khuyen-hoc

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:21' 06-03-2026
Dung lượng: 934.1 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:21' 06-03-2026
Dung lượng: 934.1 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
KHUYẾN HỌC
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà xuất bản Iwanami Bunko
Tri thức và phát triển
Nhà xuất bản Trẻ
Nhóm nghiên cứu Nhật Bản
Người dịch: Phạm Hữu Lợi
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
“Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu
nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.”
Tạo ebook lần đầu: sun1911
Tạo lại lần hai (11/05/2015): QuocSan
Soát chính tả lần 2 (10/2017): bun_chec
Mục lục
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
PHẦN MỘT: TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
PHẦN HAI: NGƯỜI CHỊU THIỆT THÒI NHẤT LÀ NHỮNG KẺ VÔ HỌC
Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”
Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?
Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện
Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”
Không có gì đáng sợ hơn là ngu dốt
PHẦN BA: HUN ĐÚC, NUÔI DƯỠNG CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP RA SAO?
Nỗ lực có thể thay đổi được thiên mệnh
Thường xuyên “tôi luyện chí khí tinh thần” là rất quan trọng
Làm thế nào để hun đúc và gìn giữ được chí khí độc lập và tự do
“Dân” của Imagawa Yoshimoto và “dân” của Napoleon đệ tam
Nỗi hổ nhục của bản thân cũng là nỗi hổ nhục của quốc gia
PHẦN BỐN: TRÁCH NHIỆM CỦA “NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI”
Làm sao để Nhật Bản có được nền độc lập thực sự?
Văn minh không tiến bộ nếu chỉ dùng quyền lực
Cái gì đẻ ra “khí chất nhu nhược” của người Nhật Bản?
Đáng buồn là nước ta chỉ có người Nhật mà không có quốc dân Nhật
Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại
Chưa làm thử mà cứ ngồi phán đúng sai
PHẦN NĂM: LÒNG QUẢ CẢM CỦA CON NGƯỜI SINH RA TỪ ĐÂU?
Đang hạnh phúc thì chớ quên sẽ có lúc phải đối mặt với tủi nhục
Tinh thần, chí khí độc lập là điểm xuất phát của mọi vấn đề
Vận hội sẽ hé mở ở những nơi phát huy được chí khí của mình
Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu
PHẦN SÁU: LUẬT PHÁP QUÝ GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Quốc dân phải làm tròn bổn phận “một thân hai vai”
“Trung thần nghĩa sĩ” dưới góc độ pháp luật
“Tenchyu” – thay trời trừng phạt[12]
Luật cần rõ ràng, đơn giản nhưng phải nghiêm minh
Bộ máy hành chính với những quan chức “đầu gỗ”
PHẦN BẢY: TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC DÂN
Nghĩa vụ của quốc dân
Quyền lợi của quốc dân
Phải đóng thuế
Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt
Như thế nào là “tử vì đạo”?
Phải biết hi sinh thân mình như thế nào
PHẦN TÁM: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA
MÌNH
“Năm thứ tự do” sẵn có trong con người
Tự do sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân
Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người
Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”
Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử[17]
Không phải mọi điều trong “luận ngữ” đều đúng
PHẦN CHÍN: MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VẤN LÀ GÌ?
Có những người cảm thấy thỏa mãn chẳng khác gì loài sâu kiến
Học tập, làm việc vì xã hội
Được thừa hưởng “di sản vĩ đại” mà không biết tạ ơn ai
Đừng để lại một tài năng
PHẦN MƯỜI: HÃY SỐNG VÀ HY VỌNG Ở TƯƠNG LAI
Còn trẻ mà lại muốn lựa chọn những công việc an nhàn
Học tập phương Tây nhưng không được quá sùng bái
Hy vọng vào tương lai xán lạn là liều thuốc an ủi nỗi bất hạnh hiện thời
Hãy can đảm lên, hỡi các bạn hữu Nakatsu
PHẦN MƯỜI MỘT: ĐẲNG CẤP ĐỊA VỊ ĐẺ RA CÁC CHÍ SĨ RỞM
Quan điểm thường thấy ở những người đứng trên
Vì sao cứ muốn quan hệ ngoài xã hội phải như quan hệ cha con trong gia đình?
“Biển thủ, tư túi”, trách nhiệm của ai?
Tại sao lũ chí sĩ rởm lại cứ hoành hành mãi vậy?
Không thể trông cậy vào thiểu số “nghĩa sĩ”
Địa vị đẳng cấp và chức vụ là hai việc hoàn toàn khác nhau
PHẦN MƯỜI HAI: HÃY HỌC CÁCH DIỄN THUYẾT CÓ HIỆU QUẢ
Diễn thuyết và tranh luận nhằm nâng cao kiến thức
Học quản trị kinh doanh mà không tính toán được niêu cơm ở nhà
Bí quyết duy nhất để nâng cao kiến thức: Không được tự mãn
Tiêu chuẩn để đánh giá trường học
PHẦN MƯỜI BA: TỆ HẠI NHẤT LÀ THAM LAM
Dục vọng là điều tốt hay xấu tùy theo cách biểu hiện
“Tham lam” đối với người khác chính là nguồn gốc của mọi thói xấu
Nghèo khổ không phải là nguyên nhân
Lời than của Khổng Tử
Thực trạng hậu cung, nơi thói tham lam hoành hành
Nhật Bản hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tính chất “hậu cung”
Mặt đối mặt mới vỡ lẽ…
PHẦN MƯỜI BỐN: PHẢI LUÔN XEM LẠI TINH THẦN CỦA BẢN THÂN
Con người luôn gặp những thất bại không ngờ tới
Đây là điều quan trọng nhất trong làm ăn
Cách tính toán “cái được, cái mất” trong cuộc đời
“Chăm sóc” có hai vế
Không thể bảo hộ nếu thiếu chỉ dẫn
Cần thiết phải có cả hai loại “chăm sóc” trong chính trị
PHẦN MƯỜI LĂM: TIẾP THU CÓ CHỌN LỌC VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
Việc tìm kiếm chân lý thường bắt đầu từ sự hoài nghi
Tin cái gì và nghi ngờ cái gì?
Nếu Nhật Bản là phương Tây…
Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán
PHẦN MƯỜI SÁU: CHẠY THEO ĐỘC LẬP VẬT CHẤT SẼ ĐÁNH MẤT ĐỘC LẬP
TINH THẦN
Độc lập có hai dạng
Để gìn giữ độc lập về tinh thần, phải biết cách tiêu đồng tiền
Cách thức chuyển từ lý thuyết sang thực hành
Chỉ tin khi thấy kết quả
Để có năng lực phán đoán và hành động cần có động cơ và bánh lái
Phê phán người khác thì dễ
PHẦN MƯỜI BẢY: BÀN VỀ SỰ TÍN NHIỆM
Nói tới tín nhiệm tức là nói tới độ tin cậy
Thật và giả khác nhau ra sao?
Cần nói về bản thân mình
Coi trọng tiếng mẹ đẻ
Khi giao tiếp nét mặt cần tươi tắn, đừng để người ta ghét
Vất bỏ hình thức, hãy thật lòng, thành thực
Tìm kiếm bạn mới, không quên bạn cũ
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
Nói tới Fukuzawa Yukichi (福澤諭吉 Phúc Trạch Dụ Cát; 1834-1901),
không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một trong những
bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật hiện đại, hình ảnh của ông được in
trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ 10.000 yên.
Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã
hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là “Voltaire của Nhật
Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt trội trong tư tưởng của ông,
mà còn vì cũng như danh nhân người Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những
người đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật
Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc
Duy Tân của chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn
một thế kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng
ngưỡng mộ.
Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình võ sĩ cấp thấp ở
Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một viên chức
tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh khốn quẫn. Năm 4
tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi. Ngay từ thuở niên thiếu,
ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình
cảnh khốn quẫn của gia đình.
“Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc được quy
định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà nguyên tắc đó còn
thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả trong quan hệ giữa đám trẻ con
trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi
nói chuyện với con cái của các Võ sĩ cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ
sĩ cấp cao luôn cao giọng, khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên
dưới, sang hèn còn thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà
quyền thế chỉ chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi
hơn. Vật tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ
thái độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu
nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông thấy
“học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học, nhưng
Fukuzawa Yukichi không lấy đó làm “khuôn vàng, thước ngọc”. Ngược lại,
ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong kiến: “Nakatsu quê tôi,
chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ hàng trăm năm trước thế nào thì
nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra
trong nhà quản gia thì sau này cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong
gia đình thấp cổ bé họng thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là
quyền quý thì đời đời là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang
đời khác vẫn cứ nghèo hèn.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà Lan,
ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như toán, vật lý,
hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan) tại Nagasaki và
Osaka.
Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng
Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây ra vào
buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà cửa, quán xá
mọc lên khắp nơi. Họ vào đó và buôn bán. Tôi dùng tiếng Hà Lan để trao
đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không hiểu. Nhìn vào hàng chữ
quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc được. Không biết đó là tiếng gì,
tiếng Anh hay tiếng Pháp?” (Fukuzawa – Tự truyện).
Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết chí bắt
tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã dựa vào tự
điển để tự học.
Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái đoàn của
chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên San Francisco và
Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp tùng phái đoàn Mạc phủ
sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới các thành phố phía đông Hoa
Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.
Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới văn vật
của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra những hướng mới
trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ hơn vị trí Nhật Bản trên
trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các nước phương Tây là bước
ngoặc mang tính quyết định vai trò của Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử
Nhật Bản trong thời kỳ chuyển mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời kỳ Minh
Trị.
Trong suốt cuộc đời, Fukuzawa Yukichi dịch sách, viết sách và xuất bản
nhiều tác phẩm có ảnh hưởng to lớn trong việc khai sáng xã hội Nhật Bản.
Bằng trực quan sắc bén, ông nắm bắt được nỗi bức xúc của dân chúng, nên
các tác phẩm của ông với cách viết giản dị, dễ hiểu, lời văn thống thiết, đã
được mọi tầng lớp độc giả Nhật Bản đón nhận như “đang khát gặp nước”.
Tác phẩm Sự tình phương Tây 10 tập, viết từ năm 1866-1870 trên cơ sở
những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số lượng phát
hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn vật, quan niệm về
quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã hội, nền giáo dục, học
thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân sự… của các quốc gia Âu –
Mĩ. Tác phẩm này được người Nhật Bản coi là “cẩm nang” của chính phủ
Minh Trị trong việc xây dựng xã hội Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
Trong tác phẩm Khái lược về văn minh xuất bản năm 1875 và Đổi mới
lòng dân xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và
nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông đã bàn
về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc sống của nhân
dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư tưởng, triết học,
quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa Yukichi được biểu lộ
qua hai tác phẩm này.
Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng đến
công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác phẩm này
nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật Bản, một đất nước
đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ Minh Trị tiến hành “từ trên
xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn trong vòng kiềm tỏa của những quan
hệ, những tập quán, tập tục lỗi thời đã trải qua hàng nghìn năm của chế độ
phong kiến Mạc phủ. Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:
• Khuyến học, năm 1872-1876.
• Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.
• Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.
• Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.
• Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.
• Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.
• Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.
• Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.
• Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.
• Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và an trị quốc hội, năm 1892.
• Bàn về thực nghiệm, năm 1893.
• Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897-1899.
• Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.
• Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.
Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế hệ gánh
vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh – Fukuzawa Yukichi
đã thành lập trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa thục) – tiền thân của trường
đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo. (Phan Bội Châu có đến thăm
trường Keio Gijuku trong thời gian ở Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa
thục lập tại Hà Nội năm 1907 chính là dựa trên hình mẫu của trường này).
Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập ra hội
Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc nhiều ngành
như Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masâno (1832-1891), Kato
Hiroyuki (1838-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi Ukichi (18281903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi diễn thuyết, xuất
bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và tranh luận đủ mọi vấn đề:
chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp luật, vai trò phụ nữ, phong tục,
Nhật ngữ…
Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm
về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương Tây ra tiếng Nhật.
Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kì này là các cuốn Tự giúp
mình (Self-help) của Samuel Smiles (1812-1904), Tự do luận (On liberty),
Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ nghĩa công lợi
(Utilitarianism) của JS. Mill (1806-1873), Nam nữ bình quyền luận (Social
Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer (1820-1903), Tinh thần
pháp luật của Montesquieu (1689-1755), Khế ước xã hội của Rousseau
(1712-1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith. Ngoài ra, Thuyết tiến hóa
của Darwin và tác phẩm Allgemeines Staatsrecht của JC. Bluntschli người
Đức cũng được dịch và giới thiệu.
Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật Bản
ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.
Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo để trao đổi
quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.
Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân trí,
phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải có lập
trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời, ông nhất quyết từ
chối mọi lời mời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả cùng hội cũng
như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan trọng trong chính phủ
Minh Trị.
Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản do công
lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000 yên. Ông
tặng lại số tiền cho trường Keio.
Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được ông
viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc
nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công
chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn
bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35
triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu
giường của mọi người dân Nhật trong thời kì Duy tân. Và kể từ đó đến nay,
cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000,
riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.
Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ bản của
con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình
đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới, trách nhiệm của nhân
dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị… cuốn Khuyến học đã làm lay
chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Với tuyên ngôn
“Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng
dưới người”, Fukuzawa Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như
“không tin vào tai mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc
bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt
hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi
người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn. Về
học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh
Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”. Nền học vấn thực
học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học,
tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải
có chọn lọc. Và quan điểm xuyên suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ
nền độc lập Nhật Bản” trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang
muốn biến toàn bộ châu Á thành thuộc địa.
Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa trong
“Khuyến học” có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động lòng người
như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề
của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với những quốc gia đang trên
con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn “cẩm nang” của người Nhật này cũng
sẽ giúp cho độc giả Việt Nam hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và
tinh thần của người Nhật Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô
“ăn nhờ ở đậu”, nhờ có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa
Yukichi mà đã trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và
văn minh như ngày nay.
PHẦN MỘT:
TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN
NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là
do học vấn
Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng
không tạo ra người đứng dưới người.” Kể từ khi tạo hóa làm ra con người thì
tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách, có địa vị như nhau,
không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.
Loài người – chúa tể của muôn loài – bằng hoạt động trí óc và hoạt động
chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho bản thân
mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống tự do theo ý
muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của đồng loại. Con người
có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý Trời, là niềm hi vọng của
Trời đối với con người.
Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có những
khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người thông minh và
kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng lớp quý tộc và tầng
lớp hạ đẳng.
Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.
Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người không
có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt.” Câu nói trên cũng có thể hiểu:
Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở chỗ có học hay vô
học mà thôi.
Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được coi là
người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường.
Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, còn lao động
chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công
ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân công… là những người có địa vị
cao, quan trọng. Và một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì
đương nhiên gia đình họ cũng giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng
nằm mơ cũng không được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn
đề thì chỉ có một nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay
không mà thôi, chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu:
“Trời không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang
phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của con
người để ban thưởng.
Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn,
giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ
trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành con
người thấp hèn, nghèo khổ.
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ khó;
càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ, vịnh thơ. Học
như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.
Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người, như thế
chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng tôi không nghĩ
rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải thờ phụng nó” như các
thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh. Trong cuộc sống, tôi hầu như
không thấy thầy dạy Hán văn nào có được tài sản đáng kể, cũng như các
thương gia vừa giỏi thơ phú vừa thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.
Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc phụ
huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập của con cái:
“Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại sản mất.” Điều đó
đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp dụng kết quả học tập vào
thực tiễn cuộc sống.
Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?
Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc sống
hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học cách soạn thảo
thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành thạo bàn tính. Nhớ cách
cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các môn như Địa lý để biết được
phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân
biệt được tính chất của mọi vật thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng
của nó. Học Sử vì đây là môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi
trên niên biểu lịch sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại
của mọi quốc gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên
quan đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả quốc
gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành động của bản
thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt giữa người với người.
Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của châu Âu
đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có k
Tác giả: Fukuzawa Yukichi
Nhà xuất bản Iwanami Bunko
Tri thức và phát triển
Nhà xuất bản Trẻ
Nhóm nghiên cứu Nhật Bản
Người dịch: Phạm Hữu Lợi
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
“Quốc dân không có chí khí độc lập, không có tinh thần tự do thì lòng yêu
nước cũng hàm hồ, nông cạn, vô trách nhiệm.”
Tạo ebook lần đầu: sun1911
Tạo lại lần hai (11/05/2015): QuocSan
Soát chính tả lần 2 (10/2017): bun_chec
Mục lục
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
PHẦN MỘT: TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là do học vấn
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Tự do không phải là chỉ biết có tôi, cho riêng tôi
Học để dám nói lên chính kiến và thực hiện đầy đủ bổn phận với đất nước
Học để hiểu “trách nhiệm” của bản thân
PHẦN HAI: NGƯỜI CHỊU THIỆT THÒI NHẤT LÀ NHỮNG KẺ VÔ HỌC
Không thể có miếng ăn ngon nếu chỉ là cái “tủ kiến thức”
Tại sao không triệt để vận dụng “bình đẳng”?
Mọi “ham muốn” không làm ảnh hưởng tới người khác đều là thiện
Học để hiểu “thế nào là làm tròn công việc của mình”
Không có gì đáng sợ hơn là ngu dốt
PHẦN BA: HUN ĐÚC, NUÔI DƯỠNG CHÍ KHÍ ĐỘC LẬP RA SAO?
Nỗ lực có thể thay đổi được thiên mệnh
Thường xuyên “tôi luyện chí khí tinh thần” là rất quan trọng
Làm thế nào để hun đúc và gìn giữ được chí khí độc lập và tự do
“Dân” của Imagawa Yoshimoto và “dân” của Napoleon đệ tam
Nỗi hổ nhục của bản thân cũng là nỗi hổ nhục của quốc gia
PHẦN BỐN: TRÁCH NHIỆM CỦA “NGƯỜI ĐỨNG TRÊN NGƯỜI”
Làm sao để Nhật Bản có được nền độc lập thực sự?
Văn minh không tiến bộ nếu chỉ dùng quyền lực
Cái gì đẻ ra “khí chất nhu nhược” của người Nhật Bản?
Đáng buồn là nước ta chỉ có người Nhật mà không có quốc dân Nhật
Những thứ không có ích chắc chắn sẽ có hại
Chưa làm thử mà cứ ngồi phán đúng sai
PHẦN NĂM: LÒNG QUẢ CẢM CỦA CON NGƯỜI SINH RA TỪ ĐÂU?
Đang hạnh phúc thì chớ quên sẽ có lúc phải đối mặt với tủi nhục
Tinh thần, chí khí độc lập là điểm xuất phát của mọi vấn đề
Vận hội sẽ hé mở ở những nơi phát huy được chí khí của mình
Khai phá văn minh là nhiệm vụ của tầng lớp trí thức trung lưu
PHẦN SÁU: LUẬT PHÁP QUÝ GIÁ NHƯ THẾ NÀO?
Quốc dân phải làm tròn bổn phận “một thân hai vai”
“Trung thần nghĩa sĩ” dưới góc độ pháp luật
“Tenchyu” – thay trời trừng phạt[12]
Luật cần rõ ràng, đơn giản nhưng phải nghiêm minh
Bộ máy hành chính với những quan chức “đầu gỗ”
PHẦN BẢY: TRÁCH NHIỆM CỦA QUỐC DÂN
Nghĩa vụ của quốc dân
Quyền lợi của quốc dân
Phải đóng thuế
Đánh mất khí tiết, làm hại đến con cái, cháu chắt
Như thế nào là “tử vì đạo”?
Phải biết hi sinh thân mình như thế nào
PHẦN TÁM: ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA
MÌNH
“Năm thứ tự do” sẵn có trong con người
Tự do sinh sống miễn là không vượt quá bổn phận tự thân
Luận thuyết vô lý: Phật Bà Quan Âm giết người
Những lời dạy không thể chấp nhận tại trường “nữ học”
Đừng tin những lời nói bậy của Chu Tử[17]
Không phải mọi điều trong “luận ngữ” đều đúng
PHẦN CHÍN: MỤC ĐÍCH CỦA HỌC VẤN LÀ GÌ?
Có những người cảm thấy thỏa mãn chẳng khác gì loài sâu kiến
Học tập, làm việc vì xã hội
Được thừa hưởng “di sản vĩ đại” mà không biết tạ ơn ai
Đừng để lại một tài năng
PHẦN MƯỜI: HÃY SỐNG VÀ HY VỌNG Ở TƯƠNG LAI
Còn trẻ mà lại muốn lựa chọn những công việc an nhàn
Học tập phương Tây nhưng không được quá sùng bái
Hy vọng vào tương lai xán lạn là liều thuốc an ủi nỗi bất hạnh hiện thời
Hãy can đảm lên, hỡi các bạn hữu Nakatsu
PHẦN MƯỜI MỘT: ĐẲNG CẤP ĐỊA VỊ ĐẺ RA CÁC CHÍ SĨ RỞM
Quan điểm thường thấy ở những người đứng trên
Vì sao cứ muốn quan hệ ngoài xã hội phải như quan hệ cha con trong gia đình?
“Biển thủ, tư túi”, trách nhiệm của ai?
Tại sao lũ chí sĩ rởm lại cứ hoành hành mãi vậy?
Không thể trông cậy vào thiểu số “nghĩa sĩ”
Địa vị đẳng cấp và chức vụ là hai việc hoàn toàn khác nhau
PHẦN MƯỜI HAI: HÃY HỌC CÁCH DIỄN THUYẾT CÓ HIỆU QUẢ
Diễn thuyết và tranh luận nhằm nâng cao kiến thức
Học quản trị kinh doanh mà không tính toán được niêu cơm ở nhà
Bí quyết duy nhất để nâng cao kiến thức: Không được tự mãn
Tiêu chuẩn để đánh giá trường học
PHẦN MƯỜI BA: TỆ HẠI NHẤT LÀ THAM LAM
Dục vọng là điều tốt hay xấu tùy theo cách biểu hiện
“Tham lam” đối với người khác chính là nguồn gốc của mọi thói xấu
Nghèo khổ không phải là nguyên nhân
Lời than của Khổng Tử
Thực trạng hậu cung, nơi thói tham lam hoành hành
Nhật Bản hiện nay vẫn chưa thoát khỏi tính chất “hậu cung”
Mặt đối mặt mới vỡ lẽ…
PHẦN MƯỜI BỐN: PHẢI LUÔN XEM LẠI TINH THẦN CỦA BẢN THÂN
Con người luôn gặp những thất bại không ngờ tới
Đây là điều quan trọng nhất trong làm ăn
Cách tính toán “cái được, cái mất” trong cuộc đời
“Chăm sóc” có hai vế
Không thể bảo hộ nếu thiếu chỉ dẫn
Cần thiết phải có cả hai loại “chăm sóc” trong chính trị
PHẦN MƯỜI LĂM: TIẾP THU CÓ CHỌN LỌC VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
Việc tìm kiếm chân lý thường bắt đầu từ sự hoài nghi
Tin cái gì và nghi ngờ cái gì?
Nếu Nhật Bản là phương Tây…
Chỉ có học vấn mới nuôi dưỡng năng lực phán đoán
PHẦN MƯỜI SÁU: CHẠY THEO ĐỘC LẬP VẬT CHẤT SẼ ĐÁNH MẤT ĐỘC LẬP
TINH THẦN
Độc lập có hai dạng
Để gìn giữ độc lập về tinh thần, phải biết cách tiêu đồng tiền
Cách thức chuyển từ lý thuyết sang thực hành
Chỉ tin khi thấy kết quả
Để có năng lực phán đoán và hành động cần có động cơ và bánh lái
Phê phán người khác thì dễ
PHẦN MƯỜI BẢY: BÀN VỀ SỰ TÍN NHIỆM
Nói tới tín nhiệm tức là nói tới độ tin cậy
Thật và giả khác nhau ra sao?
Cần nói về bản thân mình
Coi trọng tiếng mẹ đẻ
Khi giao tiếp nét mặt cần tươi tắn, đừng để người ta ghét
Vất bỏ hình thức, hãy thật lòng, thành thực
Tìm kiếm bạn mới, không quên bạn cũ
Vài nét về thân thế và sự nghiệp
Nói tới Fukuzawa Yukichi (福澤諭吉 Phúc Trạch Dụ Cát; 1834-1901),
không người Nhật nào lại không biết. Họ nói về ông như một trong những
bậc “khai quốc công thần” của nước Nhật hiện đại, hình ảnh của ông được in
trên đồng tiền có mệnh giá cao nhất ở Nhật, tờ 10.000 yên.
Fukuzawa Yukichi là nhà tư tưởng có ảnh hưởng sâu rộng nhất đối với xã
hội Nhật Bản thời cận đại. Người Nhật tôn vinh ông là “Voltaire của Nhật
Bản”, không chỉ vì tính triệt để và tầm mức vượt trội trong tư tưởng của ông,
mà còn vì cũng như danh nhân người Pháp, Fukuzawa Yukichi cùng những
người đồng chí của mình là những người khai sáng tinh thần quốc dân Nhật
Bản, đem lại linh hồn, động lực và sự hậu thuẫn tinh thần cho công cuộc
Duy Tân của chính phủ Minh Trị. Những tác phẩm của ông dù viết từ hơn
một thế kỷ trước, nhưng vẫn được người Nhật Bản ngày nay hết lòng
ngưỡng mộ.
Fukuzawa Yukichi sinh năm 1834 trong một gia đình võ sĩ cấp thấp ở
Nakatsu, nay thuộc tỉnh Oita, Kyushu, Nhật Bản. Cha ông – một viên chức
tài chính của tỉnh – mất sớm, khiến gia đình lâm vào cảnh khốn quẫn. Năm 4
tuổi, ông được gửi sang nhà chú ruột làm con nuôi. Ngay từ thuở niên thiếu,
ông đã cảm nhận sâu sắc nỗi tủi nhục do chế độ đẳng cấp và nỗi khổ do tình
cảnh khốn quẫn của gia đình.
“Ở Nakatsu quê tôi, chế độ quyền thế gia truyền giữa các sĩ tộc được quy
định nghiêm ngặt. Không chỉ trong chốn công đường mà nguyên tắc đó còn
thể hiện trong cuộc sống hàng ngày, ngay cả trong quan hệ giữa đám trẻ con
trong làng. Con cái của các Võ sĩ cấp thấp như tôi phải thưa gửi, lễ phép khi
nói chuyện với con cái của các Võ sĩ cấp cao. Ngược lại, con cái của các Võ
sĩ cấp cao luôn cao giọng, khiếm nhã đối với tôi. Sự phân biệt, chia rẽ trên
dưới, sang hèn còn thể hiện trong cả lúc chơi đùa chạy nhảy. Con cái nhà
quyền thế chỉ chơi với con cái nhà quyền thế. Trong lớp học, tôi học giỏi
hơn. Vật tay, tôi cũng không bao giờ thua. Vậy mà lúc nào chúng cũng tỏ
thái độ kiêu căng, ngạo mạn với tôi. Tôi bất bình đến mức không sao chịu
nổi.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Mãi tới năm 14, 15 tuổi ông mới được đi học ở trường làng và ông thấy
“học vấn ở đâu cũng chỉ toàn là Hán học”. Mặc dù học Nho học, nhưng
Fukuzawa Yukichi không lấy đó làm “khuôn vàng, thước ngọc”. Ngược lại,
ông càng nhận thấy sự bất công trong xã hội phong kiến: “Nakatsu quê tôi,
chế độ phong kiến đã áp đặt trật tự xã hội từ hàng trăm năm trước thế nào thì
nay vẫn thế nấy. Mọi thứ cứ như bị nhồi chặt cứng trong hộp. Kẻ sinh ra
trong nhà quản gia thì sau này cũng trở thành quản gia. Người sinh ra trong
gia đình thấp cổ bé họng thì sau này cũng vẫn thấp cổ bé họng. Tổ tiên là
quyền quý thì đời đời là quyền quý. Tổ tiên nghèo hèn thì từ đời này sang
đời khác vẫn cứ nghèo hèn.” (Fukuzawa – Tự truyện).
Năm 19 tuổi, ông theo ngành Hà Lan học (ngành học ngôn ngữ Hà Lan,
ngành nghiên cứu y học và các môn khoa học phương Tây như toán, vật lý,
hóa học, sinh học… qua các sách viết bằng tiếng Hà Lan) tại Nagasaki và
Osaka.
Năm 25 tuổi, Fukuzawa Yukichi lên Tokyo, ông đến thăm cảng
Yokohama – được chính quyền Mạc phủ mở cho tàu bè phương Tây ra vào
buôn bán. Tại đây, “chỗ nào cũng gặp người phương Tây. Nhà cửa, quán xá
mọc lên khắp nơi. Họ vào đó và buôn bán. Tôi dùng tiếng Hà Lan để trao
đổi. Họ không hiểu. Nghe họ nói, tôi cũng không hiểu. Nhìn vào hàng chữ
quảng cáo, các tờ cáo thị, tôi không đọc được. Không biết đó là tiếng gì,
tiếng Anh hay tiếng Pháp?” (Fukuzawa – Tự truyện).
Nhận thấy “Hà Lan học” đã trở nên lạc hậu với thời đại, ông quyết chí bắt
tay vào học tiếng Anh. Không có người dạy và nơi học, ông đã dựa vào tự
điển để tự học.
Năm 1860, tình cờ ông được cử làm thông dịch viên, theo phái đoàn của
chính quyền Mạc phủ sang Hoa Kỳ, và ông đã đặt chân lên San Francisco và
Hawaii. Hai năm sau, năm 1862, ông lại được tháp tùng phái đoàn Mạc phủ
sang châu Âu. Và năm 1867, ông đặt chân tới các thành phố phía đông Hoa
Kỳ trong chuyến tháp tùng phái đoàn của chính quyền Mạc phủ đi mua tàu.
Qua ba chuyến đi trên, Fukuzawa Yukichi đã tiếp cận với thế giới văn vật
của các quốc gia phát triển phương Tây, đồng thời mở ra những hướng mới
trong nhận thức về thế giới và làm ông ý thức rõ hơn vị trí Nhật Bản trên
trường quốc tế. Có thể nói chuyến đi sang các nước phương Tây là bước
ngoặc mang tính quyết định vai trò của Fukuzawa Yukichi đối với lịch sử
Nhật Bản trong thời kỳ chuyển mình từ cuối thời Mạc phủ sang thời kỳ Minh
Trị.
Trong suốt cuộc đời, Fukuzawa Yukichi dịch sách, viết sách và xuất bản
nhiều tác phẩm có ảnh hưởng to lớn trong việc khai sáng xã hội Nhật Bản.
Bằng trực quan sắc bén, ông nắm bắt được nỗi bức xúc của dân chúng, nên
các tác phẩm của ông với cách viết giản dị, dễ hiểu, lời văn thống thiết, đã
được mọi tầng lớp độc giả Nhật Bản đón nhận như “đang khát gặp nước”.
Tác phẩm Sự tình phương Tây 10 tập, viết từ năm 1866-1870 trên cơ sở
những điều “mắt thấy tai nghe” trong thời gian ở phương Tây, số lượng phát
hành lên tới 25 vạn bản. Tác phẩm giới thiệu thế giới văn vật, quan niệm về
quyền lợi và nghĩa vụ, chế độ chính trị, cơ cấu xã hội, nền giáo dục, học
thuật, luật pháp, lịch sử, nền công nghiệp, quân sự… của các quốc gia Âu –
Mĩ. Tác phẩm này được người Nhật Bản coi là “cẩm nang” của chính phủ
Minh Trị trong việc xây dựng xã hội Nhật Bản theo mô hình phương Tây.
Trong tác phẩm Khái lược về văn minh xuất bản năm 1875 và Đổi mới
lòng dân xuất bản năm 1879, Fukuzawa Yukichi khảo sát về lịch sử và
nguyên nhân phát triển của các nền văn minh cổ kim đông tây. Ông đã bàn
về con đường hưng thịnh, suy vong của Nhật Bản, về cuộc sống của nhân
dân Nhật Bản khi tiến lên văn minh trong tương lai. Tư tưởng, triết học,
quan điểm lịch sử, quan điểm quốc gia của Fukuzawa Yukichi được biểu lộ
qua hai tác phẩm này.
Ngoài ra, Fukuzawa Yukichi còn viết một loạt các tác phẩm hướng đến
công chúng đông đảo, mà đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Các tác phẩm này
nhằm truyền bá những tư tưởng canh tân vào xã hội Nhật Bản, một đất nước
đang thực hiện công cuộc Duy tân do chính phủ Minh Trị tiến hành “từ trên
xuống”, nhưng xã hội bên dưới vẫn còn trong vòng kiềm tỏa của những quan
hệ, những tập quán, tập tục lỗi thời đã trải qua hàng nghìn năm của chế độ
phong kiến Mạc phủ. Những tác phẩm tiêu biểu trong số đó là:
• Khuyến học, năm 1872-1876.
• Bàn về dân quyền; Bàn về tiền tệ, năm 1878.
• Bàn về quốc quyền; Bàn về quốc hội, năm 1879.
• Bàn về kinh tế tư nhân, năm 1880.
• Bàn về thời sự thế giới; Bàn về quân sự, năm 1882.
• Bàn về nghĩa vụ quân sự; Bàn về ngoại giao, năm 1884.
• Bàn về phụ nữ Nhật Bản; Bàn về phẩm hạnh, năm 1885.
• Bàn về cách nhân sĩ xử thế; Bàn về giao tiếp nam nữ, năm 1886.
• Bàn về nam giới Nhật Bản; Bàn về hoàng gia Nhật Bản, năm 1888.
• Bàn về thuế đất; Bàn về tiền đồ và an trị quốc hội, năm 1892.
• Bàn về thực nghiệm, năm 1893.
• Fukuzawa Yukichi tuyển tập, năm 1897-1899.
• Bàn về đại học nữ, đại học nữ mới, năm 1899.
• Fukuzawa Yukichi – Tự truyện, năm 1899.
Năm 1868, để nâng cao dân trí, đào tạo thanh niên sinh viên – thế hệ gánh
vác trọng trách xây dựng một nước Nhật Bản văn minh – Fukuzawa Yukichi
đã thành lập trường Keio Gijuku (Keio Nghĩa thục) – tiền thân của trường
đại học Keio nổi tiếng hiện nay tại Tokyo. (Phan Bội Châu có đến thăm
trường Keio Gijuku trong thời gian ở Nhật Bản. Trường Đông kinh Nghĩa
thục lập tại Hà Nội năm 1907 chính là dựa trên hình mẫu của trường này).
Năm 1873, Fukuzawa Yukichi cùng với một số trí thức Tây học lập ra hội
Meirokusha. Hội viên có 10 người và đều là các học giả thuộc nhiều ngành
như Mori Arinori (1847-1889), Nakamura Masâno (1832-1891), Kato
Hiroyuki (1838-1916), Nishi Amane (1829-1897), Taguchi Ukichi (18281903)… Họ tổ chức viết sách, dịch thuật, tổ chức các buổi diễn thuyết, xuất
bản tập san Meroku làm diễn đàn để phổ biến và tranh luận đủ mọi vấn đề:
chính trị, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, pháp luật, vai trò phụ nữ, phong tục,
Nhật ngữ…
Các thành viên trong hội Meirokusha đã dịch và giới thiệu nhiều tác phẩm
về tư tưởng, chính trị, kinh tế, luật pháp, giáo dục phương Tây ra tiếng Nhật.
Các tác phẩm được dịch và giới thiệu trong thời kì này là các cuốn Tự giúp
mình (Self-help) của Samuel Smiles (1812-1904), Tự do luận (On liberty),
Chính trị Kinh tế học (Political Economy), Chủ nghĩa công lợi
(Utilitarianism) của JS. Mill (1806-1873), Nam nữ bình quyền luận (Social
Statics), Giáo dục (Education) của Herbert Spencer (1820-1903), Tinh thần
pháp luật của Montesquieu (1689-1755), Khế ước xã hội của Rousseau
(1712-1778), Tự do mậu dịch của Adam Smith. Ngoài ra, Thuyết tiến hóa
của Darwin và tác phẩm Allgemeines Staatsrecht của JC. Bluntschli người
Đức cũng được dịch và giới thiệu.
Năm 1879, Viện Học sĩ Tokyo – tiền thân của Viện Hàn lâm Nhật Bản
ngày nay – ra đời. Fukuzawa Yukichi được chọn làm viện trưởng.
Năm 1882, ông sáng lập và làm chủ bút tờ Thời sự tân báo để trao đổi
quan điểm về các vấn đề trong xã hội Nhật Bản thời ấy.
Để đóng góp hữu hiệu trong việc khai hóa văn minh, nâng cao dân trí,
phát triển xã hội, Fukuzawa Yukichi chủ trương các học giả phải có lập
trường độc lập với chính phủ. Do đó, suốt cả cuộc đời, ông nhất quyết từ
chối mọi lời mời tham dự chính quyền, mặc dù nhiều học giả cùng hội cũng
như các môn đệ của ông giữ những trọng trách quan trọng trong chính phủ
Minh Trị.
Năm 1900, ông được nhận giải thưởng từ Hoàng gia Nhật Bản do công
lao đóng góp cho sự nghiệp giáo dục. Giải thưởng trị giá 50.000 yên. Ông
tặng lại số tiền cho trường Keio.
Năm 1901, ông mất do xuất huyết não, thọ 68 tuổi.
Cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay là cuốn Khuyến học, được ông
viết trong thời gian 1872-1876. Đây không phải là tác phẩm đồ sộ và sâu sắc
nhất của ông, nhưng lại là tác phẩm có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến công
chúng Nhật Bản. Khi mới được in lần đầu, cuốn sách này có một số lượng ấn
bản kỷ lục là 3,4 triệu bản, trong khi dân số Nhật Bản thời đó chỉ khoảng 35
triệu người. Chỉ riêng điều đó đã cho thấy đây thực sự là cuốn sách gối đầu
giường của mọi người dân Nhật trong thời kì Duy tân. Và kể từ đó đến nay,
cuốn sách này đã được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 đến năm 2000,
riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko cũng đã tái bản đến 76 lần.
Trong cuốn sách này, Fukuzawa Yukichi đề cập đến tinh thần cơ bản của
con người và mục đích thực thụ của học vấn. Với các chương viết về sự bình
đẳng, quyền con người, ý nghĩa của nền học vấn mới, trách nhiệm của nhân
dân và chính phủ trong một quốc gia pháp trị… cuốn Khuyến học đã làm lay
chuyển tâm lý người dân Nhật Bản dưới thời Minh Trị. Với tuyên ngôn
“Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng không tạo ra người đứng
dưới người”, Fukuzawa Yukichi đã gây kinh ngạc và bàng hoàng – như
“không tin vào tai mình” – cho đa số người dân Nhật Bản vốn bị trói buộc
bởi đẳng cấp, thân phận, quen phục tùng, phó mặc và e sợ quan quyền suốt
hàng trăm năm dưới chính thể phong kiến Mạc phủ. Ông khẳng định mọi
người sinh ra đều bình đẳng và nếu có khác biệt là do trình độ học vấn. Về
học vấn, Fukuzawa Yukichi phê phán lối học “từ chương” và nhấn mạnh
Nhật Bản phải xây dựng nền học vấn dựa trên “thực học”. Nền học vấn thực
học phải gắn liền với cuộc sống hàng ngày, phải dựa trên tinh thần khoa học,
tinh thần độc lập, tính thực dụng. Việc tiếp thu văn minh phương Tây phải
có chọn lọc. Và quan điểm xuyên suốt cuốn sách là “Làm thế nào để bảo vệ
nền độc lập Nhật Bản” trong bối cảnh các cường quốc phương Tây đang
muốn biến toàn bộ châu Á thành thuộc địa.
Với độc giả Việt Nam hiện nay, nhiều tư tưởng của Fukuzawa trong
“Khuyến học” có lẽ không còn là điều mới mẻ gây chấn động lòng người
như đối với người dân Nhật Bản ở thời Minh Trị. Tuy nhiên, cách đặt vấn đề
của ông thì vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự đối với những quốc gia đang trên
con đường hiện đại hóa. Ngoài ra cuốn “cẩm nang” của người Nhật này cũng
sẽ giúp cho độc giả Việt Nam hiểu rõ hơn những đặc điểm về tính cách và
tinh thần của người Nhật Bản hiện đại, những người từ thân phận nông nô
“ăn nhờ ở đậu”, nhờ có sự khai sáng của những con người như Fukuzawa
Yukichi mà đã trở thành “quốc dân” của một đất nước Nhật Bản hiện đại và
văn minh như ngày nay.
PHẦN MỘT:
TRỜI KHÔNG TẠO RA NGƯỜI ĐỨNG TRÊN
NGƯỜI
Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có khác biệt là
do học vấn
Người ta thường nói: “Trời không tạo ra người đứng trên người và cũng
không tạo ra người đứng dưới người.” Kể từ khi tạo hóa làm ra con người thì
tất cả sinh ra đều bình đẳng, mọi người đều có tư cách, có địa vị như nhau,
không phân biệt đẳng cấp trên dưới, giàu nghèo.
Loài người – chúa tể của muôn loài – bằng hoạt động trí óc và hoạt động
chân tay mà biến mọi thứ có trên thế gian thành vật có ích cho bản thân
mình. Nhờ thế mà thỏa mãn được nhu cầu ăn, mặc, ở, sống tự do theo ý
muốn và không làm phiền, làm cản trở cuộc sống của đồng loại. Con người
có thể sống yên ổn, vui vẻ trên thế gian. Đó là ý Trời, là niềm hi vọng của
Trời đối với con người.
Vậy mà nhìn rộng ra khắp xã hội, cuộc sống con người luôn có những
khoảng cách một trời một vực. Đó là khoảng cách giữa người thông minh và
kẻ đần độn; giữa người giàu và người nghèo; giữa tầng lớp quý tộc và tầng
lớp hạ đẳng.
Như thế là tại làm sao? Nguyên nhân thực ra rất rõ ràng.
Cuốn sách dạy tu thân Thực ngữ giáo có câu: “Kẻ vô học là người không
có tri thức, kẻ vô tri thức là người ngu dốt.” Câu nói trên cũng có thể hiểu:
Sự khác nhau giữa người thông minh và kẻ đần độn là ở chỗ có học hay vô
học mà thôi.
Trên thế gian có cả việc khó lẫn việc dễ. Người làm việc khó được coi là
người quan trọng. Người làm việc dễ thường có địa vị thấp, bị coi thường.
Công việc cần sự khổ nhọc về tinh thần được xem là việc khó, còn lao động
chân tay là việc dễ. Vì thế, học giả, quan chức chính phủ, giám đốc các công
ty lớn, chủ trang trại sử dụng nhiều nhân công… là những người có địa vị
cao, quan trọng. Và một khi đã là những người có địa vị, quan trọng thì
đương nhiên gia đình họ cũng giàu sang sung túc đến mức tầng lớp hạ đẳng
nằm mơ cũng không được. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ lưỡng gốc rễ của vấn
đề thì chỉ có một nguyên nhân. Đó chẳng qua là do có chịu khó học hay
không mà thôi, chứ có người nào được trời phú cho đâu. Ngạn ngữ có câu:
“Trời không ban cho con người phú quý. Chính con người tạo ra giàu sang
phú quý.” Có nghĩa là Trời nhìn vào kết quả hoạt động, lao động của con
người để ban thưởng.
Như tôi đã đề cập: Ở con người vốn dĩ không có chênh lệch sang hèn,
giàu nghèo. Vì thế, có thể nói rằng: người chịu khó học, hiểu biết nhiều sẽ
trở thành người quan trọng, sống sung túc; người vô học sẽ trở thành con
người thấp hèn, nghèo khổ.
Học những môn thiết thực cho cuộc sống
Học vấn là gì? Đó không phải là học chỉ cốt để hiểu câu khó, chữ khó;
càng không phải là việc học chỉ để giải nghĩa văn cổ, đọc thơ, vịnh thơ. Học
như vậy không có ích gì cho cuộc sống cả.
Đọc các tác phẩm văn học cũng là để động viên an ủi lòng người, như thế
chẳng phải là môn học có ích cho cuộc sống đó sao? Nhưng tôi không nghĩ
rằng văn học là môn học quan trọng đến mức “phải thờ phụng nó” như các
thầy dạy Hán văn, Cổ văn thường nhấn mạnh. Trong cuộc sống, tôi hầu như
không thấy thầy dạy Hán văn nào có được tài sản đáng kể, cũng như các
thương gia vừa giỏi thơ phú vừa thành công trong kinh doanh lại càng hiếm.
Với lối học như hiện nay, chỉ tăng thêm sự lo lắng trong các bậc phụ
huynh, nhà nông… những người hết lòng chăm lo việc học tập của con cái:
“Chúng nó cứ học theo kiểu này, chắc có ngày tán gia bại sản mất.” Điều đó
đúng. Vì lối học này không thực tế, không thể áp dụng kết quả học tập vào
thực tiễn cuộc sống.
Vậy thì giờ đây chúng ta phải học cái gì và học như thế nào?
Trước hết phải học những môn học thực dụng cần thiết cho cuộc sống
hằng ngày. Ví dụ: phải thuộc lòng bảng 47 chữ cái Kana. Học cách soạn thảo
thư từ, ghi chép trương mục kế toán. Sử dụng thành thạo bàn tính. Nhớ cách
cân đong, đo, đếm. Tiếp đến là phải học các môn như Địa lý để biết được
phong thổ Nhật Bản và các nước trên địa cầu. Vật lý là môn học giúp ta phân
biệt được tính chất của mọi vật thể trong thiên nhiên, qua đó tìm ra tác dụng
của nó. Học Sử vì đây là môn học giúp ta hiểu biết cặn kẽ mọi sự kiện ghi
trên niên biểu lịch sử, qua đó chúng ta có thể nghiên cứu quá khứ, hiện tại
của mọi quốc gia. Học Kinh tế là môn giải đáp cho chúng ta mọi vấn đề liên
quan đến việc chi tiêu trong mỗi gia đình cũng như nền tài chính của cả quốc
gia. Học môn Đạo đức, môn này giúp ta hiểu về hành vi, hành động của bản
thân, hiểu cách cư xử, cách giao tiếp, cách sinh hoạt giữa người với người.
Để học các môn này, cần thiết phải đọc tất cả các quyển sách của châu Âu
đã được dịch ra tiếng Nhật. Đối với các bạn trẻ có k
 









Các ý kiến mới nhất