Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Đề thi học kì 2

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 20h:09' 26-05-2024
Dung lượng: 399.6 KB
Số lượt tải: 9
Nguồn:
Người gửi: NGUYỄN THỊ HƯNG
Ngày gửi: 20h:09' 26-05-2024
Dung lượng: 399.6 KB
Số lượt tải: 9
Số lượt thích:
0 người
1
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
Hưng Yên, ngày 25 tháng 5 năm 2024.
BÁO CÁO CÁ NHÂN
Kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên năm học 2023-2024
Họ tên giáo viên
Trình độ chuyên môn
Chức vụ công tác
Tổ chuyên môn
Công việc được giao
:
:
:
:
:
NGUYỄN THỊ HƯNG
Đại học Sư phạm
Giáo viên – Tổ trưởng tổ 4 + 5
4+5
Giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5B.
Căn cứ Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo cơ sở giáo
dục phổ thông;
Căn cứ Thông tư số 19/2019/TT-BGDĐT ngày 12/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non,
phổ thông và giáo dục thường xuyên;
Thực hiện Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lí và giáo viên năm
học 2023-2024 của Trường Tiểu học&THCS Minh Khai;
Căn cứ Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2023-2024, bản thân tôi
đã xây dựng được Ban Giám hiệu Nhà trường phê duyệt. Căn cứ vào nhu cầu thực tế về
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của bản thân, tôi xin báo cáo kết
quả thực hiện Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2023- 2024 cụ thể
như sau:
Trong năm học 2023- 2024, được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Giám hiệu Nhà
trường, Ban Chuyên môn cùng với lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm của bản thân,
tôi đã thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên đề ra. Là một giáo viên tâm huyết
với nghề - tất cả vì học sinh thân yêu, tôi luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong mọi
công việc, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đạt được chỉ tiêu kế hoạch năm
học đã đề ra, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục. Bản thân tôi luôn học
hỏi, ham tìm tòi cái mới để nâng cao năng lực chuyên môn. Với cương vị là một tổ
trưởng chuyên môn tổ 4+5, tôi luôn gương mẫu trong mọi hoạt động, thực hiện nghiêm
túc quy chế chuyên môn, đi đầu trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng
công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, cập nhật các phần mềm; tích cực học tập, rèn
luyện nâng cao trình độ chuyên môn; có ý thức phấn đấu và rèn luyện mình để hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Căn cứ Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01/11/2019 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo cơ
sở giáo dục phổ thông. Nội dung chương trình bồi dưỡng thường xuyên bao gồm:
I. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 1: Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ
năng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học đối với cấp học của
giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo năm học. Các nội
2
dung bồi dưỡng về đường lối, chính sách phát triển giáo dục phổ thông, chương trình
giáo dục phổ thông, nội dung các môn học, hoạt động giáo dục thuộc chương trình giáo
dục phổ thông.
- Thời lượng bồi dưỡng: Khoảng 01 tuần/năm học (khoảng 40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Theo chỉ đạo của cấp trên.
Tự đánh giá:
+ Tham gia đầy đủ các buổi học tập chính trị, tiếp thu Nghị quyết của Đảng về nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, về quan điểm, đường lối phát triển Giáo dục và Đào tạo.
+ Thực hiện tốt các Chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT, của Uỷ ban nhân dân
của tỉnh và của thành phố; các nội dung về đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học
của Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT; các văn bản chỉ đạo của ngành.
+ Thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về
trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân; đoàn kết xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh. Tích cực học tập, rèn luyện và áp dụng vào công việc hằng ngày từ những việc
làm nhỏ nhất.
+ Thường xuyên học hỏi, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp để nâng cao trình
độ, năng lực chuyên môn của bản thân.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 1.
II. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 2: Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức,
kỹ năng chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phổ thông theo từng thời
kỳ của mỗi địa phương do Sở Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo năm học các nội
dung bồi dưỡng về phát triển giáo dục phổ thông của địa phương, thực hiện chương
trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục địa phương; phối hợp với các dự án để
triển khai kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên (nếu có).
- Thời lượng bồi dưỡng: Khoảng 01 tuần/năm học (khoảng 40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Theo chỉ đạo của cấp trên.
Tự đánh giá:
+ Thực hiện nghiêm túc kế hoạch năm học của PGD&ĐT, của nhà trường đã xây dựng
ngay từ đầu năm học.
+ Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực vào quá trình
giảng dạy. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện
phương pháp tự học cho học sinh.
+ Tăng cường tính tự giác, tích cực, chủ động học tập của cá nhân, phối hợp với học tập
hợp tác. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của HS, đánh giá của các bạn,
của cha mẹ HS.
+ Thường xuyên dạy học lồng ghép Giáo dục Quốc phòng&An ninh, Giáo dục Bảo vệ
môi trường, Giáo dục kĩ năng sống, Giáo dục An toàn giao thông; Giáo dục Quyền con
người, … vào một số môn học, bài học.
+ Tích cực nghiên cứu, tìm hiểu Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tham gia Hội
đồng lựa chọn sách giáo khoa lớp 5 năm học 2024-2025 Chương trình GDPT 2018 theo
sự phân công của Ban Giám hiệu Nhà trường.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 2.
III. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 3: Chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực
nghề nghiệp theo yêu cầu vị trí việc làm.
3
- Thời lượng bồi dưỡng: 01 tuần/năm học (40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Tập trung và từ xa phù hợp với nội dung cần bồi dưỡng để đạt
hiệu quả cao nhất.
Thời gian
Yêu cầu Mã mô Tên mô
Nội dung
thực hiện
bồi dưỡng
đun
đun
chính của mô
Yêu cầu cần đạt
(tiết)
theo
đun
Lý
Thực
Chuẩn
thuyết hành
Phát triển GVPT Sử dụng 1. Những vấn - Phân tích được những
16
24
chuyên
05
phương đề chung về vấn đề chung về phương
môn,
pháp
phương pháp, pháp, kỹ thuật dạy học
nghiệp vụ
dạy học kỹ thuật dạy và giáo dục phát triển
và giáo học và giáo phẩm chất, năng lực học
dục phát dục phát triển sinh trong các cơ sở
triển
phẩm
chất, giáo dục phổ thông, phù
phẩm năng lực học hợp với từng cấp học;
chất,
sinh.
- Vận dụng được các
năng lực 2. Các phương phương pháp, kỹ thuật
học sinh pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục để
dạy học và tổ chức dạy học và giáo
giáo dục nhằm dục theo hướng phát
phát
triển triển phẩm chất, năng
phẩm
chất, lực của học sinh phù
năng lực học hợp với từng cấp học
sinh.
(Dạy học tích hợp; Dạy
3. Vận dụng học phân hóa; Tổ chức
phương pháp, hoạt động dạy học, giáo
kỹ thuật dạy dục hòa nhập cho học
học và giáo sinh khuyết tật; Giải
dục phát triển pháp sư phạm trong
phẩm
chất, công tác giáo dục học
năng lực học sinh của giáo viên chủ
sinh.
nhiệm; Phương pháp và
kỹ thuật dạy học tích
cực;...).
- Hỗ trợ đồng nghiệp về
kiến thức, kỹ năng và
kinh nghiệm vận dụng
các phương pháp, kỹ
thuật dạy học và giáo
dục theo hướng phát
triển phẩm chất, năng
lực học sinh trong các
cơ sở giáo dục phổ
4
thông.
Tự đánh giá:
Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương
tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương
pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần
xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của
cá nhân.
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo
dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành
năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan
trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy
tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc
của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học,
cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ
năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về
đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức
đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Cụ thể như
sau:
A.ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA
HỌC SINH.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc
HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo
được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một
chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh
theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc
học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các
chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng
lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó
trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách
linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy
nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh
tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng
dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức
5
dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình
thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Cần
chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ
năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. Cần sử
dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các
đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng
học sinh. Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua
bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một là, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự
khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt
sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát
hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc
tình huống thực tiễn...
Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu
học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến
thức mới... Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá,
khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng
tạo.
Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi
trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng
cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình
dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ
năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời
giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được
nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể
hiện, tự đánh giá).
B. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
1) Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy
học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải
tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của
các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và
sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài
lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật
làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những
hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử
dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học
sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
2) Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá
trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất
lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những
6
hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức
năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết
trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở
trường tiểu học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp
thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới
hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có
những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một
hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng
vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm
việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài”
của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong
của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy
học tích cực khác.
3) Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết
vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và
giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa
đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri
thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ
bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình
thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn
đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với
thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến
những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn.
Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên
môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực
tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan
điểm dạy học theo tình huống.
4) Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ
chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề
nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho
học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học
hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được
phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những
mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc
phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học
sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn. Phương pháp nghiên cứu trường
hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học
sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc
nhóm. Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng
để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình
7
trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên,
nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa
phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì học
sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực
hành.
5) Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí
óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh
thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp
linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học
tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa
quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy
và hành động, nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của
dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một
nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành,
có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều
lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học
sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình
huống và dạy học định hướng hành động.
6) Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ
dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay,
việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được
tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa
quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung
dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa
phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy
học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng
trường học kết nối, trường học lớn, …
7) Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ
thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ
thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các
kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như: động não, tia chớp,
bể cá, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn, ...
8) Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử
dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các
phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa
học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao
8
tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những
phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại
hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học...
9) Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực
hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như
phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương
pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng
nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung
và các phương pháp học tập trong bộ môn.
Như vậy, từ việc học tập, nghiên cứu các nội dung trên, bản thân tôi:
+ Đã hiểu được những vấn đề chung về phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục
phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông, phù hợp với
từng cấp học.
+ Vận dụng được các phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục để tổ chức dạy học
và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh phù hợp với cấp Tiểu
học (Dạy học tích hợp; Dạy học phân hóa; Tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục hòa nhập
cho học sinh khuyết tật; Giải pháp sư phạm trong công tác giáo dục học sinh của giáo viên
chủ nhiệm; Phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực;...).
+ Hỗ trợ đồng nghiệp về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm vận dụng các phương
pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
trong các cơ sở giáo dục phổ thông. Thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp
vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất,
năng lực học sinh nhằm phát triển chuyên môn của bản thân đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 3.
Ngoài những kết quả đã đạt được, bản thân tôi còn nhận thấy: Do thời gian có hạn,
một số nội dung bồi dưỡng thường xuyên chưa được nghiên cứu sâu.
IV. NỘI DUNG ĐÃ VẬN DỤNG KIẾN THỨC ĐƯỢC BỒI DƯỠNG VÀO THỰC
TIỄN DẠY HỌC, GIÁO DỤC
Qua nghiên cứu, học tập mô đun “GVPT 05: Sử dụng phương pháp dạy học và
giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”, bản thân tôi đã học tập được một
số nội dung và áp dụng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình như sau:
+ Luôn đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh.
Chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người
học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học
sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Tôi chuyển từ phương pháp dạy học theo lối
"truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan
hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng
lực xã hội cho các em.
+ Mỗi giờ lên lớp, tôi đều cố gắng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của
học sinh, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi
9
chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng
tạo của tư duy đối với học sinh.
+ Hằng ngày, tôi đã đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực của học sinh bằng cách: tôi là người tổ chức và chỉ đạo còn học sinh tiến hành
các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào
các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn, ...
+ Luôn chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài
liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện
kiến thức mới, ...
+ Định hướng cho học sinh cách tư duy như: phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá,
khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen, … để dần hình thành và phát triển tiềm năng
sáng tạo.
+ Bên cạnh đó, tôi còn tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác,
lớp học trở thành môi trường giao tiếp thân thiện: giáo viên – học sinh và học sinh – học
sinh nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải
quyết các nhiệm vụ học tập chung.
+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng
phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức
như: theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê
phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh
tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).
Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học cụ thể mà bản thân tôi đã áp
dụng vào giảng dạy như sau:
+ Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Với biện pháp này, tôi dạy học
truyền thống kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, tăng cường tính tích cực
nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết
vấn đề.
+ Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học. Tôi lên lớp theo hướng kết hợp thuyết
trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm của học sinh, góp phần tích cực hoá
hoạt động nhận thức của học sinh.
+ Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn
đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng
lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề là con
đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong
nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.
+ Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy
học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng
bước được tăng cường. Bản thân luôn ý thức được điều đó lên thường xuyên sử dụng đồ
dùng dạy học cũng như ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy có hiệu quả.
+ Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo. Tôi chú trọng phát
triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
như: vấn đáp, động não, tia chớp, bể cá, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn, ...
10
Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch học tập, nghiên cứu tài liệu, tham khảo sách,
báo, tìm hiểu thông tin trên mạng Internet, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn dạy học và
giáo dục học sinh; thường xuyên tìm hiểu, cập nhật các thông tin kiến thức phù hợp với
năng lực chuyên môn của bản thân theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, nhằm đáp ứng
yêu cầu thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Bước đầu hiểu và vận dụng
được một số nội dung liên quan đến giáo dục học sinh, cách đánh giá xếp loại học sinh
Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Vận dụng được các phương pháp, kĩ
thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh phù
hợp với cấp Tiểu học để tổ chức dạy học và giáo dục trong các giờ học đạt hiệu quả cao,
học sinh có tiến bộ trong học tập, lớp học sinh động; HS tích cực chủ động, sáng tạo tiếp
thu kiến thức, hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn; các em chăm
ngoan, mạnh dạn hơn, tích cực tham gia các nhiệm vụ học tập. Đặc biệt, tôi đã vận dụng
những kiến thức học được từ các mô đun để ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy
học và giáo dục, cập nhật các phần mềm (đặc biệt ứng dụng Công nghệ thông tin trong
quá trình dạy học hằng ngày có hiệu quả). Bản thân tôi đã vận dụng kiến thức đã học đó
để hướng dẫn, chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn. Một
số đồng chí GV trong tổ đã tự tin hơn và có tay nghề vững vàng.
Như vậy, sau một năm tham gia Chương trình bồi dưỡng thường xuyên do các
cấp tổ chức và ý thức tự học Mô đun GVPT 05 với nội dung “Sử dụng phương pháp
dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”, bản thân tôi nhận thấy
việc tự học là một công tác, nhiệm vụ rất thiết thực, vô cùng quan trọng, vì qua việc tự
học tôi có thể tự bổ sung và bồi bưỡng cho mình những nội dung còn thiếu trong công
tác chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục học sinh.
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
Năm học 2024-2025, Nhà trường tiếp tục tổ chức mở chuyên đề tập huấn sử
dụng phần mềm Excel, cách sử dụng bảng tính và cách làm Học bạ số cho toàn bộ GV
trong tổ 4+5 nói riêng, toàn trường nói chung.
VI. TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BDTX:
Xếp loại kết quả bồi dưỡng thường xuyên: Hoàn thành kế hoạch BDTX.
NGƯỜI BÁO CÁO
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Hưng
11
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC&THCS MINH KHAI
---------- ----------
BÁO CÁO CÁ NHÂN
KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Năm học: 2023 - 2024
Họ và tên giáo viên :
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác
:
Tổ chuyên môn
:
Đơn vị công tác
:
NGUYỄN THỊ HƯNG
Đại học Sư phạm
Giáo viên – Tổ trưởng tổ 4 + 5
4+5
Trường Tiểu học&Trung học cơ sở
Minh Khai, thành phố Hưng Yên
Năm học: 2023-2024
12
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TRƯỜNG TH&THCS MINH KHAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc.
Hưng Yên, ngày 25 tháng 5 năm 2024.
BÁO CÁO CÁ NHÂN
Kết quả thực hiện kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên năm học 2023-2024
Họ tên giáo viên
Trình độ chuyên môn
Chức vụ công tác
Tổ chuyên môn
Công việc được giao
:
:
:
:
:
NGUYỄN THỊ HƯNG
Đại học Sư phạm
Giáo viên – Tổ trưởng tổ 4 + 5
4+5
Giảng dạy và chủ nhiệm lớp 5B.
Căn cứ Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo cơ sở giáo
dục phổ thông;
Căn cứ Thông tư số 19/2019/TT-BGDĐT ngày 12/11/2019 của Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế bồi dưỡng thường xuyên giáo viên mầm non,
phổ thông và giáo dục thường xuyên;
Thực hiện Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lí và giáo viên năm
học 2023-2024 của Trường Tiểu học&THCS Minh Khai;
Căn cứ Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2023-2024, bản thân tôi
đã xây dựng được Ban Giám hiệu Nhà trường phê duyệt. Căn cứ vào nhu cầu thực tế về
nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của bản thân, tôi xin báo cáo kết
quả thực hiện Kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cá nhân năm học 2023- 2024 cụ thể
như sau:
Trong năm học 2023- 2024, được sự quan tâm, chỉ đạo của Ban Giám hiệu Nhà
trường, Ban Chuyên môn cùng với lòng nhiệt tình và ý thức trách nhiệm của bản thân,
tôi đã thực hiện tốt kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên đề ra. Là một giáo viên tâm huyết
với nghề - tất cả vì học sinh thân yêu, tôi luôn có tinh thần trách nhiệm cao trong mọi
công việc, luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đạt được chỉ tiêu kế hoạch năm
học đã đề ra, tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và giáo dục. Bản thân tôi luôn học
hỏi, ham tìm tòi cái mới để nâng cao năng lực chuyên môn. Với cương vị là một tổ
trưởng chuyên môn tổ 4+5, tôi luôn gương mẫu trong mọi hoạt động, thực hiện nghiêm
túc quy chế chuyên môn, đi đầu trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và ứng dụng
công nghệ thông tin vào trong giảng dạy, cập nhật các phần mềm; tích cực học tập, rèn
luyện nâng cao trình độ chuyên môn; có ý thức phấn đấu và rèn luyện mình để hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Căn cứ Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT ngày 01/11/2019 của Bộ trưởng Bộ
Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo cơ
sở giáo dục phổ thông. Nội dung chương trình bồi dưỡng thường xuyên bao gồm:
I. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 1: Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức, kỹ
năng chuyên ngành đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học đối với cấp học của
giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo năm học. Các nội
2
dung bồi dưỡng về đường lối, chính sách phát triển giáo dục phổ thông, chương trình
giáo dục phổ thông, nội dung các môn học, hoạt động giáo dục thuộc chương trình giáo
dục phổ thông.
- Thời lượng bồi dưỡng: Khoảng 01 tuần/năm học (khoảng 40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Theo chỉ đạo của cấp trên.
Tự đánh giá:
+ Tham gia đầy đủ các buổi học tập chính trị, tiếp thu Nghị quyết của Đảng về nhiệm vụ
kinh tế - xã hội, về quan điểm, đường lối phát triển Giáo dục và Đào tạo.
+ Thực hiện tốt các Chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ GD&ĐT, của Uỷ ban nhân dân
của tỉnh và của thành phố; các nội dung về đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ năm học
của Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT; các văn bản chỉ đạo của ngành.
+ Thường xuyên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về
trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân; đoàn kết xây dựng Đảng trong sạch, vững
mạnh. Tích cực học tập, rèn luyện và áp dụng vào công việc hằng ngày từ những việc
làm nhỏ nhất.
+ Thường xuyên học hỏi, nghiên cứu tài liệu, trao đổi với đồng nghiệp để nâng cao trình
độ, năng lực chuyên môn của bản thân.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 1.
II. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 2: Chương trình bồi dưỡng cập nhật kiến thức,
kỹ năng chuyên ngành thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục phổ thông theo từng thời
kỳ của mỗi địa phương do Sở Giáo dục và Đào tạo quy định cụ thể theo năm học các nội
dung bồi dưỡng về phát triển giáo dục phổ thông của địa phương, thực hiện chương
trình giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục địa phương; phối hợp với các dự án để
triển khai kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên (nếu có).
- Thời lượng bồi dưỡng: Khoảng 01 tuần/năm học (khoảng 40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Theo chỉ đạo của cấp trên.
Tự đánh giá:
+ Thực hiện nghiêm túc kế hoạch năm học của PGD&ĐT, của nhà trường đã xây dựng
ngay từ đầu năm học.
+ Vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp/kĩ thuật dạy học tích cực vào quá trình
giảng dạy. Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh, rèn luyện
phương pháp tự học cho học sinh.
+ Tăng cường tính tự giác, tích cực, chủ động học tập của cá nhân, phối hợp với học tập
hợp tác. Kết hợp đánh giá của giáo viên với tự đánh giá của HS, đánh giá của các bạn,
của cha mẹ HS.
+ Thường xuyên dạy học lồng ghép Giáo dục Quốc phòng&An ninh, Giáo dục Bảo vệ
môi trường, Giáo dục kĩ năng sống, Giáo dục An toàn giao thông; Giáo dục Quyền con
người, … vào một số môn học, bài học.
+ Tích cực nghiên cứu, tìm hiểu Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Tham gia Hội
đồng lựa chọn sách giáo khoa lớp 5 năm học 2024-2025 Chương trình GDPT 2018 theo
sự phân công của Ban Giám hiệu Nhà trường.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 2.
III. CHƯƠNG TRÌNH BỒI DƯỠNG 3: Chương trình bồi dưỡng phát triển năng lực
nghề nghiệp theo yêu cầu vị trí việc làm.
3
- Thời lượng bồi dưỡng: 01 tuần/năm học (40 tiết/năm học);
- Hình thức bồi dưỡng: Tập trung và từ xa phù hợp với nội dung cần bồi dưỡng để đạt
hiệu quả cao nhất.
Thời gian
Yêu cầu Mã mô Tên mô
Nội dung
thực hiện
bồi dưỡng
đun
đun
chính của mô
Yêu cầu cần đạt
(tiết)
theo
đun
Lý
Thực
Chuẩn
thuyết hành
Phát triển GVPT Sử dụng 1. Những vấn - Phân tích được những
16
24
chuyên
05
phương đề chung về vấn đề chung về phương
môn,
pháp
phương pháp, pháp, kỹ thuật dạy học
nghiệp vụ
dạy học kỹ thuật dạy và giáo dục phát triển
và giáo học và giáo phẩm chất, năng lực học
dục phát dục phát triển sinh trong các cơ sở
triển
phẩm
chất, giáo dục phổ thông, phù
phẩm năng lực học hợp với từng cấp học;
chất,
sinh.
- Vận dụng được các
năng lực 2. Các phương phương pháp, kỹ thuật
học sinh pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục để
dạy học và tổ chức dạy học và giáo
giáo dục nhằm dục theo hướng phát
phát
triển triển phẩm chất, năng
phẩm
chất, lực của học sinh phù
năng lực học hợp với từng cấp học
sinh.
(Dạy học tích hợp; Dạy
3. Vận dụng học phân hóa; Tổ chức
phương pháp, hoạt động dạy học, giáo
kỹ thuật dạy dục hòa nhập cho học
học và giáo sinh khuyết tật; Giải
dục phát triển pháp sư phạm trong
phẩm
chất, công tác giáo dục học
năng lực học sinh của giáo viên chủ
sinh.
nhiệm; Phương pháp và
kỹ thuật dạy học tích
cực;...).
- Hỗ trợ đồng nghiệp về
kiến thức, kỹ năng và
kinh nghiệm vận dụng
các phương pháp, kỹ
thuật dạy học và giáo
dục theo hướng phát
triển phẩm chất, năng
lực học sinh trong các
cơ sở giáo dục phổ
4
thông.
Tự đánh giá:
Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương
tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Ngoài ra, phương
pháp dạy học còn mang tính chủ quan. Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần
xác định những phương hướng riêng để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của
cá nhân.
Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo
dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành
năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan
trọng trong đổi mới PPDH nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy
tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc
của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện
đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người
học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học,
cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ
năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập
đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về
đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức
đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
người học và một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Cụ thể như
sau:
A.ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA
HỌC SINH.
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục
tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc
HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo
được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối "truyền thụ một
chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực
và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh
theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc
học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các
chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng
lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó
trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách
linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy
nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh
tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức (tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức, hướng
dẫn của giáo viên”. Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức
5
dạy học. Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình
thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp... Cần
chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ
năng thực hành, vận dụng KT vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học. Cần sử
dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định. Có thể sử dụng các
đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng
học sinh. Tích cực vận dụng CNTT trong dạy học.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện qua
bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một là, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học sinh tự
khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt
sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát
hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc
tình huống thực tiễn...
Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài liệu
học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến
thức mới... Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá,
khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng
tạo.
Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi
trường giao tiếp GV - HS và HS - HS nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng
cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình
dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng phát triển kỹ
năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức như theo lời
giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được
nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh tự bộc lộ, tự thể
hiện, tự đánh giá).
B. MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC:
1) Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy
học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải
tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng. Để nâng cao hiệu quả của
các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và
sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài
lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật
làm mẫu trong luyện tập. Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những
hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử
dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học
sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề.
2) Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thức dạy học trong toàn bộ quá
trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tính tích cực và nâng cao chất
lượng dạy học. Dạy học toàn lớp, dạy học nhóm, nhóm đôi và dạy học cá thể là những
6
hình thức xã hội của dạy học cần kết hợp với nhau, mỗi một hình thức có những chức
năng riêng. Tình trạng độc tôn của dạy học toàn lớp và sự lạm dụng phương pháp thuyết
trình cần được khắc phục, đặc biệt thông qua làm việc nhóm. Trong thực tiễn dạy học ở
trường tiểu học hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp
thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động
nhận thức của học sinh. Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới
hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có
những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một
hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng
vai, nghiên cứu trường hợp, dự án. Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm
việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá “bên ngoài”
của học sinh. Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú ý đến mặt bên trong
của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn đề và các phương pháp dạy
học tích cực khác.
3) Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết
vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng nhận biết và
giải quyết vấn đề. Học được đặt trong một tình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa
đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri
thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức. Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ
bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình
thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh. Các tình huống có vấn
đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với
thực tiễn. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến
những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn.
Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên
môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực
tiễn. Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan
điểm dạy học theo tình huống.
4) Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ
chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề
nghiệp. Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho
học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập.
Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học
hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được
phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những
mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc
phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học
sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn. Phương pháp nghiên cứu trường
hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học
sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc
nhóm. Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng
để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình
7
trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường phổ thông. Tuy nhiên,
nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa
phải tình huống thực. Nếu chỉ giải quyết các vấn đề trong phòng học lý thuyết thì học
sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực
hành.
5) Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí
óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau. Trong quá trình học tập, học sinh
thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp
linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân. Đây là một quan điểm dạy học
tích cực hoá và tiếp cận toàn thể. Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa
quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy
và hành động, nhà trường và xã hội. Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của
dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một
nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành,
có tạo ra các sản phẩm có thể công bố. Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều
lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học
sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình
huống và dạy học định hướng hành động.
6) Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ
dạy học
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học. Hiện nay,
việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được
tăng cường. Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa
quan trọng, cần được phát huy. Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung
dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại. Bên cạnh việc sử dụng đa
phương tiện như một phương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy
học cũng như các phương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning), mạng
trường học kết nối, trường học lớn, …
7) Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh
trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học.
Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Có những kỹ
thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ
thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại. Ngày nay người ta chú trọng phát triển và sử dụng các
kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như: động não, tia chớp,
bể cá, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn, ...
8) Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử
dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn. Các
phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạy học bộ môn.
Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa
học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao
8
tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những
phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại
hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học...
9) Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực
hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh. Có những phương pháp nhận thức chung như
phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp tổ chức làm việc, phương
pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn. Bằng
nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung
và các phương pháp học tập trong bộ môn.
Như vậy, từ việc học tập, nghiên cứu các nội dung trên, bản thân tôi:
+ Đã hiểu được những vấn đề chung về phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục
phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông, phù hợp với
từng cấp học.
+ Vận dụng được các phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục để tổ chức dạy học
và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh phù hợp với cấp Tiểu
học (Dạy học tích hợp; Dạy học phân hóa; Tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục hòa nhập
cho học sinh khuyết tật; Giải pháp sư phạm trong công tác giáo dục học sinh của giáo viên
chủ nhiệm; Phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực;...).
+ Hỗ trợ đồng nghiệp về kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm vận dụng các phương
pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh
trong các cơ sở giáo dục phổ thông. Thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp
vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất,
năng lực học sinh nhằm phát triển chuyên môn của bản thân đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo
dục.
Kết quả: Hoàn thành Chương trình bồi dưỡng 3.
Ngoài những kết quả đã đạt được, bản thân tôi còn nhận thấy: Do thời gian có hạn,
một số nội dung bồi dưỡng thường xuyên chưa được nghiên cứu sâu.
IV. NỘI DUNG ĐÃ VẬN DỤNG KIẾN THỨC ĐƯỢC BỒI DƯỠNG VÀO THỰC
TIỄN DẠY HỌC, GIÁO DỤC
Qua nghiên cứu, học tập mô đun “GVPT 05: Sử dụng phương pháp dạy học và
giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”, bản thân tôi đã học tập được một
số nội dung và áp dụng vào thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình như sau:
+ Luôn đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực của học sinh.
Chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người
học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học
sinh vận dụng được cái gì qua việc học. Tôi chuyển từ phương pháp dạy học theo lối
"truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng,
hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan
hệ giáo viên - học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng
lực xã hội cho các em.
+ Mỗi giờ lên lớp, tôi đều cố gắng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của
học sinh, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi
9
chép, tìm kiếm thông tin...), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng
tạo của tư duy đối với học sinh.
+ Hằng ngày, tôi đã đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển
năng lực của học sinh bằng cách: tôi là người tổ chức và chỉ đạo còn học sinh tiến hành
các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào
các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn, ...
+ Luôn chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và các tài
liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện
kiến thức mới, ...
+ Định hướng cho học sinh cách tư duy như: phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá,
khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen, … để dần hình thành và phát triển tiềm năng
sáng tạo.
+ Bên cạnh đó, tôi còn tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác,
lớp học trở thành môi trường giao tiếp thân thiện: giáo viên – học sinh và học sinh – học
sinh nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải
quyết các nhiệm vụ học tập chung.
+ Chú trọng đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu bài học trong
suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú trọng
phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều hình thức
như: theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê
phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót (tạo điều kiện để học sinh
tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá).
Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học cụ thể mà bản thân tôi đã áp
dụng vào giảng dạy như sau:
+ Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống. Với biện pháp này, tôi dạy học
truyền thống kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, tăng cường tính tích cực
nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết
vấn đề.
+ Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học. Tôi lên lớp theo hướng kết hợp thuyết
trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm của học sinh, góp phần tích cực hoá
hoạt động nhận thức của học sinh.
+ Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn
đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng
lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề. Dạy học giải quyết vấn đề là con
đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong
nhiều hình thức dạy học với những mức độ tự lực khác nhau của học sinh.
+ Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý hỗ trợ dạy
học. Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng
bước được tăng cường. Bản thân luôn ý thức được điều đó lên thường xuyên sử dụng đồ
dùng dạy học cũng như ứng dụng công nghệ thông tin vào các tiết dạy có hiệu quả.
+ Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo. Tôi chú trọng phát
triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
như: vấn đáp, động não, tia chớp, bể cá, bản đồ tư duy, kỹ thuật khăn trải bàn, ...
10
Bản thân tôi đã xây dựng kế hoạch học tập, nghiên cứu tài liệu, tham khảo sách,
báo, tìm hiểu thông tin trên mạng Internet, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn dạy học và
giáo dục học sinh; thường xuyên tìm hiểu, cập nhật các thông tin kiến thức phù hợp với
năng lực chuyên môn của bản thân theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên, nhằm đáp ứng
yêu cầu thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Bước đầu hiểu và vận dụng
được một số nội dung liên quan đến giáo dục học sinh, cách đánh giá xếp loại học sinh
Thông tư 22 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Vận dụng được các phương pháp, kĩ
thuật dạy học và giáo dục theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh phù
hợp với cấp Tiểu học để tổ chức dạy học và giáo dục trong các giờ học đạt hiệu quả cao,
học sinh có tiến bộ trong học tập, lớp học sinh động; HS tích cực chủ động, sáng tạo tiếp
thu kiến thức, hứng thú học tập, tiếp thu bài nhanh hơn, nhớ lâu hơn; các em chăm
ngoan, mạnh dạn hơn, tích cực tham gia các nhiệm vụ học tập. Đặc biệt, tôi đã vận dụng
những kiến thức học được từ các mô đun để ứng dụng Công nghệ thông tin trong dạy
học và giáo dục, cập nhật các phần mềm (đặc biệt ứng dụng Công nghệ thông tin trong
quá trình dạy học hằng ngày có hiệu quả). Bản thân tôi đã vận dụng kiến thức đã học đó
để hướng dẫn, chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ đồng nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn. Một
số đồng chí GV trong tổ đã tự tin hơn và có tay nghề vững vàng.
Như vậy, sau một năm tham gia Chương trình bồi dưỡng thường xuyên do các
cấp tổ chức và ý thức tự học Mô đun GVPT 05 với nội dung “Sử dụng phương pháp
dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”, bản thân tôi nhận thấy
việc tự học là một công tác, nhiệm vụ rất thiết thực, vô cùng quan trọng, vì qua việc tự
học tôi có thể tự bổ sung và bồi bưỡng cho mình những nội dung còn thiếu trong công
tác chuyên môn để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục học sinh.
V. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ:
Năm học 2024-2025, Nhà trường tiếp tục tổ chức mở chuyên đề tập huấn sử
dụng phần mềm Excel, cách sử dụng bảng tính và cách làm Học bạ số cho toàn bộ GV
trong tổ 4+5 nói riêng, toàn trường nói chung.
VI. TỰ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ BDTX:
Xếp loại kết quả bồi dưỡng thường xuyên: Hoàn thành kế hoạch BDTX.
NGƯỜI BÁO CÁO
(Kí và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Thị Hưng
11
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HƯNG YÊN
TRƯỜNG TIỂU HỌC&THCS MINH KHAI
---------- ----------
BÁO CÁO CÁ NHÂN
KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH
BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN
Năm học: 2023 - 2024
Họ và tên giáo viên :
Trình độ chuyên môn:
Chức vụ công tác
:
Tổ chuyên môn
:
Đơn vị công tác
:
NGUYỄN THỊ HƯNG
Đại học Sư phạm
Giáo viên – Tổ trưởng tổ 4 + 5
4+5
Trường Tiểu học&Trung học cơ sở
Minh Khai, thành phố Hưng Yên
Năm học: 2023-2024
12
 









Các ý kiến mới nhất