Violet
Dethi

MUỐN TẮT QUẢNG CÁO?

Thư mục

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Tin tức thư viện

    Khắc phục hiện tượng không xuất hiện menu Bộ công cụ Violet trên PowerPoint và Word

    12099162 Kính chào các thầy, cô. Khi cài đặt phần mềm , trên PowerPoint và Word sẽ mặc định xuất hiện menu Bộ công cụ Violet để thầy, cô có thể sử dụng các tính năng đặc biệt của phần mềm ngay trên PowerPoint và Word. Tuy nhiên sau khi cài đặt phần mềm , với nhiều máy tính sẽ...
    Xem tiếp

    Quảng cáo

    Hỗ trợ kĩ thuật

    Liên hệ quảng cáo

    • (024) 66 745 632
    • 096 181 2005
    • contact@bachkim.vn

    Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra

    hoa hoc cd dh

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Minh Đạo
    Ngày gửi: 10h:55' 09-09-2022
    Dung lượng: 95.0 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Các kỹ thuật chiết trong xử lý mẫu
    1. Cơ sở, nguyên tắc và điều kiện
    1.1. hệ số phân bố của chất
    hệ số phân bố của chất tan(chất phân tích) trong hai pha không tan vào nhau là một hằng số hoá lý và nó đặc trưng cho sự phân bố của mỗi chất. Nếu giá trị này càng lớn thì sự phân bố đó càng khác nhau nhiều và càng thuân lợi cho sự chiết tách các chất từ pha này sang pha kia.
    Ví dụ. chất tan X được phân bố vào hệ pha gồm 2 dung môi A và B( benzen và nước) không trộn lẫn vào nhau, thì hệ số phân bố được xác định theo biểu thức
    Kfb =
    Trong đó :
    + CX(A) là nồng đọ chất X trong pha A (dung môi A, pha benzen)
    + CX(B) là nồng độ chất X trong pha B(dung môi B, pha nước)
    Như vậy, nếu hệ số phân bố Kfb > 99/1, thì coi như chất X đã chuyển gần hết vào pha A. Đó là một điều kiện của quá trình chiết để lấy chất phân tích và tách chúng ra khỏi chất nền(matrix) của mẫu ban đầu, chuyển chất cần phân tích vào dung môi chiết. Thông thường người ta chiết chất phân tích t ừ pha nước vào pha hữu cơ không ta vào nước. Hai pha này tao thành hệ chiết.
    phần chiết được sau một lần chiết được tính theo công thức:
    p1 =
    hay: p1 =
    và số phân trăm chất X đực chiết là: E(%) = p1.100
    với: + C2: nồng độ chất X trong pha hữu cơ(pa chiết)
    + V2: thể tích pha hữu cơ(pha chiết).
    + C1: Nồng độ chất X trong pha nước(mẫu).
    + V1: thể tích pha nước .
    + V = V1/V2
    + Kfb: Hệ số phân bố của chất X giữa 2 pha hữu cơ và pha nước
    Nếu chiết n lần:
    Lần 1 có phần chiết được: p1 =
    Lần 2 có phần chiết được: p2 = p1(1 – p1)1
    Lần 3 có phần chiết được: p3 = p1(1 – p1)2
    …………..

    Lần n có phần chiết được: pn = p1(1 – p1)n-1
    Do đó tổng lựơng chất X chiết được sau n lần vào pha hữu cơ là:
    Pto = p1 + p2 + p3 +…+ pn
    Số phần trăm chất X đã chiết được sau n lần:
    E(%) = 100.pto = (p1 + p2 + p3 +…+ pn ).100
    1.2. Nguyên tắc và cơ sở của sự chiết
    Chiêt là dựa trên cơ sở sự phân bố (hay hoà tan) chất phân tích vào trong 2 pha (2 dung môi) không trộn lẫn vào nhau. Tức là các chất phân tích tan tốt trong dung môi này nhưng không tan tốt trong dung môi kia. Như vạy yếu tố quyết định sự tách và xử lý mẫu ở đây là hệ số phân bố của chất trong 2 pha. Khi hệ số phân bố lớn sẽ có hiệu suất chiết cao.
    1.3. các điều kiện của sự chiết
    để có kết quả chiết tốt, quá trình chiết phải có các điều kiện và đảm bảo được cac yêu caauf nhất định sau:
    • dung môi chiết phải tinh khiết cao, để không nhiễm bẩn các chất phân tíc vào
    • dung môi chiết phải hoà tan tốt các chất phân tich, nhưng lại không hoà tan tốt các chất khác có trong mẫu.
    • hệ số phân bố của hệ chiết phải lớn, để cho sự chiết được đảm bảo.
    • cân bằng chiết nhanh đạt được và thuận nghịch để giải chiết được tốt.
    • sự phân lớp khi chiết phải rõ ràng, nhanh và dễ tách.
    • phải chọn pH, môi trường axit, loại axit thích hợp.
    • phải thực hiện trong nhiệt độ phù hợp và giữ không đổi trong cả quá trinh.
    • phải lắc hay trộn đều mạnh để quá trình chiết xảy ra tốt.
    2. các kiểu chiết dùng trong xử lý mẫu phân tích
    2.1 kỹ thuật chiết lỏng-lỏng
    2.1.1nguyên tắc và điều kiện
    a, nguyên tắc.
    dựa trên cơ sở phân bố của chất phân tích vào 2 pha lỏng(2 dung môi) không trộn lẫn được vào nhau để trong một dụng cụ chiết. Hệ số phân bố nhiệt động Kpb của cân bằng chiết là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết và tiếp đến là ảnh hưởng của nhiệt độ, môi trường axit. Chiết theo kiểu này có 2 cách là: chiết tĩnh và chiết theo dòng chảy liên tục
    B, điều kiện chiết.
    Để quá trình chiết đạt hiệu quả tốt , phải có các điều kiên chiết như đã mô tả ở trên.
    2.1.2.các cách chiết và ví dụ.
    2.1.2.1 phương pháp chiết tĩnh
    Phương pháp này đơn giản không cần máy móc phức tạp, chỉ caanf một số phễu c hiết (dung tích 100, 250, 500 ml) là có thể tiến hành được ở mọi phòng thí nghiệm. Việc lắc chiết có thể tiến hành bằng tay, hay bằng máy lắc nhỏ. Khi làm hàng loạt mẫu thì mất nhiều thời gian. Hiện nay người ta đã cung cấp các hệ chiết đơn giản có 6, 9 hay 12 phễu chiết với máy lắc nhỏ, nên việc thực hiện chiết c ũng dễ dàng và dễ đồng nhất.
    Ví dụ 1. chiết lượng vết các ion kim loại nặng (Cd, Co, Cr, Cu, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn) từ nước biển vào dung môi MIBK với thuốc thử tạo phức APDC, để xác định các nguyên tố này bằng phép đo AAS. Lấy 250 ml mãu vào bình chiết, chỉnh pH = 4 bằng HCl 1% , thêm 2 ml APDC 0,1% và 10ml MIBK, rồi lắc chiết trong 5 phút (ở 20oc) để yên cho phân lớp 3-5 phút , tách lấy lớp MIBK có chứa các phức kim loại Me-APDC. Sau đó xác định các kim loại đã được chiết vào dung môi MIBK. Cách này thường hay được dùng để tách chiết và làm giàu lượng vết các kim loại trong các mẫu nược, nhất là các loại nước ngầm, nước biển, nước thải và nước tự nhiên.
    Ví dụ 2. Chiết lấy các Retinoit (các vitamin A) từ mẫu thực phẩm.
    Có thể có các loại mẫu thực phẩm sau:
    A, thực phẩm lỏng. (sữa tươi)
    lấy 10ml mẫu vào bình chiết, thêm 20ml rượu etylic tuyệt đối, 5-8 gam Na2SO4 khan, trộn đều, thêm 10 ml n-hexan, lắc mạnh trong 5 phút, để trong tủ lạnh trong 2 phút cho phân lớp, tách lấy lớp n-hexan có chứa các Retinoit, làm khô pha chiết bằng Na2SO4 khan và phân tích các Retinoit trong n- Hexan bằng HPLC hay MEKC.
    B, các loại rắn, bột, rau quả, trứng thịt.
    trước tiên phải nghiền hay xay mẫu thành bọt và bảo quản ở -15oC.
    xử lý: Lấy 5 gam mâu đã xay mịn vào bình xử lý, thêm 15-20 gam Na2SO4 khan, trộn đều, thêm 20 ml cồn tuyệt đối, lắc mạnh trong 5 phút, thêm tiếp 10ml dung môi n- Hexan, lắc mạnh trong 5 phút, để vào tủ lạnh 4 phút cho phân lớp tách lấy lớp n-Hexan có chứa các Retinoit, làm khô bằng Na2SO4 khan, dịch chiết phaan tích bằng HPLC hay MEKC.
    C, Mẫu huyết t hanh
    lấy 0,1ml huyết thanh cho vào ống nghiệm, thêm 0,2 ml dung dịch NaCl 0,9%, 2 ml rượu etylic tuyệt đối, lắc mạnh trong 2 phút, thêm 1,0 ml dung môi n- Hexan, lắc đều li tâm cho phân lớp, tách lấy lớp n-Hexan và phân tích bằng HPLC
    vídụ 3. chiết α- và β- Caroten từ các loại mẫu rau quả.
    Trước hết mẫu được chọn và xay thành bột, bảo quản ở -15oC.
    lấy 5 gam mẫu đã xay mịn vào bình chiết, 15-20 gam Na2SO4 khan, 1 gam MgCO3, trộn đều , thêm 20 ml dung môi THF, khuấy đều trong 5 phút , lọc hút chân không lấy pha hữu cơ THF có chứa các Caroten vào bình cất quay chân không, cất quay cho đến khoảng còn 1 ml, để yên tiếp 1 phút cho khô, hoà tan bã và định mức mẫu thành 5 ml bằng THF rồi li tâm bỏ cặn. Thu được dung dịch để xác định α- và β- Caroten và phân tích bằng phương pháp HPLC hay HPCEC.
    2.1.2.2.Phương pháp chiết dòng chảy liên tục
    - Trong phương pháp này, khi thực hiẹn chiết 2 pha lỏng không trộn được vào nhau (2 dung môi, có một dung môi có chứa chất phân tích ) được bơm liên tục và ngược chiều nhau với tốc độ nhất định trong hệ chiết, như phễu hay bình chiết liên hoàn đóng kín để chúng t iếp xúc với nhau. Hoặc có thể một dung môi chuỷen động, còn một pha đứng yên trong bình. Khi đó chất phân tích sẽ được phân bố vào 2 dung môi theo tính chất cuả chúng, để đạt đến trạng thái cân bằng. Chiết theo cách này hiệu suất cao. Đây là phương pháp được ứng dụng để chiết trong sản xuất công nghệ.
    - Để thực hiện cách này phải có hệ thống máy chiết, cột chiết hay bình chiết, có bơm để bơm các chất theo dòng chảy ngược chiều nhau với tốc độ nhất định, hoặc chỉ một chất hoặc cả 2 chất chuyển động ngược chiều nhau, phải có bộ tách pha để tách các chất ngay trong quá trình chiết, để lấy chất được chiết ra liên tục.
    Ví dụ. chiết các kim loạ nặng từ nước biển.
    lấy v ml dung môi chiết thường là dung môi hữu cơ (ví dụ là CCl4 v= 50ml hoặc lớn hơn) cho vào bình chiết, thêm 2,5 mlAPDC 0,1 % trong etanol, cho bình chiết có mẫu vào hệ thống máy chiết, lắp hệ thống chiết kín
    2.1.2.3. ưu nhược điểm và phạm vi ứng dụng
    - phương pháp chiết tĩnh, đơn giản, dễ thực hiện đã và đang được ứng dụng phổ biến và có hiệu quả trong lĩnh vực tách chiết phân tích và làm giáu các chất phân tích phục vụ cho việc xác định hàm lượng vết. Nhất là tách và làm giáu các kim loại và các chất hữu cơ, HCBVTV độc hại trong các mẫu nước .
    -các ưu nhược điểm chung của kỹ thuật chiết là:
    . dùng được cho cả chiết phân tích và sản xuất tách chiết lượng lớn.
    . lấy riêng chất phân tích, loại được các chất ảnh hưởng, nhất là chất nền
    . thích hợp cho việc làm giàu lượng nhỏ chất phân tích
    . phục vụ cho việc chiết được các chất vô cơ và hữu cơ.
    . sản phẩm chiết phù hợ được cho nhiều phương pháp phân tích.
    2.2 kỹ thuật chiết pha rắn
    2.2.1. nguyên tắc và điều kiện
    2.2.1.1. nguyên tắc
    a. nguyên tắc
    - chiết pha rắn cũng là quá trình phân bố của các chất giữa 2 pha, trong đó lúc đầu chất mẫu ở dạng lỏng (pha nước hay hữu cơ), còn chất chiết ở dạng rắn, dạng hạt nhỏ và xốp, vì thế nên có tên là chiết pha rắn, hay chiết rắn - lỏng.
    - chất chiết được gọi là pha tĩnh, và được nhôi vào một cột chiết nhỏ 6 × 1 cm, hay dung lượng chiết 100- 600 mg, hoặc dạng đĩa chiết có kích thước dày khoảng 1-2 mm và đương kín 3-4 cm. Chất chiết là các hạt silica trung tính, các hạt oxit nhôm, hay các hạt silicagen trung tính đã được ankyl hoá nhóm –OH bằng nhóm mạch cacbon thẳng –C4, C8, C18 …, hay nhân phenyl. Nó được chế tạo trong điều kiện giống như trong sắc kí HPLC, và các hạt này có độ xốp lớn, diện tích bề mặt thường 50-300m2/g.
    - khi xử lý mẫu, dung dịch chất mẫu được dội lên cột chiết. Lúc này pha tĩnh sẽ tương tác với các chất và giữ một nhóm chất phân tích lại trên cột(trên pha tĩnh), còn các nhóm chất khác sẽ đi ra khỏi cột cùng với dung môi hoà tan mẫu. Như thế là chúng ta thu được nhóm chất phân tích ở trên pha tĩnh.
    - Dùng dung môi thích hợp hoà tan tốt ácc chất phân tích để rửa giải chúng ra khỏi pha tĩnh(cột chiết), và thu được dung dịch chất phân tích để xác định chúng theo cách đã chọn.
    b. các loại chất chiết pha rắn
    tuỳ theo đặc điểm và bản chất của sự chiết, các chất chiết pha rán được chế tạo và phân chia theo các loại sau:
    -loại hấp phụ pha thường. Đó là các silica trung tính và oxit nhôm.
    -Loại hấp phụ pha ngược. Đó là các silica thường được ankyl hoá nhóm –OH
    - loại chất trao đổi ion (để tách cation và anion)
    - chất rây hay sàng lọc phân tử theo độ lớn, kích thước của phân tử
    - loại chất hấp phụ khí, để hấp thụ chất khí.
    c. các kiểu và cơ chế chiết pha rắn
    chính vì có nhiều chất chiết pha rắn nên kỹ thuật chiết pha rắn cũng có nhiều cơ chế và quá trình động học khác nhau, tuỳ theo bản chất của mỗi loại chất chiết.Nói chung các chất chiết pha rắn cũng tương tự như pha tĩnh trong sắc ký lỏng hiệu năng cao. Nó có thể là dạng cột chiết (1×6cm có thể tích 4-6ml) hay dạng đĩa chiết (dày 1-2mm, đường kính 3-4 cm). Do đó chiết pha rắn cũng có 3 loại cơ chế chính là:
    + hấp phụ pha thường và hấp phụ pha ngược.
    +trao đổi ion và cặp ion đối với các chất dạng ion.
    + rây phân tử theo độ lớn của chất phân tích.
    2.2.1.2. các điều kiện của chiêt pha rắn
    - quá trình chiết ở đây thực chất cũng là sự phân bố của chất phân tich giữa 2 pha, pha rắn (chất chiết) và pha lỏng (dung dịch chứa chất phân tích ) không trộn lẫn vào nhau trong những điều kiện nhất định, như pH, dung môi, nhiệt độ, tốc độ chảy của mẫu qua cột. Trong đó hệ số phân bố nhiệt động của chất phân tích là một yếu tố quyết định hiệu quả của sự chiết.
    -muốn thực hiện chiết pha rắn tốt phải thực hiện các điều kiện sau đây:
    + pha rắn hay chất chiết (dạng cột hay dạng đĩa) phải có tính chát hấp thụ trao đổi chọn lọc với một chất, hay một nhóm chất phân tích nhất định, tức là tính chọn lọc của pha tĩnh chiết
    + các chất chiết và dung môi rửa giaỉ phải có độ sạch cao theo yeu cầu của cấp hàm lượng chất phân tích.
    +hệ số phân bố nhiệt đọng của cân bằng chiết phải lớn, để có hiệu suất chiết cao.
    +quá trình chiết phải xảy ra nhanh và nhanh đạt cân bằng, nhưng khong có tương tác phản ưng hoá học làm mất hay hỏng pha rắn và chất phân tích .
    +không làm nhiễm bẩn thêm chất phân tích trong quá trình chiết.
    + sự chiết phải được thực hiện trong điều kiện nhất định phù hợp, phải lặp lại được tốt
    2.2.2 các kiểu chiết và cơ chế chiết pha rắn.
    2.2.2.1 chiết theo cơ chế hấp phụ pha thừơng
    Trong kiểu này chất chiết là các silica trung tính, có bề mặt xốp phân cực. Nó tác dụng tốt với các chất mẫu không phân cực và ít phân cực. Đó là sự tương tác hấp phụ, tuỳ theo bản chất cấu trúc của phân tử , của mội nhóm chất phân tích, bản chất hấp phụ của silica trung tính và các điều kiện thực hiện chiết, mà nhóm chất phân tích nào bị pha tĩnh hấp phụ và giữ lại trên cột chiết và hoàn toàn tự như sự tương tác hấp phụ trong cột sắc ký NP-HPLC.
    (Mat)-OH + RX  [(Mat)-OH].RX
    Silica trung tính chất phân tích chất phân tích RX đã bị hấp
    (chất chiết pha thường) phụ lên pha rắn
    Mat: Matrix mạng rắn của chất chiết; RX: chất phân tích
    • dung môi để giải chiết trong trường hợp này thừơng là các dung môi hữu cơ không phân cực hay ít phân cực và kị nước. Ví dụ: CCl4, CHCl3, C6H6, diclo etan, n- Hexan, ethylaxeta…. Các dung môi này được gọi là pha động và nó phải hoà tan tốt chất phân tích để lấy được các chất phân tích ra khỏi pha tĩnh.
    Ví du 1. Chiết để xử lý mẫu xác định nhóm hợp chất Clo-phenol trong nước. Lấy 250 ml mẫu vào phễu chiết, axit hoá đến pH = 2 bằng dung dịch H2SO4 2%, lọc bỏ cặn (nếu có) sau đó dội dung dịch mẫu này qua cột chiết với tốc độ 2-4ml/phút, cho đến khi mẫu chảy hết qua cột chiết. Dội qua cột chiết 5 ml nước cất, để yên 5 phút. Sau đó giải chiết bằng10ml dung môi axetonitril (hay diclometan) và xác định chất phân tích trong pha hữu cơ bằng phương pháp HPLC hayGC.
    Ví dụ 2. Chiết để xử lý mẫu xác định một số chất hydrocacbon thơm đa vòng hay một số pesticide trong nước thải. Lấy 250 ml mẫu nước vào cốc, chỉnh pH = 6 bằng dung dịch H2SO4 2%, nếu có cặn thì lọc bỏ, sau đó dội dung dịch mẫu này qua cột chiết với tốc độ 2-4 ml/phút. Khi mẫu chảy hết dội qua cột 3 ml nước cất và để yên 5 phút, rồi giải chiết lấy chất phân tích bằng dung môi axetonitril hay diclometan. Rồi xác định chất phân tích trong pha hữu cơ bằng phương pháp HPLC hoặc GC.
    2.2.2.2.chiết theo cơ chế hấp phụ pha ngược.
    chất chiết (pha tĩnh) là các silica pha ngược có bề mặt hầu như không phân cực. Nó tác dụng tốt với các chất mẫu phân cực và không phân cực. Đó là sự tương tác hấp phụ của pha tĩnh (chất chiết). Tuỳ theo bản chất và cấu trúc phân tử mỗi nhóm chất phân tích và các điều kiện thực hiện chiết, mà nhóm chất phân tích nào bị pha tĩnh hấp phụ và giữ lại trên cột tách chiết.
    cơ chiết ở đây là sự t ương tác hoàn toàn tương tự như sự tương tác hấp phụ trong cột sắc ký lỏng hiệu năng cao hấp phụ pha ngược(RP-HPLC), kiểu chiết này dễ thực hiện, tiện lợi và được ứng dụng nhiều.
    (Mat)-(CH2)17CH3 + RX  (Mat)-(CH2)17CH3.RX
    Silica đã alkyl hoá chất phân tích đã bị hấp phụ lên pha rắn
    (chất chiết pha ngược C18)
    Ví dụ 1.chiết xử lý mẫu xác định nhóm các kim loại trong mẫu nước (Cd, Co, Cr, Cu, Fe, Mn, Ni, Pb, Zn). Lấy 250 ml mẫu nước, thêm 1 ml thuốc thử Re (ULTREX -8 Hydroxy-quinolin), chỉnh pH = 8 bằng NH3 1N, lắc đều để hình thành các hợp chát phức kim loại với thuốc thử, lọc bỏ cặn và lấy dung dịch dội mẫu này qua cột chiết với tốc độ 2-4 ml/phút. Khi mẫu chảy hết rửa cột bằng 5 ml nước cất. Sau đó giải chiết để tách phức các nguyên tố ra khỏi pha rắn bằng 10 ml metanol. Xác định các nguyên tố trong dung dịch thu được.
    Ví dụ 2. Chiết để xử lý mẫu xác định một số háo chất BVTV trong nước.
    Lấy 250 ml mãu nước, chỉnh pH= 5, lọc bỏ cặn, lấy dung dịch dội qua cột chiết với tốc độ 2-4 ml/phút. Sau đó rửa cột bằng 5 ml nước cất, hút chân không cho cột 3 phút. Rửa giải chất BVTV trong cột bằng 20 ml dung môi etylaxetat. Lấy dung dịch rửa gjải này dội qua cột hấp phụ thứ 2 (Na2SO4 + Al2O3 + than hoạt tính) để làm sạch và làm khô mẫu. Sau đó rửa giải thuốc BVTV trong cột bằng 10 ml etylaxetat. Thu dung dịch, làm bay hơi bằng dòng khí nitơ sạch, rồi định mức thành 2 ml bằng etylaxetat, làm khô bằng Na2SO4 khan. lấy dung dịch mẫu để xác định các hoá chất bằng phương pháp GC-ECD hay GC-MS.
    2.2.2.3. Chiết theo cơ chế trao đổi ion và cặp ion.
    chiết theo cơ chế trao đổi ion .
    nguyên tắc: Dựa trên cơ sở của quá trình trao đổi ion của chất phân tích với ion đối (ion trao đổi) của chất chiết (pha tĩnh trao đổi ion) để hấp thu chất phân tích lại trên pha tĩnh. Sau đó dùng pha động phù hợp để rửa giải chất phân tích , sau đố tiến hành xác định nó theo phương pháp đã chọn. Dung dịch rửa giải ở đây là dung dịch nước của các muối tan của kim loại kiềm, amoni có pH phù hợp
    chất trao đổi ion: Có 2 loại sau đã và đang được sử dụng
    trao đổi cation axit mạnh (R-SO3Na) và axit yếu (R-COONa).
    Trao đổi anion bazơ mạnh (R-N+(-OH)) và bazơ yếu (R-NH2OH)
     
    Gửi ý kiến