Violet
Dethi

Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Đạo đức học trong Triết học

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Anh Trâm
Ngày gửi: 08h:57' 13-06-2023
Dung lượng: 18.6 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích: 0 người
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã h ội, trong đ ời s ống c ủa con ng ười, đ ạo đ ức
là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân và c ộng
đồng tồn tại phát triển. Sống trong xã hội, người ta ai cũng ph ải suy nghĩ v ề nh ững v ấn
đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện ho ạt đ ộng nh ằm k ết
hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát tri ển c ủa chính
mình và cộng đồng.
Trong sự vận động phát triển của xã hội loài người suy cho cùng nhân tố kinh t ế là cái
chủ yếu quyết định. Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa cái “chủ yếu” này thành cái “duy nh ất”
thì sẽ dẫn tư duy và hành động đến những lầm lạc đáng tiếc. Sự ti ến b ộ c ủa xã h ội, s ự
phát triển của xã hội không thể thiếu vai trò của đạo đức. Và khi xã h ội loài ng ười có giai
cấp, có áp bức, có bất công, chiến đấu cho cái thiện đẩy lùi cái ác đã tr ở thành ước m ơ,
khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực kích thích, cổ vũ nhân lo ại v ượt lên,
xốc lên. Đạo đức đã trở thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực để phát triển xã h ội.
Vai trò của đạo đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ b ản c ủa đ ạo đ ức:
Chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức như đã trình bày
ở phần trên.
Ngày nay để xây dựng xã hội mới, chúng ta đang cần có những con người mới. Những con
người phát triển toàn diện cả đức và tài. Tuy nhiên, cần chú ý trong quan h ệ gi ữa đ ức và
tài hôm nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn lưu ý, nhắc nhở chúng ta ph ải coi tr ọng c ả
tài và đức nhưng phải lấy đức là gốc. Bởi lẽ tài năng chỉ có thể phát tri ển lâu b ền trên
nền của đức và tài năng chỉ có thể hướng thiện trên gốc của đức.
CHỨC NĂNG CỦA ĐẠO ĐỨC.
Chức năng điều chỉnh hành vi.
- Đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi. Sự điều chỉnh hành vi làm cá nhân và
xã hội cùng tồn tại và phát triển, bảo đảm quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng.
Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi, trong đó có chính trị, pháp
quyền và đạo đức…
- Chính trị điều chỉnh hành vi giữa các giai cấp, các dân tộc, các quốc gia bằng các bi ện
pháp đặc trưng như ngoại giao, kinh tế, hành chính, bạo lực…
- Pháp quyền và đạo đức điều chỉnh hành vi trong quan hệ giữa các cá nhân v ới cộng
đồng bằng các biện pháp đặc trưng là pháp luật và dư luận xã hội, lương tâm. Sự điều
chỉnh này, có thể thuận chiều, có thể ngược chiều.
- Điều chỉnh hành vi của đạo đức và pháp quyền khác nhau ở mức độ đòi hỏi và phương
thức điều chỉnh.

Pháp quyền thể hiện ra ở pháp luật, là ý chí của giai cấp thống trị buộc mọi người phải
tuân theo. Những chuẩn mực của pháp luật được thực hiện bằng ngăn cấm và cưỡng bức
(quyền lực công cộng cùng với đội vũ trang đặc biệt, quân đội, cảnh sát, toà án, nhà tù…).
Pháp quyền là đạo đức tối thiểu của mỗi cá nhân sống trong cộng đồng.
Đạo đức đòi hỏi từ tối thiểu đến tối đa đối với các hành vi cá nhân. Phương thức điều
chỉnh là bằng dư luận xã hội và lương tâm. Những chuẩn mực đạo đức bao gồm cả
chuẩn mực ngăn cấm và cả chuẩn mực khuyến khích.
Chức năng điều chỉnh hành vi của đạo đức bằng dư luận xã hội và lương tâm đòi hỏi từ
tối thiểu tới tối đa hành vi con người đã trở thành đặc trưng riêng để phân biệt đạo đức
với các hình thái ý thức khác, các hiện tượng xã hội khác và làm thành cái không th ể thay
thế của đạo đức.
- Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên quan h ệ lợi
ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và cá nhân (và khi
cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng).
- Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ cá nhân
với cộng đồng (gián tiếp).
- Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định chương trình
của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi bưỏi chuẩn mực đạo
đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình cảm của đạo đức, kiểm soát
uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu.
- Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán mạnh mẽ
cái ác.
- Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực đạo đức
xã hội.
Chức năng giáo dục.
Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”. Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là
chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn cảnh cũng tạo ra
con người đến mức ấy.
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác động đến con
người và con người tác động lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người tạo ra, nhưng
sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác động, chi ph ối con
người.

Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá nhân ch ịu s ự
tác động. Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân bằng nhận thức đạo
đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá đạo đức xã hội thành ý
thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá nội dung giáo dục bằng hành
vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội và cá nhân làm cả
đạo đức cá nhân và xã hội được củng cố, phát triển thành thói quen, truy ền thống, t ập
quán đạo đức.
Hiệu quả giáo dục đạo đức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội, cách thức tổ ch ức,
giáo dục mức độ tự giác của chủ thể và đối tượng giáo dục trong quá trình giáo dục.
- Giáo dục đạo đức gắn với tiến bộ đạo đức:
Nhân đạo hóa các quan hệ xã hội và mức độ phổ biến nhân đạo hóa các quan hệ xã h ội;
sự hoàn thiện của cấu trúc đạo đức và mức độ phổ biến của nó…sẽ giúp chủ thể lựa
chọn, đánh giá đúng các hiện tượng xã hội, đánh giá đúng tư cách của người khác hay của
cộng đồng cũng như tự đánh giá đúng thông qua mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ, n ội dung,
phương thức, hình thức và các bước đi của quá trình giáo dục sẽ giúp mỗi cá nhân và c ả
cộng đồng tạo ra các hành vi và thực tiễn đạo đức đúng.
Như vậy, chức năng giáo dục của đạo đức cần được hiểu một mặt “giáo dục lẫn nhau
trong cộng đồng”, giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và cộng đồng;m ặt khác, là s ự “
tự giáo dục” ở các cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cá nhân lẫn cấp độ cộng đồng.
Chức năng nhận thức.
Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức có chức năng nhận thức thông qua s ự
phản ánh tồn tại xã hội.
Sự phản ánh của đạo đức với hiện thực có đặc điểm riêng khác với các hình thái ý th ức
khác.
Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức. Và đa số trường hợp có sự
hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học và ứng dụng
nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách về không gian và thời gian).
Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và hướng nội (tự
nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).
Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội làm đối
tượng. Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh phúc và ý nghĩa
cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị đạo đức. Nhờ sự nh ận
thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã hội như là cái chung thành
ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng.

Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức – làm đối
tượng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu những nh ận
thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung của cộng đồng. Từ
cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các quan điểm và nguyên tắc
sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa
vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn. Dư luận xã hội là
sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm là sự phê bình. Cả
hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình – giá trị mà xã hội mong muốn.
Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để ho thành
trách nhiệm đó. Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy. Nó luôn đặt ra
trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn bè, đồng chí,
đồng đội, tập thể, dân tộc, gia cấp, tổ quốc.
Nhận thức đạo đức (đạo đức phản ánh hiện thực) ở hai trình độ : trình độ thông th ường
và trình độ lý luận.
Nhận thức đạo đức ở trình độ thông thường là ý thức thông thường, những giá trị riêng
lẻ. Nó đáp ứng nhu cầu đạo đức thông thường đủ để chủ thể xử lý kịp thời trong cuộc
sống và sự phát triển bình thường của xã hội. Mọi cá nhân đều có thể và cần phải ảnh
ánh đạo đức ở trình độ này.
Nhận thức đạo đức ở trình độ lý luận là những nhận thức có tính nguyên tắc được ch ỉ
đạo bởi những giá trị đạo đức có tính tổng quát. Trình độ này đáng ứng nh ững đòi h ỏi
của sự phát triển đạo đức và tiến bộ xã hội. Đây là yếu tố không thể thiếu được trong hệ
tư tưởng và hành vi của các gia cấp cầm quyền.
- Nhận thức đạo đức đưa lại tri thức đạo đức, ý thức đạo đức. Các cá nhân, nhờ tri th ức
đạo đức, ý thức đạo đức xã hội đã nhận thức (trở thành đạo đức cá nhân). Cá nhân hiểu
và tin ở các chuẩn mực, lý tưởng giá trị đạo đức xã hội trở thành cơ sở để cá nhân điều
chỉnh hành vi, thực hiện đạo đức (hiện thực hóa đạo đức).

là trong giới học sinh hiện nay,nạn học giả,bằng thật do quay cóp,chép bài của bạn,gian lận
trong thi cử đã trở thành một tệ nạn phổ biến gây ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập,đến ý
nghĩa của việc dạy và học,gây xôn xao xã hội.Một biểu hiện thứ hai tương đối rõ ràng là sự
thiếu trung thực trong kinh doanh đời sống,đó là việc các báo cáo không trung thực,chất lượng

sản phẩm kinh doanh ngày càng kém đi,ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người tiêu dùng,đặc biệt
có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng đe dọa tính mạng con người hiện nay như các sản phẩm,các
mặt hàng được người dân tiêu dùng hàng ngày,điển hình là các loại sữa có chứa chất độc hại
melamine gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng,hay ngay các loại nước mắm cũng có chứa
chất ure độc tố,hoặc cả các loại rau quả,trái cây hiện nay như rau xanh hay quả tươi đều được
người trồng trọt tiêm nhiễm các loại hóa chất vì lợi nhuận của bản thân...Những hành vi trên
đều đáng phê phán vì thiếu trung thực,không nghĩ đến sức khỏe của người dân mà chỉ nghĩ đến
lợi nhuận của bản thân mình.Chỉ vài biểu hiện trên mà đã nói lên được tính thiếu trung thực đã
trở thành căn bệnh phổ biến lây lan nhanh trong mọi người dân.Chính căn bệnh này đã khiến xã
hội xuống cấp,đạo đức người dân dần bị hạ thấp,phá bỏ những nét đẹp truyền thống của dân
tộc.
Vì vậy,để tránh được tệ nạn thiếu trung thực trong xã hội ngày nay,mỗi chúng ta cần tự mình
xây dựng nên một ý thức trung thực trong từng việc nhỏ nhặt nhất mà hàng ngày chúng ta đều
làm cho đến việc lớn lao sau này.Bên cạnh việc tự hoàn thiện mình,chúng ta cần lên án những
hành vi thiếu trung thực và tích cực đẩy lùi những tiêu cực do nạn thiếu trung thực để noi cao
những
tấm
gương
về
đạo
đức
cao
cả.
Là một con người sống trong xã hội hiện đại,đức tính trung thực là không thể thiếu cho bản
thân,cần tích cực rèn luyện đức tính đáng quý này để tự hoàn thiện chính mình,trở thành người
công dân tốt,đưa đạo đức xã hội ngày càng đi lên,đất nước ngày một phát triển hơn và hơn nữa.
 
Gửi ý kiến