Biết tất tần tật chuyện trong thiên hạ

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:14' 19-01-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:14' 19-01-2026
Dung lượng: 1.6 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
LỜI NGƯỜI LÀM SÁCH
Tuổi nhỏ ham hiểu biết và cần ham hiểu biết. Đó là cái may của xã hội tương lai. Nhưng các bậc
người lớn nhiều khi lúng túng trước vô số câu hỏi của em, con, cháu mình. Có lẽ vì vậy mà cuốn
Tiểu học sinh thiên hạ sự toàn tri đạo (Học sinh tiểu học biết mọi chuyện trong thiên hạ) vừa phát
hành tại Trung Quốc tháng 12/2000 thì tháng 2/2001 đã được in lại đến lần thứ ba, số lượng lên
tới 41.000 bản.
Để giúp các bạn nhỏ Việt Nam - và không chỉ các bạn nhỏ - tìm thấy câu trả lời cho nhiều thắc
mắc đáng khuyến khích, năm 2002 Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây liên kết với Nhà Xuất
Bản Thuận Hóa tổ chức dịch và xuất bản tựa sách nói trên; sách được in thành bốn tập nhỏ với
nhan đề Biết tất tật chuyện trong thiên hạ. Đây là loại sách có tính chất bách khoa tri thức, tập hợp
những câu chuyện thú vị từ xưa đến nay trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực văn hóa, khoa học,
lịch sử... ở khắp năm châu bốn biển, mà trước hết là ở Trung Quốc và Phương Đông. Bản dịch
tiếng Việt ra đời đã được sự đón nhận nhiệt tình nên năm 2003, chúng tôi đã tổ chức biên tập lại,
in thành một tập khổ 14.5 x 20.5. Trong năm 2007 này, chúng tôi tiếp tục chỉnh sửa và cho tái bản
lần thứ 3 để làm món quà ý nghĩa cho các bạn nhỏ ham hiểu biết. Người làm sách mong nhận
được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng hoàn thiện trong những lần in sau.
Hà Nội, 2007
https://thuviensach.vn
Tại sao người Trung Quốc thời cổ coi Kì lân, Phượng hoàng, Rùa
và Rồng là những con vật tượng trưng cho điều tốt lành?
Thời xưa ở Trung Quốc, Kì lân, Phượng hoàng, Rùa và Rồng được gọi chung là "tứ linh" (bốn giống
vật linh thiêng). Truyền thuyết nói rằng: "Kì lân tín nghĩa, Phượng hoàng trị loạn, Rùa báo điềm lành,
còn Rồng có phép biến hoá".
Nói vậy cũng có nghĩa Kì lân là biểu tượng của đức hạnh đôn hậu, tượng trưng cho đời thịnh trị thái
bình; Phượng hoàng giữ gìn cuộc sống bình yên; Rồng có thể hô phong hoán vũ nên tượng trưng cho
quyền lực và sự tôn nghiêm; Rùa biết trước tương lai, và cũng là con vật tượng trưng cho sự trường
thọ.
Vì thế bốn loài này được coi là những con vật tiêu biểu cho sự tốt lành. Nhưng trong số đó chỉ Rùa là
có thực, còn lại đều là những con vật thần thoại hoặc nói cách khác là những hình tượng nghệ thuật do
con người sáng tạo ra.
Kì lân trong truyền thuyết thân giống hươu, đầu mọc một sừng duy nhất, có vẩy như cá, đuôi như đuôi
trâu, tính ôn hòa, thuần nhã, độ lượng cho nên được coi là loài thú nhân hậu, có đức hạnh. Các bậc đế
vương Trung Quốc mọi thời đại đều coi Kì lân là điềm tốt lành kì lạ của đất nước, còn trong dân gian
thì có truyền thuyết Kì lân tống tử
Thời cổ đại xa xưa Rồng và Phượng hoàng được sùng bái, coi là thủy tổ tượng trưng của nhiều bộ lạc
và được thờ cúng.
Rồng là tôtem (vật tổ) của dân tộc Hoa Hạ ở miền Tây Trung Quốc. Theo truyền thuyết, Rồng có chín
bộ phận trên cơ thể giống các loài vật khác là sừng hươu, đầu và cổ rắn, mắt tôm, tai bò, bụng ngôi
mộ tổ giống loài sò hến, vẩy cá chép, vuốt chim ưng và bàn chân hổ.
Phượng là tên gọi tắt của chim thần phượng hoàng, là tôtem của hàng loạt bộ lạc cư trú ở miền Đông
Trung Quốc. Theo truyền thuyết, chim Phượng cao sáu thước, đầu gà, cổ rắn, hàm yến, lưng hổ và có
năm sắc.
Về sau vua chúa phong kiến coi Rồng là biểu tượng cho quyền lực và sự tôn nghiêm của mình. Long
bào (áo rồng) và phượng quán (mũ phượng) trở thành những vật dụng chỉ dành riêng cho vua và hoàng
hậu.
Còn trong dân gian, Rồng và Phượng là biểu tượng của sự tốt lành, vì thế mà có câu "Long Phượng
trình tường" (Rồng Phượng báo điềm lành).
Trong tứ linh, Rùa là con vật có thật. Rùa giỏi chịu đựng đói và khát có sức sống cực kì mạnh mẽ nên
tượng trưng cho sự trường thọ; lại vì được cho là linh thiêng biết trước điều may rủi nên Rùa còn
được coi là con vật trung gian giữa người và thần linh.
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao trong tên gọi các công trình kiến trúc thời cổ thường có
chữ "cửu” ?
“Cửu” (chín) là con số được dùng nhiều trong dân gian ở Trung Quốc. Đặc biệt các công trình kiến
trúc cổ hầu như đều liên quan đến số chín. Chẳng hạn thành Bắc Kinh hồi đầu có chín cổng; Thiên An
Môn có chín tòa lầu gọi là Cửu Doanh Trùng Lâu; bốn góc Cố Cung có các tòa lầu đều gồm chín tầng
và mười tám cột trụ; cổng lớn các kiến trúc cung đình đều có chín đèn ngang và chín đèn dọc; các bức
tường chạm rồng ở Bắc Hải và Cố Cung đều có chín con, vì thế được gọi là "Cửu Long Bích" (tường
chín con rồng). Vậy thì tại sao lại như thế ?
Vốn là, người Trung Quốc thời cổ dựa vào thuyết âm đương gọi số lẻ là số dương, còn số chẵn là số
âm. Số Chín lớn nhất trong các số dương nên gọi là "cực dương số”. Vì thế người ta thường dùng số
chín để nói lên cái ý niệm to, nhiều, hết sức, và còn dùng số chín để tượng trưng cho thiên tử. Sách cổ
Kinh Dịch viết rằng con số chín có ý nghĩa tốt lành nên kiến trúc cung đình thời cổ Trung Quốc đều
dùng số chín hoặc các bội số của số chín để thiết kế xây dựng, nhằm làm nổi lên ý niệm hoàng đế là
bậc thiên tử, không ai còn có thể cao hơn nữa.
Vì số chín là số lớn nhất trong các số, cho nên người ngày nay vẫn thường xuyên thích dùng số chín
hoặc các bội số của số chín để nói lên ý niệm về cái gì có nhiều. Chẳng hạn cửu tiêu (chín tầng trời),
cửu tuyền (chín suối, tức là âm phủ), thập bát ban vũ nghệ (mười tám môn võ nghệ), thập bát tằng địa
ngục (mười tám tầng địa ngục), thập bát La Hán (mười tám vị La Hán), tam thập lục kế (ba mươi sáu
kế), thất thập nhị hàng (bẩy mươi hai ngành nghề)...
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao mặt tiền các kiến trúc cổ Trung Quốc thường có một đôi sư
tử đá?
Trong số các di vật văn hóa thời cổ đại khai quật được ở Trung Quốc, dù là đồ ngọc, đồ gốm, đồ đất
nung, đồ đồng thau, hay các bức vẽ, các bức khắc trên đá, chúng ta thấy các động vật được thể hiện
chỉ có hổ, dê, chim, cá, bò, lợn, hạc, hươu .. Tất nhiên còn có rồng là con vật do người ta tưởng tượng
ra, nhưng hình như không di vật nào có hình sư tử.
Nguyên nhân của việc này rất đơn giản. Trung Quốc thời cổ không có sư tử, người ta chưa biết đến sư
tử, vì thế không thể khắc họa hình sư tử trong các tác phẩm. nghệ thuật.
Quê hương của sư tử là những vùng nhiệt đới ở Châu Phi, Ấn Độ... Sư tử Trung Quốc chỉ có từ khi
Hán Vũ Đế sai Trương Khiên đi sứ Tây Vực, được vua Tây Vực tặng sư tử như một món lễ vật quý
báu để đưa về Trung Quốc.
Khoảng năm 125 sau Công nguyên, hoàng đế thứ bảy của nhà Đông Hán là Thuận Đế Lưu Bảo lên
ngôi. Quốc vương Sơ Lặc đất Tây Vực sai sứ đem tới Lạc Dương tặng Thuận Đế một cặp sư tử. Vị
hoàng đế trẻ tuổi này rất thích nên đã di chiếu lại rằng: sau khi trẫm băng hà, các khanh hãy dùng cặp
sư tử này để canh lăng mộ cho trẫm. Khi Thuận Đế Lưu Bảo qua đời, vì không có sư tử thật nên người
ta phải nghĩ ra cách tạc sư tử đá đặt ở trước lăng. Về sau, các quan to quyền quý cũng bắt chước tạc
sư tử đá đNnh lăng mộ cho người chết.
Tượng sư tử đá cũng có thế uy nghiêm, mạnh mẽ và đầy sức sống, đặc biệt khi được tạc trong tư thế
quỳ, hai chân trước duỗi, hai chân sau gập, ngực ưỡn, bụng thót, cổ có mảng lông xoăn, khắp mình bắp
thịt nổi cuồn cuộn - tất cả tập trung thể hiện vẻ dũng mãnh và sức mạnh của con sư tử. Hình tượng này
cũng biểu hiện một cách khái quát thế giới nội tâm và sự tìm kiếm về tinh thần của người thợ tạc hình
sư tử.
Những người thợ thông minh thời cổ Trung Quốc, trong những trường hợp khác nhau, đã tạc ra được
những con sư tử với trăm ngàn tư thái khác nhau. Về sau chức năng của sư tử đá đã từ chỗ bảo vệ
người chết ở trước lăng mộ đã chuyển thành khả năng xua đuổi tà ma, tiêu trừ tai họa. Vì thế sư tử lại
còn được bầy ở trước các công trình kiến trúc tôn giáo như chùa chiền, miếu mạo, hang đá. Ngoài ra
chúng còn xuất hiện như những trang trí thể hiện sự tốt lành ở trước các công trình kiến trúc như cầu,
từ đường, cung điện, trong số đó nổi tiếng nhất có đôi sư tử đá trước Thiên An Môn Bắc Kinh. Thủ
pháp điêu khắc của cặp sư tử này theo lối tả thực tương đối hình tượng tinh vi, uy vũ hùng tráng, khí
thế đằng đằng, do đó rất được người xem ưa thích.
TỪ DỤC AN - QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao phần mộ của các đế vương được gọi là lăng?
Năm 210 trước Công nguyên sau khi băng hà, Tần Thủy Hoàng được mai táng ở núi Ly Sơn ngoại
thành phía đông Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Dựa theo những điều được ghi lại, phần mộ Tần Thủy Hoàng
cao hơn 100 mét, đến nay vẫn như một tòa núi nhỏ, với thế đất rất hùng vĩ.
Ngay từ khi còn sống, Tần Thủy Hoàng đã lo xây dựng phần mộ cho bản thân mình rồi. Sau khi thống
nhất được Trung Quốc, vị hoàng đế này đã dùng vài chục vạn người để tu bổ thêm. Theo truyền thuyết
thì bên trong lăng mộ người ta dùng thủy ngân để tạo thành sông, suối và biển, các trân châu và báu
vật tập trung đem vào trong đó không đếm sao cho hết.
Sau khi Tần Thủy Hoàng chết đi, tất cả những phi tần chưa sinh con, thợ xây và tu bổ lăng mộ cũng
đều bị chôn sống theo hết, vì hoàng gia sợ họ tiết lộ những điều bí mật trong lăng mộ.
Thời xưa, sau khi người ta chết đi, thi thể đều phải đem chôn xuống đất, cho nên có câu nói "nhập thổ
vi an" (chôn được xuống đất là yên). Nơi mai táng của những người bình thường đều phải dùng đất
đắp thành một đống nhỏ để cho biết đây là một phần mộ. Những người có địa vị càng quan trọng, quan
chức càng cao, tiền tài càng nhiều, thì sau khi chết đi phần mộ của họ càng càng to. Còn các đế vương,
tể tướng, võ tướng vốn muốn phô bầy địa vị cao quý của mình thì tự nhiên cũng có phần mộ được xây
dựng càng đồ sộ hơn nữa. Do đó các phần mộ này được gọi là lăng. Lăng là một núi đất to. Phần mộ
của Tần Thủy Hoàng có quy mô rất lớn, do đó gọi là Tần lăng.
Các lăng mộ đời Hán đều dùng đất đắp cao lên từng bậc, phần dưới to, phần trên nhỏ, tạo nên một
hình thế ổn định, vững vàng như núi.
Từ đời Đường về sau, các bậc đế vương nhận thấy rằng phần mộ xây dựng như thế vẫn chưa phô bày
hết được thân phận cao quý của mình, nên đã xây dựng những lăng mộ dựa vào núi.
Ngày nay phần mộ của các lãnh tụ và liệt sĩ cách mạng cũng được gọi là lăng hay là lăng viên, chẳng
hạn như lăng Tôn Trung Sơn, lăng viên liệt sĩ Long Hoa...
QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao ngày đầu năm gọi là "Nguyên đán"?
Hiện nay ở Trung Quốc ngày mồng một tháng Giêng dương lịch hàng năm được gọi là ngày Nguyên
đán. Trong tiếng Hán, chữ “nguyên” nghĩa là bắt đầu, tức là thứ nhất, còn chữ "đán" nghĩa là một ngày
hoặc buổi sáng. Hai chữ này được ghép lại với nhau thì dùng để chỉ ngày đầu tiên trong một năm.
Thời gian trái đất xoay quanh mặt trời được một vòng theo phương pháp làm lịch gọi là một năm.
Song sự vận chuyển của trái đất quanh mặt trời không có điểm đầu và điểm cuối cố định, vì thế điểm
đầu và điểm cuối của một năm là do con người quy định. Do đó các phương pháp làm lịch không
thống nhất.
Ở Trung Quốc, theo truyền thuyết thì cái tên gọi "Nguyên đán” có nguồn gốc từ một vị hoàng đế trong
Tam hoàng Ngũ đế có tên là Chuyên Húc. Chuyên Húc lấy tháng Giêng nông lịch là Nguyên và ngày
mồng một là Đán.
Về sau, cótriều đại lại thay đổi nhật kì của ngày Nguyên đán. Chẳng hạn nhà Hạ lấy ngày mồng một
tháng Mười Hai là Nguyên đán, nhà Thương lấy ngày mồng một tháng Mười Hai là Nguyên đán.
Nhà Chu lấy ngày mồng một tháng Mười một làm Nguyên đán, nhưng đến đời Hán Vũ Đế lại quy định
lấy ngày mồng một tháng Giêng là Nguyên đán, rồi từ đó đến nay, trải qua các thời đại, nhật kì của
ngày Nguyên đán không còn thay đổi nữa.
Từ sau cách mạng Tân Hợi, người Trung Quốc chuyển sang dùng Công lịch và ngày Nguyên đán âm
lịch được đổi tên là Xuân tiết (ngày tết xuân), còn ngày mồng một tháng giêng của lịch mới thì được
gọi là Tân niên (ngày năm mới).
Năm 1949, Hội nghị Toàn thể khoá I Hội nghị Nhân dân Chính trị Hiệp thương Trung Quốc đã thông
qua việc sử dụng "cách ghi năm theo Công nguyên" và chính thức quy định ngày mồng một tháng
Giêng Công lịch là ngày Nguyên đán.
Ngày nay, nhiều quốc gia áp dụng Công lịch đều lấy ngày mồng một tháng Giêng làm ngày Nguyên
đán, nhưng vẫn còn có một số quốc gia và dân tộc, do phương pháp làm lịch dựa theo những tín
ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, khí hậu các mùa... không đồng nhất, cho nên nhật kì ngày Nguyên
đán của mỗi năm được định ra không như nhau. Thí dụ nhân dân Ai Cập lấy ngày nước sông Nin bắt
đầu dâng lên làm ngày Nguyên đán.
TRƯƠNG LƯƠNG NHẤT
https://thuviensach.vn
Tại sao đến tiết Thanh minh người ta phải đi tảo mộ?
Hàng năm, cứ đến tiết Thanh minh là bao giờ người ta cũng ra ngoại thành đi tảo mộ. Trong ngày này,
dân chúng ăn bánh trôi, căm nhành liễu, nhiều trường hợp lại còn tổ chức những buổi cho học sinh đi
chơi mùa xuân gọi là "Đạp thanh xuân du” (giẫm lên cỏ xanh dạo chơi mùa xuân). Tất cả các tập quán
này bắt nguồn từ tiết Hàn thực (ăn đồ nguội) theo truyền thống trong lịch sử Trung Quốc.
Tương truyền trong thời Xuân Thu trước đây hơn hai nghìn năm, Tấn Văn Công trong khi luận công
khen thưởng cho các công thần khai quốc có để sót mất người ân nhân cứu mạng mình là Giới Tử
Thôi. Sau đó đến khi Tấn Văn Công nhớ lại thì Giới Tử Thôi đã đưa mẹ về ẩn cư ở Miên Sơn (nay ở
phía đông nam huyện Giới Lưu tỉnh Sơn Tây), không thể nào tìm thấy được nữa.
Khi ấy có người đã hiến kế cho Tấn Văn Công dùng lửa đốt núi thì Giới Tử Thôi sẽ bắt buộc phải dời
núi mà ra. Không ngờ lửa đốt ba ngày ba đêm đã thiêu sống cả hai mẹ con Giới Tử Thôi, vì thế Tấn
Văn Công hết sức đau buồn, đã sai đổi tên Miên Sơn thành Giới Sơn và lập miếu thờ.
Năm sau, đến ngày đốt rừng năm trước, nhà vua ban lệnh cho dân cấm đốt lửa và chính mình ăn đồ
nguội để tự trách phạt. Tiết Hàn thực đã được đặt ra từ ngày ấy.
Hàng năm, vào ngày này dân chúng chỉ ăn đồ nguội làm sẵn từ trước như tránh trôi, bánh táo, và ra
đồng làm lễ cúng Giới Tử Thôi để tưởng nhớ tới người bề tôi hiền đức không ham danh lợi sau khi sự
nghiệp đã thành công.
Nhưng chính vì ngày của tiết Hàn thực trùng với tiết Thanh minh cho nên tiết Thanh minh cũng gọi là
tiết Hàn thực, rồi dần dà việc làm lễ kỉ niệm này đ phong tục Thanh minh tảo mộ và Đạp thanh.
CHU SƠ DƯ
https://thuviensach.vn
Dịp tết Đoan ngọ tại sao người ta ăn bánh tét?
Mỗi năm cứ đến ngày mồng năm tháng Năm nông lịch, mọi người đều vui vẻ ăn bánh tét, có địa
phương còn tổ chức đua thuyền rồng và ngày ấy được gọi là tết Đoan ngọ. Theo truyền thuyết thì đây
là tập quán để tưởng niệm Khuất Nguyên - nhà thơ vĩ đại đầu tiên của Trung Quốc.
Khuất Nguyên sinh ở đất Tỷ Quy nước Sở năm 340 trước Công nguyên. Dưới thời Chiến Quốc, trong
số các nước hùng mạnh thì nước Sở có lãnh địa rộng lớn nhất, song nước Tần ở phương Bắc lại mạnh
hơn. Và nước Tần đã coi nước Sở là đối thủ chính của mình trong cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ.
Hồi ấy Khuất Nguyên đảm nhiệm một chức vị quan trọng ở nước Sở. Ông kiến nghị với Sở Hoài
Vương nên liên hợp với các nước Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Yên để cùng nhau chống lại nước Tần. Hồi
đầu, Sở Hoài Vương hết sức tín nhiệm Khuất Nguyên, để cho Khuất Nguyên soạn ra pháp lệnh mới,
nhưng về sau có nhiều gian thần gièm pha li gián, khiến Sở Hoài Vương nghi ngờ, cuối cùng bãi chức
quan và đày đ
Trong tâm trạng đau buồn vô hạn, Khuất Nguyên đã viết bản trường thi trứ đanh Ly tao để bày tỏ niềm
lo lắng của mình về vận mệnh nước Sở.
Sau đó Khuất Nguyên đi lang thang trên bờ sông Nguyên. Có ông lão đánh cá hỏi: "Người trên đời này
đều bẩn như thế, tại sao ông lại không hòa lẫn với họ trong bùn nhơ?". Khuất Nguyên trả lời: "Tôi thà
nhảy xuống sông còn hơn để cho phẩm cách của mình bị vấy bùn". Đầu mùa hạ năm 278 trước Công
nguyên, Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La, lấy cái chết giữ trọn lời thề.
Ngày ấy là mồng năm tháng Năm âm lịch. Vào tiết này, dân chúng ném cơm xuống sông để tưởng nhớ
Khuất Nguyên. Về sau người ta không ném cơm nữa, mà lấy lá gói xôi ném xuống sông, và nghĩ rằng
nếu làm như thế thì các loài yêu quái dưới nước sông sẽ phải kinh sợ. Người ta lại còn sửa sang các
con thuyền thành hình những con rồng, thế là có tập quán đến tết Đoan ngọ thì dân chúng ăn bánh tét và
đua thuyền rồng.
QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao đến rằm tháng Tám người ta ăn bánh Trung thu?
Tết Trung thu vào tháng Tám trăng rất tròn. Bánh Trung thu vừa thơm vừa ngon ngọt. Hôm ấy tất cả
các gia đình đều đoàn tụ, mọi người có thể vừa ăn bánh vừa ngắm trăng, tình cảm đằm thắm rất là thú
vị.
Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết giải thích vì sao cứ đến tết Trung thu người ta lại ăn bánh
Trung thu. Nhưng truyền thuyết được phổ biến nhất là trong những năm cuối triều đại nhà Nguyên, bọn
thống trị áp bức bóc lột nhân dân rất tàn khốc, khiến dân chúng bất mãn và nuôi ý chí phản kháng
mãnh liệt.
Hồi ấy có hai vị lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn đã
tổ chức nhân dân vùng lên chống lại bè lũ thống trị tàn bạo. Để có thể truyền đạt tin tức và mệnh lệnh
một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong những cái bánh này đều có nhét thêm
một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm rằm tháng Tám âm lịch.
Sau đó những cái bánh này được người ta truyền đi cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc.
Phương pháp này tỏ ra hết sức hiệu nghiệm, tiu tức hô hào khởi nghĩa đã được truyền đi khắp nơi.
Về sau người Trung Quốc lấy việc ăn bánh Trung thu vào ngày rằm tháng Tám để kỉ niệm sư kiện ấy.
Như vậy phong tục ăn bánh Trung thu trong ngày tết Trung thu dần dần đã được lưu truyền cho tới ngày
nay.
Thật ra bánh Trung thu đã có từ đời Đường. Nó được coi như một thứ đồ lễ để cúng thần mặt trăng, và
hồi ấy bánh này được gọi là bánh nhỏ (tiểu bính) hay bánh ngọt (điềm bính) và ở kinh thành Trường
An đã có những cửa hiệu làm và bán bánh Trung thu.
Sang đến đời Tống thì các nơi trong nước đã có nhiều thứ bánh Trung thu với phong vị khác nhau,
chẳng hạn bánh kiểu Tô Châu, bánh kiểu Quảng Châu, bánh kiểu Ninh Ba, bánh kiểu Bắc Kinh.
Vì bánh Trung thu có mùi vị thơm ngon, hình của nó lại tương tự như mặt trăng, cho nên về sau loại
bánh này đã được dùng làm vật tượng trưng cho chuyện gia đình đoàn tụ trong ngày tết Trung thu, đồời
nó cũng được dùng làm quà ngày lễ để bạn bè thân thuộc tặng cho nhau kèm theo những lời chúc tốt
lành.
TRƯƠNG LƯƠNG
https://thuviensach.vn
Tại sao tết Người Già và tết Trùng dương trùng hợp với nhau?
Đời xưa ở Trung Quốc người ta gọi các số 1, 3, 5, 7, 9 là số dương, còn các số 2, 4, 6, 8 thì được gọi
là số âm.
Ngày mồng chín tháng Chín âm lịch đúng là có hai số chín trùng nhau, cho nên ngày này được gọi là
“Trùng cửu” (trùng số chín). Đồng thời ngày là dương, tháng cũng là dương, vì thế ngày này cũng
được gọi là “Trùng dương”, do đó ngày mồng chín tháng Chín được gọi là “Trùng dương”, mà cũng
được gọi là “Trùng cửu”.
Tết Trùng dương đại khái đã bắt đầu có trước đây hơn một ngàn bảy trăm năm. Theo truyền thuyết thì
dưới đời Đông Hán có một người ở Nhữ Nam tên là Hoàn Cảnh. Hoàn Cảnh lạy một vị tiên là Phí
Trưởng Phòng xin được nhận làm đồ đệ. Một hôm sư phụ bỗng nói với đệ tử rằng nhà của Hoàn Cảnh
đến ngày mồng chín tháng Chín sẽ phải chịu một tai họa rất lớn, và bảo ông phải mau mau về nhà để
đưa gia đình lên núi cao, và nếu đeo cây thù du và uống rượu hoa cúc thì sẽ có thể tiêu trừ được tai nạ
Hoàn Cảnh vâng lời sư phụ đưa cả nhà lên núi, thì quả nhiên thoát được tai nạn và được bình an vô
sự, nhưng trong nhà có bao nhiêu gà, vịt, dê, chó đều chết hết. Từ đấy về sau người ta bắt đầu có
phong tục cứ đến tết Trùng dương thì kéo nhau lên núi cao.
Ở thời cổ xưa, người ta ăn tết Trùng dương là vì cảm thấy rằng hai con số chín đi với nhau là không
được tốt, cho nên phải trèo lên núi cao, đeo cây thù du vào người và uống rượu hoa cúc thì mới có thể
xua đuổi được tà khí, tránh khỏi các tai họa và gặp được những điều may mắn. Nhưng về sau cùng với
sự tiến bộ của xã hội, quan niệm mê tín kia dần dần không còn nữa.
Tháng Chín âm lịch chính là thời tiết mùa thu, không khí trong lành. Trong những ngày này mà lên núi
cao, nhìn ra ngoài xa thì có thể rèn luyện thân thể, lại có thể cảm thấy tinh thần của mình được sảng
khoái. Vì cách hoạt động như thế này hết sức thích hợp với những người đã có tuổi, cho lên người ta
cũng quy định lấy tết Trùng dương làm tết Người Già (Lão Nhân tiết).
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao ngày mồng tám tháng mườl Hai âm lịch được gọi là "Lạp
bát tiết"?
Ngày xưa ở Trung Quốc, cứ đến khi năm cũ chuyển mới thì người ta thường dùng thịt muối của các
loài cầm thú để cúng lễ, cầu xin trời phật ban cho phúc thọ và giải trừ được tai nạn. Khi đó chữ
“liệp” (bộ khuyển: săn bắn) cũng đồng nghĩa với chữ "lạp” (bộ nhục) nghĩa là muối thịt, muối cá, vì
thế người đời xưa gọi hoạt động tế lễ trời đất thần linh và cúng giỗ tổ tiên là "lạp tế”, rồi sau đó tháng
Mười Hai cuối năm cũng được gọi là "Lạp nguyệt”.
Từ đời Tiền Tần, người ta bắt đầu coi ngày cử hành hoạt động “lạp tế” trong tháng Mười Hai là ngày
tết đầu năm, nhưng hồi ấy vẫn còn chưa cố định là vào đúng ngày nào.
Mãi đến đời Nam Bắc Triều mới xác định hoạt động "lạp tế” vào ngày mồng tám (bát) tháng Mười
Hai âm lịch, do đó ngày này cũng được gọi là "Lạp bát tiết".
Vào ngày "Lạp bát tiết", người ta thường dùng những thứ ngũ cốc như gạo, đậu, cho thêm hạt dẻ, hạnh
nhân, lạc... nấu thành một thứ cháo vừa thơm vừa ngon gọi là "Lạp bát chúc" (cháo ngày tám lạp tế) để
tiến hành "Lạp tế” và toàn thể gia đình có thể tụ tập ngồi ăn với nhau.
Và như vậy phong tục cổ xưa ăn "Lạp bát chúc" vẫn còn được kéo dài cho tới ngày nay.
Đến đời Tống việc ăn "Lạp bát chúc" rất được thịnh hành, sách Thiên Trung Kí có ghi lại rằng, đời
Tống ở Đông Kinh đến ngày mồng tám tháng Mười Hai tất cả các chùa lớn ở đô thành đều phát thứ
cháo thất bảo ngũ vị gọi là "Lạp bát chúc". Cứ đến ngày Lạp bát thì không riêng triều đình cùng các
quan phủ và chùa chiền phải nấu rất nhiều "Lạp bát chúc", mà dân gian cũng tranh nhau bắt chước.
Đến đời Thanh, tới ngày ấy thì sư sãi ở các chùa chiền, miếu viện còn phải làm lễ tụng kinh, dùng
cháo đ̓ng Phật tưởng nhớ đến Đức Thích Ca Mâu Ni, còn ở trong dân gian người ta nấu "Lạp bát
chúc" để cúng thần linh và tổ tiên, rồi cả nhà tụ tập ăn uống vui vẻ với nhau, đồng thời bạn bè, xóm
giềng dân chúng cũng đem tặng cho nhau.
DIỆP QUẢNG SINH
https://thuviensach.vn
Đêm cuối năm tại sao lại phải thức qua giao thừa?
Ăn giao thừa trong đêm trừ tịch là một trong những phong tục tập quán ở Trung Quốc. Hàng năm cứ
đến tới ngày ba mươi - tháng Chạp thì trong các gia đình, cả nhà đều đoàn tụ trước đèn, trong gian
phòng sưởi ấm có bầy rượu cùng các thức ăn ngon và người ta thường không ngủ để chờ đón năm mới.
Tập quán thức qua đêm giao thừa này, tương truyền là nhằm để phòng tránh một loài dã thú cực kì
hung ác và dũng mãnh có tên là “niên". Theo truyền thuyết thì ở cái thời rất xa xưa ấy, tổ tiên của
người Trung Quốc thường bị loài dã thú này uy hiếp. Loài "niên" này hết sức hung dữ, nó ăn tất cả các
loài thú vật khác, nhưn
LỜI NGƯỜI LÀM SÁCH
Tuổi nhỏ ham hiểu biết và cần ham hiểu biết. Đó là cái may của xã hội tương lai. Nhưng các bậc
người lớn nhiều khi lúng túng trước vô số câu hỏi của em, con, cháu mình. Có lẽ vì vậy mà cuốn
Tiểu học sinh thiên hạ sự toàn tri đạo (Học sinh tiểu học biết mọi chuyện trong thiên hạ) vừa phát
hành tại Trung Quốc tháng 12/2000 thì tháng 2/2001 đã được in lại đến lần thứ ba, số lượng lên
tới 41.000 bản.
Để giúp các bạn nhỏ Việt Nam - và không chỉ các bạn nhỏ - tìm thấy câu trả lời cho nhiều thắc
mắc đáng khuyến khích, năm 2002 Trung Tâm Văn Hóa Ngôn Ngữ Đông Tây liên kết với Nhà Xuất
Bản Thuận Hóa tổ chức dịch và xuất bản tựa sách nói trên; sách được in thành bốn tập nhỏ với
nhan đề Biết tất tật chuyện trong thiên hạ. Đây là loại sách có tính chất bách khoa tri thức, tập hợp
những câu chuyện thú vị từ xưa đến nay trong cuộc sống, trong mọi lĩnh vực văn hóa, khoa học,
lịch sử... ở khắp năm châu bốn biển, mà trước hết là ở Trung Quốc và Phương Đông. Bản dịch
tiếng Việt ra đời đã được sự đón nhận nhiệt tình nên năm 2003, chúng tôi đã tổ chức biên tập lại,
in thành một tập khổ 14.5 x 20.5. Trong năm 2007 này, chúng tôi tiếp tục chỉnh sửa và cho tái bản
lần thứ 3 để làm món quà ý nghĩa cho các bạn nhỏ ham hiểu biết. Người làm sách mong nhận
được nhiều ý kiến đóng góp xây dựng hoàn thiện trong những lần in sau.
Hà Nội, 2007
https://thuviensach.vn
Tại sao người Trung Quốc thời cổ coi Kì lân, Phượng hoàng, Rùa
và Rồng là những con vật tượng trưng cho điều tốt lành?
Thời xưa ở Trung Quốc, Kì lân, Phượng hoàng, Rùa và Rồng được gọi chung là "tứ linh" (bốn giống
vật linh thiêng). Truyền thuyết nói rằng: "Kì lân tín nghĩa, Phượng hoàng trị loạn, Rùa báo điềm lành,
còn Rồng có phép biến hoá".
Nói vậy cũng có nghĩa Kì lân là biểu tượng của đức hạnh đôn hậu, tượng trưng cho đời thịnh trị thái
bình; Phượng hoàng giữ gìn cuộc sống bình yên; Rồng có thể hô phong hoán vũ nên tượng trưng cho
quyền lực và sự tôn nghiêm; Rùa biết trước tương lai, và cũng là con vật tượng trưng cho sự trường
thọ.
Vì thế bốn loài này được coi là những con vật tiêu biểu cho sự tốt lành. Nhưng trong số đó chỉ Rùa là
có thực, còn lại đều là những con vật thần thoại hoặc nói cách khác là những hình tượng nghệ thuật do
con người sáng tạo ra.
Kì lân trong truyền thuyết thân giống hươu, đầu mọc một sừng duy nhất, có vẩy như cá, đuôi như đuôi
trâu, tính ôn hòa, thuần nhã, độ lượng cho nên được coi là loài thú nhân hậu, có đức hạnh. Các bậc đế
vương Trung Quốc mọi thời đại đều coi Kì lân là điềm tốt lành kì lạ của đất nước, còn trong dân gian
thì có truyền thuyết Kì lân tống tử
Thời cổ đại xa xưa Rồng và Phượng hoàng được sùng bái, coi là thủy tổ tượng trưng của nhiều bộ lạc
và được thờ cúng.
Rồng là tôtem (vật tổ) của dân tộc Hoa Hạ ở miền Tây Trung Quốc. Theo truyền thuyết, Rồng có chín
bộ phận trên cơ thể giống các loài vật khác là sừng hươu, đầu và cổ rắn, mắt tôm, tai bò, bụng ngôi
mộ tổ giống loài sò hến, vẩy cá chép, vuốt chim ưng và bàn chân hổ.
Phượng là tên gọi tắt của chim thần phượng hoàng, là tôtem của hàng loạt bộ lạc cư trú ở miền Đông
Trung Quốc. Theo truyền thuyết, chim Phượng cao sáu thước, đầu gà, cổ rắn, hàm yến, lưng hổ và có
năm sắc.
Về sau vua chúa phong kiến coi Rồng là biểu tượng cho quyền lực và sự tôn nghiêm của mình. Long
bào (áo rồng) và phượng quán (mũ phượng) trở thành những vật dụng chỉ dành riêng cho vua và hoàng
hậu.
Còn trong dân gian, Rồng và Phượng là biểu tượng của sự tốt lành, vì thế mà có câu "Long Phượng
trình tường" (Rồng Phượng báo điềm lành).
Trong tứ linh, Rùa là con vật có thật. Rùa giỏi chịu đựng đói và khát có sức sống cực kì mạnh mẽ nên
tượng trưng cho sự trường thọ; lại vì được cho là linh thiêng biết trước điều may rủi nên Rùa còn
được coi là con vật trung gian giữa người và thần linh.
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao trong tên gọi các công trình kiến trúc thời cổ thường có
chữ "cửu” ?
“Cửu” (chín) là con số được dùng nhiều trong dân gian ở Trung Quốc. Đặc biệt các công trình kiến
trúc cổ hầu như đều liên quan đến số chín. Chẳng hạn thành Bắc Kinh hồi đầu có chín cổng; Thiên An
Môn có chín tòa lầu gọi là Cửu Doanh Trùng Lâu; bốn góc Cố Cung có các tòa lầu đều gồm chín tầng
và mười tám cột trụ; cổng lớn các kiến trúc cung đình đều có chín đèn ngang và chín đèn dọc; các bức
tường chạm rồng ở Bắc Hải và Cố Cung đều có chín con, vì thế được gọi là "Cửu Long Bích" (tường
chín con rồng). Vậy thì tại sao lại như thế ?
Vốn là, người Trung Quốc thời cổ dựa vào thuyết âm đương gọi số lẻ là số dương, còn số chẵn là số
âm. Số Chín lớn nhất trong các số dương nên gọi là "cực dương số”. Vì thế người ta thường dùng số
chín để nói lên cái ý niệm to, nhiều, hết sức, và còn dùng số chín để tượng trưng cho thiên tử. Sách cổ
Kinh Dịch viết rằng con số chín có ý nghĩa tốt lành nên kiến trúc cung đình thời cổ Trung Quốc đều
dùng số chín hoặc các bội số của số chín để thiết kế xây dựng, nhằm làm nổi lên ý niệm hoàng đế là
bậc thiên tử, không ai còn có thể cao hơn nữa.
Vì số chín là số lớn nhất trong các số, cho nên người ngày nay vẫn thường xuyên thích dùng số chín
hoặc các bội số của số chín để nói lên ý niệm về cái gì có nhiều. Chẳng hạn cửu tiêu (chín tầng trời),
cửu tuyền (chín suối, tức là âm phủ), thập bát ban vũ nghệ (mười tám môn võ nghệ), thập bát tằng địa
ngục (mười tám tầng địa ngục), thập bát La Hán (mười tám vị La Hán), tam thập lục kế (ba mươi sáu
kế), thất thập nhị hàng (bẩy mươi hai ngành nghề)...
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao mặt tiền các kiến trúc cổ Trung Quốc thường có một đôi sư
tử đá?
Trong số các di vật văn hóa thời cổ đại khai quật được ở Trung Quốc, dù là đồ ngọc, đồ gốm, đồ đất
nung, đồ đồng thau, hay các bức vẽ, các bức khắc trên đá, chúng ta thấy các động vật được thể hiện
chỉ có hổ, dê, chim, cá, bò, lợn, hạc, hươu .. Tất nhiên còn có rồng là con vật do người ta tưởng tượng
ra, nhưng hình như không di vật nào có hình sư tử.
Nguyên nhân của việc này rất đơn giản. Trung Quốc thời cổ không có sư tử, người ta chưa biết đến sư
tử, vì thế không thể khắc họa hình sư tử trong các tác phẩm. nghệ thuật.
Quê hương của sư tử là những vùng nhiệt đới ở Châu Phi, Ấn Độ... Sư tử Trung Quốc chỉ có từ khi
Hán Vũ Đế sai Trương Khiên đi sứ Tây Vực, được vua Tây Vực tặng sư tử như một món lễ vật quý
báu để đưa về Trung Quốc.
Khoảng năm 125 sau Công nguyên, hoàng đế thứ bảy của nhà Đông Hán là Thuận Đế Lưu Bảo lên
ngôi. Quốc vương Sơ Lặc đất Tây Vực sai sứ đem tới Lạc Dương tặng Thuận Đế một cặp sư tử. Vị
hoàng đế trẻ tuổi này rất thích nên đã di chiếu lại rằng: sau khi trẫm băng hà, các khanh hãy dùng cặp
sư tử này để canh lăng mộ cho trẫm. Khi Thuận Đế Lưu Bảo qua đời, vì không có sư tử thật nên người
ta phải nghĩ ra cách tạc sư tử đá đặt ở trước lăng. Về sau, các quan to quyền quý cũng bắt chước tạc
sư tử đá đNnh lăng mộ cho người chết.
Tượng sư tử đá cũng có thế uy nghiêm, mạnh mẽ và đầy sức sống, đặc biệt khi được tạc trong tư thế
quỳ, hai chân trước duỗi, hai chân sau gập, ngực ưỡn, bụng thót, cổ có mảng lông xoăn, khắp mình bắp
thịt nổi cuồn cuộn - tất cả tập trung thể hiện vẻ dũng mãnh và sức mạnh của con sư tử. Hình tượng này
cũng biểu hiện một cách khái quát thế giới nội tâm và sự tìm kiếm về tinh thần của người thợ tạc hình
sư tử.
Những người thợ thông minh thời cổ Trung Quốc, trong những trường hợp khác nhau, đã tạc ra được
những con sư tử với trăm ngàn tư thái khác nhau. Về sau chức năng của sư tử đá đã từ chỗ bảo vệ
người chết ở trước lăng mộ đã chuyển thành khả năng xua đuổi tà ma, tiêu trừ tai họa. Vì thế sư tử lại
còn được bầy ở trước các công trình kiến trúc tôn giáo như chùa chiền, miếu mạo, hang đá. Ngoài ra
chúng còn xuất hiện như những trang trí thể hiện sự tốt lành ở trước các công trình kiến trúc như cầu,
từ đường, cung điện, trong số đó nổi tiếng nhất có đôi sư tử đá trước Thiên An Môn Bắc Kinh. Thủ
pháp điêu khắc của cặp sư tử này theo lối tả thực tương đối hình tượng tinh vi, uy vũ hùng tráng, khí
thế đằng đằng, do đó rất được người xem ưa thích.
TỪ DỤC AN - QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao phần mộ của các đế vương được gọi là lăng?
Năm 210 trước Công nguyên sau khi băng hà, Tần Thủy Hoàng được mai táng ở núi Ly Sơn ngoại
thành phía đông Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Dựa theo những điều được ghi lại, phần mộ Tần Thủy Hoàng
cao hơn 100 mét, đến nay vẫn như một tòa núi nhỏ, với thế đất rất hùng vĩ.
Ngay từ khi còn sống, Tần Thủy Hoàng đã lo xây dựng phần mộ cho bản thân mình rồi. Sau khi thống
nhất được Trung Quốc, vị hoàng đế này đã dùng vài chục vạn người để tu bổ thêm. Theo truyền thuyết
thì bên trong lăng mộ người ta dùng thủy ngân để tạo thành sông, suối và biển, các trân châu và báu
vật tập trung đem vào trong đó không đếm sao cho hết.
Sau khi Tần Thủy Hoàng chết đi, tất cả những phi tần chưa sinh con, thợ xây và tu bổ lăng mộ cũng
đều bị chôn sống theo hết, vì hoàng gia sợ họ tiết lộ những điều bí mật trong lăng mộ.
Thời xưa, sau khi người ta chết đi, thi thể đều phải đem chôn xuống đất, cho nên có câu nói "nhập thổ
vi an" (chôn được xuống đất là yên). Nơi mai táng của những người bình thường đều phải dùng đất
đắp thành một đống nhỏ để cho biết đây là một phần mộ. Những người có địa vị càng quan trọng, quan
chức càng cao, tiền tài càng nhiều, thì sau khi chết đi phần mộ của họ càng càng to. Còn các đế vương,
tể tướng, võ tướng vốn muốn phô bầy địa vị cao quý của mình thì tự nhiên cũng có phần mộ được xây
dựng càng đồ sộ hơn nữa. Do đó các phần mộ này được gọi là lăng. Lăng là một núi đất to. Phần mộ
của Tần Thủy Hoàng có quy mô rất lớn, do đó gọi là Tần lăng.
Các lăng mộ đời Hán đều dùng đất đắp cao lên từng bậc, phần dưới to, phần trên nhỏ, tạo nên một
hình thế ổn định, vững vàng như núi.
Từ đời Đường về sau, các bậc đế vương nhận thấy rằng phần mộ xây dựng như thế vẫn chưa phô bày
hết được thân phận cao quý của mình, nên đã xây dựng những lăng mộ dựa vào núi.
Ngày nay phần mộ của các lãnh tụ và liệt sĩ cách mạng cũng được gọi là lăng hay là lăng viên, chẳng
hạn như lăng Tôn Trung Sơn, lăng viên liệt sĩ Long Hoa...
QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao ngày đầu năm gọi là "Nguyên đán"?
Hiện nay ở Trung Quốc ngày mồng một tháng Giêng dương lịch hàng năm được gọi là ngày Nguyên
đán. Trong tiếng Hán, chữ “nguyên” nghĩa là bắt đầu, tức là thứ nhất, còn chữ "đán" nghĩa là một ngày
hoặc buổi sáng. Hai chữ này được ghép lại với nhau thì dùng để chỉ ngày đầu tiên trong một năm.
Thời gian trái đất xoay quanh mặt trời được một vòng theo phương pháp làm lịch gọi là một năm.
Song sự vận chuyển của trái đất quanh mặt trời không có điểm đầu và điểm cuối cố định, vì thế điểm
đầu và điểm cuối của một năm là do con người quy định. Do đó các phương pháp làm lịch không
thống nhất.
Ở Trung Quốc, theo truyền thuyết thì cái tên gọi "Nguyên đán” có nguồn gốc từ một vị hoàng đế trong
Tam hoàng Ngũ đế có tên là Chuyên Húc. Chuyên Húc lấy tháng Giêng nông lịch là Nguyên và ngày
mồng một là Đán.
Về sau, cótriều đại lại thay đổi nhật kì của ngày Nguyên đán. Chẳng hạn nhà Hạ lấy ngày mồng một
tháng Mười Hai là Nguyên đán, nhà Thương lấy ngày mồng một tháng Mười Hai là Nguyên đán.
Nhà Chu lấy ngày mồng một tháng Mười một làm Nguyên đán, nhưng đến đời Hán Vũ Đế lại quy định
lấy ngày mồng một tháng Giêng là Nguyên đán, rồi từ đó đến nay, trải qua các thời đại, nhật kì của
ngày Nguyên đán không còn thay đổi nữa.
Từ sau cách mạng Tân Hợi, người Trung Quốc chuyển sang dùng Công lịch và ngày Nguyên đán âm
lịch được đổi tên là Xuân tiết (ngày tết xuân), còn ngày mồng một tháng giêng của lịch mới thì được
gọi là Tân niên (ngày năm mới).
Năm 1949, Hội nghị Toàn thể khoá I Hội nghị Nhân dân Chính trị Hiệp thương Trung Quốc đã thông
qua việc sử dụng "cách ghi năm theo Công nguyên" và chính thức quy định ngày mồng một tháng
Giêng Công lịch là ngày Nguyên đán.
Ngày nay, nhiều quốc gia áp dụng Công lịch đều lấy ngày mồng một tháng Giêng làm ngày Nguyên
đán, nhưng vẫn còn có một số quốc gia và dân tộc, do phương pháp làm lịch dựa theo những tín
ngưỡng tôn giáo, phong tục tập quán, khí hậu các mùa... không đồng nhất, cho nên nhật kì ngày Nguyên
đán của mỗi năm được định ra không như nhau. Thí dụ nhân dân Ai Cập lấy ngày nước sông Nin bắt
đầu dâng lên làm ngày Nguyên đán.
TRƯƠNG LƯƠNG NHẤT
https://thuviensach.vn
Tại sao đến tiết Thanh minh người ta phải đi tảo mộ?
Hàng năm, cứ đến tiết Thanh minh là bao giờ người ta cũng ra ngoại thành đi tảo mộ. Trong ngày này,
dân chúng ăn bánh trôi, căm nhành liễu, nhiều trường hợp lại còn tổ chức những buổi cho học sinh đi
chơi mùa xuân gọi là "Đạp thanh xuân du” (giẫm lên cỏ xanh dạo chơi mùa xuân). Tất cả các tập quán
này bắt nguồn từ tiết Hàn thực (ăn đồ nguội) theo truyền thống trong lịch sử Trung Quốc.
Tương truyền trong thời Xuân Thu trước đây hơn hai nghìn năm, Tấn Văn Công trong khi luận công
khen thưởng cho các công thần khai quốc có để sót mất người ân nhân cứu mạng mình là Giới Tử
Thôi. Sau đó đến khi Tấn Văn Công nhớ lại thì Giới Tử Thôi đã đưa mẹ về ẩn cư ở Miên Sơn (nay ở
phía đông nam huyện Giới Lưu tỉnh Sơn Tây), không thể nào tìm thấy được nữa.
Khi ấy có người đã hiến kế cho Tấn Văn Công dùng lửa đốt núi thì Giới Tử Thôi sẽ bắt buộc phải dời
núi mà ra. Không ngờ lửa đốt ba ngày ba đêm đã thiêu sống cả hai mẹ con Giới Tử Thôi, vì thế Tấn
Văn Công hết sức đau buồn, đã sai đổi tên Miên Sơn thành Giới Sơn và lập miếu thờ.
Năm sau, đến ngày đốt rừng năm trước, nhà vua ban lệnh cho dân cấm đốt lửa và chính mình ăn đồ
nguội để tự trách phạt. Tiết Hàn thực đã được đặt ra từ ngày ấy.
Hàng năm, vào ngày này dân chúng chỉ ăn đồ nguội làm sẵn từ trước như tránh trôi, bánh táo, và ra
đồng làm lễ cúng Giới Tử Thôi để tưởng nhớ tới người bề tôi hiền đức không ham danh lợi sau khi sự
nghiệp đã thành công.
Nhưng chính vì ngày của tiết Hàn thực trùng với tiết Thanh minh cho nên tiết Thanh minh cũng gọi là
tiết Hàn thực, rồi dần dà việc làm lễ kỉ niệm này đ phong tục Thanh minh tảo mộ và Đạp thanh.
CHU SƠ DƯ
https://thuviensach.vn
Dịp tết Đoan ngọ tại sao người ta ăn bánh tét?
Mỗi năm cứ đến ngày mồng năm tháng Năm nông lịch, mọi người đều vui vẻ ăn bánh tét, có địa
phương còn tổ chức đua thuyền rồng và ngày ấy được gọi là tết Đoan ngọ. Theo truyền thuyết thì đây
là tập quán để tưởng niệm Khuất Nguyên - nhà thơ vĩ đại đầu tiên của Trung Quốc.
Khuất Nguyên sinh ở đất Tỷ Quy nước Sở năm 340 trước Công nguyên. Dưới thời Chiến Quốc, trong
số các nước hùng mạnh thì nước Sở có lãnh địa rộng lớn nhất, song nước Tần ở phương Bắc lại mạnh
hơn. Và nước Tần đã coi nước Sở là đối thủ chính của mình trong cuộc đấu tranh giành quyền bá chủ.
Hồi ấy Khuất Nguyên đảm nhiệm một chức vị quan trọng ở nước Sở. Ông kiến nghị với Sở Hoài
Vương nên liên hợp với các nước Tề, Triệu, Ngụy, Hàn, Yên để cùng nhau chống lại nước Tần. Hồi
đầu, Sở Hoài Vương hết sức tín nhiệm Khuất Nguyên, để cho Khuất Nguyên soạn ra pháp lệnh mới,
nhưng về sau có nhiều gian thần gièm pha li gián, khiến Sở Hoài Vương nghi ngờ, cuối cùng bãi chức
quan và đày đ
Trong tâm trạng đau buồn vô hạn, Khuất Nguyên đã viết bản trường thi trứ đanh Ly tao để bày tỏ niềm
lo lắng của mình về vận mệnh nước Sở.
Sau đó Khuất Nguyên đi lang thang trên bờ sông Nguyên. Có ông lão đánh cá hỏi: "Người trên đời này
đều bẩn như thế, tại sao ông lại không hòa lẫn với họ trong bùn nhơ?". Khuất Nguyên trả lời: "Tôi thà
nhảy xuống sông còn hơn để cho phẩm cách của mình bị vấy bùn". Đầu mùa hạ năm 278 trước Công
nguyên, Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La, lấy cái chết giữ trọn lời thề.
Ngày ấy là mồng năm tháng Năm âm lịch. Vào tiết này, dân chúng ném cơm xuống sông để tưởng nhớ
Khuất Nguyên. Về sau người ta không ném cơm nữa, mà lấy lá gói xôi ném xuống sông, và nghĩ rằng
nếu làm như thế thì các loài yêu quái dưới nước sông sẽ phải kinh sợ. Người ta lại còn sửa sang các
con thuyền thành hình những con rồng, thế là có tập quán đến tết Đoan ngọ thì dân chúng ăn bánh tét và
đua thuyền rồng.
QUÁCH CẢNH PHONG
https://thuviensach.vn
Tại sao đến rằm tháng Tám người ta ăn bánh Trung thu?
Tết Trung thu vào tháng Tám trăng rất tròn. Bánh Trung thu vừa thơm vừa ngon ngọt. Hôm ấy tất cả
các gia đình đều đoàn tụ, mọi người có thể vừa ăn bánh vừa ngắm trăng, tình cảm đằm thắm rất là thú
vị.
Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết giải thích vì sao cứ đến tết Trung thu người ta lại ăn bánh
Trung thu. Nhưng truyền thuyết được phổ biến nhất là trong những năm cuối triều đại nhà Nguyên, bọn
thống trị áp bức bóc lột nhân dân rất tàn khốc, khiến dân chúng bất mãn và nuôi ý chí phản kháng
mãnh liệt.
Hồi ấy có hai vị lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn đã
tổ chức nhân dân vùng lên chống lại bè lũ thống trị tàn bạo. Để có thể truyền đạt tin tức và mệnh lệnh
một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong những cái bánh này đều có nhét thêm
một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm rằm tháng Tám âm lịch.
Sau đó những cái bánh này được người ta truyền đi cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc.
Phương pháp này tỏ ra hết sức hiệu nghiệm, tiu tức hô hào khởi nghĩa đã được truyền đi khắp nơi.
Về sau người Trung Quốc lấy việc ăn bánh Trung thu vào ngày rằm tháng Tám để kỉ niệm sư kiện ấy.
Như vậy phong tục ăn bánh Trung thu trong ngày tết Trung thu dần dần đã được lưu truyền cho tới ngày
nay.
Thật ra bánh Trung thu đã có từ đời Đường. Nó được coi như một thứ đồ lễ để cúng thần mặt trăng, và
hồi ấy bánh này được gọi là bánh nhỏ (tiểu bính) hay bánh ngọt (điềm bính) và ở kinh thành Trường
An đã có những cửa hiệu làm và bán bánh Trung thu.
Sang đến đời Tống thì các nơi trong nước đã có nhiều thứ bánh Trung thu với phong vị khác nhau,
chẳng hạn bánh kiểu Tô Châu, bánh kiểu Quảng Châu, bánh kiểu Ninh Ba, bánh kiểu Bắc Kinh.
Vì bánh Trung thu có mùi vị thơm ngon, hình của nó lại tương tự như mặt trăng, cho nên về sau loại
bánh này đã được dùng làm vật tượng trưng cho chuyện gia đình đoàn tụ trong ngày tết Trung thu, đồời
nó cũng được dùng làm quà ngày lễ để bạn bè thân thuộc tặng cho nhau kèm theo những lời chúc tốt
lành.
TRƯƠNG LƯƠNG
https://thuviensach.vn
Tại sao tết Người Già và tết Trùng dương trùng hợp với nhau?
Đời xưa ở Trung Quốc người ta gọi các số 1, 3, 5, 7, 9 là số dương, còn các số 2, 4, 6, 8 thì được gọi
là số âm.
Ngày mồng chín tháng Chín âm lịch đúng là có hai số chín trùng nhau, cho nên ngày này được gọi là
“Trùng cửu” (trùng số chín). Đồng thời ngày là dương, tháng cũng là dương, vì thế ngày này cũng
được gọi là “Trùng dương”, do đó ngày mồng chín tháng Chín được gọi là “Trùng dương”, mà cũng
được gọi là “Trùng cửu”.
Tết Trùng dương đại khái đã bắt đầu có trước đây hơn một ngàn bảy trăm năm. Theo truyền thuyết thì
dưới đời Đông Hán có một người ở Nhữ Nam tên là Hoàn Cảnh. Hoàn Cảnh lạy một vị tiên là Phí
Trưởng Phòng xin được nhận làm đồ đệ. Một hôm sư phụ bỗng nói với đệ tử rằng nhà của Hoàn Cảnh
đến ngày mồng chín tháng Chín sẽ phải chịu một tai họa rất lớn, và bảo ông phải mau mau về nhà để
đưa gia đình lên núi cao, và nếu đeo cây thù du và uống rượu hoa cúc thì sẽ có thể tiêu trừ được tai nạ
Hoàn Cảnh vâng lời sư phụ đưa cả nhà lên núi, thì quả nhiên thoát được tai nạn và được bình an vô
sự, nhưng trong nhà có bao nhiêu gà, vịt, dê, chó đều chết hết. Từ đấy về sau người ta bắt đầu có
phong tục cứ đến tết Trùng dương thì kéo nhau lên núi cao.
Ở thời cổ xưa, người ta ăn tết Trùng dương là vì cảm thấy rằng hai con số chín đi với nhau là không
được tốt, cho nên phải trèo lên núi cao, đeo cây thù du vào người và uống rượu hoa cúc thì mới có thể
xua đuổi được tà khí, tránh khỏi các tai họa và gặp được những điều may mắn. Nhưng về sau cùng với
sự tiến bộ của xã hội, quan niệm mê tín kia dần dần không còn nữa.
Tháng Chín âm lịch chính là thời tiết mùa thu, không khí trong lành. Trong những ngày này mà lên núi
cao, nhìn ra ngoài xa thì có thể rèn luyện thân thể, lại có thể cảm thấy tinh thần của mình được sảng
khoái. Vì cách hoạt động như thế này hết sức thích hợp với những người đã có tuổi, cho lên người ta
cũng quy định lấy tết Trùng dương làm tết Người Già (Lão Nhân tiết).
LIÊU KIỆN HOA
https://thuviensach.vn
Tại sao ngày mồng tám tháng mườl Hai âm lịch được gọi là "Lạp
bát tiết"?
Ngày xưa ở Trung Quốc, cứ đến khi năm cũ chuyển mới thì người ta thường dùng thịt muối của các
loài cầm thú để cúng lễ, cầu xin trời phật ban cho phúc thọ và giải trừ được tai nạn. Khi đó chữ
“liệp” (bộ khuyển: săn bắn) cũng đồng nghĩa với chữ "lạp” (bộ nhục) nghĩa là muối thịt, muối cá, vì
thế người đời xưa gọi hoạt động tế lễ trời đất thần linh và cúng giỗ tổ tiên là "lạp tế”, rồi sau đó tháng
Mười Hai cuối năm cũng được gọi là "Lạp nguyệt”.
Từ đời Tiền Tần, người ta bắt đầu coi ngày cử hành hoạt động “lạp tế” trong tháng Mười Hai là ngày
tết đầu năm, nhưng hồi ấy vẫn còn chưa cố định là vào đúng ngày nào.
Mãi đến đời Nam Bắc Triều mới xác định hoạt động "lạp tế” vào ngày mồng tám (bát) tháng Mười
Hai âm lịch, do đó ngày này cũng được gọi là "Lạp bát tiết".
Vào ngày "Lạp bát tiết", người ta thường dùng những thứ ngũ cốc như gạo, đậu, cho thêm hạt dẻ, hạnh
nhân, lạc... nấu thành một thứ cháo vừa thơm vừa ngon gọi là "Lạp bát chúc" (cháo ngày tám lạp tế) để
tiến hành "Lạp tế” và toàn thể gia đình có thể tụ tập ngồi ăn với nhau.
Và như vậy phong tục cổ xưa ăn "Lạp bát chúc" vẫn còn được kéo dài cho tới ngày nay.
Đến đời Tống việc ăn "Lạp bát chúc" rất được thịnh hành, sách Thiên Trung Kí có ghi lại rằng, đời
Tống ở Đông Kinh đến ngày mồng tám tháng Mười Hai tất cả các chùa lớn ở đô thành đều phát thứ
cháo thất bảo ngũ vị gọi là "Lạp bát chúc". Cứ đến ngày Lạp bát thì không riêng triều đình cùng các
quan phủ và chùa chiền phải nấu rất nhiều "Lạp bát chúc", mà dân gian cũng tranh nhau bắt chước.
Đến đời Thanh, tới ngày ấy thì sư sãi ở các chùa chiền, miếu viện còn phải làm lễ tụng kinh, dùng
cháo đ̓ng Phật tưởng nhớ đến Đức Thích Ca Mâu Ni, còn ở trong dân gian người ta nấu "Lạp bát
chúc" để cúng thần linh và tổ tiên, rồi cả nhà tụ tập ăn uống vui vẻ với nhau, đồng thời bạn bè, xóm
giềng dân chúng cũng đem tặng cho nhau.
DIỆP QUẢNG SINH
https://thuviensach.vn
Đêm cuối năm tại sao lại phải thức qua giao thừa?
Ăn giao thừa trong đêm trừ tịch là một trong những phong tục tập quán ở Trung Quốc. Hàng năm cứ
đến tới ngày ba mươi - tháng Chạp thì trong các gia đình, cả nhà đều đoàn tụ trước đèn, trong gian
phòng sưởi ấm có bầy rượu cùng các thức ăn ngon và người ta thường không ngủ để chờ đón năm mới.
Tập quán thức qua đêm giao thừa này, tương truyền là nhằm để phòng tránh một loài dã thú cực kì
hung ác và dũng mãnh có tên là “niên". Theo truyền thuyết thì ở cái thời rất xa xưa ấy, tổ tiên của
người Trung Quốc thường bị loài dã thú này uy hiếp. Loài "niên" này hết sức hung dữ, nó ăn tất cả các
loài thú vật khác, nhưn
 









Các ý kiến mới nhất