân
phát rộng rãi của cải thu được trong chiến đấu để chúng có thể quay
lại thông thương. Ông thiết lập một bộ luật quốc tế và tuyên bố luật
Thanh thiên Vĩnh hằng tối cao với mọi người dân. Vào thời điểm hầu
hết vua chúa đều đặt mình lên trên pháp luật, Thành Cát Tư Hãn
cương quyết rằng trước pháp luật vua chúa cũng chịu trách nhiệm
bình đẳng như người chăn gia súc hèn kém nhất. Ông công nhận tự
do tôn giáo trong lãnh địa của mình, cho dù ông đòi hỏi lòng trung
thành tuyệt đối từ mọi thần dân đã hàng phục, bất kể họ theo tôn
giáo nào. Ông tin vào pháp quyền và bãi bỏ việc tra tấn, nhưng ông
thực hiện các chiến dịch lớn để tìm và giết những kẻ lục lâm thảo
khấu và thích khách. Ông không chấp nhận giữ con tin và, thay vào
đó, thiết lập tập tục hoàn toàn mới là miễn trừ ngoại giao với mọi sứ
thần và sứ giả, bao gồm cả những người đến từ các quốc gia thù
địch đang chiến tranh với ông.
Thành Cát Tư Hãn để lại cho đế chế của ông một nền tảng vững
chãi tới mức nó tiếp tục lớn mạnh trong vòng 150 năm sau đó. Sau
đó, trong hàng trăm năm sau khi đế quốc ấy sụp đổ, hậu duệ của
ông tiếp tục cai trị nhiều đế quốc nhỏ và quốc gia lớn, từ Nga, Thổ
Nhĩ Kỳ và Ấn Độ, tới Trung Hoa và Ba Tư. Họ có nhiều tước hiệu
khác nhau, như hãn, hoàng đế, sultan, vua, shah, emir và Đạt Lai
Lạt Ma*. Di sản đế chế này còn được hậu duệ của ông cai trị suốt
bảy thế kỷ. Nhiều người Mogul đứng đầu Ấn Độ tới năm 1857, khi
người Anh phế bỏ Hoàng đế Bahadur Shah II và chặt đầu hai con
trai và cháu trai ngài. Hậu duệ tại vị cuối cùng của Thành Cát Tư
Hãn, Alim Khan, emir của Bukhara, tiếp tục cầm quyền ở Uzbekistan
tới khi bị làn sóng Cách mạng Nga dâng cao lật đổ năm 1920.
Trong lịch sử, hầu hết các nhà chinh phục đều phải chịu cái chết
sớm và bi thảm. Ở tuổi ba mươi ba, Alexander Đại Đế qua đời một
cách bí hiểm ở Babylon, trong khi những kẻ phục tùng ông sát hại
cả gia đình ông và chia chác đất đai. Julius Caesar bị những người
cùng dòng dõi quý tộc với ông và đồng minh cũ đâm tới chết trong
phòng của Viện Nguyên lão La Mã. Sau khi phải nhìn thấy mọi chiến
tích chinh phục của mình bị hủy hoại và đảo ngược, Napoleon, cô
độc và cay đắng, một mình đối diện với cái chết khi bị biệt giam ở
một trong những hòn đảo xa xôi cách trở nhất hành tinh. Thế nhưng,
Thành Cát Tư Hãn, khi đó đã gần bảy mươi tuổi, đã mất trên chiếc
giường cắm trại của mình, giữa vòng vây đầy yêu thương của gia
đình, thân tín, và quân lính trung thành sẵn sàng mạo hiểm tính
mạng theo lệnh của ông. Mùa hè năm 1227, trong chiến dịch chống
lại Tây Hạ ở thượng lưu sông Hoàng Hà, Thành Cát Tư Hãn đã qua
đời – hay, theo cách nói của người Mông Cổ, những người cấm kị
việc nhắc tới chết chóc hay bệnh tật, ông đã “lên thiên đường.”
Nhiều năm sau cái chết của ông, lý do ông mất vẫn không được tiết
lộ, dẫn đến nhiều lời đồn đoán mà sau này trở thành truyền thuyết,
để rồi theo dòng chảy thời gian biến thành sự thật lịch sử. Plano di
Carpini, sứ giả cháu Âu đầu tiên tới Mông Cổ, ghi lại rằng Thành Cát
Tư Hãn chết vì bị sét đánh. Marco Polo, nhà thám hiểm đã có nhiều
chuyến đi khắp Đế chế Mông Cổ dưới thời Hốt Tất Liệt – cháu của
Thành Cát Tư Hãn, kể lại rằng ông qua đời sau khi bị tên đâm trúng
đầu gối. Một số người cho rằng kẻ thù không rõ danh tính đã đầu
độc ông. Có nguồn lại khẳng định ông đã chết vì phép thuật của vua
Tây Hạ khi đang giao chiến. Một câu chuyện được những kẻ chỉ
trích ông lan truyền nói rằng khi bị ông bắt giữ, hoàng hậu Tây Hạ
đã đưa một vật lạ vào vùng kín nhằm kéo đứt bộ phận sinh dục của
Thành Cát Tư Hãn khi quan hệ với bà, và ông đã chết trong đau đởn
cùng cực.
Trái ngược với những câu chuyện về cái chết của ông, việc
Thành Cát Tư Hãn chết trong căn lều ger của người du mục, về cơ
bản là tương tự như nơi ông ra đời, cho thấy thành công của ông
trong việc bảo tồn lối sống truyền thống của dân tộc mình; song, bất
ngờ là bằng cách bảo tồn lối sống của mình, ông đã thay đổi xã hội
loài người. Quân lính của Thành Cát Tư Hãn hộ tống thi thể vị hãn
của họ về quê hương Mông Cổ để bí mật chôn cất. Sau khi chết,
ông được những người theo hầu an táng vô danh trên mảnh đất quê
hương, không lăng tẩm, đền đài, kim tự tháp, hay thậm chí là cả một
tấm bia nhỏ đánh dấu nơi ông nằm lại. Theo tín ngưỡng Mông Cổ,
thân thể người chết nên được để trong yên bình, không cần lăng
mộ, vì linh hồn họ không còn đó nữa mà sẽ sống tiếp trong Dải cờ
thiêng. Khi được mai táng, Thành Cát Tư Hãn thẩm lặng biến mất
vào cõi thinh không mênh mang của miền đất Mông Cổ quê hương.
Không ai biết nơi an nghỉ cuối cùng của ông ở đâu, song bởi không
có nguồn tư liệu xác thực nhiều người đã tự tay viết nên lịch sử và
thêm thắt nhiều chi tiết kịch tính. Một câu chuyện thường được nhắc
lại là trong chuyến hành trình dài bốn mươi ngày, quân lính trong
đoàn đưa tang ông đã giết toàn bộ người và thú vật mà họ gặp trên
đường, và sau đám tang bí mật, tám trăm kỵ binh đã cưỡi ngựa
giẫm lên khu vực chôn cất nhiều lần để che giấu nơi đặt mộ. Sau đó,
theo lời kể đầy sáng tạo này, những kỵ binh này đã lại bị giết bởi
một toán lính khác nhằm đảm bảo họ không thể chỉ điểm nơi này; và
rồi những người lính này lại bị một nhóm chiến binh khác giết.
Sau khi ông được chôn cất bí mật ở quê nhà, quân lính cho
phong toả cả khu vực rộng vài trăm dặm vuông này. Không ai có thể
vào trừ người nhà Thành Cát Tư Hãn và một nhóm chiến bính tinh
nhuệ đóng quân ở đó nhằm hạ sát mọi kẻ xâm nhập. Trong gần tám
trăm năm, khu vực này – gọi là Ikh Khorig, vùng Đại Cấm địa nằm
sâu trong lòng châu Á – luôn đóng cửa im lìm. Mọi bí mật về đế chế
của Thành Cát Tư Hãn dường như đã bị khoá lại trong quê hương
thần bí của ông. Rất lâu sau khi Đế chế Mông Cổ sụp đổ, và khi một
phần nước Mông Cổ đã bị ngoại bang xâm chiếm, người Mông Cổ
vẫn ngăn cản bất kỳ ai đặt chân vào vùng đất linh thiêng của tổ tiên
họ. Dù người Mông Cổ cuối cùng đã cải sang đạo Phật, những
người nối ngôi Thành Cát Tư Hãn vẫn không cho phép các nhà sư
xây điện thờ, tu viện, hay đài tưởng niệm để đánh dấu mộ của ông.
Vào thế kỷ hai mươi, để đảm bảo nơi sinh và mất của Thành Cát
Tư Hãn không trở thành địa điểm tập kết của các nhà dân tộc học,
những người đứng đầu Liên Xô đã canh gác nơi đây rất cẩn mật.
Thay vì Đại Cấm địa hay bất kỳ tên gọi lịch sử nào có thể gợi nhắc
tới Thành Cát Tư Hãn, Liên Xô đặt cho nơi đây cái tên hành chính
Khu vực Hạn chế Cao. Về mặt hành chính, họ tách biệt nơi này với
các tỉnh lân cận và đặt nó dưới sự kiểm soát trực tiếp của chính
 









Các ý kiến mới nhất