Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

chieu-ben-kia-cai-biet

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:25' 06-03-2026
Dung lượng: 809.6 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
OSHO
Chiều bên kia cái biết
HÀ NỘI 10/2010
OSHO
Dimensions beyond the Known
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Mục lục
Mục lục
Giới thiệu
1. Không có điều gì khác để nói ngoại trừ điều này
2. Tại sao tôi đã tới
3. Con đường nhiều, khách lữ hành ít
4. Đây là thời khủng hoảng
5. Sinh thành của con người mới
6. Cuộc sống đầy những bí ẩn
Về Osho

Giới thiệu
Không hoài nghi gì nữa Osho là nhân vật gây tranh cãi nhiều nhất thế kỉ
này đã tạo ra. Người là bậc thầy đã chứng ngộ, người đã bị hầu hết các chính
phủ quốc gia "tự do" săn lùng trên sân khấu thế giới chỉ vì đã làm sống lại
con phượng hoàng trong tục ngữ. Làm sao người ta có thể làm chân lí câm
lặng được?
Trong cuốn sách này, chứa sáu bài nói tại Bombay từ 1970 tới 1973,
Osho cho độc giả một viễn cảnh mới về vũ trụ và những khả năng vô hạn
của nó. Người nói tới những điều bí truyền và với sự sáng sủa lạ thường của
mình đã biến đổi nó thành điều công truyền, cái đã biết.
Đây là cuốn sách duy nhất của Người mà tôi đã đọc nói về quá khứ của
Người theo những lời như vậy. Người đã mô tả thời gian và mối liên quan
của nó tới cả kiếp sống trước đây của Người và các biến cố trong cuộc đời
hiện tại của Người. Người mô tả tiến trình chết, Trung ấm Tây Tạng, và tái
sinh, không theo những lời thông thường của bàn tán và giả thuyết trí tuệ mà
dưới dạng kinh nghiệm cá nhân riêng của Người, của người biết.
Điều Osho có khả năng lấy các khái niệm siêu hình như vậy và giải thích
chúng theo cách đơn giản mà bao quát toàn diện cũng là một trong nhiều bí
ẩn của Người.
Người là, như những chủ đề mà Người thảo luận trong tập sách này, bí
ẩn như chính bản thân sự tồn tại vậy.
Swami Anand Yogendra, B.A., Ll.B.
Poona, 12/1989


1. Không có điều gì khác để nói
ngoại trừ điều này
Tôi đã đọc sách của Thầy;
Tôi đã nghe Thầy.
Ngôn ngữ của Thầy duyên dáng quyến rũ và rất rõ ràng.
Đôi khi Thầy nói về Mahavira,
đôi khi Thầy nói về Phật
và đôi khi Thầy kể về Jesus và cả Mohammed nữa.
Thầy tiết lộ các bí mật của Gita theo cách thức cảm hứng nhất,
Thầy cho các bài nói về Upanishads và Vedas,
và Thầy sẽ không ngần ngại đi vào đền chùa
hay nhà thờ để cho bài nói.
Tuy thế, Thầy vẫn kiên định rằng Thầy không bị ảnh hưởng
bởi bất kì nhân cách nào được nhắc tới ở trên.
Thầy nói rằng Thầy chẳng liên quan gì tới họ
và Thầy không đồng ý với họ
Liên tục, Thầy phê bình và làm tan tành
từng mảnh những niềm tin và kinh sách tôn giáo cổ đại.
Mục đích của Thầy là gì?
Thầy có muốn thiết lập tôn giáo của riêng mình không?
Thầy có muốn chứng tỏ rằng Thầy có tri thức vô giới hạn không?
Hay Thầy muốn làm lẫn lộn mọi người?
Thầy nói và giải thích trong lời,
nhưng đồng thời Thầy lại nói rằng
"Các bạn sẽ chẳng đạt tới đâu bằng níu bám vào lời."
Thầy nói, "Đừng tin vào tôi cũng đừng níu bám lấy tôi;
bằng không các bạn sẽ phạm phải cùng sai lầm."
Thầy cũng nói rằng bản thân phủ định này là lời mời.
Xin Thầy giải thích Thầy là ai và là cái gì
và Thầy muốn làm và nói gì.
Ý định của Thầy là gì?
Trước hết, tôi không bị ảnh hưởng bởi Mahavira, Phật, Christ hay
Mohammed. Chính cái đẹp của tôn giáo theo một nghĩa nào đó là nó bao giờ
cũng cổ. Chính theo nghĩa này mà kinh nghiệm tôn giáo mới được biết tới
cho nhiều người. Không kinh nghiệm tôn giáo nào theo cách người ta có thể
nói rằng "Nó là duy nhất của tôi."

Có hai lí do cho điều này. Thứ nhất, với việc có kinh nghiệm tôn giáo,
cái cảm giác về cái "của tôi" chết đi. Đó là lí do tại sao, trong thế giới này,
công bố về cái "của tôi" có thể được đưa ra cho mọi thứ, nhưng không cho
kinh nghiệm tôn giáo. Đây là kinh nghiệm duy nhất rơi ra ngoài quĩ đạo của
cái "của tôi," bởi vì kinh nghiệm này có thể có chỉ trên cái chết của cái "của
tôi." Đó là lí do tại sao lời công bố về cái "của tôi" có thể có đó cho mọi thứ,
nhưng không cho kinh nghiệm tôn giáo. Không ai có thể nói rằng một kinh
nghiệm như vậy là mới, bởi vì chân lí không mới không cũ.
Chính theo nghĩa này mà tôi nói về Mahavira, Jesus, Krishna, Christ và
những người khác: họ có kinh nghiệm tôn giáo. Khi tôi nói rằng tôi không bị
ảnh hưởng bởi họ, tôi chỉ ngụ ý rằng điều tôi nói bắt nguồn từ kinh nghiệm
và tri thức riêng của tôi. Tôi nói về họ, tôi dùng tên họ, bởi vì điều tôi đã biết
ăn khớp với điều họ đã biết. Nhưng với tôi tiêu chuẩn là kinh nghiệm của
riêng tôi.
Với tiêu chuẩn đó tôi thấy họ đúng, và đó là lí do tại sao tôi dùng tên họ.
Tôi đang nói điều tôi nói ra từ kinh nghiệm riêng của mình. Họ cũng chứng
tỏ là đúng theo kinh nghiệm của tôi; do đó, tôi nói về họ. Họ là nhân chứng
của tôi; họ là nhân chứng của kinh nghiệm của tôi nữa. Nhưng kinh nghiệm
này không thể nào được gọi là mới. Vâng, theo một nghĩa khác, nó có thể
được gọi là mới. Đây là điều khó hiểu và bí ẩn nền tảng của tôn giáo.
Kinh nghiệm tôn giáo có thể được gọi là mới bởi vì với bất kì ai mà kinh
nghiệm này bừng lên, nó cũng tuyệt đối mới và xảy ra lần đầu tiên. Nó còn
chưa xuất hiện trước đây. Nó có thể đã xuất hiện cho ai đó khác, nhưng cho
người đã kinh nghiệm nó lần đầu tiên thì nó là mới. Nó cũng mới với người
đó tới mức người đó không thể nào quan niệm nổi rằng một kinh nghiệm
như vậy có thể đã xuất hiện cho ai đó khác.
Chừng nào mà kinh nghiệm này có quan hệ với tâm thức của một người,
thì kinh nghiệm đó là lần đầu tiên. Kinh nghiệm đó mới lạ, tươi tắn đến mức
bất kì ai kinh nghiệm nó cũng đều không bao giờ cảm thấy rằng nó có thể là
cũ. Nó cũng giống như tươi tắn của bông hoa nở ra vào buổi sáng, cánh hoa
ướt sương, những tia mặt trời đầu tiên rơi lên chúng. Nhìn vào bông hoa này,
người có thể thấy nó lần đầu tiên không thể nói được rằng hoa này là cũ, cho
dù mọi sáng hoa mới lại nở ra.
Mọi sáng giọt sương và tia mặt trời lại rơi vào bông hoa mới. Mắt ai đó
có thể đã thấy những bông hoa này hàng ngày, nhưng bất kì ai đã thấy bông
hoa này lần đầu tiên trong sự sắp đặt này đều thậm chí không thể nào nghĩ
rằng hoa này có thể đã được thấy trước đây. Nó mới đến mức nếu người đó
nói rằng chân lí không bao giờ có thể cũ, rằng nó bao giờ cũng mới và
nguyên gốc, thì người đó cũng không sai.
Chúng ta nói rằng tôn giáo là cổ kính và vĩnh hằng bởi vì chân lí là vĩnh
viễn. Nhưng tôn giáo cũng mới, bởi vì bất kì khi nào chân lí được nhận ra,

kinh nghiệm đó là mới, tươi tắn, trong trắng. Nếu một người tin rằng tôn
giáo là cũ hay nếu người đó tin rằng tôn giáo là mới, thì người đó sẽ không
bị bất nhất với chân lí. Nếu người đó nói rằng chân lí là vĩnh hằng và kiên
định rằng nó không thể mới, bạn sẽ không thấy người đó là bất nhất. Người
khác, mặt khác, có thể gìn giữ rằng chân lí bao giờ cũng mới.
Gurdjieff, nếu được hỏi, sẽ nói rằng tôn giáo là vĩnh hằng và cổ đại;
Krishnamurti, nếu được hỏi, sẽ nói rằng nó là tuyệt đối mới, rằng nó không
bao giờ có thể là cũ. Nhưng cả hai người đều nhất quán.
Câu hỏi mà bạn hỏi tôi không thể được hỏi cho cả Gurdjieff lẫn
Krishnamurti. Câu trả lời của họ sẽ chỉ là nửa chân lí. Nửa chân lí bao giờ
cũng có thể nhất quán, nhưng toàn bộ chân lí bao giờ cũng bất nhất bởi vì
trong chân lí toàn bộ thì cái đối lập cũng được bao hàm.
Một người có thể nói rằng ánh sáng và chỉ ánh sáng mới là chân lí. Thế
thì người đó dốt nát về bóng tối và coi nó là giả. Nhưng chỉ bằng việc gọi
bóng tối là giả, sự tồn tại của bóng tối không được phủ nhận. Người đó có
thể nhất quán bởi vì người đó phủ nhận bóng tối và không bận tâm về sự tồn
tại của nó. Triết lí của người đó có thể rõ ràng, trực tiếp và nhất quán như
toán học. Trong triết lí của người đó sẽ không có điều bí ẩn. Tuy nhiên,
người nào đó khác nói rằng có bóng tối và chỉ bóng tối ở mọi nơi, rằng ánh
sáng chỉ là ảo tưởng, thì cũng có thể nhất quán.
Khó khăn nảy sinh với người nói rằng có bóng tối và có ánh sáng nữa.
Người chấp nhận sự tồn tại của cả hai thì chấp nhận sự kiện rằng bóng tối và
ánh sáng chỉ là hai đầu của cùng một điều. Nếu bóng tối và ánh sáng là hai
thứ khác nhau, thế thì bằng việc tăng ánh sáng bóng tối phải không bị giảm
đi, và bằng việc giảm ánh sáng thì bóng tối không được tăng lên. Nhưng
thực tế là bằng việc tăng hay giảm ánh sáng, bóng tối có thể bị giảm hay
tăng. Ý nghĩa là rõ ràng: rằng ánh sáng ở đâu đó là một phần của bóng tối và
ngược lại. Cả hai là hai đầu của cùng một thứ.
Do đó, khi tôi cố gắng nói về chân lí toàn bộ, khó khăn là ở chỗ tôi
dường như bất nhất. Tôi đang nói đồng thời hai điều dường như mâu thẫn.
Tôi nói rằng chân lí là vĩnh hằng và cũng sai để gọi nó là mới; đồng thời tôi
cũng nói rằng chân lí bao giờ cũng mới và không có ý nghĩa trong việc gọi
nó là cũ. Khi tôi nói cả hai điều này cùng nhau, tôi đang cố gắng bắt lấy chân
lí toàn bộ ngay một lúc trong tính đầy đủ hoàn toàn của nó.
Bất kì khi nào chân lí được nói trong tính đầy đủ của nó, trong nhiều
nghĩa của nó, thế thì những phát biểu đối lập, bất nhất sẽ phải được tạo ra. Lí
thuyết của Mahavira về syatavada chỉ là nỗ lực làm cân bằng các cái nhìn
đối lập. Ngược lại với bất kì cái gì được nói trong câu đầu tiên, một phát
biểu đối lập sẽ phải được đưa ra trong câu thứ hai. Theo cách này, cái đối
lập, sẽ còn lại không được nói ra, cũng được bao hàm và được lĩnh hội.
Nếu cái đối lập bị bỏ đi, chân lí sẽ vẫn còn là không đầy đủ. Do đó mọi

chân lí dường như rõ ràng và không mơ hồ đều là nửa chân lí. Bất nhất là cố
hữu trong chân lí, và đó là cái đẹp và sự phức tạp của nó. Nhưng sức mạnh
của nó nằm ở việc bao hàm các cực đối lập.
Điều thú vị là để ý rằng cái gì đó giả thì không thể bao gồm cái đối lập
của nó được. Cái là giả chỉ có thể sống tại cực đối lập với chân lí, trong khi
chân lí lại hấp thu trong nó các cái đối lập của nó. Đó là lí do tại sao cái giả
không phải rất mơ hồ; nó là rõ ràng.
Cuộc sống như một toàn thể là dựa trên các cực đối lập. Trong cuộc sống
không có gì xuất hiện mà không có tranh đấu của các cái đối diện, nhưng
chúng ta cố gắng bằng tâm trí mình và lí trí của mình để xoá bỏ đi sự bất
nhất. Lí trí của chúng ta là nỗ lực để trở thành nhất quán trong khi cái toàn
bộ sẽ tỏ ra là bất nhất. Trong sự tồn tại, mọi bất nhất đều có đó. Chết và sống
nhất định là cùng nhau.
Logic dường như mạch lạc bởi vì nó phân chia mọi thứ thành các cái đối
lập. Với logic, sống là sống và chết là chết; cả hai không thể đi cùng nhau.
Trong logic chúng ta nói rằng A là A, và nó không là B. Chúng ta nói sống là
sống; nó không phải là chết. Tương tự, chết là chết; nó không phải là sống.
Theo cách này chúng ta tạo ra khái niệm của mình mạch lạc và toán học,
nhưng bí ẩn của cuộc sống bị mất đi. Đó là lí do tại sao bạn không thể đạt tới
bằng lí trí. Một mặt là nỗ lực để nhất quán, và mặt kia, bởi chính bản chất
của nó, lại bất nhất. Do đó bạn có thể đạt tới nhất quán qua lí trí. Bạn có thể
lập luận giỏi, logic đến mức bạn không thể bị thất bại trong biện luận. Nhưng
bạn sẽ lỡ chân lí.
Tôi không phải là triết gia hay nhà logic, nhưng tôi bao giờ cũng dùng
logic. Tôi đang dùng điều này chỉ với mục đích đưa việc suy nghĩ của các
bạn tới điểm mà bạn có thể bị đẩy ra khỏi nó. Nếu lí trí mà không vét cạn,
người ta không thể vượt ra ngoài nó được. Tôi đang trèo lên chiếc thang,
nhưng chiếc thang này không phải là mục tiêu của tôi; nó phải bị bỏ đi. Tôi
dùng lí trí chỉ để biết cái ở bên ngoài nó. Tôi không muốn thiết lập bất kì cái
gì bằng lí trí. Điều tôi muốn thay vì thế là chứng minh cái vô dụng của nó.
Phát biểu của tôi do đó sẽ bất nhất và phi logic. Chừng nào mà chúng
còn có vẻ logic, xin hiểu rằng tôi đang chỉ dùng một hệ thống để làm cho
chúng có vẻ như vậy. Tôi đang chuẩn bị căn cứ cho điều theo sau. Tôi đang
chỉnh nhạc cụ, âm nhạc vẫn còn chưa bắt đầu.
Nơi lằn ranh giữa lí trí và vô lí trí bị mất đi chính là nơi cái nguyên bản,
âm nhạc duy nhất của tôi bắt đầu. Ngay khi nhạc cụ đã hài hoà, âm nhạc sẽ
bắt đầu. Nhưng chớ hiểu lầm việc chỉnh đàn là âm nhạc; bằng không điều đó
sẽ gây ra khó khăn. Bạn sẽ hỏi, "Vấn đề là gì vậy? Trước đây thầy đã dùng
cái búa cho trống. Sao thầy không dùng nó nữa?" Nhưng búa chỉ là để điều
chỉnh trống, không phải để đánh trống. Một khi trống đã được chỉnh rồi, búa
thành vô dụng. Trống không thể được đánh bằng búa.

Theo cùng cách này, lí trí chỉ là việc chuẩn bị cho điều bên ngoài lí trí.
Một trong những khó khăn tôi gặp phải là ở chỗ những người chấp thuận lí
trí của tôi sẽ thấy sau đó vài khoảnh khắc là tôi đang lôi họ vào vùng bóng
tối. Chừng nào mà người ta còn có thể thấy lí trí, thì còn ánh sáng và mọi sự
có vẻ sáng sủa và rõ ràng. Nhưng thế rồi ai đó sẽ nói rằng tôi đã đã hứa chỉ
cho người đó ánh sáng mà bây giờ tôi đang nói về việc dẫn người đó và
trong bóng tối. Do đó người đó sẽ không hài lòng với tôi và sẽ bảo tôi, "Tôi
thích điều thầy đã nói cho tới giờ, nhưng tôi không thể đi thêm nữa với thầy
được." Người đó đã tin cậy tôi lập luận ra chân lí cho người đó, và thế rồi tôi
bảo người đó rằng người đó phải đi ra ngoài lập luận để đạt tới nó.
Những người tin vào tin cậy cũng sẽ không chấp nhận tôi, không theo
tôi, không bước đi cùng tôi, bởi vì họ muốn tôi nói chỉ về những bí ẩn không
thể nào hiểu nổi. Vậy, cả hai kiểu cá nhân này sẽ có vấn đề với tôi. Những
người tin tưởng vào lí trí sẽ chỉ theo tôi cho tới điểm nào đó, trong khi những
người tin vào tin cậy, người tin vào bất hợp lí, sẽ không theo tôi chút nào,
chưa bao giờ hiểu rằng chỉ nếu họ theo đi quá một điểm nào đó thì tôi có thể
đưa họ vào trong vô ý nghĩ.
Tôi hiểu điều này. Cuộc sống là giống vậy. Lí trí chỉ có thể là nhạc cụ,
không phải là mục tiêu. Do đó tôi bao giờ cũng sẽ đưa ra những phát biểu
phi logic sau khi nói về vấn đề toàn logic. Những phát biểu này sẽ dường
như bất nhất, nhưng chúng đã được nghĩ kĩ và không được đưa ra mà không
có lí do. Có lí do rõ ràng về phía tôi.
Tôi sẽ nói vào lúc nào đó rằng tôi không bị ảnh hưởng bởi Mahavira,
Phật, Krishna hay Christ, rằng tôi không nói điều gì dưới ảnh hưởng của họ,
rằng mọi thứ tôi nói, tôi chỉ nói sau khi tự tôi biết nó. Dẫu sao đi chăng nữa,
khi tôi đi tới nhận biết của riêng mình, tôi đã biết rằng nó là đồng nhất với
điều đã được đạt tới bởi những người khác đó trước tôi. Vậy, khi tôi nói về
họ hay trích dẫn điều họ đã nói, bản thân tôi quên mất rằng tôi đã nói về họ.
Tôi hội nhập với họ toàn bộ tới mức phát biểu của họ trở thành phát biểu của
riêng tôi.
Trong thực tế, tôi chẳng thấy khác biệt gì giữa phát biểu của tôi và của
họ cả. Khi tôi bắt đầu nói về họ thì có việc hiểu sâu sắc rằng tôi chỉ nói về
mình. Do đó, khi tôi nhắc lại phát biểu của họ, tôi không tạo ra điều kiện gì.
Tôi tan biến bản thân mình hoàn toàn trong họ và trong lời họ. Những người
đã nghe tôi đều nói rằng tôi không bị ảnh hưởng bởi những người này còn
những người khác sẽ tự hỏi, "Làm sao Thầy trở thành một với họ được?
Thậm chí những người dưới ảnh hưởng hoàn toàn của họ cũng chẳng làm
thế; họ vẫn duy trì một khoảng cách."
Những người bị ảnh hưởng bởi ai đó hay cái gì đó sẽ, do cần thiết, phải
duy trì một khoảng cách nào đó giữa họ và nguồn ảnh hưởng. Những người
bị ảnh hưởng đều là người dốt nát. Chúng ta bị ảnh hưởng chỉ trong dốt nát.

Với việc tự biết mình thì chính từ 'ảnh hưởng' không có nghĩa.
Trong việc tự biết mình không có vấn đề về ảnh hưởng. Thay vì thế, có
sự tương tự về kinh nghiệm, sự hài hoà tương tự, việc nghe thấy tiếng nói
tương tự. Nếu tôi hát và cùng một nhịp điệu đang tới vào cùng lúc từ ai đó
khác, thì nhịp điệu của tôi và nhịp điệu của ca sĩ kia là một với nhau đến
mức không có chỗ giữa chúng tôi để bị ảnh hưởng. Để bị ảnh hưởng, để là
đệ tử, khoảng cách là cần thiết, người khác là cần thiết.
Tuy nhiên, khi có liên quan tới tôi thì không có khoảng cách. Khi tôi bắt
đầu giải thích một phát biểu của Mahavira hay khi tôi nói về Gita của
Krishna, tôi chỉ giải thích ít nhiều những phát biểu của tôi. Krishna hay
Christ hay Mahavira đưa ra cơ hội, cái cớ, một dịp để nói, nhưng tôi cũng
sớm quên mất rằng tôi đang nói về họ. Tôi bắt đầu với họ, nhưng đến cuối
chỉ có điều tôi đã biết. Tôi thậm chí không nhận biết khi nào tôi dừng nói về
họ và bắt đầu giải thích phát biểu của riêng tôi, về khi nào tôi đã hội nhập
toàn bộ với họ.
Có lẽ sẽ thú vị với bạn khi biết rằng tôi chưa từng đọc Gita thậm chí lấy
một lần. Tôi thường hay bắt đầu đọc nó, nhưng khi đọc tám hay mười dòng
tôi cảm thấy rằng thế là đủ và tôi gấp sách lại. Khi tôi nói về Gita, tôi thực sự
nghe thấy nó lần đầu tiên khi tôi nói về nó. Vì tôi không có nền tảng trong
nó, nên tôi không có cách nào mà phê bình nó. Người đã nghiên cứu Gita,
người đã cân nhắc và suy nghĩ sâu sắc về các phát biểu của nó, chỉ thế thì
mới có thể phê bình và định nghĩa điều mình đã đọc. Đã không đọc Gita, tôi
không thể phê bình được.
Một điều thú vị nữa cần nói tới là ở chỗ khi tôi nhặt lấy cuốn Gita để
đọc, tôi đặt trả lại nó sau vài khoảnh khắc, nhưng khi tôi bất chợt bắt gặp
cuốn sách rất bình thường nào đó, tôi đọc nó từ đầu đến cuối bởi vì nó không
phải là một phần kinh nghiệm của tôi. Điều này dường như là lạ với bạn. Tôi
không thể nào cưỡng lại được bản thân mình khỏi đọc hết cuốn sách bình
thường, bởi vì nó không ở trong phạm vi kinh nghiệm của tôi. Vâng, khi tôi
bắt đầu đọc Gita, tôi đặt trả lại cuốn sách đó sau khi đọc chỉ vài dòng về nó,
vì tôi cảm thấy rằng nó sẽ chẳng mở ra điều gì mới với tôi cả.
Nếu một tiểu thuyết trinh thám được trao cho tôi, tôi có thể đọc hết nó
một hơi, bởi vì với tôi nó có thể là cái gì đó mới. Nhưng Gita của Krishna
dường như là do tôi viết ra vậy. Tôi biết nó, bởi vì bất kì cái gì được viết
trong nó đều được biết với tôi. Không cần đọc thì nó cũng đã được biết rồi.
Do đó, khi tôi nói về Gita, tôi thực sự không nói về Gita đâu; đấy chỉ là
cái cớ. Tôi bắt đầu với Gita, nhưng tôi nói chỉ về điều tôi muốn nói và chỉ về
điều tôi có thể nói. Nếu bạn cảm thấy rằng tôi đã nhấn nhiều vào Gita, đấy
không phải bởi vì tôi bị ảnh hưởng bởi Krishna, mà bởi vì Krishna đã nói
chính cùng điều tôi đang nói.
Vậy, điều tôi đang làm không phải là bình chú về Gita. Điều Tilak đã nói

về Gita, điều Gandhi đã nói về Gita, đều là bình chú hay giải thích của họ về
Gita. Chúng là dưới ảnh hưởng sâu sắc của Gita. Nhưng điều tôi đang nói
không tới từ Gita chút nào. Giai điệu đã được Gita chạm tới thì cũng được
chạm tới trong tôi. Chúng dẫn tôi tới giai điệu của riêng tôi; tôi bắt đầu giải
thích bản thân mình. Gita chỉ cung cấp cho tôi cơ hội. Khi tôi nói về Krishna,
trong chính những khoảnh khắc tôi khải lộ sâu sắc nhất Krishna, bạn sẽ bắt
đầu cảm thấy rằng tôi đang nói về bản thân mình. Chính trong những khoảnh
khắc đó mà tôi nói chỉ về tôi.
Cùng điều đó cũng đúng cho Mahavira, Christ, Lão Tử hay Mohammed.
Với tôi, điều tạo ra khác biệt giữa người này với người khác chỉ là khác biệt
về cái tên. Họ là những ngọn đèn khác nhau, nhưng ánh sáng chiếu sáng bên
trong họ là một. Dù ánh sáng đó đang cháy trong ngọn đèn của Mohammed
hay trong ngọn đèn của Mahavira hay của Phật cũng không tạo bất kì khác
biệt gì cho tôi cả.
Nhiều lần tôi sẽ nói chống lại Mohammed hay Mahavira hay Phật. Điều
này tạo ra vấn đề. Tôi đang nói chống lại họ nữa. Bất kì khi nào tôi dường
như nói chống lại họ, đều dường như là như vậy bởi vì thính giả đang coi
ngọn đèn là quan trọng. Nhưng với tôi, khi tôi làm khải lộ ra cái gì đó rất
sâu, việc nhấn mạnh là vào ánh sáng. Cho nên bất kì khi nào tôi dường như
nói chống lại, đấy là vì việc nhấn mạnh là vào ngọn đèn chứ không vào ánh
sáng.
Khi tôi thấy một người say mê ngọn đèn, say mê vật chất tạo nên nó, tôi
bao giờ cũng nói chống lại ngọn đèn. Người đó sẽ bị lẫn lộn. Cũng tự nhiên
là người đó sẽ bị lẫn lộn, bởi vì với người đó không có phân biệt giữa
Mahavira và ngọn đèn và Mahavira và ánh sáng vĩnh hằng. Với người đó,
ngọn đèn và ánh sáng là một. Đó là lí do tại sao, khi điều xuất hiện với tôi là
ai đó đang đặt nhấn mạnh quá nhiều vào ngọn đèn, tôi bắt đầu nói chống lại
nó. Khi tôi cảm thấy rằng chính ánh sáng được thảo luận, tôi trở thành một
với nó. Đây là khác biệt.
Có khác biệt giữa ngọn đèn của Mahavira và ngọn đèn của Mohammed.
Chỉ là do khác biệt này mà có khác biệt giữa người Jaina và người Mô ha
mét giáo. Ngọn đèn được làm ra khác nhau. Ngọn đèn của Christ và ngọn
đèn của Phật cũng khác nhau; chúng nhất định phải là như vậy. Nhưng
những khác biệt này chỉ là ở thân thể, ở phụ cận và ở hình dạng.
Với những người cả tin vào hình dạng và phụ cận, ánh sáng đó sẽ không
thấy được, bởi vì bất kì ai thấy ánh sáng sẽ quên đi ngọn đèn. Không thể có
chuyện người ta sẽ vẫn còn nhớ tới ngọn đèn sau khi người đó đã thấy ánh
sáng. Ngọn đèn chỉ được nhớ sau khi ánh sáng không còn được thấy nữa.
Hoàn cảnh của một tín đồ là ở chỗ người đó có thể chỉ ở lại trong bóng
tối của ngọn đèn và nhìn ra từ đó. Từ đó người đó không thể thấy ánh sáng
được; chỉ thấy được cái đáy của ngọn đèn thôi. Đáy của mọi ngọn đèn đều

khác nhau, và có bóng tối sâu sắc dưới chúng. Các tín đồ của họ bắt đầu cãi
nhau về cái đáy. Do đó, bất kì khi nào tôi thấy ai đó đứng trong cái bóng của
người nào đó, tôi nói chống lại điều này khá cay nghiệt.
Đó là lí do tại sao tôi bao giờ cũng nói rằng tín đồ không bao giờ có thể
trở nên hiểu được. Trở thành tín đồ, người đó phải đứng trong cái bóng,
trong bóng tối, phía dưới ngọn đèn. Một người càng là tín đồ, người đó càng
trong bóng tối dầy đặc. Những tín đồ đang đứng ở phần ngoại vi của bóng
tối có thể hiểu người khác một chút, nhưng những người trực tiếp trong bóng
tối dầy đặc chẳng bao giờ có thể hiểu được. Tuy nhiên, nếu ai đó thực sự
muốn thấy ánh sáng, người đó sẽ phải đi hoàn toàn ra khỏi phần ngoại vi của
cái bóng. Một khi người đó thấy ánh sáng rồi, những tranh luận về ngọn đèn
không còn có ý nghĩa gì với người đó nữa.
Vậy, với tôi, không có khác biệt gì dù tôi nói về Christ hay Krishna hay
Phật. Tôi đang nói về cùng ánh sáng - ánh sáng đã thắp sáng nhiều ngọn đèn.
Nhưng tôi không bị ảnh hưởng bởi ngọn đèn. Tôi đang nói chỉ về cái mà tôi
biết. Bất kì khi nào tôi cảm thấy sự cộng hưởng nào đó, bất kì khi nào tôi
cảm thấy rằng cùng một nốt đang rung động, tôi không có khả năng phủ
nhận nó, bởi vì phủ nhận nó sẽ tương đương với sai. Nó sẽ giống như đứng
quay lưng vào ánh sáng. Tín đồ bị sai lầm là ngồi dưới đáy ngọn đèn. Việc
quay lưng lại và việc ngồi dưới cái bóng cả hai đều là sai lầm tương tự.
Nhưng nếu bạn hỏi Krishnamurti, thì ông ấy sẽ không chấp nhận sự cộng
hưởng này. Ông ấy sẽ k
 
Gửi ý kiến