Tìm kiếm Đề thi, Kiểm tra
Lớp 12. Đề cương ôn thi

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: trương thị hoa
Ngày gửi: 09h:41' 03-01-2025
Dung lượng: 24.7 KB
Số lượt tải: 30
Nguồn:
Người gửi: trương thị hoa
Ngày gửi: 09h:41' 03-01-2025
Dung lượng: 24.7 KB
Số lượt tải: 30
Số lượt thích:
0 người
BÀN VỀ CẤU TỨ VÀ TỨ THƠ
Cấu tứ trong thơ
- Cấu tứ là một khâu then chốt, mang tính chất khởi đầu của hoạt động sáng tạo
nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ nói riêng. Trong lĩnh vực thơ, cấu tứ gắn liền
với việc xác định, hình dung hướng phát triển của hình tượng thơ, cách triển khai
bài thơ, sao cho toàn bộ nhận thức, cảm xúc, cảm giác của nhà thơ về một vấn đề,
đối tượng, sự việc nào đó có thể được bộc lộ chân thực, tự nhiên, sinh động và trọn
vẹn nhất.
- Sản phẩm của hoạt động cấu tứ trong thơ là tứ thơ (thường được gọi đơn giản là
tứ). Tứ đưa bài thơ thoát khỏi sơ đồ ý khô khan, trừu tượng để hiện diện như một
cơ thể sống. Nhờ có tứ, tổ chức của bài thơ trở nên chặt chẽ, mọi yếu tố cấu tạo
đều liên hệ mật thiết với nhau và đều hướng về một ý tưởng – hình ảnh trung tâm.
- Mỗi bài thơ thường có một cách cấu tứ và một cái tứ riêng. Chú ý tìm hiểu vấn đề
này là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc đọc hiểu thơ, nhìn ra những phát hiện
độc đáo của nhà thơ về con người, cuộc sống và đánh giá đúng phẩm chất nghệ
thuật của bài thơ.
- Vì mối liên hệ nhân quả tất yếu giữa cấu tứ và tứ mà trong nhiều trường hợp,
người ta đã đồng nhất hai khái niệm này. Lúc đó, có thể xem "tìm hiểu cấu tứ của
bài thơ" và "tìm hiểu tứ thơ của bài thơ" là hai hình thức diễn đạt khác nhau về
cùng một ý (nội dung).
Những kiểu cấu tứ quen thuộc trong thơ:
+ Cấu tứ dựa trên mô hình cấu trúc phổ quát của bài thơ: Cấu tứ dựa trên việc xây
dựng, tạo lập các hình tượng trong thơ. Cách tổ chức tác phẩm dựa trên việc xây
dựng và tổ chức hình tượng có sức khái quát cao luôn là khao khát và thách thức
lớn đối với mỗi nhà thơ; Cấu tứ dựa trên việc tổ chức sắp xếp các nguồn cảm xúc
sao cho chúng được bung nở, biểu hiện một cách tự nhiên nhất, cho thấy được
trạng thái tâm hồn của nhà thơ; Cấu tứ dựa trên việc tạo lập và tổ chức bố cục của
bài thơ trữ tình. Bố cục của một văn bản thơ hoàn chỉnh bao gồm có nhan đề, các
câu thơ, khổ thơ tạo thành các đoạn thơ, các đoạn thơ đó hợp lại tạo thành một tác
phẩm thơ trọn vẹn
+ Cấu tứ dựa trên đặc trưng cấu trúc của thể thơ và đặc trưng của một số biện pháp
nghệ thuật trong thơ: Cấu tứ dựa trên sự tôn trọng đặc trưng của các thể thơ: Thơ
lục bát, thơ Đường luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi, …
2. Tứ thơ là gì?
- Tứ thơ (thi tứ) là ý tưởng bao trùm toàn bộ bài thơ, biểu hiện trong sự liên kết
bằng những xúc cảm, suy nghĩ và hình ảnh, biểu hiện trong dạng cấu tạo và phát
triển của hình tượng thơ. Tứ không phải là một ý tưởng trừu tượng mà là ý tưởng
đã hiện hình cụ thể trong một sắc thái đời sống, qua một hình ảnh, một tâm trạng,
một suy nghĩ được chọn làm điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc. Tứ quy định
một phần giá trị của bài thơ. Tuy nhiên, từ cái tứ chung đến bài thơ là cả một chặng
đường dài. Người viết phải hướng sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh
phù hợp với tứ thơ.
- Tứ thơ mang nội hàm khám phá ᴄhủ уếu ở ba уếu tố ᴄhính: kháᴄ thường, đột
biến, bất ngờ. Một bài thơ gọi là ᴄó tứ, phải ít nhất ᴄó một trong ba уếu tố ấу, haу
nói ᴄáᴄh kháᴄ, không ᴄó khám phá thì không thành tứ ᴠà không thành thơ, ᴄhỉ là
ᴠăn ᴠần giống như thơ mà thôi.
=> Như vậy, tứ thơ là đặc sản của tâm hồn thơ - nó chứng tỏ tác giả đã có cái nhìn
thẩm mĩ, cái nhìn thế giới sự vật độc đáo, phát hiện những khía cạnh tinh vi, những
khía cạnh mà các nhà sử học không ghi hết được nhưng lại là bộ phận sống động
nhất của lịch sử - những trạng thái tâm hồn con người trong một thời đại.
+ Là hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ, tứ thơ có ý nghĩa chỉ đạo kết cấu bài thơ,
làm nổi bật chủ đề.
+ Để diễn đạt một dung lượng lớn những suy nghĩ, tình cảm, xúc động, nhà thơ có
thể dùng thế liên hoàn: từ một tứ lớn, nhà thơ có thể triển khai thành các tứ bộ
phận nhỏ hơn kết hợp trong một trật tự hợp lý. Cũng có khi nhà thơ từ một ấn
tượng riêng, cảm xúc riêng ròi nảy nở ra, dẫn dắt mãi lên thành dòng suy nghĩ, liên
tưởng, tưởng tượng rồi tạo thành tứ lớn.
+ Giá trị của tứ thơ: tạo nên sức sống lâu bền của thơ trong lòng độc giả.
Có khi bài thơ bị quên đi nhiều câu song người đọc vẫn nhớ một khổ thơ,
một vài câu thơ nào đó vì nó tạo được hình tượng, thể hiện được một ý
tưởng trọn vẹn, có số phận, có sức sống riêng - đó là tứ nhỏ trong bài thơ,
góp phần làm sáng tỏ chủ đề.
Tứ lớn trong bài thơ là hình tượng xuyên suốt toàn bài thơ, thể hiện tư
tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Tứ lớn mang đặc điểm của cách nhìn,
cách cảm và cách thể hiện riêng biệt, độc đáo của nhà thơ.
Ví dụ:
- Trong bài thơ "Sóng" - Những con sóng không bao giờ đứng yên, nó lan mãi ra
xa phía ngoài biển cả để rồi lại hướng về phía bờ (Hướng về biển để hòa nhập với
cuộc đời, hướng về bờ để tự bộc lộ chính mình - trọn vẹn, tận độ). Hòa mình vào
biển khơi, sóng sẽ trở thành vĩnh cửu, bất tử. Tình yêu của con người cũng như
sóng, sẽ trở thành bất tử khi hòa nhập vào với biển lớn cuộc đời.
"Đất nước" - Mùa thu bao giờ cũng rất đẹp và gợi cảm. Trong quá khứ xưa, lúc
mùa thu đẹp nhất trong không gian Hà Nội, người đã phải dứt áo ra đi vì nhiệm vụ.
Trong hiện tại của không khí tự do này, nhớ lại thu xưa mà càng thêm phơi phới
lòng với mùa thu hiện tại. Chặng đường từ quá khứ đến hiện tại này đã phải trải
qua bao đau thương mất mát, vất vả hi sinh. Cho nên, đứng trước vẻ tươi thắm rạng
ngời của mùa thu Việt Bắc hôm nay càng thêm yêu quý và tự hào hơn về lịch sử
những năm kháng chiến.
3. Cấu tứ là gì?
- Cấu tứ, một yếu tố quan trọng khác của thơ, nằm ở sự pha trộn giữa hình ảnh và ý
nghĩa; càng nhiều trải nghiệm về hình tượng, càng khéo léo khai thác ý nghĩa sâu
sắc. Đơn giản, cấu tứ là việc biến đổi ý tưởng thành cảm xúc và hình ảnh, mang
đến cho bài thơ sự linh hoạt và sâu lắng.
- Cách cấu tứ trong thơ:
+ "Cấu": xây dựng, sắp xếp, liên kết
+ "Tứ": ý nghĩ - trong thơ, sự suy nghĩ gắn liền với tình cảm và biểu hiện ra thành
hình ảnh.
---> Cấu tứ là cách xây dựng, sắp xếp và liên kết những ý nghĩ, cảm xúc và hình
ảnh thành các hình tượng mang ý tưởng trung tâm của toàn bộ bài thơ.
+ Xét trong quá trình sáng tác, cấu tứ là hành động tư duy để sáng tạo ra hình
tượng nghệ thuật. Cái kì diệu của cấu tứ là làm cho tinh thần nhà văn gặp gỡ với sự
việc khách quan (hình và ý gặp nhau).
+ Xét như một thành quả sáng tạo, cấu tứ là sự cắt nghĩa, lí giải, khái quát hiện
tượng đời sống bằng một hình tượng tổng quát có sức chi phối toàn bộ cảm thụ,
suy tưởng và miêu tả nghệ thuật trong tác phẩm. Tức là xây dựng một ý tưởng bao
quát toàn bài, liên kết những cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh biểu hiện trong dạng
cấu tạo và phát triển của hình tượng thơ.
=> Tóm lại, cấu tứ là cách cấu tạo và phát triển của hình tượng thơ:
+ Tứ là linh hồn của tác phẩm, cung cấp một thế đứng, một cách nhìn, cách cảm
nhận để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Cấu tứ là một hình thế
giới nghệ thuật của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của
nó.
+ Để cấu tạo tứ, trước hết phải có tình. Song những tình cảm phải được tổ chức lại
chặt chẽ và phục vụ cho chủ đề chung của toàn bài thơ để tình cảm không bị phân
tán, ý tưởng được liên kết lại trong một cấu tạo chung và phát triển một cách hợp
lý.
Tuy nhiên, có tư hay chưa hẳn có một sáng tác hay. Tứ thơ phải được đắp bồi cụ
thể bằng cảm xúc, hình ảnh và ngôn ngữ chọn lọc. Có những sáng tác mà tứ được
tạo thành gần gũi nhau nhưng vẫn mang sắc thái và gương mặt riêng biệt.
4. Ví dụ về tứ thơ và cấu tứ
4.1. Ví dụ Phân tích tứ thơ và cấu tứ trong bài thơ Tây tiến - Quang Dũng
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Con đường lên miền Tây Bắc của Tổ quốc với đèo
cao, dốc đứng hoang vu, hiểm trở mà cũng đầy thơ mộng với những vẻ đẹp tuyệt
vời. Trên con đường ấy, những chàng trai dũng cảm hào hoa đã ra đi chiến đấu, có
người nằm lại mãi mãi nơi chiến trường song hình ảnh của họ sẽ bất tử trong lòng
đất mẹ quê hương và sẽ bất tử trong lòng những người còn sống. Và mảnh đất Tây
Bắc của Tổ quốc vô cùng khắc nghiệt, đầy ắp hiểm nguy sẽ trở thành kỉ niệm
không thể nào quên chính bởi vì nó chứa đựng cả cuộc sống và cả một phần đời
không thể nào quên của những con người dám sống và dám dâng hiến đời mình
cho Tổ quốc.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Nỗi nhớ da diết, cồn cào mãnh liệt choán ngợp cả tâm hồn.
+ Niềm xúc động mãnh liệt (ngạc nhiên, ngỡ ngàng, say mê đắm đuối) khi kỉ niệm
ùa về tràn ngập trong tâm hồn.
+ Nỗi đau hòa quyện với niềm tự hào, ngưỡng mộ.
- Suy nghĩ:
+ Núi rừng Tây Bắc xa xôi lạ lùng mà quyến rũ vô cùng với người lính trẻ.
+ Cuộc sống ở Tây Bắc độc đáo trong những sinh hoạt văn hóa và dữ dội trong vẻ
hoang vu hiểm trở đầy bí ẩn của thiên nhiên.
+ Người lính với chất trẻ trong tâm hồn và sự trong sáng của lý tưởng, lẽ sống đã
hết mình trong những cảm xúc lãng mạn và cũng trọn vẹn trong sự dâng hiến cho
Tổ quốc, quê hương. Chính cuộc sống hết mình ấy đã khiến họ trở thành bất tử.
- Hình ảnh:
+ Thiên nhiên Tây Bắc với đèo cao, dốc đứng, mây núi, mưa rừng, cọp vờn, thác
đổ...
+ Cuộc sống giữa thiên nhiên Tây Bắc: thi vị với khói sương bảng lảng, hoa lau
phơ phất, hồn lau lẩn quất, dáng người thật mảnh, con thuyền thật nhỏ, dòng nước
thật dữ dội và cỏ hoa cũng thật tình tứ với con người.
+ Đêm lễ hội: ánh sáng của đuốc, âm thanh của khèn và bóng dáng thiếu nữ.
+ Người lính: diện mạo khác lạ (vừa khắc khổ vừa dữ dằn), tư thế lẫm liệt (một đi
không trở lại), ngay trong cái chết, sự hi sinh vẫn tỏa ra hào quang của một tinh
thần bất khuất.
+ Con đường lên Tây Bắc: xa xôi, mờ mintj và hiểm trở vì nó đi qua bao miền đất
lạ để hướng ra chiến trường.
* Dạng cấu tạo và sự phát triển của hình tượng thơ:
- Dạng cấu tạo: song hành, đan cài hai hình tượng - hình tượng không gian Tây
Bắc hoang dã, hùng vĩ và mĩ lệ; hình tượng người lính oai dữ mà tinh nghịch, hào
hoa mà cũng rất hào hùng.
- Sự phát triển của hình tượng thơ:
+ Hình tượng không gian Tây Bắc được khám phá và tái hiện ở cả ba chiều: chiều
lên cao ngất, ngước mãi lên vẫn không có điểm dừng (thăm thẳm, ngàn thước lên
cao, súng ngửi trời); chiều xuống cũng gợi gian khổ hiểm nguy không kém ("ngàn
thước xuống" từ đỉnh núi, đến lưng chừng là "thác gầm thét" và tận cùng là mặt
sông "gầm lên khúc độc hành"); chiều ngang mở rộng hút tầm mắt trong mưa mù
và sương núi mà hình ảnh "nhà ai" đầy phiếm chỉ ở xa xôi như một dấu chấm nhòe.
Trong ba chiều không gian ấy, núi rừng Tây Bắc hiện lên vừa hoành tráng, hùng
vĩ, hiểm trở đến kì lạ, vừa thơ mộng huyền ảo lung linh rực rỡ đến kì lạ vừa không
hiếm những nét bình dị thân thương ấm áp đến lạ lùng.
+ Hình tượng người lính được khám phá từ diện mạo đến nội tâm, từ tư thế đến lý
tưởng, lẽ sống. Nếu hình tượng không gian vận động theo nhiều chiều để đạt đến
giới hạn tối đa của sự phóng khoáng thì hình tượng con người chỉ vận động theo
hướng làm sáng lên chân dung bất khuất của tâm hồn với lẽ sống cao cả: từ tinh
nghịch đến nghiêm trang, từ trẻ trung đến sâu sắc, từ cái oai dữ của diện mạo đến
cái cao cả, bất khuất của tư thế, của lý tưởng, lẽ sống.
4.2. Ví dụ phân tích tứ thơ và cấu tứ bài thơ Việt Bắc- Tố Hữu
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Vùng đất chiến khu Việt bắc đã trải qua bao tháng
ngày gian khổ, vất vả mà cũng tràn đầy những niềm vui cuộc sống và niềm vui
kháng chiến. Trong giờ phút chia tay, tất cả đã trở về trong kí ức thật xúc động và
thiêng liêng. Nhưng lần chia tay này không phải để cách xa mà chia tay song cũng
là gắn bó bên nhau vì ta đã giành được độc lập, ta đã có Đảng, có Bác Hồ, có Nhân
dân cần cù mà anh dũng và luôn gắn bó thủy chung, thắm thiết ân tình nghĩa tình
cách mạng.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Nỗi nhớ da diết, vấn vít với tất cả những gì đã thành kỉ niệm giữa người ở lại với
người ra đi, giữa người kháng chiến với mảnh đất chiến khu kháng chiến.
+ Niềm tự hào và tin tưởng - tự hào về những chiến công oanh liệt, tin tưởng vào
Đảng, vào Bác Hồ và vào tương lai cuộc sống mới.
+ Niềm vui trong cuộc sống kháng chiến và niềm vui chiến thắng.
- Suy nghĩ:
+ Cuộc kháng chiến gian khổ đã kết thúc thắng lợi, chúng ta đã bảo vệ được nền
độc lập, tự do. Được trở về thủ đô Hà Nội là niềm hạnh phúc. Song điều đó không
có nghĩa là chúng ta sẽ quên những thánh ngày gắn bó ân tình, nghĩa tình với mảnh
đất này bởi đây không đươn giản chỉ là một vùng đất mà còn là một phần đời của
tất cả chúng ta - một phần đời với bao nhiêu kỉ niệm, bao niềm vui, bao ân tình
thắm thiết.
+ Trong cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ đó, những người kháng chiến đã gắn
bó đoàn kết với nhau, gắn bó với chiến khu kháng chiến như quê hương, như người
thân yêu ruột thịt. Sự đoàn kết đồng lòng đã cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng
quân thù, để làm tỏa sáng gương mặt quê hượng.
+ Thắng lợi ngày hôm nay chỉ là sự khởi đầu, chúng ta cần bước tiếp trên con
đường đi tới, vừa xây dựng, vừa chiến đấu để bảo vệ và nhân lên những thành quả
mà ta đã có.
- Hình ảnh:
+ Hình ảnh thiên nhiên
+ Hình ảnh con người
+ Hình ảnh cuộc sống
+ Hình ảnh cuộc kháng chiến
* Dạng cấu tạo và sự phát triển của hình tượng thơ:
- Dạng cấu tạo: Dựng lên không khí của một buổi chia tay giữa người ở lại và
người ra đi. Trong không khí đó, những người kháng chiến đã bày tỏ một cách
chân thành xúc động nỗi nhớ thương, niềm lưu luyến với cảnh vật, với con người,
với quãng đời gắn bó thắm thiết bên nhau. Từ không khí của cuộc chuyện trò, từ
những lời tâm tình trò chuyện, gương mặt của Việt Bắc dần được bộc lộ và khẳng
định với tư cách là một diện không gian, một giới hạn thời gian và thăm thẳm bao
la gương mặt tâm hồn dân tộc.
- Sự phát triển của hình tượng thơ: Hình tượng Việt Bắc được triển khai từ rất
nhiều góc độ.
+ Không gian: chiến khu kháng chiến vừa mênh mông phóng khoáng với rừng,
núi, đèo, suối vừa gần gũi thân thương với làng bản, đèo dốc, ngôi nhà, bếp lửa...
Điều quan trọng là trong không gian ấy luôn thấp thoáng bóng dáng người thân,
người thương đi về.
+ Thời gian: 15 năm gắn bó từ thời kì tiền khởi nghĩa đến khi cuộc kháng chiến kết
thúc thắng lợi - đó là thời gian ta có mình, mình có ta, mình và ta cùng nhau chia
sẻ mọi ngọt bùi, cay đắng.
+ Con người: tảo tần, thầm lặng trong lao động, thắm thiết ân tình trong cuộc sống
và mạnh mẽ kiên cường trong chiến đấu.
+ Cuộc sống: vất vả gian nan song cũng tràn đầy niềm vui bởi con người có tinh
thần lạc quan và có sức mạnh của ý chí chiến đấu.
+ Cuộc chiến đấu: hào hùng, quyết liệt. Đó không chỉ là cuộc chiến đấu của từng
cá nhân mà của mọi cá nhân, không chỉ là cuộc chiến đấu của con người mà là của
cả thiên nhiên đất trời. Dường như cả non sông, đất nước, hoa lá cỏ cây cũng đang
bước vào trận đánh với con người. Bởi vậy mà khi chiến thắng, niềm vui chiến
thắng cũng như lan tỏa trong lòng người và cả không gian đất trời Việt Bắc.
---> Hình tượng Việt Bắc hiện lên vừa mang tầm vóc sử thi vừa thấm đẫm nghĩa
tình, ân tình cách mạng.
4.3. Phân tích cấu tứ và tứ thơ bài thơ Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Những con tàu sẽ lăn bánh rời ga tới những miền
đất lạ, những miền đất xa xôi của Tổ quốc để chắp cánh cho những giấc mơ được
đi tới, được tắm mình trong cuộc sống của nhân dân để tận hưởng trọn vẹn dòng
sữa ngọt thơm của cuộc đời mà nuôi dưỡng cho khát khao sáng tạo.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Những băn khoăn trăn trở trước tiếng gọi từ cuộc sống đang vang lên thiết tha,
giục giã và trước sự thôi thúc từ trong chính tâm hồn mình.
+ Niềm tự hào và xúc động về những hi sinh gian khổ và ý nghĩa thiêng liêng của
cuộc kháng chiến.
+ Nỗi khát khao được trở về gặp lại nhân dân và niềm biết ơn sâu sắc đối với công
lao, tấm lòng và ân nghĩa mà nhân dân đã dành cho nhà thơ.
+ Nỗi nhớ da diết với Tây Bắc, với đất và người Tây Bắc cũng chính là với phần
máu thịt trong tâm hồn mình.
+ Những cảm xúc sôi nổi, náo nức trào dâng thành khát vọng được tắm mình trong
cái rộng lớn, phóng khoáng của cuộc sống.
---> Cảm xúc được vận động và chuyển hóa trong quá trình nhận thức về cuộc
sống, về nhân dân, đất nước của nhà thơ. Càng đi đến những chiều sâu mới trong
nhận thức về đất nước và nhân dân, cảm xúc thơ càng phong phú, dào dạt và sâu
sắc, mãnh liệt hơn - thể hiện qua giọng thơ càng về cuối càng tăng độ dào dạt,
nồng nhiệt.
Đặc biệt, cảm xúc thơ luôn được nung nóng trong lí trí, in đậm vệt suy lý, thường
chuyển hóa thành tư tưởng tạo nên sự giao hoán, chuyển hóa của Đất (Tây Bắc) và
Tâm hồn, giữa Con tàu và Lòng ta khiến câu thơ CLV vừa dào dạt, vừa sâu sắc.
- Suy nghĩ:
+ Cuộc sống không ngừng cất tiếng gọi để giục giã con người hãy mang trí tuệ và
tâm hồn mình để góp sức dựng xây nhằm tạo nên một đất nước lớn mạnh.
+ Trong cuộc kháng chiến trường kì, biết bao xương máu đã đổ xuống để có được
ngày thắng lợi. Những gian lao, hi sinh và chiến thắng vinh quang của chúng ta
trong kháng chiến mãi mai là ánh sáng soi tỏ con đường đi tới - soi tỏ ở cái ý
nghĩa, cái chân lý mà nó khắc ghi: phải dám sống hết mình, dám dâng hiến tất cả
cuộc sống của mình mới có thể có được thành quả to lớn ấy. Sự dâng hiến này
không thể chỉ là của một người mà của tất cả nhân dân. Chính nhân dân trong
những hi sinh thầm lặng, trong những cống hiến hết mình đã làm nên chiến thắng,
đã nuôi dưỡng sự sống và niềm tin tương lại. Cho nên, đến với nhân dân chính là
đến với suối nguồn vô tận để tâm hồn được tưới mát mà nảy nở những yêu thương.
Và ngược lại, mang trái tim dào dạt tình yêu thương đến với cuộc đời, cuộc đời sẽ
trở nên thân thương như máu thịt.
+ Trước tiếng gọi thiết tha như không thể nào cưỡng lại của cuộc sống - thiết tha
như tiếng gọi của tình yêu, của tình ruột thịt, con tàu của tâm hồn người nghệ sĩ
như có thêm đôi cánh bay bổng để bay về tắm mình trong suối ngọt đồng thơm của
cuộc sống nhân dân, để được hưởng trọn dòng sữa ngọt ngào và tâm hồn bay lên
trong khát khao sáng tạo.
- Hình ảnh:
+ Hình ảnh của cuộc sống: bản sương giăng, đèo mây phủ, rừng thưa - rừng rậm,
lửa hồng, vắt xôi... (không gian Tây Bắc), chiếc áo nâu, phong thư, tóc bạc... (con
người Tây Bắc).
+ Hình ảnh ẩn dụ: nai về suối cũ, vàng ta đau trong lửa, hòn máu cắt...
+ Hình ảnh biểu tượng với cái cụ thể của diện mạo và sức khái quát trong chiều sâu
ý nghĩa: tàu đói những vầng trăng, trái đầu xuân, đôi cánh vội, mặt hồng em trong
suối lớn mùa xuân.
---> Hình ảnh được kết nối với nhau thành chuỗi, tầng tầng lớp lớp như một rừng
biểu tượng thể hiện cái sâu sắc của suy nghĩ và sự phóng khoáng, phong phú của
xúc cảm.
- Hình tượng:
+ Con tàu - hóa thân của tâm hồn người nghệ sĩ: vận động rất linh hoạt - có khi
tách ra để cất lên tiếng gọi thiết tha giục giã, có khi nhập vào với cảm xúc của tâm
hồn thơ, mang đôi cánh của tâm hồn để náo nức, vội vã bay đến khám phá những
miền đất mới. Là con tàu của tâm tưởng nên nó không mang đặc điểm, ý nghĩa sự
vật mà chứa đựng những đặc điểm thế giới nội cảm ở nhà thơ với khát vọng vươn
xa đến với cuocj đời và khát khao sáng tạo. Vì thế, nói về con tàu mà không có
tiếng còi tàu, chỉ có "tiếng gió ngàn đang rú gọi", không có hành động chuyển
bánh, chỉ có "tàu vỗ giùm ta đôi cánh vội", "tàu mộng tưởng", "tàu uống những
vầng trăng". (CLV không xây dựng hình tượng con tàu mà xây dựng hình tượng
"tiếng hát con tàu", ông cũng đã khẳng định "lòng ta đã hóa những con tàu").
Hành trình của con tàu là đi từ Hà Nội lên Tây Bắc, từ cuộc sống cá nhân chật hẹp
đến không gian phóng khoáng và ngồn ngộn chất sống của cuộc sống nhân dân.
Trong cuộc hành trình ấy, càng đi sâu vào cuộc sống nhân dân, nhịp đi của con tàu
càng thêm náo nức, sôi nổi, gấp gáp. Khi con tàu uống những vầng trăng - uống
trọn vẹn vẻ đẹp của đời sống cũng là khi tâm hồn người nghệ sĩ bộc lộ trọn vẹn
tình yêu với cuộc đời.
+ Tây Bắc - hiện thân sinh động của cuộc sống nhân dân: trong quá khứ, TB gắn
với cuộc kháng chiến - "xứ thiêng liêng", mảnh đất "anh hùng", nơi ân tình được
hình thành, nơi chứng kiến những hi sinh, dâng hiến thầm lặng; trong hiện tại, TB
gắn với cuộc sống đang dạt dào nguồn sống trong từng âm thanh, từng gương mặt,
từng hình ảnh không gian, từng sắc thái, hương vị ngọt ngào.
Cấu tứ trong thơ
- Cấu tứ là một khâu then chốt, mang tính chất khởi đầu của hoạt động sáng tạo
nghệ thuật nói chung và sáng tạo thơ nói riêng. Trong lĩnh vực thơ, cấu tứ gắn liền
với việc xác định, hình dung hướng phát triển của hình tượng thơ, cách triển khai
bài thơ, sao cho toàn bộ nhận thức, cảm xúc, cảm giác của nhà thơ về một vấn đề,
đối tượng, sự việc nào đó có thể được bộc lộ chân thực, tự nhiên, sinh động và trọn
vẹn nhất.
- Sản phẩm của hoạt động cấu tứ trong thơ là tứ thơ (thường được gọi đơn giản là
tứ). Tứ đưa bài thơ thoát khỏi sơ đồ ý khô khan, trừu tượng để hiện diện như một
cơ thể sống. Nhờ có tứ, tổ chức của bài thơ trở nên chặt chẽ, mọi yếu tố cấu tạo
đều liên hệ mật thiết với nhau và đều hướng về một ý tưởng – hình ảnh trung tâm.
- Mỗi bài thơ thường có một cách cấu tứ và một cái tứ riêng. Chú ý tìm hiểu vấn đề
này là điều có ý nghĩa quan trọng trong việc đọc hiểu thơ, nhìn ra những phát hiện
độc đáo của nhà thơ về con người, cuộc sống và đánh giá đúng phẩm chất nghệ
thuật của bài thơ.
- Vì mối liên hệ nhân quả tất yếu giữa cấu tứ và tứ mà trong nhiều trường hợp,
người ta đã đồng nhất hai khái niệm này. Lúc đó, có thể xem "tìm hiểu cấu tứ của
bài thơ" và "tìm hiểu tứ thơ của bài thơ" là hai hình thức diễn đạt khác nhau về
cùng một ý (nội dung).
Những kiểu cấu tứ quen thuộc trong thơ:
+ Cấu tứ dựa trên mô hình cấu trúc phổ quát của bài thơ: Cấu tứ dựa trên việc xây
dựng, tạo lập các hình tượng trong thơ. Cách tổ chức tác phẩm dựa trên việc xây
dựng và tổ chức hình tượng có sức khái quát cao luôn là khao khát và thách thức
lớn đối với mỗi nhà thơ; Cấu tứ dựa trên việc tổ chức sắp xếp các nguồn cảm xúc
sao cho chúng được bung nở, biểu hiện một cách tự nhiên nhất, cho thấy được
trạng thái tâm hồn của nhà thơ; Cấu tứ dựa trên việc tạo lập và tổ chức bố cục của
bài thơ trữ tình. Bố cục của một văn bản thơ hoàn chỉnh bao gồm có nhan đề, các
câu thơ, khổ thơ tạo thành các đoạn thơ, các đoạn thơ đó hợp lại tạo thành một tác
phẩm thơ trọn vẹn
+ Cấu tứ dựa trên đặc trưng cấu trúc của thể thơ và đặc trưng của một số biện pháp
nghệ thuật trong thơ: Cấu tứ dựa trên sự tôn trọng đặc trưng của các thể thơ: Thơ
lục bát, thơ Đường luật, Thơ tự do, Thơ văn xuôi, …
2. Tứ thơ là gì?
- Tứ thơ (thi tứ) là ý tưởng bao trùm toàn bộ bài thơ, biểu hiện trong sự liên kết
bằng những xúc cảm, suy nghĩ và hình ảnh, biểu hiện trong dạng cấu tạo và phát
triển của hình tượng thơ. Tứ không phải là một ý tưởng trừu tượng mà là ý tưởng
đã hiện hình cụ thể trong một sắc thái đời sống, qua một hình ảnh, một tâm trạng,
một suy nghĩ được chọn làm điểm tựa cho sự vận động của cảm xúc. Tứ quy định
một phần giá trị của bài thơ. Tuy nhiên, từ cái tứ chung đến bài thơ là cả một chặng
đường dài. Người viết phải hướng sự vận động của cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh
phù hợp với tứ thơ.
- Tứ thơ mang nội hàm khám phá ᴄhủ уếu ở ba уếu tố ᴄhính: kháᴄ thường, đột
biến, bất ngờ. Một bài thơ gọi là ᴄó tứ, phải ít nhất ᴄó một trong ba уếu tố ấу, haу
nói ᴄáᴄh kháᴄ, không ᴄó khám phá thì không thành tứ ᴠà không thành thơ, ᴄhỉ là
ᴠăn ᴠần giống như thơ mà thôi.
=> Như vậy, tứ thơ là đặc sản của tâm hồn thơ - nó chứng tỏ tác giả đã có cái nhìn
thẩm mĩ, cái nhìn thế giới sự vật độc đáo, phát hiện những khía cạnh tinh vi, những
khía cạnh mà các nhà sử học không ghi hết được nhưng lại là bộ phận sống động
nhất của lịch sử - những trạng thái tâm hồn con người trong một thời đại.
+ Là hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ, tứ thơ có ý nghĩa chỉ đạo kết cấu bài thơ,
làm nổi bật chủ đề.
+ Để diễn đạt một dung lượng lớn những suy nghĩ, tình cảm, xúc động, nhà thơ có
thể dùng thế liên hoàn: từ một tứ lớn, nhà thơ có thể triển khai thành các tứ bộ
phận nhỏ hơn kết hợp trong một trật tự hợp lý. Cũng có khi nhà thơ từ một ấn
tượng riêng, cảm xúc riêng ròi nảy nở ra, dẫn dắt mãi lên thành dòng suy nghĩ, liên
tưởng, tưởng tượng rồi tạo thành tứ lớn.
+ Giá trị của tứ thơ: tạo nên sức sống lâu bền của thơ trong lòng độc giả.
Có khi bài thơ bị quên đi nhiều câu song người đọc vẫn nhớ một khổ thơ,
một vài câu thơ nào đó vì nó tạo được hình tượng, thể hiện được một ý
tưởng trọn vẹn, có số phận, có sức sống riêng - đó là tứ nhỏ trong bài thơ,
góp phần làm sáng tỏ chủ đề.
Tứ lớn trong bài thơ là hình tượng xuyên suốt toàn bài thơ, thể hiện tư
tưởng nghệ thuật của tác phẩm. Tứ lớn mang đặc điểm của cách nhìn,
cách cảm và cách thể hiện riêng biệt, độc đáo của nhà thơ.
Ví dụ:
- Trong bài thơ "Sóng" - Những con sóng không bao giờ đứng yên, nó lan mãi ra
xa phía ngoài biển cả để rồi lại hướng về phía bờ (Hướng về biển để hòa nhập với
cuộc đời, hướng về bờ để tự bộc lộ chính mình - trọn vẹn, tận độ). Hòa mình vào
biển khơi, sóng sẽ trở thành vĩnh cửu, bất tử. Tình yêu của con người cũng như
sóng, sẽ trở thành bất tử khi hòa nhập vào với biển lớn cuộc đời.
"Đất nước" - Mùa thu bao giờ cũng rất đẹp và gợi cảm. Trong quá khứ xưa, lúc
mùa thu đẹp nhất trong không gian Hà Nội, người đã phải dứt áo ra đi vì nhiệm vụ.
Trong hiện tại của không khí tự do này, nhớ lại thu xưa mà càng thêm phơi phới
lòng với mùa thu hiện tại. Chặng đường từ quá khứ đến hiện tại này đã phải trải
qua bao đau thương mất mát, vất vả hi sinh. Cho nên, đứng trước vẻ tươi thắm rạng
ngời của mùa thu Việt Bắc hôm nay càng thêm yêu quý và tự hào hơn về lịch sử
những năm kháng chiến.
3. Cấu tứ là gì?
- Cấu tứ, một yếu tố quan trọng khác của thơ, nằm ở sự pha trộn giữa hình ảnh và ý
nghĩa; càng nhiều trải nghiệm về hình tượng, càng khéo léo khai thác ý nghĩa sâu
sắc. Đơn giản, cấu tứ là việc biến đổi ý tưởng thành cảm xúc và hình ảnh, mang
đến cho bài thơ sự linh hoạt và sâu lắng.
- Cách cấu tứ trong thơ:
+ "Cấu": xây dựng, sắp xếp, liên kết
+ "Tứ": ý nghĩ - trong thơ, sự suy nghĩ gắn liền với tình cảm và biểu hiện ra thành
hình ảnh.
---> Cấu tứ là cách xây dựng, sắp xếp và liên kết những ý nghĩ, cảm xúc và hình
ảnh thành các hình tượng mang ý tưởng trung tâm của toàn bộ bài thơ.
+ Xét trong quá trình sáng tác, cấu tứ là hành động tư duy để sáng tạo ra hình
tượng nghệ thuật. Cái kì diệu của cấu tứ là làm cho tinh thần nhà văn gặp gỡ với sự
việc khách quan (hình và ý gặp nhau).
+ Xét như một thành quả sáng tạo, cấu tứ là sự cắt nghĩa, lí giải, khái quát hiện
tượng đời sống bằng một hình tượng tổng quát có sức chi phối toàn bộ cảm thụ,
suy tưởng và miêu tả nghệ thuật trong tác phẩm. Tức là xây dựng một ý tưởng bao
quát toàn bài, liên kết những cảm xúc, suy nghĩ và hình ảnh biểu hiện trong dạng
cấu tạo và phát triển của hình tượng thơ.
=> Tóm lại, cấu tứ là cách cấu tạo và phát triển của hình tượng thơ:
+ Tứ là linh hồn của tác phẩm, cung cấp một thế đứng, một cách nhìn, cách cảm
nhận để thâm nhập vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Cấu tứ là một hình thế
giới nghệ thuật của tác phẩm, là quan niệm nghệ thuật về thế giới và con người của
nó.
+ Để cấu tạo tứ, trước hết phải có tình. Song những tình cảm phải được tổ chức lại
chặt chẽ và phục vụ cho chủ đề chung của toàn bài thơ để tình cảm không bị phân
tán, ý tưởng được liên kết lại trong một cấu tạo chung và phát triển một cách hợp
lý.
Tuy nhiên, có tư hay chưa hẳn có một sáng tác hay. Tứ thơ phải được đắp bồi cụ
thể bằng cảm xúc, hình ảnh và ngôn ngữ chọn lọc. Có những sáng tác mà tứ được
tạo thành gần gũi nhau nhưng vẫn mang sắc thái và gương mặt riêng biệt.
4. Ví dụ về tứ thơ và cấu tứ
4.1. Ví dụ Phân tích tứ thơ và cấu tứ trong bài thơ Tây tiến - Quang Dũng
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Con đường lên miền Tây Bắc của Tổ quốc với đèo
cao, dốc đứng hoang vu, hiểm trở mà cũng đầy thơ mộng với những vẻ đẹp tuyệt
vời. Trên con đường ấy, những chàng trai dũng cảm hào hoa đã ra đi chiến đấu, có
người nằm lại mãi mãi nơi chiến trường song hình ảnh của họ sẽ bất tử trong lòng
đất mẹ quê hương và sẽ bất tử trong lòng những người còn sống. Và mảnh đất Tây
Bắc của Tổ quốc vô cùng khắc nghiệt, đầy ắp hiểm nguy sẽ trở thành kỉ niệm
không thể nào quên chính bởi vì nó chứa đựng cả cuộc sống và cả một phần đời
không thể nào quên của những con người dám sống và dám dâng hiến đời mình
cho Tổ quốc.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Nỗi nhớ da diết, cồn cào mãnh liệt choán ngợp cả tâm hồn.
+ Niềm xúc động mãnh liệt (ngạc nhiên, ngỡ ngàng, say mê đắm đuối) khi kỉ niệm
ùa về tràn ngập trong tâm hồn.
+ Nỗi đau hòa quyện với niềm tự hào, ngưỡng mộ.
- Suy nghĩ:
+ Núi rừng Tây Bắc xa xôi lạ lùng mà quyến rũ vô cùng với người lính trẻ.
+ Cuộc sống ở Tây Bắc độc đáo trong những sinh hoạt văn hóa và dữ dội trong vẻ
hoang vu hiểm trở đầy bí ẩn của thiên nhiên.
+ Người lính với chất trẻ trong tâm hồn và sự trong sáng của lý tưởng, lẽ sống đã
hết mình trong những cảm xúc lãng mạn và cũng trọn vẹn trong sự dâng hiến cho
Tổ quốc, quê hương. Chính cuộc sống hết mình ấy đã khiến họ trở thành bất tử.
- Hình ảnh:
+ Thiên nhiên Tây Bắc với đèo cao, dốc đứng, mây núi, mưa rừng, cọp vờn, thác
đổ...
+ Cuộc sống giữa thiên nhiên Tây Bắc: thi vị với khói sương bảng lảng, hoa lau
phơ phất, hồn lau lẩn quất, dáng người thật mảnh, con thuyền thật nhỏ, dòng nước
thật dữ dội và cỏ hoa cũng thật tình tứ với con người.
+ Đêm lễ hội: ánh sáng của đuốc, âm thanh của khèn và bóng dáng thiếu nữ.
+ Người lính: diện mạo khác lạ (vừa khắc khổ vừa dữ dằn), tư thế lẫm liệt (một đi
không trở lại), ngay trong cái chết, sự hi sinh vẫn tỏa ra hào quang của một tinh
thần bất khuất.
+ Con đường lên Tây Bắc: xa xôi, mờ mintj và hiểm trở vì nó đi qua bao miền đất
lạ để hướng ra chiến trường.
* Dạng cấu tạo và sự phát triển của hình tượng thơ:
- Dạng cấu tạo: song hành, đan cài hai hình tượng - hình tượng không gian Tây
Bắc hoang dã, hùng vĩ và mĩ lệ; hình tượng người lính oai dữ mà tinh nghịch, hào
hoa mà cũng rất hào hùng.
- Sự phát triển của hình tượng thơ:
+ Hình tượng không gian Tây Bắc được khám phá và tái hiện ở cả ba chiều: chiều
lên cao ngất, ngước mãi lên vẫn không có điểm dừng (thăm thẳm, ngàn thước lên
cao, súng ngửi trời); chiều xuống cũng gợi gian khổ hiểm nguy không kém ("ngàn
thước xuống" từ đỉnh núi, đến lưng chừng là "thác gầm thét" và tận cùng là mặt
sông "gầm lên khúc độc hành"); chiều ngang mở rộng hút tầm mắt trong mưa mù
và sương núi mà hình ảnh "nhà ai" đầy phiếm chỉ ở xa xôi như một dấu chấm nhòe.
Trong ba chiều không gian ấy, núi rừng Tây Bắc hiện lên vừa hoành tráng, hùng
vĩ, hiểm trở đến kì lạ, vừa thơ mộng huyền ảo lung linh rực rỡ đến kì lạ vừa không
hiếm những nét bình dị thân thương ấm áp đến lạ lùng.
+ Hình tượng người lính được khám phá từ diện mạo đến nội tâm, từ tư thế đến lý
tưởng, lẽ sống. Nếu hình tượng không gian vận động theo nhiều chiều để đạt đến
giới hạn tối đa của sự phóng khoáng thì hình tượng con người chỉ vận động theo
hướng làm sáng lên chân dung bất khuất của tâm hồn với lẽ sống cao cả: từ tinh
nghịch đến nghiêm trang, từ trẻ trung đến sâu sắc, từ cái oai dữ của diện mạo đến
cái cao cả, bất khuất của tư thế, của lý tưởng, lẽ sống.
4.2. Ví dụ phân tích tứ thơ và cấu tứ bài thơ Việt Bắc- Tố Hữu
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Vùng đất chiến khu Việt bắc đã trải qua bao tháng
ngày gian khổ, vất vả mà cũng tràn đầy những niềm vui cuộc sống và niềm vui
kháng chiến. Trong giờ phút chia tay, tất cả đã trở về trong kí ức thật xúc động và
thiêng liêng. Nhưng lần chia tay này không phải để cách xa mà chia tay song cũng
là gắn bó bên nhau vì ta đã giành được độc lập, ta đã có Đảng, có Bác Hồ, có Nhân
dân cần cù mà anh dũng và luôn gắn bó thủy chung, thắm thiết ân tình nghĩa tình
cách mạng.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Nỗi nhớ da diết, vấn vít với tất cả những gì đã thành kỉ niệm giữa người ở lại với
người ra đi, giữa người kháng chiến với mảnh đất chiến khu kháng chiến.
+ Niềm tự hào và tin tưởng - tự hào về những chiến công oanh liệt, tin tưởng vào
Đảng, vào Bác Hồ và vào tương lai cuộc sống mới.
+ Niềm vui trong cuộc sống kháng chiến và niềm vui chiến thắng.
- Suy nghĩ:
+ Cuộc kháng chiến gian khổ đã kết thúc thắng lợi, chúng ta đã bảo vệ được nền
độc lập, tự do. Được trở về thủ đô Hà Nội là niềm hạnh phúc. Song điều đó không
có nghĩa là chúng ta sẽ quên những thánh ngày gắn bó ân tình, nghĩa tình với mảnh
đất này bởi đây không đươn giản chỉ là một vùng đất mà còn là một phần đời của
tất cả chúng ta - một phần đời với bao nhiêu kỉ niệm, bao niềm vui, bao ân tình
thắm thiết.
+ Trong cuộc kháng chiến vô cùng gian khổ đó, những người kháng chiến đã gắn
bó đoàn kết với nhau, gắn bó với chiến khu kháng chiến như quê hương, như người
thân yêu ruột thịt. Sự đoàn kết đồng lòng đã cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng
quân thù, để làm tỏa sáng gương mặt quê hượng.
+ Thắng lợi ngày hôm nay chỉ là sự khởi đầu, chúng ta cần bước tiếp trên con
đường đi tới, vừa xây dựng, vừa chiến đấu để bảo vệ và nhân lên những thành quả
mà ta đã có.
- Hình ảnh:
+ Hình ảnh thiên nhiên
+ Hình ảnh con người
+ Hình ảnh cuộc sống
+ Hình ảnh cuộc kháng chiến
* Dạng cấu tạo và sự phát triển của hình tượng thơ:
- Dạng cấu tạo: Dựng lên không khí của một buổi chia tay giữa người ở lại và
người ra đi. Trong không khí đó, những người kháng chiến đã bày tỏ một cách
chân thành xúc động nỗi nhớ thương, niềm lưu luyến với cảnh vật, với con người,
với quãng đời gắn bó thắm thiết bên nhau. Từ không khí của cuộc chuyện trò, từ
những lời tâm tình trò chuyện, gương mặt của Việt Bắc dần được bộc lộ và khẳng
định với tư cách là một diện không gian, một giới hạn thời gian và thăm thẳm bao
la gương mặt tâm hồn dân tộc.
- Sự phát triển của hình tượng thơ: Hình tượng Việt Bắc được triển khai từ rất
nhiều góc độ.
+ Không gian: chiến khu kháng chiến vừa mênh mông phóng khoáng với rừng,
núi, đèo, suối vừa gần gũi thân thương với làng bản, đèo dốc, ngôi nhà, bếp lửa...
Điều quan trọng là trong không gian ấy luôn thấp thoáng bóng dáng người thân,
người thương đi về.
+ Thời gian: 15 năm gắn bó từ thời kì tiền khởi nghĩa đến khi cuộc kháng chiến kết
thúc thắng lợi - đó là thời gian ta có mình, mình có ta, mình và ta cùng nhau chia
sẻ mọi ngọt bùi, cay đắng.
+ Con người: tảo tần, thầm lặng trong lao động, thắm thiết ân tình trong cuộc sống
và mạnh mẽ kiên cường trong chiến đấu.
+ Cuộc sống: vất vả gian nan song cũng tràn đầy niềm vui bởi con người có tinh
thần lạc quan và có sức mạnh của ý chí chiến đấu.
+ Cuộc chiến đấu: hào hùng, quyết liệt. Đó không chỉ là cuộc chiến đấu của từng
cá nhân mà của mọi cá nhân, không chỉ là cuộc chiến đấu của con người mà là của
cả thiên nhiên đất trời. Dường như cả non sông, đất nước, hoa lá cỏ cây cũng đang
bước vào trận đánh với con người. Bởi vậy mà khi chiến thắng, niềm vui chiến
thắng cũng như lan tỏa trong lòng người và cả không gian đất trời Việt Bắc.
---> Hình tượng Việt Bắc hiện lên vừa mang tầm vóc sử thi vừa thấm đẫm nghĩa
tình, ân tình cách mạng.
4.3. Phân tích cấu tứ và tứ thơ bài thơ Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên
1. Ý tưởng bao trùm (tứ thơ): Những con tàu sẽ lăn bánh rời ga tới những miền
đất lạ, những miền đất xa xôi của Tổ quốc để chắp cánh cho những giấc mơ được
đi tới, được tắm mình trong cuộc sống của nhân dân để tận hưởng trọn vẹn dòng
sữa ngọt thơm của cuộc đời mà nuôi dưỡng cho khát khao sáng tạo.
2. Cấu tứ:
* Cảm xúc, suy nghĩ, hình ảnh:
- Cảm xúc:
+ Những băn khoăn trăn trở trước tiếng gọi từ cuộc sống đang vang lên thiết tha,
giục giã và trước sự thôi thúc từ trong chính tâm hồn mình.
+ Niềm tự hào và xúc động về những hi sinh gian khổ và ý nghĩa thiêng liêng của
cuộc kháng chiến.
+ Nỗi khát khao được trở về gặp lại nhân dân và niềm biết ơn sâu sắc đối với công
lao, tấm lòng và ân nghĩa mà nhân dân đã dành cho nhà thơ.
+ Nỗi nhớ da diết với Tây Bắc, với đất và người Tây Bắc cũng chính là với phần
máu thịt trong tâm hồn mình.
+ Những cảm xúc sôi nổi, náo nức trào dâng thành khát vọng được tắm mình trong
cái rộng lớn, phóng khoáng của cuộc sống.
---> Cảm xúc được vận động và chuyển hóa trong quá trình nhận thức về cuộc
sống, về nhân dân, đất nước của nhà thơ. Càng đi đến những chiều sâu mới trong
nhận thức về đất nước và nhân dân, cảm xúc thơ càng phong phú, dào dạt và sâu
sắc, mãnh liệt hơn - thể hiện qua giọng thơ càng về cuối càng tăng độ dào dạt,
nồng nhiệt.
Đặc biệt, cảm xúc thơ luôn được nung nóng trong lí trí, in đậm vệt suy lý, thường
chuyển hóa thành tư tưởng tạo nên sự giao hoán, chuyển hóa của Đất (Tây Bắc) và
Tâm hồn, giữa Con tàu và Lòng ta khiến câu thơ CLV vừa dào dạt, vừa sâu sắc.
- Suy nghĩ:
+ Cuộc sống không ngừng cất tiếng gọi để giục giã con người hãy mang trí tuệ và
tâm hồn mình để góp sức dựng xây nhằm tạo nên một đất nước lớn mạnh.
+ Trong cuộc kháng chiến trường kì, biết bao xương máu đã đổ xuống để có được
ngày thắng lợi. Những gian lao, hi sinh và chiến thắng vinh quang của chúng ta
trong kháng chiến mãi mai là ánh sáng soi tỏ con đường đi tới - soi tỏ ở cái ý
nghĩa, cái chân lý mà nó khắc ghi: phải dám sống hết mình, dám dâng hiến tất cả
cuộc sống của mình mới có thể có được thành quả to lớn ấy. Sự dâng hiến này
không thể chỉ là của một người mà của tất cả nhân dân. Chính nhân dân trong
những hi sinh thầm lặng, trong những cống hiến hết mình đã làm nên chiến thắng,
đã nuôi dưỡng sự sống và niềm tin tương lại. Cho nên, đến với nhân dân chính là
đến với suối nguồn vô tận để tâm hồn được tưới mát mà nảy nở những yêu thương.
Và ngược lại, mang trái tim dào dạt tình yêu thương đến với cuộc đời, cuộc đời sẽ
trở nên thân thương như máu thịt.
+ Trước tiếng gọi thiết tha như không thể nào cưỡng lại của cuộc sống - thiết tha
như tiếng gọi của tình yêu, của tình ruột thịt, con tàu của tâm hồn người nghệ sĩ
như có thêm đôi cánh bay bổng để bay về tắm mình trong suối ngọt đồng thơm của
cuộc sống nhân dân, để được hưởng trọn dòng sữa ngọt ngào và tâm hồn bay lên
trong khát khao sáng tạo.
- Hình ảnh:
+ Hình ảnh của cuộc sống: bản sương giăng, đèo mây phủ, rừng thưa - rừng rậm,
lửa hồng, vắt xôi... (không gian Tây Bắc), chiếc áo nâu, phong thư, tóc bạc... (con
người Tây Bắc).
+ Hình ảnh ẩn dụ: nai về suối cũ, vàng ta đau trong lửa, hòn máu cắt...
+ Hình ảnh biểu tượng với cái cụ thể của diện mạo và sức khái quát trong chiều sâu
ý nghĩa: tàu đói những vầng trăng, trái đầu xuân, đôi cánh vội, mặt hồng em trong
suối lớn mùa xuân.
---> Hình ảnh được kết nối với nhau thành chuỗi, tầng tầng lớp lớp như một rừng
biểu tượng thể hiện cái sâu sắc của suy nghĩ và sự phóng khoáng, phong phú của
xúc cảm.
- Hình tượng:
+ Con tàu - hóa thân của tâm hồn người nghệ sĩ: vận động rất linh hoạt - có khi
tách ra để cất lên tiếng gọi thiết tha giục giã, có khi nhập vào với cảm xúc của tâm
hồn thơ, mang đôi cánh của tâm hồn để náo nức, vội vã bay đến khám phá những
miền đất mới. Là con tàu của tâm tưởng nên nó không mang đặc điểm, ý nghĩa sự
vật mà chứa đựng những đặc điểm thế giới nội cảm ở nhà thơ với khát vọng vươn
xa đến với cuocj đời và khát khao sáng tạo. Vì thế, nói về con tàu mà không có
tiếng còi tàu, chỉ có "tiếng gió ngàn đang rú gọi", không có hành động chuyển
bánh, chỉ có "tàu vỗ giùm ta đôi cánh vội", "tàu mộng tưởng", "tàu uống những
vầng trăng". (CLV không xây dựng hình tượng con tàu mà xây dựng hình tượng
"tiếng hát con tàu", ông cũng đã khẳng định "lòng ta đã hóa những con tàu").
Hành trình của con tàu là đi từ Hà Nội lên Tây Bắc, từ cuộc sống cá nhân chật hẹp
đến không gian phóng khoáng và ngồn ngộn chất sống của cuộc sống nhân dân.
Trong cuộc hành trình ấy, càng đi sâu vào cuộc sống nhân dân, nhịp đi của con tàu
càng thêm náo nức, sôi nổi, gấp gáp. Khi con tàu uống những vầng trăng - uống
trọn vẹn vẻ đẹp của đời sống cũng là khi tâm hồn người nghệ sĩ bộc lộ trọn vẹn
tình yêu với cuộc đời.
+ Tây Bắc - hiện thân sinh động của cuộc sống nhân dân: trong quá khứ, TB gắn
với cuộc kháng chiến - "xứ thiêng liêng", mảnh đất "anh hùng", nơi ân tình được
hình thành, nơi chứng kiến những hi sinh, dâng hiến thầm lặng; trong hiện tại, TB
gắn với cuộc sống đang dạt dào nguồn sống trong từng âm thanh, từng gương mặt,
từng hình ảnh không gian, từng sắc thái, hương vị ngọt ngào.
 








Các ý kiến mới nhất