-chong-duhring

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:24' 06-03-2026
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:24' 06-03-2026
Dung lượng: 1.8 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
[1]
Chống Duhring
Ăng-ghen
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục:
Chống Duhring
Lời tựa
Lời tựa thứ nhất
Lời tựa thứ hai
Lời tựa thứ ba
Lời mở đầu
I. Nhận xét chung
II. Ông Đuy-rinh hứa những gì
Phần thứ nhất: Triết học
III. Phân loại. Chủ nghĩa tiên nghiệm
IV. Đồ thức luận về vũ trụ
Triết học về tự nhiên
V. Không gian và thời gian.
VI. Triết học về tự nhiên, thiên thể học, vật lý học, hoá học
VII. Triết học về tự nhiên, giới hữu cơ
VIII. Triết học về tự nhiên giới hữu cơ (hết)
Đạo đức và pháp quyền
IX. Chân lý vĩnh cực
X. Đạo đức và pháp quyền, bình đẳng
XI. Đạo đức và pháp quyền tự do và tất yếu
Biện chứng
XII. Lượng và chất
XIII. Biện chứng phủ định cái phủ định.
XIV. Kết luận
Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học
I. Đối tượng và phương pháp
II. Lý luận về bạo lực
III. Lý luận về bạo lực (Tiếp theo)
IV. Lý luận về bạo lực
V.Lý luận về giá trị
VI. Lao động giản đơn và lao động phức tạp
VII. Tư bản và giá trị thặng dư
VIII. Tư bản và giá trị thặng dư
IX. Những quy luật tự nhiên của kinh tế địa tô
X. Về quyền "lịch sử phê phán"
Phần III: Chủ nghĩa xã hội
I- Lịch sử
II- Lý luận
III. Sản xuất
IV. Phân phối
V- Nhà nước, gia đình, giáo dục
Chú Thích
Lời tựa thứ nhất
Công trình này hoàn toàn không phải là kết quả của một "sự
thôi thúc nội tâm" nào cả. Mà trái lại.
Khi, cách đây ba năm, ông Đuy-rinh, lấy tư cách là môn đồ và
đồng thời là nhà cải cách chủ nghĩa xã hội, đột nhiên khiêu chiến với
thời đại ông thì những người bạn của tôi ở Đức đã nhiều lần yêu cầu
tôi giả thích phê phán trên cơ quan trung ương của Đảng dân chủ xã hội - bấy giờ là tờ "Volksstaat" - cái lý luận xã hội chủ nghĩa mới
đó. Những người bạn ấy cho rằng việc đó là tuyệt đối cần thiết, nếu
không muốn để cho cái đảng còn rất non trẻ và chỉ vừa mới thống
nhất đó có một cơ hội mới để bị chia rẽ bè phái và rối rắm. Những
người bạn ấy có thể đánh giá tình hình ở Đức đúng hơn tôi, cho nên
tôi có trách nhiệm phải tin theo họ. Ngoài ra, rõ ràng là có một bộ
phận báo chí xã hội chủ nghĩa đã hoan nghênh một cách nhiệt tình
môn đồ mới ấy, nhiệt tình này thật ra chỉ là đối với cái ý tốt của ông
Đuy-rinh thôi, nhưng đồng thời nó cũng làm cho người ta nghĩ rằng
bộ phận báo chí ấy, chính vì cái ý tốt đó của ông Đuy-rinh, cũng sẵn
lòng thừa nhận luôn cả học thuyết của ông ta nữa. Thậm chí, có
những người đã chuẩn bị truyền bá học thuyết ấy trong công nhân,
dưới một hình thức phổ cập. Và cuối cùng ông Đuy-rinh và bè pái
nhỏ bé của ông ta đã vận dụng tất cả những mánh khoé quảng cáo
và âm mưu để buộc tờ "Voldsstaat" phải có lập trường dứt khoát đối
với các học thuyết mới có những tham vọng rất to lớn đó.
Tuy vậy, cũng phải mất đến một năm tôi mới có thể dứt khoát
hoãn các công việc khác lại để ngoạm vào quả táo chua ấy. Thật vậy,
đây là một quả táo mà một khi đã ngoạm vào thì phải nuốt cho hết.
Hơn nữa, nó không những rất chua mà lại còn rất to. Lý luận xã hội
của chủ nghĩa mới này là kết quả thực tiễn cuối cùng của một hệ
thống triết học mới. Vì vậy, cần phải nghiên cứu mối liên hệ bên trong
của nó với hệ thống ấy, và như vậy là phải nghiên của bản thân hệ
thống ấy; cần phải đi theo ông Đuy-rinh vào cái lĩnh vực rộng lớn
trong đó ông ta bàn luận về mọi cái có thể có, và cả những cái ngoài
lĩnh vực ấy nữa. Như vậy là xuất hiện một loạt bài báo đăng từ đầu
năm 1877 trên tờ báo kế thừa tờ "Volksstaat", tức là tờ "Vorwarts" ở
Leipzig, và được tập hợp lại ở đây một các có mạch lạc.
Như vậy, tính chất của chính ngay đối tượng đã buộc sự phê
phán phải có một tính chất cặn kẽ hết sức không tương xứng với nội
dung khoa học của đối tượng, tức là của những tác phẩm của ông
Đuy-rinh. Song, cũng có thể viện ra hai lý do khác để biện hộ cho sự
cặn kẽ đó. Một mặt, nó cho phép tôi có cơ hội trình bày một cách
chính diện, trên các lĩnh vực rất khác nhau cần phải đề cập đến ở
đây, quan niệm của tôi về các vấn đề hiện đang có một ý nghĩa khoa
học hay thực tiễn phổ biến. Tôi đã làm như vậy trong từng chương
sách, và mặc dù sách này rất ít nhằm mục đích đem một hệ thống
khác đối lập lại với hệ thống của ông Đuy-rinh, nhưng tôi vẫn hy vọng
rằng độc giả sẽ vẫn nhận ra mối liên hệ bên trong của các quan điểm
do tôi đưa ra. Ngay hiện giờ, tôi cũng đã có quan điểm do tôi đưa ra.
Ngay hiện giờ, tôi cũng đã có đủ bằng chứng nói lên rằng, về mặt ấy,
công trình của tôi không phải là hoàn toàn không có hiệu quả.
Mặt khác, ông Đuy-rinh, "người sáng tạo ra hệ thống", không
phải là một hiện tượng đơn nhất trong hiện thực nuớc Đức ngày nay.
Ít lâu nay, ở Đức, những hệ thống nghiên cứu nguồn gốc của vũ trụ,
hệ thống triết học tự nhiên nói chung, hệ thống chính trị học, hệ thống
kinh tế chính trị học, v.v., mọc ra như nấm sau một trận mưa. Một vị
tiến sĩ triết học xoàng nhất, thậm chí cả một sinh viên, cũng bắt tay
vào việc sáng tạo ra một "hệ thống" hoàn chỉnh chứ không kém hơn.
Giống như trong một quốc gia hiện đại, người ta giả thiết rằng mỗi
công dân đều có đủ trình độ phán xét tất cả các vấn đề đưa ra cho
mình biểu quyết; giống như trong khoa kinh tế chính trị, người ta giả
thiết rằng mỗi người tiêu thụ đều là một người hiểu biết cặn kẽ các
hàng hoá mà mình phải mua để dùng cho cuộc sống của mình - thì
ngày nay trong lĩnh vực khoa học cũng phải đi theo một giả thiết như
thế. Tự do về mặt khoa học có nghĩa là người ta có quyền viết về tất
cả những gì mình không nghiên cứu, và coi đó là phương pháp khoa
học duy nhất chặt chẽ. Nhưng ông Đuy-rinh chính là một trong những
loại hình tiêu biểu nhất cho cái khoa học giả hiệu trắng trợn mà ngày
nay, trong khắp nước Đức, ta đều thấy ngoi lên hàng đầu và lấn át tất
cả bằng những lời rỗng tuếch, khoa trương trong thi ca, triết học,
chính trị học, sử học, những lời rỗng tuếch khoa trương có tham vọng
là đạt tới sự hơn hẳn và sâu sắc về tư tưởng, khác với những lời
rỗng tuếch, khoa trương giản đơn, tầm thường nhạt nhẽo của các
dân tộc khác, những lời rỗng tuếch khoa trương với tư cách là sản
phẩm đặc trưng nhất và mang tính chất hàng loạt nhất của nền công
nghiệp tri thức của Đức, rẻ nhưng tồi hoàn toàn giống như những
chế tạo phẩm khác của nước Đức, nhưng tiếc rằng chúng không
được trưng bày bên cạnh những chế tạo phẩm này tại cuộc triển lãm
[2]
Philadelphia . Thậm chí cả chủ nghĩa xã hội Đức, ít lâu nay, nhất là
sau khi có tấm gương tốt của ông Đuy-rinh, cũng rất nhiệt tình sản
xuất ra những lời rỗng tuếch khoa trương và tiến cử những kẻ lên
mặt huênh hoang về một "khoa học" mà họ "quả thực cũng chẳng
học được cái gì cả". Đây là một bệnh ấu trĩ đánh dấu bước đầu của
người sinh viên Đức chuyển theo chủ nghĩa dân chủ - xã hội, một
bệnh gắn liền với bước chuyển ấy, nhưng với bản chất lành mạnh
tuyệt vời của công nhân nước ta, nó chắc chắn sẽ được khắc phục.
Nếu tôi phải đi theo ông Đuy-rinh vào những lĩnh vực trong đó
giỏi lắm tôi cũng chỉ hy vọng có thể phát biểu với tư cách là một tài tử
nghiệp dư thôi, thì đó không phải là lỗi tại tôi. Trong những trường
hợp như vậy, phần nhiều tôi chỉ tự giới hạn ở chỗ đưa ra những sự
thật đúng đắn, không thể chối cãi được, để đối lập lại những lời
khẳng định sai lầm hoặc đáng ngờ của đối phương. Ví dụ như trong
lĩnh vực pháp lý và trong một số trường hợp thuộc khoa học tự nhiên.
Còn trong các trường hợp khác thì đó là vấn đề những quan điểm
phổ biến rút ra từ phần lý thuyết của khoa học tự nhiên, tức là từ một
địa hạt mà ngay cả nhà chuyên môn cũng buộc phải đi ra ngoài phạm
vi chuyên môn cuả mình để bước sang những lĩnh vực lân cận, - tức
là những lĩnh vực lân cận, - tức là những lĩnh vực trong đó nhà
chuyên môn theo sự thú nhận của Virchow, cũng chỉ là một "kẻ biết
nửa vời" giống như chúng ta thôi. Tôi mong rằng tôi cũng sẽ được
hưởng thái độ khoan dung mà người ta thường có đối với nhau về
những chỗ thiếu chính xác nhỏ và diễn đạt vụng về.
Khi kết thúc lời tựa này, tôi nhận được một bản quảng cáo của
nhà xuất bản, do ông Đuy-rinh thảo ra, về một tác phẩm mới "có tính
chất chủ đạo" của ông ta: "Những định luật cơ bản mới của vật lý học
hợp lý và hoá học hợp lý". Mặc dầu biết rõ sự nghèo nàn của những
kiến thức của tôi về vật lý học và hoá học, song tôi vẫn tin rằng tôi
hiểu biêt ông Đuy-rinh của tôi khá đầy đủ, cho nên tuy chưa nhìn thấy
tác phẩm ấy, nhưng tôi cũng có thể nói trước được rằng xét về mức
độ sai lầm và khuôn sáo thì những định luật vật lý học và hoá học do
ông ta trình bày trong cuốn đó cũng xứng đáng được đặt ngang hàng
với những định luật về kinh tế học, về đồ thức luận vũ trụ, v.v., do
ông ta đã khám phá ra trước đây và được tôi tìm hiểu trong cuốn
sách này; rằng cái đê nhiệt kế, hay khí cụ để đo những nhiệt độ rất
thấp, do ông Đuy-rinh chế tạo ra, dùng để đo không phải những nhiệt
độ cao hay thấp, mà chỉ là để đo cái thói kiêu căng ngu dốt của ông
Đuy-rinh mà thôi.
Luân đôn, ngày 11 tháng sáu 1878
Lời tựa thứ hai
Việc cần phải in lại cuốn sách này đối với tôi thật là một điều
bất ngờ. Đối tượng mà trước kia nó phê phán thì hiện nay thực ra đã
bị lãng quên rồi; bản thân cuốn sách này không những đã được đăng
thành từng phần trên tờ "Vorwarts" ở Leipzig năm 1877 và năm 1878
cho hàng nghìn độc giả, mà còn được xuất bản toàn bộ thành sách
riêng, với một số lượng in lớn. Vậy tại sao ngày này lại còn có người
quan tâm đến những điều tôi đã nói với ông Đuy-rinh cách đây hàng
bao nhiêu năm?
Điều đó chắc chắn trước hết là do quyển sách này, cũng giống
hầu hết những sách khác của tôi còn lưu hành hồi đó, đã bị cấm
trong Đế chế Đức liền ngay sau khi ban hành đạo luật đặc biệt chống
[3]
những người xã hội chủ nghĩa . Bất cứ ai không bị cột chặt vào
những thành kiến quan liêu cha truyền con nối của các nước trong
Liên minh thần thánh, đều phải thấy rõ rằng biện pháp ấy chỉ có thể
có kết quả là: số lượng các sách bị cấm được tiêu thụ tăng lên gấp
đôi, gấp ba và sự bất lực bị phơi trần của các ngài ở Béc-lin đã ban
bố những lệnh cấm nhưng không thể thực hiện được những lệnh ấy.
Thật vậy, nhờ sự nhã ý của chính phủ đế chế mà những tác phẩm
nhỏ của tôi được in lại nhiều lần hơn là trong trường hợp tôi tự đứng
ra đảm nhiệm lấy; tôi không có thì giờ xem lại một cách thích đáng
văn bản của chúng và trong phần lớn trường hợp tôi buộc phải cho in
lại nguyên văn như cũ mà thôi.
Nhưng thêm vào đó lại còn có một hoàn cảnh khác nữa. "Hệ
thống của ông Đuy-rinh được phê phán trong quyển sách này bao
trùm một lĩnh vực lý luận rất rộng; tôi buộc phải dõi theo ông khắp nơi
và đem những quan niệm của tôi ra đối lập lại những quan niệm của
ông ta. Vì vậy, sự phê phán tiêu cực đã trở thành sự phê phán tích
cực; cuộc bút chiến chuyển thành một sự trình bày ít nhiều có hệ
thống về phương pháp biện chứng và thế giới quan cộng sản chủ
nghĩa và Mác và tôi đã đại biểu, - và trình bày như thế trên một loạt
khá nhiều lĩnh vực. Cái thế giới quan đó của chúng tôi, sự xuất hiện
trên thế giới lần đầu tiên trong cuốn "Sự khốn cùng của triết học" của
Mác và trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" đã trải qua một thời
kỳ ấp ủ trong hơn 20 năm, và cho đến khi bộ "Tư bản" ra đời thì nó
ngày càng tranh thủ được các giới rộng rãi một cách nhanh chóng và
ngày nay, vượt xa ra ngoài biên giới của châu âu, nó đang gây được
sự chú ý và tìm được những môn đệ trong tất cả những nước, trong
đó, một mặt, có những người vô sản, và mặt khác, có những nhà lý
luận khoa học vô tư. Vì vậy, hình như có một công chúng quan tâm
khá nhiều đến thực chất của vấn đề, đến mức thừa nhận cả cuộc bút
chiến chống lại những luận điểm của Đuy-rinh, một cuộc bút chiến về
nhiều mặt nay đã không còn đối tượng nữa, để tìm hiểu những sự
trình bày chính diện trong cuốn sách.
Tiện đây tôi cũng xin nói rằng: vì thế giới quan trình bày trong
cuốn sách này một phần hết sức lớn là do Mác đặt cơ sở và phát
triển, còn tôi chỉ tham dự vào đó một phần hết sức nhỏ, cho nên đối
với chúng tôi một điều dĩ nhiên là bản trình bày của tôi không thể ra
đời mà Mác lại không biết đến. Tôi đã đọc cho Mác nghe toàn bộ bản
thảo trước khi đưa in, và chính Mác đã viết chương thứ mười trong
phần kinh tế chính trị học ("Về quyển Lịch sử phê phán"), và tiếc thay
chỉ vì những nguyên nhân bên ngoài mà chúng tôi đã có thói quen
giúp đỡ lẫn nhau như vậy trong những lĩnh vực chuyên môn.
Lần xuất bản này in lại nguyên văn bản in lần trước, chỉ trừ
một chương. Một mặt, tôi không có thì giờ để xem lại bản ấy một
cách cặn kẽ, mặc dầu tôi rất muốn sửa lại nhiều chỗ trong bản trình
này. Tôi có nghĩa vụ phải chuẩn bị để đưa in những di cảo của Mác,
và việc đó quan trọng hơn nhiều so với bất kỳ một công việc nào
khác. Ngoài ra, lương tâm tôi cũng chống lại mọi sự thay đổi. Tác
phẩm này là một tác phẩm luận chiến và tôi cho rằng đối với đối thủ
của tôi, tôi có nghĩa vụ không được sửa chữa gì cả ở những chỗ nào
mà ông ta cũng không thể sửa chữa gì cả. Tôi sẽ chỉ có thể đòi
quyền phát biểu chống lại bài trả lời của ông Đuy-rinh mà thôi. Nhưng
những gì mà ông Đuy-rinh đã viết về bản luận chiến của tôi thì tôi đã
không đọc và cũng sẽ không đọc nếu không có một lý do nào đặc
biệt; về phương diện lý luận tôi đã thanh toán với ông ta rồi. Vả lại,
đối với ông ta, tôi càng phải tôn trọng những quy tắc lễ nghi trong một
cuộc luận chiến văn học, nhất là từ khi cuốn sách của tôi ra đời.
Trường đại học Béc-lin đã có một hành động bất công nhục nhã đối
với ông ta. Thực ra trường này đã bị trừng phạt về điều đó. Một
trường đại học mà đi đến chỗ tước quyền tự do giảng dạy của ông
Đuy-rinh trong những tình hình như mọi người đã biết thì trường đại
học đó cũng không có gì phải ngạc nhiên khi bị người ta bắt phải
nhận ông Schweninger trong những tình hình mà mọi người cũng đã
biết rõ.
Chương duy nhất trong đó tôi đã mạn phép đưa thêm những
đoạn bổ sung có tính chất giải thích vào, là chương thứ hai của phần
thứ ba: "Lý luận". Ở đây, nơi mà vấn đề chính chỉ là trình bày một
điểm mấu chốt trong thế giới quan của tôi, thì đối thủ của tôi cũng
không thể trách tôi khi tôi cố gắng nói một cách đại chúng hơn và bổ
sung ý kiến cho mạch lạc hơn. Hơn nữa, tôi lại có một lý do bên
ngoài để làm như vậy. Tôi đã soạn lại ba chương trong tác phẩm
(chương thứ nhất trong Lời mở đầu, chương thứ nhất và thứ hai
trong phần thứ ba) thành một quyển sách riêng để cho người bạn của
tôi, Lafargue, dịch ra tiếng Pháp, và sau khi bản tiếng Pháp đã được
dùng làm cơ sở cho bản dịch tiếng ý và bản dịch tiếng Ba lan, tôi đã
xuất bản một bản bằng tiếng Đức dưới đầu đề: "Sự phát triển của
chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học". Trong có vài ba
tháng, tập sách này đã được xuất bản ba lần và cũng được dịch ra
tiếng Nga và tiếng Đan mạch. Trong tất cả các bản in đó, chỉ có
chương đã nói trên kia là có bổ sung thêm, và về phía tôi sẽ thật là cố
chấp nếu khi in lại nguyên bản vẫn cứ khư khư bám lấy văn bản ban
đầu mà không theo bản viết sau là bản đã trở thành một bản in có
tính chất quốc tế.
Những chỗ khác mà tôi muốn sửa thì chủ yếu là về hai điểm.
Một là về lịch sử nguyên thuỷ của nhân loại mà mãi đến năm 1877,
Morgan mới cung cấp cho chúng ta cái chìa khoá để tìm hiểu. Nhưng
sau đó, trong tác phẩm của tôi: "Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu
tư nhân và của nhà nước", Zurich, 1884, tôi đã có dịp sử dụng những
tài liệu mà tôi đã tìm được trong khoảng thời gian từ đó đến lúc viết,
cho nên ở đây chỉ cần dẫn tác phẩm viết về sau này đó cũng đủ.
Nhưng, hai là, tôi cũng muốn thay đổi phần nói đến khoa học
tự nhiên lý thuyết. Phần này đã được trình bày rất vụng về, nhiều
điểm bây giờ có thể diễn đạt dưới một hình thức rõ ràng hơn và
chính xác hơn. Và nếu như ở đây tôi tự coi mình không có quyền sửa
chữa, thì chính vì thế mà ở đây, tôi lại càng có nhiệm vụ phải tự phê
bình mình.
Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã
cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa
nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử. Song muốn
có một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về khoa học tự nhiên
thì chúng tôi chỉ có thể nghiên cứu một cách rời rạc, đứt đoạn, không
thường xuyên. Vì thế, khi tôi có được thì giờ để làm việc đó, sau khi
[4]
từ bỏ công việc buôn bán và dời đến ở Luân đôn , thì trong chừng
mực có thể tôi đã có tự "lột xác" hoàn toàn - theo cách nói của Liebig
- trong lĩnh vực toán học và về khoa học tự nhiên, và tôi đã dùng
phần lớn thời gian của tôi trong tám năm vào việc đó. Đúng vào giữa
quá trình lột xác ấy, tôi đã phải nghiên cứu cái gọi là triết học tự nhiên
của ông Đuy-rinh. Vì vậy, nếu như trong lĩnh vực khoa học tự nhiên,
lý thuyết, đôi khi tôi không tìm được thuật ngữ chính xác và nói chung
đã diễn đạt còn khá nặng nề, thì đó là điều hoàn toàn tự nhiên.
Nhưng mặt khác, việc ý thức được rằng mình chưa nắm vững vật
liệu đã khiến tôi thận trọng; sẽ không ai có thể vạch ra được những
sự lầm lẫn thực sự của tôi về những sự kiện đã biết hồi đó, cũng như
những điều sai lệch trong việc trình bày những lý thuyết đã được
[5]
công nhận hồi đó. Về mặt này, chỉ có một nhà toán học lớn chưa
được thừa nhận viết thư cho Mác, phàn nàn rằng tôi đã dám táo gan
xúc phạm đến danh dự của
.
Lẽ dĩ nhiên, khi tôi tổng kết những thành tựu của toán học và
khoa học tự nhiên như vậy thì vấn đề cũng là để thông qua những cái
riêng, thấy rõ thêm cái chân lý mà nói chung tôi đã không nghi ngờ
chút nào cả, cụ thể là: cũng những quy luật biện chứng ấy của sự
vận động, chi phối tính ngẫu nhiên bề ngoài của sự kiện ngay cả
trong lịch sử, đang mở đường cho mình trong giới tự nhiên thông qua
sự hỗn độn của vô số biến đổi; cũng những quy luật ấy, những quy
luật như sợi chỉ đỏ xuyên qua cả lịch sử phát triển của tư duy loài
người, đang dần dần đi vào ý thức của con người tư duy: đó là
những quy luật mà Hegel lần đầu tiên đã phát triển một cách bao
quát, nhưng dưới một hình thức thần bí, và một trong những nguyện
vọng của chúng tôi là tách những quy luật đó ra khỏi cái vỏ thân bí ấy
và trình bày chúng một cách rõ ràng với tất cả tính đơn giản và tính
phổ biến của chúng. Lẽ dĩ nhiên là nề triết học tự nhiên cũ - dầu có
chứa đựng nhiều điều tốt thật sự và nhiều mầm mống có sức đâm
chồi nảy lộc như thế nào chăng nữa[1A] - vẫn không thể thoả mãn
được chúng ta. Như đã được trình bày tường tận hơn trong tác phẩm
này, khuyết điểm của nền triết học tự nhiên ấy, nhất là dưới hình thức
của Hegel, là ở chỗ không thừa nhận sự phát triển trong thời gian,
"nối tiếp nhau" của thế giới tự nhiên, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại của
"cái nọ bên cạnh cái kia". Sở dĩ như thế một mặt là do bản thân hệ
thống của Hegel chỉ thừa nhận có sự phát triển lịch sử của "tinh
thần", nhưng mặt khác cũng là do tình trạng chung của khoa học tự
nhiên thời ấy. Như vậy là trong trường hợp này, Hegel đã thụt lùi lại
xa đằng sau Kant là người, với thuyết tinh vân của mình, đã tuyên bố
sự phát sinh của hệ thống mặt trời, và với việc phát hiện ra tác dụng
kìm hãm của thuỷ triều đối với sự quay của trái đất, cũng đã tuyên bố
[6]
sự tiêu vong của hệ thống ấy . Sau cùng, vấn đề đối với tôi không
thể là đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên,
mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự
nhiên.
Song, làm điều đó một cách có hệ thống và trong từng lĩnh
vực riêng biệt thì đó là một công việc khổng lồ. Không những lĩnh vực
phải nắm thì hầu như vô tận, mà trên toàn bộ lĩnh vực đó, bản thân
khoa học tự nhiên cũng đang trải qua một quá trình đảo lộn mạnh mẽ
đến mức một người bỏ hết thì giờ nhàn rỗi của mình ra để làm việc
ấy cũng không thể nào theo dõi xiết được. Nhưng từ khi Các Mác
qua đời, thời giờ của tôi phải ngừng công việc nghiên cứu của tôi lại.
Lúc bấy giờ tôi đành tạm bằng lòng với những phác thảo đã đưa ra
trong sách này và đợi sau này có dịp thì sẽ tập hợp và công bố
những kết quả đã thu nhận được, có thể là cùng một lúc với những
[7]
bản thảo toán học rất quan trọng do Mác để lại .
Tuy nhiên, cũng có thể là tiến bộ của khoa học tự nhiên lý
thuyết sẽ làm cho đại bộ phận hoặc toàn bộ công trình của tôi trở
thành thừa, bởi vì chỉ một sự cần thiết phải sắp xếp lại những phát
hiện thuần tuý có tính chất kinh nghiệm, đã chất đống lại rất nhiều,
cũng buộc nhà kinh nghiệm chủ nghĩa ngoan cố nhất phải ngày càng
nhận thức được tính chất biện chứng của các quá trình tự nhiên.
Những sự đối lập cứng nhắc cũ, những ranh giới dứt khoát và không
thể vượt qua được ngày càng biến mất. Từ khi biến được bản thân
những chất khí "thật" cuối cùng thành chất lỏng, trong đó hình thức
giọt và hình thức khí là không phân biệt, thì những trạng thái kết tụ đã
mất hết mọi tàn dư cuối cùng của tính tuyệt đối trước kia của chúng.
Khi thuyết khí động học xác lập được rằng trong các chất khí hoàn
hảo, với một nhiệt độ như nhau, bình phương của tốc độ chuyển
động của các phân tử khí riêng biệt đều tỷ lệ nghịch với trọng lượng
phân tử, - thì bản thân nhiệt cũng được liệt trực tiếp vào hàng những
hình thức vận động có thể đo được trực tiếp với tính cách là những
hình thức vận động, chỉ được hiểu là định luật bảo toàn năng lượng,
là biểu hiện nói lên rằng sự vận động là không thể tiêu diệt và không
thể tạo ra được, nghĩa là chỉ được hiểu về mặt số lượng thôi, thì bây
giờ biểu hiện hạn chế, tiêu cực ấy ngày càng nhường chỗ cho biểu
hiện tích cực của sự chuyển hoá năng lượng, trong đó lần đầu tiên
người ta thừa nhận nội dung chất lượng của quá trình, và trong đó ký
ức cuối cùng về đấng tạo hoá siêu nhân không còn nữa. Ý kiến cho
rằng số lượng của sự vận động (cái gọi là năng lượng) không thay
đổi khi nó chuyển hoá từ động năng (từ cái gọi là lực cơ học) thành
điện, nhiệt, thế năng, v.v., cũng như khi chuyển hoá ngược lại, - ý
kiến ấy, từ nay không còn cần phải tuyên truyền như một điều mới
mẻ nữa; nó đã thành cơ sở đã giành được một cách dứt khoát cho
sự nghiên cứu - giờ đây có một nội dung phong phú hơn nhiều
Chống Duhring
Ăng-ghen
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục:
Chống Duhring
Lời tựa
Lời tựa thứ nhất
Lời tựa thứ hai
Lời tựa thứ ba
Lời mở đầu
I. Nhận xét chung
II. Ông Đuy-rinh hứa những gì
Phần thứ nhất: Triết học
III. Phân loại. Chủ nghĩa tiên nghiệm
IV. Đồ thức luận về vũ trụ
Triết học về tự nhiên
V. Không gian và thời gian.
VI. Triết học về tự nhiên, thiên thể học, vật lý học, hoá học
VII. Triết học về tự nhiên, giới hữu cơ
VIII. Triết học về tự nhiên giới hữu cơ (hết)
Đạo đức và pháp quyền
IX. Chân lý vĩnh cực
X. Đạo đức và pháp quyền, bình đẳng
XI. Đạo đức và pháp quyền tự do và tất yếu
Biện chứng
XII. Lượng và chất
XIII. Biện chứng phủ định cái phủ định.
XIV. Kết luận
Phần thứ hai: Kinh tế chính trị học
I. Đối tượng và phương pháp
II. Lý luận về bạo lực
III. Lý luận về bạo lực (Tiếp theo)
IV. Lý luận về bạo lực
V.Lý luận về giá trị
VI. Lao động giản đơn và lao động phức tạp
VII. Tư bản và giá trị thặng dư
VIII. Tư bản và giá trị thặng dư
IX. Những quy luật tự nhiên của kinh tế địa tô
X. Về quyền "lịch sử phê phán"
Phần III: Chủ nghĩa xã hội
I- Lịch sử
II- Lý luận
III. Sản xuất
IV. Phân phối
V- Nhà nước, gia đình, giáo dục
Chú Thích
Lời tựa thứ nhất
Công trình này hoàn toàn không phải là kết quả của một "sự
thôi thúc nội tâm" nào cả. Mà trái lại.
Khi, cách đây ba năm, ông Đuy-rinh, lấy tư cách là môn đồ và
đồng thời là nhà cải cách chủ nghĩa xã hội, đột nhiên khiêu chiến với
thời đại ông thì những người bạn của tôi ở Đức đã nhiều lần yêu cầu
tôi giả thích phê phán trên cơ quan trung ương của Đảng dân chủ xã hội - bấy giờ là tờ "Volksstaat" - cái lý luận xã hội chủ nghĩa mới
đó. Những người bạn ấy cho rằng việc đó là tuyệt đối cần thiết, nếu
không muốn để cho cái đảng còn rất non trẻ và chỉ vừa mới thống
nhất đó có một cơ hội mới để bị chia rẽ bè phái và rối rắm. Những
người bạn ấy có thể đánh giá tình hình ở Đức đúng hơn tôi, cho nên
tôi có trách nhiệm phải tin theo họ. Ngoài ra, rõ ràng là có một bộ
phận báo chí xã hội chủ nghĩa đã hoan nghênh một cách nhiệt tình
môn đồ mới ấy, nhiệt tình này thật ra chỉ là đối với cái ý tốt của ông
Đuy-rinh thôi, nhưng đồng thời nó cũng làm cho người ta nghĩ rằng
bộ phận báo chí ấy, chính vì cái ý tốt đó của ông Đuy-rinh, cũng sẵn
lòng thừa nhận luôn cả học thuyết của ông ta nữa. Thậm chí, có
những người đã chuẩn bị truyền bá học thuyết ấy trong công nhân,
dưới một hình thức phổ cập. Và cuối cùng ông Đuy-rinh và bè pái
nhỏ bé của ông ta đã vận dụng tất cả những mánh khoé quảng cáo
và âm mưu để buộc tờ "Voldsstaat" phải có lập trường dứt khoát đối
với các học thuyết mới có những tham vọng rất to lớn đó.
Tuy vậy, cũng phải mất đến một năm tôi mới có thể dứt khoát
hoãn các công việc khác lại để ngoạm vào quả táo chua ấy. Thật vậy,
đây là một quả táo mà một khi đã ngoạm vào thì phải nuốt cho hết.
Hơn nữa, nó không những rất chua mà lại còn rất to. Lý luận xã hội
của chủ nghĩa mới này là kết quả thực tiễn cuối cùng của một hệ
thống triết học mới. Vì vậy, cần phải nghiên cứu mối liên hệ bên trong
của nó với hệ thống ấy, và như vậy là phải nghiên của bản thân hệ
thống ấy; cần phải đi theo ông Đuy-rinh vào cái lĩnh vực rộng lớn
trong đó ông ta bàn luận về mọi cái có thể có, và cả những cái ngoài
lĩnh vực ấy nữa. Như vậy là xuất hiện một loạt bài báo đăng từ đầu
năm 1877 trên tờ báo kế thừa tờ "Volksstaat", tức là tờ "Vorwarts" ở
Leipzig, và được tập hợp lại ở đây một các có mạch lạc.
Như vậy, tính chất của chính ngay đối tượng đã buộc sự phê
phán phải có một tính chất cặn kẽ hết sức không tương xứng với nội
dung khoa học của đối tượng, tức là của những tác phẩm của ông
Đuy-rinh. Song, cũng có thể viện ra hai lý do khác để biện hộ cho sự
cặn kẽ đó. Một mặt, nó cho phép tôi có cơ hội trình bày một cách
chính diện, trên các lĩnh vực rất khác nhau cần phải đề cập đến ở
đây, quan niệm của tôi về các vấn đề hiện đang có một ý nghĩa khoa
học hay thực tiễn phổ biến. Tôi đã làm như vậy trong từng chương
sách, và mặc dù sách này rất ít nhằm mục đích đem một hệ thống
khác đối lập lại với hệ thống của ông Đuy-rinh, nhưng tôi vẫn hy vọng
rằng độc giả sẽ vẫn nhận ra mối liên hệ bên trong của các quan điểm
do tôi đưa ra. Ngay hiện giờ, tôi cũng đã có quan điểm do tôi đưa ra.
Ngay hiện giờ, tôi cũng đã có đủ bằng chứng nói lên rằng, về mặt ấy,
công trình của tôi không phải là hoàn toàn không có hiệu quả.
Mặt khác, ông Đuy-rinh, "người sáng tạo ra hệ thống", không
phải là một hiện tượng đơn nhất trong hiện thực nuớc Đức ngày nay.
Ít lâu nay, ở Đức, những hệ thống nghiên cứu nguồn gốc của vũ trụ,
hệ thống triết học tự nhiên nói chung, hệ thống chính trị học, hệ thống
kinh tế chính trị học, v.v., mọc ra như nấm sau một trận mưa. Một vị
tiến sĩ triết học xoàng nhất, thậm chí cả một sinh viên, cũng bắt tay
vào việc sáng tạo ra một "hệ thống" hoàn chỉnh chứ không kém hơn.
Giống như trong một quốc gia hiện đại, người ta giả thiết rằng mỗi
công dân đều có đủ trình độ phán xét tất cả các vấn đề đưa ra cho
mình biểu quyết; giống như trong khoa kinh tế chính trị, người ta giả
thiết rằng mỗi người tiêu thụ đều là một người hiểu biết cặn kẽ các
hàng hoá mà mình phải mua để dùng cho cuộc sống của mình - thì
ngày nay trong lĩnh vực khoa học cũng phải đi theo một giả thiết như
thế. Tự do về mặt khoa học có nghĩa là người ta có quyền viết về tất
cả những gì mình không nghiên cứu, và coi đó là phương pháp khoa
học duy nhất chặt chẽ. Nhưng ông Đuy-rinh chính là một trong những
loại hình tiêu biểu nhất cho cái khoa học giả hiệu trắng trợn mà ngày
nay, trong khắp nước Đức, ta đều thấy ngoi lên hàng đầu và lấn át tất
cả bằng những lời rỗng tuếch, khoa trương trong thi ca, triết học,
chính trị học, sử học, những lời rỗng tuếch khoa trương có tham vọng
là đạt tới sự hơn hẳn và sâu sắc về tư tưởng, khác với những lời
rỗng tuếch, khoa trương giản đơn, tầm thường nhạt nhẽo của các
dân tộc khác, những lời rỗng tuếch khoa trương với tư cách là sản
phẩm đặc trưng nhất và mang tính chất hàng loạt nhất của nền công
nghiệp tri thức của Đức, rẻ nhưng tồi hoàn toàn giống như những
chế tạo phẩm khác của nước Đức, nhưng tiếc rằng chúng không
được trưng bày bên cạnh những chế tạo phẩm này tại cuộc triển lãm
[2]
Philadelphia . Thậm chí cả chủ nghĩa xã hội Đức, ít lâu nay, nhất là
sau khi có tấm gương tốt của ông Đuy-rinh, cũng rất nhiệt tình sản
xuất ra những lời rỗng tuếch khoa trương và tiến cử những kẻ lên
mặt huênh hoang về một "khoa học" mà họ "quả thực cũng chẳng
học được cái gì cả". Đây là một bệnh ấu trĩ đánh dấu bước đầu của
người sinh viên Đức chuyển theo chủ nghĩa dân chủ - xã hội, một
bệnh gắn liền với bước chuyển ấy, nhưng với bản chất lành mạnh
tuyệt vời của công nhân nước ta, nó chắc chắn sẽ được khắc phục.
Nếu tôi phải đi theo ông Đuy-rinh vào những lĩnh vực trong đó
giỏi lắm tôi cũng chỉ hy vọng có thể phát biểu với tư cách là một tài tử
nghiệp dư thôi, thì đó không phải là lỗi tại tôi. Trong những trường
hợp như vậy, phần nhiều tôi chỉ tự giới hạn ở chỗ đưa ra những sự
thật đúng đắn, không thể chối cãi được, để đối lập lại những lời
khẳng định sai lầm hoặc đáng ngờ của đối phương. Ví dụ như trong
lĩnh vực pháp lý và trong một số trường hợp thuộc khoa học tự nhiên.
Còn trong các trường hợp khác thì đó là vấn đề những quan điểm
phổ biến rút ra từ phần lý thuyết của khoa học tự nhiên, tức là từ một
địa hạt mà ngay cả nhà chuyên môn cũng buộc phải đi ra ngoài phạm
vi chuyên môn cuả mình để bước sang những lĩnh vực lân cận, - tức
là những lĩnh vực lân cận, - tức là những lĩnh vực trong đó nhà
chuyên môn theo sự thú nhận của Virchow, cũng chỉ là một "kẻ biết
nửa vời" giống như chúng ta thôi. Tôi mong rằng tôi cũng sẽ được
hưởng thái độ khoan dung mà người ta thường có đối với nhau về
những chỗ thiếu chính xác nhỏ và diễn đạt vụng về.
Khi kết thúc lời tựa này, tôi nhận được một bản quảng cáo của
nhà xuất bản, do ông Đuy-rinh thảo ra, về một tác phẩm mới "có tính
chất chủ đạo" của ông ta: "Những định luật cơ bản mới của vật lý học
hợp lý và hoá học hợp lý". Mặc dầu biết rõ sự nghèo nàn của những
kiến thức của tôi về vật lý học và hoá học, song tôi vẫn tin rằng tôi
hiểu biêt ông Đuy-rinh của tôi khá đầy đủ, cho nên tuy chưa nhìn thấy
tác phẩm ấy, nhưng tôi cũng có thể nói trước được rằng xét về mức
độ sai lầm và khuôn sáo thì những định luật vật lý học và hoá học do
ông ta trình bày trong cuốn đó cũng xứng đáng được đặt ngang hàng
với những định luật về kinh tế học, về đồ thức luận vũ trụ, v.v., do
ông ta đã khám phá ra trước đây và được tôi tìm hiểu trong cuốn
sách này; rằng cái đê nhiệt kế, hay khí cụ để đo những nhiệt độ rất
thấp, do ông Đuy-rinh chế tạo ra, dùng để đo không phải những nhiệt
độ cao hay thấp, mà chỉ là để đo cái thói kiêu căng ngu dốt của ông
Đuy-rinh mà thôi.
Luân đôn, ngày 11 tháng sáu 1878
Lời tựa thứ hai
Việc cần phải in lại cuốn sách này đối với tôi thật là một điều
bất ngờ. Đối tượng mà trước kia nó phê phán thì hiện nay thực ra đã
bị lãng quên rồi; bản thân cuốn sách này không những đã được đăng
thành từng phần trên tờ "Vorwarts" ở Leipzig năm 1877 và năm 1878
cho hàng nghìn độc giả, mà còn được xuất bản toàn bộ thành sách
riêng, với một số lượng in lớn. Vậy tại sao ngày này lại còn có người
quan tâm đến những điều tôi đã nói với ông Đuy-rinh cách đây hàng
bao nhiêu năm?
Điều đó chắc chắn trước hết là do quyển sách này, cũng giống
hầu hết những sách khác của tôi còn lưu hành hồi đó, đã bị cấm
trong Đế chế Đức liền ngay sau khi ban hành đạo luật đặc biệt chống
[3]
những người xã hội chủ nghĩa . Bất cứ ai không bị cột chặt vào
những thành kiến quan liêu cha truyền con nối của các nước trong
Liên minh thần thánh, đều phải thấy rõ rằng biện pháp ấy chỉ có thể
có kết quả là: số lượng các sách bị cấm được tiêu thụ tăng lên gấp
đôi, gấp ba và sự bất lực bị phơi trần của các ngài ở Béc-lin đã ban
bố những lệnh cấm nhưng không thể thực hiện được những lệnh ấy.
Thật vậy, nhờ sự nhã ý của chính phủ đế chế mà những tác phẩm
nhỏ của tôi được in lại nhiều lần hơn là trong trường hợp tôi tự đứng
ra đảm nhiệm lấy; tôi không có thì giờ xem lại một cách thích đáng
văn bản của chúng và trong phần lớn trường hợp tôi buộc phải cho in
lại nguyên văn như cũ mà thôi.
Nhưng thêm vào đó lại còn có một hoàn cảnh khác nữa. "Hệ
thống của ông Đuy-rinh được phê phán trong quyển sách này bao
trùm một lĩnh vực lý luận rất rộng; tôi buộc phải dõi theo ông khắp nơi
và đem những quan niệm của tôi ra đối lập lại những quan niệm của
ông ta. Vì vậy, sự phê phán tiêu cực đã trở thành sự phê phán tích
cực; cuộc bút chiến chuyển thành một sự trình bày ít nhiều có hệ
thống về phương pháp biện chứng và thế giới quan cộng sản chủ
nghĩa và Mác và tôi đã đại biểu, - và trình bày như thế trên một loạt
khá nhiều lĩnh vực. Cái thế giới quan đó của chúng tôi, sự xuất hiện
trên thế giới lần đầu tiên trong cuốn "Sự khốn cùng của triết học" của
Mác và trong "Tuyên ngôn của Đảng cộng sản" đã trải qua một thời
kỳ ấp ủ trong hơn 20 năm, và cho đến khi bộ "Tư bản" ra đời thì nó
ngày càng tranh thủ được các giới rộng rãi một cách nhanh chóng và
ngày nay, vượt xa ra ngoài biên giới của châu âu, nó đang gây được
sự chú ý và tìm được những môn đệ trong tất cả những nước, trong
đó, một mặt, có những người vô sản, và mặt khác, có những nhà lý
luận khoa học vô tư. Vì vậy, hình như có một công chúng quan tâm
khá nhiều đến thực chất của vấn đề, đến mức thừa nhận cả cuộc bút
chiến chống lại những luận điểm của Đuy-rinh, một cuộc bút chiến về
nhiều mặt nay đã không còn đối tượng nữa, để tìm hiểu những sự
trình bày chính diện trong cuốn sách.
Tiện đây tôi cũng xin nói rằng: vì thế giới quan trình bày trong
cuốn sách này một phần hết sức lớn là do Mác đặt cơ sở và phát
triển, còn tôi chỉ tham dự vào đó một phần hết sức nhỏ, cho nên đối
với chúng tôi một điều dĩ nhiên là bản trình bày của tôi không thể ra
đời mà Mác lại không biết đến. Tôi đã đọc cho Mác nghe toàn bộ bản
thảo trước khi đưa in, và chính Mác đã viết chương thứ mười trong
phần kinh tế chính trị học ("Về quyển Lịch sử phê phán"), và tiếc thay
chỉ vì những nguyên nhân bên ngoài mà chúng tôi đã có thói quen
giúp đỡ lẫn nhau như vậy trong những lĩnh vực chuyên môn.
Lần xuất bản này in lại nguyên văn bản in lần trước, chỉ trừ
một chương. Một mặt, tôi không có thì giờ để xem lại bản ấy một
cách cặn kẽ, mặc dầu tôi rất muốn sửa lại nhiều chỗ trong bản trình
này. Tôi có nghĩa vụ phải chuẩn bị để đưa in những di cảo của Mác,
và việc đó quan trọng hơn nhiều so với bất kỳ một công việc nào
khác. Ngoài ra, lương tâm tôi cũng chống lại mọi sự thay đổi. Tác
phẩm này là một tác phẩm luận chiến và tôi cho rằng đối với đối thủ
của tôi, tôi có nghĩa vụ không được sửa chữa gì cả ở những chỗ nào
mà ông ta cũng không thể sửa chữa gì cả. Tôi sẽ chỉ có thể đòi
quyền phát biểu chống lại bài trả lời của ông Đuy-rinh mà thôi. Nhưng
những gì mà ông Đuy-rinh đã viết về bản luận chiến của tôi thì tôi đã
không đọc và cũng sẽ không đọc nếu không có một lý do nào đặc
biệt; về phương diện lý luận tôi đã thanh toán với ông ta rồi. Vả lại,
đối với ông ta, tôi càng phải tôn trọng những quy tắc lễ nghi trong một
cuộc luận chiến văn học, nhất là từ khi cuốn sách của tôi ra đời.
Trường đại học Béc-lin đã có một hành động bất công nhục nhã đối
với ông ta. Thực ra trường này đã bị trừng phạt về điều đó. Một
trường đại học mà đi đến chỗ tước quyền tự do giảng dạy của ông
Đuy-rinh trong những tình hình như mọi người đã biết thì trường đại
học đó cũng không có gì phải ngạc nhiên khi bị người ta bắt phải
nhận ông Schweninger trong những tình hình mà mọi người cũng đã
biết rõ.
Chương duy nhất trong đó tôi đã mạn phép đưa thêm những
đoạn bổ sung có tính chất giải thích vào, là chương thứ hai của phần
thứ ba: "Lý luận". Ở đây, nơi mà vấn đề chính chỉ là trình bày một
điểm mấu chốt trong thế giới quan của tôi, thì đối thủ của tôi cũng
không thể trách tôi khi tôi cố gắng nói một cách đại chúng hơn và bổ
sung ý kiến cho mạch lạc hơn. Hơn nữa, tôi lại có một lý do bên
ngoài để làm như vậy. Tôi đã soạn lại ba chương trong tác phẩm
(chương thứ nhất trong Lời mở đầu, chương thứ nhất và thứ hai
trong phần thứ ba) thành một quyển sách riêng để cho người bạn của
tôi, Lafargue, dịch ra tiếng Pháp, và sau khi bản tiếng Pháp đã được
dùng làm cơ sở cho bản dịch tiếng ý và bản dịch tiếng Ba lan, tôi đã
xuất bản một bản bằng tiếng Đức dưới đầu đề: "Sự phát triển của
chủ nghĩa xã hội từ không tưởng đến khoa học". Trong có vài ba
tháng, tập sách này đã được xuất bản ba lần và cũng được dịch ra
tiếng Nga và tiếng Đan mạch. Trong tất cả các bản in đó, chỉ có
chương đã nói trên kia là có bổ sung thêm, và về phía tôi sẽ thật là cố
chấp nếu khi in lại nguyên bản vẫn cứ khư khư bám lấy văn bản ban
đầu mà không theo bản viết sau là bản đã trở thành một bản in có
tính chất quốc tế.
Những chỗ khác mà tôi muốn sửa thì chủ yếu là về hai điểm.
Một là về lịch sử nguyên thuỷ của nhân loại mà mãi đến năm 1877,
Morgan mới cung cấp cho chúng ta cái chìa khoá để tìm hiểu. Nhưng
sau đó, trong tác phẩm của tôi: "Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu
tư nhân và của nhà nước", Zurich, 1884, tôi đã có dịp sử dụng những
tài liệu mà tôi đã tìm được trong khoảng thời gian từ đó đến lúc viết,
cho nên ở đây chỉ cần dẫn tác phẩm viết về sau này đó cũng đủ.
Nhưng, hai là, tôi cũng muốn thay đổi phần nói đến khoa học
tự nhiên lý thuyết. Phần này đã được trình bày rất vụng về, nhiều
điểm bây giờ có thể diễn đạt dưới một hình thức rõ ràng hơn và
chính xác hơn. Và nếu như ở đây tôi tự coi mình không có quyền sửa
chữa, thì chính vì thế mà ở đây, tôi lại càng có nhiệm vụ phải tự phê
bình mình.
Có thể nói rằng hầu như chỉ có Mác và tôi là những người đã
cứu phép biện chứng tự giác thoát khỏi triết học duy tâm Đức và đưa
nó vào trong quan niệm duy vật về tự nhiên và về lịch sử. Song muốn
có một quan niệm vừa biện chứng vừa duy vật về khoa học tự nhiên
thì chúng tôi chỉ có thể nghiên cứu một cách rời rạc, đứt đoạn, không
thường xuyên. Vì thế, khi tôi có được thì giờ để làm việc đó, sau khi
[4]
từ bỏ công việc buôn bán và dời đến ở Luân đôn , thì trong chừng
mực có thể tôi đã có tự "lột xác" hoàn toàn - theo cách nói của Liebig
- trong lĩnh vực toán học và về khoa học tự nhiên, và tôi đã dùng
phần lớn thời gian của tôi trong tám năm vào việc đó. Đúng vào giữa
quá trình lột xác ấy, tôi đã phải nghiên cứu cái gọi là triết học tự nhiên
của ông Đuy-rinh. Vì vậy, nếu như trong lĩnh vực khoa học tự nhiên,
lý thuyết, đôi khi tôi không tìm được thuật ngữ chính xác và nói chung
đã diễn đạt còn khá nặng nề, thì đó là điều hoàn toàn tự nhiên.
Nhưng mặt khác, việc ý thức được rằng mình chưa nắm vững vật
liệu đã khiến tôi thận trọng; sẽ không ai có thể vạch ra được những
sự lầm lẫn thực sự của tôi về những sự kiện đã biết hồi đó, cũng như
những điều sai lệch trong việc trình bày những lý thuyết đã được
[5]
công nhận hồi đó. Về mặt này, chỉ có một nhà toán học lớn chưa
được thừa nhận viết thư cho Mác, phàn nàn rằng tôi đã dám táo gan
xúc phạm đến danh dự của
.
Lẽ dĩ nhiên, khi tôi tổng kết những thành tựu của toán học và
khoa học tự nhiên như vậy thì vấn đề cũng là để thông qua những cái
riêng, thấy rõ thêm cái chân lý mà nói chung tôi đã không nghi ngờ
chút nào cả, cụ thể là: cũng những quy luật biện chứng ấy của sự
vận động, chi phối tính ngẫu nhiên bề ngoài của sự kiện ngay cả
trong lịch sử, đang mở đường cho mình trong giới tự nhiên thông qua
sự hỗn độn của vô số biến đổi; cũng những quy luật ấy, những quy
luật như sợi chỉ đỏ xuyên qua cả lịch sử phát triển của tư duy loài
người, đang dần dần đi vào ý thức của con người tư duy: đó là
những quy luật mà Hegel lần đầu tiên đã phát triển một cách bao
quát, nhưng dưới một hình thức thần bí, và một trong những nguyện
vọng của chúng tôi là tách những quy luật đó ra khỏi cái vỏ thân bí ấy
và trình bày chúng một cách rõ ràng với tất cả tính đơn giản và tính
phổ biến của chúng. Lẽ dĩ nhiên là nề triết học tự nhiên cũ - dầu có
chứa đựng nhiều điều tốt thật sự và nhiều mầm mống có sức đâm
chồi nảy lộc như thế nào chăng nữa[1A] - vẫn không thể thoả mãn
được chúng ta. Như đã được trình bày tường tận hơn trong tác phẩm
này, khuyết điểm của nền triết học tự nhiên ấy, nhất là dưới hình thức
của Hegel, là ở chỗ không thừa nhận sự phát triển trong thời gian,
"nối tiếp nhau" của thế giới tự nhiên, mà chỉ thừa nhận sự tồn tại của
"cái nọ bên cạnh cái kia". Sở dĩ như thế một mặt là do bản thân hệ
thống của Hegel chỉ thừa nhận có sự phát triển lịch sử của "tinh
thần", nhưng mặt khác cũng là do tình trạng chung của khoa học tự
nhiên thời ấy. Như vậy là trong trường hợp này, Hegel đã thụt lùi lại
xa đằng sau Kant là người, với thuyết tinh vân của mình, đã tuyên bố
sự phát sinh của hệ thống mặt trời, và với việc phát hiện ra tác dụng
kìm hãm của thuỷ triều đối với sự quay của trái đất, cũng đã tuyên bố
[6]
sự tiêu vong của hệ thống ấy . Sau cùng, vấn đề đối với tôi không
thể là đưa những quy luật biện chứng từ bên ngoài vào giới tự nhiên,
mà là phát hiện ra chúng trong giới tự nhiên và rút chúng ra từ giới tự
nhiên.
Song, làm điều đó một cách có hệ thống và trong từng lĩnh
vực riêng biệt thì đó là một công việc khổng lồ. Không những lĩnh vực
phải nắm thì hầu như vô tận, mà trên toàn bộ lĩnh vực đó, bản thân
khoa học tự nhiên cũng đang trải qua một quá trình đảo lộn mạnh mẽ
đến mức một người bỏ hết thì giờ nhàn rỗi của mình ra để làm việc
ấy cũng không thể nào theo dõi xiết được. Nhưng từ khi Các Mác
qua đời, thời giờ của tôi phải ngừng công việc nghiên cứu của tôi lại.
Lúc bấy giờ tôi đành tạm bằng lòng với những phác thảo đã đưa ra
trong sách này và đợi sau này có dịp thì sẽ tập hợp và công bố
những kết quả đã thu nhận được, có thể là cùng một lúc với những
[7]
bản thảo toán học rất quan trọng do Mác để lại .
Tuy nhiên, cũng có thể là tiến bộ của khoa học tự nhiên lý
thuyết sẽ làm cho đại bộ phận hoặc toàn bộ công trình của tôi trở
thành thừa, bởi vì chỉ một sự cần thiết phải sắp xếp lại những phát
hiện thuần tuý có tính chất kinh nghiệm, đã chất đống lại rất nhiều,
cũng buộc nhà kinh nghiệm chủ nghĩa ngoan cố nhất phải ngày càng
nhận thức được tính chất biện chứng của các quá trình tự nhiên.
Những sự đối lập cứng nhắc cũ, những ranh giới dứt khoát và không
thể vượt qua được ngày càng biến mất. Từ khi biến được bản thân
những chất khí "thật" cuối cùng thành chất lỏng, trong đó hình thức
giọt và hình thức khí là không phân biệt, thì những trạng thái kết tụ đã
mất hết mọi tàn dư cuối cùng của tính tuyệt đối trước kia của chúng.
Khi thuyết khí động học xác lập được rằng trong các chất khí hoàn
hảo, với một nhiệt độ như nhau, bình phương của tốc độ chuyển
động của các phân tử khí riêng biệt đều tỷ lệ nghịch với trọng lượng
phân tử, - thì bản thân nhiệt cũng được liệt trực tiếp vào hàng những
hình thức vận động có thể đo được trực tiếp với tính cách là những
hình thức vận động, chỉ được hiểu là định luật bảo toàn năng lượng,
là biểu hiện nói lên rằng sự vận động là không thể tiêu diệt và không
thể tạo ra được, nghĩa là chỉ được hiểu về mặt số lượng thôi, thì bây
giờ biểu hiện hạn chế, tiêu cực ấy ngày càng nhường chỗ cho biểu
hiện tích cực của sự chuyển hoá năng lượng, trong đó lần đầu tiên
người ta thừa nhận nội dung chất lượng của quá trình, và trong đó ký
ức cuối cùng về đấng tạo hoá siêu nhân không còn nữa. Ý kiến cho
rằng số lượng của sự vận động (cái gọi là năng lượng) không thay
đổi khi nó chuyển hoá từ động năng (từ cái gọi là lực cơ học) thành
điện, nhiệt, thế năng, v.v., cũng như khi chuyển hoá ngược lại, - ý
kiến ấy, từ nay không còn cần phải tuyên truyền như một điều mới
mẻ nữa; nó đã thành cơ sở đã giành được một cách dứt khoát cho
sự nghiên cứu - giờ đây có một nội dung phong phú hơn nhiều
 









Các ý kiến mới nhất