SỦ DỤNG BỘ CÂU HỎI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC LÝ 12

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 15h:09' 16-03-2026
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 1
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Trọng Kỳ Anh
Ngày gửi: 15h:09' 16-03-2026
Dung lượng: 2.4 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Giáo dục phổ thông Việt Nam đang bước vào giai đoạn
chuyển đổi toàn diện, lấy việc phát triển phẩm chất và năng lực
người học làm trung tâm. Định hướng này được xác lập rõ trong
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế”. Theo đó, giáo dục phổ thông phải chuyển
mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất học sinh, trong đó năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tiễn và giải quyết vấn đề được xem là trụ cột quan trọng.
Cụ thể hóa chủ trương đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, theo
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018. Chương
trình mới nhấn mạnh việc tổ chức hoạt động học tập theo hướng
phát triển phẩm chất, năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và khả năng tự học của học sinh. Môn Vật lí được xác
định không chỉ là môn khoa học tự nhiên thuần túy mà còn là
công cụ phát triển tư duy logic, tư duy hệ thống, khả năng vận
dụng kiến thức vào các tình huống trong đời sống, kỹ thuật và
công nghệ.
Bên cạnh đó, để tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình
mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số
5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 hướng dẫn xây dựng kế
hoạch giáo dục của nhà trường. Trong công văn này, Bộ đặc biệt
yêu cầu giáo viên phải thiết kế các hoạt động học tập theo hướng
phát triển năng lực, gắn với thực tiễn, đa dạng hóa hình thức tổ
chức dạy học và phương pháp đánh giá. Đây là cơ sở pháp lý và
chuyên môn quan trọng để giáo viên xây dựng các hoạt động học
tập tích cực, hiệu quả, sát thực tế.
Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy và bồi dưỡng học sinh
giỏi lớp 12 môn Vật lí, tôi nhận thấy một khoảng trống khá rõ ràng
giữa kiến thức học thuật và năng lực vận dụng thực tiễn của học
sinh. Phần lớn các em học sinh giỏi có thể thành thạo giải những
bài toán khó, thậm chí ở mức độ quốc gia, nhưng lại lúng túng khi
gặp những câu hỏi gắn với tình huống đời sống thực tế. Khi cần lý
giải nguyên lý hoạt động của một thiết bị, phân tích một hiện
tượng vật lí thực tiễn hoặc trả lời ngắn gọn, logic một câu hỏi
mang tính phản biện – các em thường bị động, thiếu lập luận và
kém phản xạ. Điều này cho thấy, học sinh giỏi tuy có tư duy phân
tích và năng lực tiếp nhận kiến thức tốt nhưng lại chưa được rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách có hệ
thống.
Nguyên nhân phần lớn xuất phát từ chính cách thiết kế bài
học trong các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi. Giáo viên thường tập
trung vào bài tập kỹ thuật, tính toán thuần túy, mô hình hóa cao
mà ít dành thời gian cho việc phân tích hiện tượng, xử lý ngữ cảnh
đời sống, xây dựng tình huống gắn thực tiễn. Việc sử dụng các
định dạng câu hỏi mới như trắc nghiệm gắn tình huống, câu hỏi
đúng/sai có lý giải, hoặc dạng trả lời ngắn với yêu cầu phản biện
nhanh – dù xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi gần đây –
nhưng vẫn chưa được khai thác đầy đủ trong quá trình dạy học.
Điều đáng nói là chương trình Vật lí lớp 12 không hề thiếu
những cơ hội để tích hợp ứng dụng thực tiễn. Những bài học về
nhiệt động lực học hoàn toàn có thể liên hệ đến các hệ thống điều
hòa, xử lý nhiệt công nghiệp, bảo quản năng lượng. Kiến thức về
khí lí tưởng là nền tảng để giải thích các hiện tượng trong y học,
hàng không, đóng gói thực phẩm. Các chủ đề về từ trường, cảm
ứng điện từ, máy phát điện, máy biến áp… có thể trở thành cầu
nối giúp học sinh hiểu sâu hơn về hạ tầng năng lượng quốc gia, hệ
thống điện gia dụng và công nghiệp. Còn vật lí hạt nhân, nếu
được trình bày đúng cách, sẽ không chỉ là chuỗi công thức, mà là
câu chuyện về năng lượng sạch, y học hiện đại, và những ứng
dụng sâu rộng trong tương lai.
Chính từ sự mâu thuẫn giữa yêu cầu của chương trình – định
hướng đổi mới – yêu cầu của đề thi học sinh giỏi – và thực trạng
dạy học hiện tại, tôi nhận thấy sự cần thiết phải điều chỉnh cách
tiếp cận nội dung, đặc biệt trong bồi dưỡng học sinh giỏi. Việc vận
dụng kiến thức thực tiễn không chỉ làm bài học sinh động hơn, mà
còn góp phần rèn luyện tư duy tổng hợp, khả năng nhận diện vấn
đề, phản xạ lập luận nhanh và phát triển tư duy phản biện –
những năng lực cốt lõi mà một học sinh giỏi vật lí cần có trong
thời đại mới.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi quyết định triển khai sáng kiến
với đề tài: “Vận dụng kiến thức thực tiễn trong dạy học Vật
lí nhằm phát triển năng lực học sinh giỏi lớp 12”, với mong
muốn góp phần hoàn thiện định hướng dạy học phát triển năng
lực, nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi và tạo ra những
tiết học vật lí sâu sắc – thực tiễn – truyền cảm hứng.
Sáng kiến này không chỉ nhằm đổi mới một vài tiết học, một
vài hình thức kiểm tra, mà hướng đến việc kiến tạo một môi
trường học tập giàu thách thức, giàu tính khám phá, nơi học sinh
giỏi được rèn giũa khả năng vận dụng kiến thức vật lí như một
công cụ trí tuệ sắc bén để hiểu thế giới, lý giải đời sống và khẳng
định bản thân bằng tư duy khoa học và tinh thần học thuật.
II. MÔ TẢ NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Mô tả thực trạng, hạn chế, nhu cầu cần thiết trước khi
có sáng kiến
Trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12
môn Vật lí tại các trường trung học phổ thông hiện nay, vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập mang tính hệ thống. Một trong những thực
trạng rõ nét nhất là sự lệch pha giữa yêu cầu phát triển năng lực
học sinh theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông
mới với cách tổ chức dạy học thực tế ở nhiều cơ sở giáo dục. Dù
chương trình đã nhấn mạnh đến việc tăng cường vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, phát triển tư duy phản biện và giải quyết vấn
đề, nhưng trong quá trình dạy học học sinh giỏi, giáo viên vẫn có
xu hướng tập trung nhiều vào các dạng bài tập tính toán thuần
túy, kỹ thuật biến đổi công thức và khai thác các dạng toán nâng
cao truyền thống, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến việc
rèn luyện năng lực vận dụng thực tế và khả năng trình bày, lập
luận ngắn gọn – những yêu cầu quan trọng trong các kỳ thi học
sinh giỏi hiện nay.
Bên cạnh đó, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia trong
những năm gần đây đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt ở phần câu
hỏi mở, câu hỏi có ngữ cảnh thực tiễn, dạng đúng/sai có lý giải
hoặc yêu cầu học sinh viết câu trả lời ngắn để giải thích hiện
tượng. Tuy nhiên, phần lớn học sinh giỏi hiện nay vẫn chưa được
làm quen đầy đủ với các định dạng đề thi này. Các em thường giỏi
tính toán, hiểu lý thuyết sâu nhưng lại thiếu khả năng vận dụng
vào hiện tượng đời sống, thiếu kỹ năng phân tích hiện tượng vật lí
gắn với thực tiễn công nghệ, và đặc biệt yếu trong việc trình bày
lý lẽ một cách rõ ràng, logic trong thời gian ngắn. Chính điều đó
khiến một bộ phận học sinh dù học giỏi nhưng lại không đạt kết
quả cao khi tham gia các kỳ thi có yếu tố đổi mới phương pháp
đánh giá năng lực.
Một thực trạng khác không thể bỏ qua là việc thiếu hệ thống
bài tập, câu hỏi và tình huống dạy học thực tiễn được thiết kế
chuyên biệt cho đối tượng học sinh giỏi. Trong khi các em cần
được thử thách bằng những tình huống thực tế có chiều sâu, yêu
cầu kết hợp kiến thức đa bài học, đa chủ đề, thì nội dung tài liệu
bồi dưỡng hiện hành phần lớn vẫn chỉ dừng ở mức độ khai thác
toán học nâng cao hoặc bài toán lí thuyết khô khan. Giáo viên
cũng gặp không ít khó khăn trong việc thiết kế những bài học có
yếu tố ứng dụng, do thiếu thời gian, thiếu tài liệu mẫu, hoặc chưa
có cơ sở để đánh giá hiệu quả của những cách dạy học mới.
Ngoài ra, trong môi trường học sinh giỏi, sự cạnh tranh và áp
lực thành tích khiến việc rèn luyện các năng lực mềm như kỹ năng
trình bày ngắn gọn, tư duy phản biện, khả năng phản xạ nhanh
trước câu hỏi thực tế… thường bị xem nhẹ. Nhiều giáo viên và học
sinh vẫn đặt nặng thành tích giải bài hơn là năng lực diễn đạt,
phân tích, kết nối và vận dụng vào đời sống – trong khi đây lại là
những kỹ năng cốt lõi mà giáo dục hiện đại hướng đến.
Từ những thực trạng đó, có thể khẳng định rằng, nhu cầu đổi
mới phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng tăng cường
vận dụng kiến thức thực tiễn, thiết kế các hoạt động học tập linh
hoạt, xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tình huống, đúng/sai
có lý giải và câu trả lời ngắn là vô cùng cần thiết. Việc đưa thực
tiễn vào dạy học học sinh giỏi không chỉ là một giải pháp mang
tính “làm mới tiết học”, mà là sự thay đổi về tư duy, về mục tiêu
đào tạo, về cách xây dựng năng lực học sinh – một sự thay đổi
mang tính bản chất và bền vững.
Đó chính là lý do tôi xác định phải triển khai một sáng kiến
có chiều sâu, có khả năng tác động lâu dài đến cả quá trình bồi
dưỡng học sinh giỏi lẫn kết quả dự thi của các em. Từ thực tế lớp
học, từ yêu cầu của chương trình và từ xu hướng đổi mới thi cử,
tôi tin rằng việc vận dụng kiến thức thực tiễn vào dạy học học
sinh giỏi Vật lí là một hướng đi vừa đúng đắn, vừa cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1. Giải Pháp 1: Xây Dựng Hệ Thống Tình Huống Thực
Tiễn Kèm Câu Hỏi 3 Dạng
Trong những năm gần đây, xu hướng đổi mới đánh giá học
sinh theo hướng tiừ duy và vận dụng ngày càng được nhấn mạnh
trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi. Đặc biệt trong môn Vật lý lớp
12, các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, quốc gia đã chuyển dần từ
các dạng bài tính toán không gian thuần túy sang các dạng bài
tình huống thực tiễn, yêu cầu học sinh không chỉ tính toán chính
xác mà còn phân tích hiện tượng, lý giải, và trình bày một cách
logic.
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy cho thấy nhiều học sinh giỏi dù
thực sự giỏi về toán học, về nắm kiến thức đối với các chủ đề
trong sách giáo khoa, nhưng lại tỏ ra lung tung hoặc trả lời một
cách mờ hồ khi gặp câu hỏi dạng "mô tả hiện tượng trong đời
sống", hoặc các câu hỏi có liên quan đến ứng dụng khoa học,
công nghệ. Vấn đề nằm ở đây: học sinh chưa được rèn kỹ năng
"kết nối kiến thức với đời sống", chưa được tiếp cận các dạng câu
hỏi thực tiễn ngay trong giờ học.
Trước thực trạng trên, giải pháp đặt ra là: Sưu tầm, chọn lọc
và biên soạn các câu hỏi tình huống thực tiễn trong đề thi HSG
các tỉnh, sau đó thiết kế lại dưới dạng đánh giá theo 3 cấp độ: câu
hỏi trắc nghiệm, câu hỏi đúng sai, câu hỏi trả lời ngắn.
Khác với việc chỉ sử dụng bài tập sách giáo khoa hoặc bài
tập nâng cao theo mô hình trừu tượng, việc biên tập các câu hỏi
từ đề HSG giúp:
Đảm bảo tính thực tiễn đã được kiểm định bằng thực tế ra
đề
Tổng hợp nhiều góc độ về kiến thức, đáp ứng chuẩn nâng
cao
Giúc học sinh dễ hình dung các hiện tượng trong đời sống
dưới góc độ vật lý
Trong quá trình triển khai, giáo viên có thể tích hợp các tình
huống thực tiễn đã thiết kế vào các buổi bồi dưỡng học sinh giỏi
bằng phương pháp dạy học tích cực. Học sinh sẽ được yêu cầu
làm việc cá nhân để đưa ra hướng giải quyết ban đầu, sau đó trao
đổi theo cặp hoặc nhóm nhỏ để thảo luận về lựa chọn đáp án,
phân tích lý do, phản biện và củng cố lập luận. Việc tổ chức thảo
luận theo nhóm không chỉ khơi dậy tư duy phản biện mà còn giúp
học sinh nâng cao năng lực diễn đạt ý tưởng bằng ngôn ngữ vật lí.
Giải pháp này giúp phát huy tối đa năng lực vận dụng kiến
thức vào thực tiễn của học sinh giỏi, đồng thời tạo nên điểm nhấn
riêng cho tiết học – nơi mà Vật lí không chỉ là công thức mà còn là
công cụ để giải thích, phân tích và tư duy hiện tượng xung quanh.
Nhờ vậy, hạn chế lâu nay là học sinh giỏi thường mạnh lý thuyết
nhưng yếu trong ứng dụng thực tiễn từng bước được khắc phục
một cách hiệu quả.
Bộ câu hỏi theo từng chương
Chương 1: Vật Lí Nhiệt
Câu 1. Trước mỗi đợt mưa dông, không khí trở nên oi nóng là do
A. hơi nước biển bốc lên mang khí nóng vào bên trong đất liền.
B. hơi nước ngưng tụ thu nhiệt của không khí.
C. hơi nước ngưng tụ tỏa nhiệt ra không khí.
D. hơi nước ngưng kết tỏa nhiệt ra không khí.
Câu 2. Một khinh khí cầu dùng nhiệt có thể tích quả cầu khí nóng
là V = 500 m3, thể tích các phần còn lại xem như không đáng kể.
Tổng khối lượng của hệ thống và tải là m0 = 200 kg. Không khí có
áp suất đo được là p = 720 mmHg, nhiệt độ là t = 27 0C. Lấy g =
10 m/s2. Biết khối lượng riêng của không khí ở điều kiện tiêu
chuẩn
là ρ0 = 1,29 kg/m3. Nhiệt độ trung bình
tối thiểu của quả cầu khí nóng để hệ thống này có thể bay lên là
A. 486,50C. B. 468,50C.
C. 195,50C.
D. 213,50C.
Câu 3: Để đúc các vật bằng thép; người ta phải nấu
chảy thép trong lò. Thép đưa vào lò có nhiệt độ
,
hiệu suất của lò là
, nghĩa là
nhiệt lượng cung
cấp cho lò được dùng vào việc đun nóng thép cho
đến khi thép nóng chảy. Để cung cấp nhiệt lượng,
người ta đã đốt hết 200 kg than đá có năng suất toả
nhiệt là
. Cho biết thép có:
; nhiệt độ nóng
chảy là
; nhiệt dung riêng ở thể rắn là
. Khối lượng
của mẻ thép nấu chảy gần với giá trị nào trong các giá trị sau?
A. m = 5843 kg.
B. m = 6458 kg.
C. m = 5145 kg.
D. m = 6543 kg.
Câu 4: Nội năng của vật trong hình nào sau đây đang giảm?
A. Hình 4.
B. Hình 1.
C. Hình 3.
D. Hình 2.
Câu 5. Đổ nước đá vào trong một cốc thủy tinh (không
thủng hay vỡ), một lát sau bên ngoài thành cốc xuất
hiện những giọt nước. Những giọt nước này được hình
thành là do quá trình
A. ngưng tụ.
B. ngưng kết.
C. đông đặc.
D. nóng chảy.
Câu 6: Về mùa đông ở các xứ lạnh ta thấy người đi thường thở ra
“khói” là do hơi thở của người
A. có nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị bay hơi tạo
thành khói.
B. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị ngưng
tụ thành các hạt nhỏ li ti tạo thành khói.
C. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị đông
đặc thành đá tạo thành khói.
D. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị hoá hơi
thành đá tạo thành khói.
Câu 7: Xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là
một làng nghề, với nghề truyền thống đúc đồng được truyền qua
nhiều đời cho đến nay. Giả sử ở làng nghề, người ta tiến hành đúc
một quả chuông bằng đồng nguyên chất có khối lượng 20 kg. Biết
nhiệt độ nóng chảy, nhiệt nóng chảy riêng, nhiệt dung riêng của
đồng lần lượt là: t = 1084 oC;
; c = 380 J/kg.K; nhiệt độ
ban đầu của môi trường và hỗn hợp nguyên liệu là 27 oC. Coi phần
năng lượng nhiệt tỏa ra môi trường xung quanh không đáng kể;
lượng nguyên liệu dùng là vừa đủ. Nhiệt lượng tối thiểu cần cung
cấp để đúc quả chuông trên xấp xỉ bằng
A. 11,6 MJ.
B. 3,6 MJ.
C. 21,6 MJ.
D. 9,6 MJ.
Câu 8: Trong tập huấn cứu hỏa,
đồng chí cảnh sát phòng cháy chữa
cháy nhắc mọi người khi sử dụng
bình cứu hỏa khí nén CO2 không
được cầm tay vào loa xịt mà phải
cầm vào vòi xịt (như hình minh họa)
vì nếu cầm tay vào loa xịt có thể bị
bỏng lạnh do loa xịt sẽ rất lạnh. Vậy
tại sao loa xịt lại rất lạnh khi sử dụng
bình?
A. Do khí trong bình được giữ ở nhiệt độ 0 oC nên khi xịt ra khỏi bình
khí rất lạnh làm loa xịt lạnh rất nhanh.
B. Do khí trong bình được nén ở áp suất cao nên tồn tại ở dạng
lỏng, khi được xịt ra ngoài nó chuyển sang dạng hơi ở loa, quá
trình chuyển thể này truyền nhiệt lượng cho loa làm loa lạnh đi rất
nhanh.
C. Do khí trong bình được nén ở áp suất cao nên tồn tại ở dạng
lỏng, khi được xịt ra ngoài nó chuyển sang thể hơi ở loa, quá trình
chuyển thể này lấy nhiệt lượng từ loa xịt làm loa xịt lạnh rất
nhanh.
D. Do tốc độ bay của khí qua ống loa rất nhanh làm nhiệt độ loa
giảm đi.
Sử dụng các thông tin sau cho Câu 9 và Câu
10. Hạt thóc giống muốn nảy mầm thuận lợi
cần hút nước để đạt độ ẩm cần thiết (thóc no nước) và nhiệt độ
ấm áp (300C - 350C). Muốn vậy, nông dân cần phải ngâm thóc
bằng nước nóng 540C (3 sôi 2 lạnh). Đi vào thực tế. Để xứ lý thóc
giống bằng phương pháp (3 sôi 2 lạnh), người ta ngâm thóc vào
vại (chum) chứa 3 phần nước sôi hòa với 2 phần nước lạnh. Biết
nhiệt độ ban đầu của nước sôi là 100 0C và nước lạnh là 170C. Bỏ
qua sự trao đổi nhię̂t với vại (chum) và môi trường xung quanh.
Câu 9 . Nhiệt độ của nước lạnh bằng bao nhiêu Kelvin?
A. 327 K.
B. 17 K.
C. 373 K.
D. 290 K.
Câu 10. Nhiệt độ của hỗn hợp nước (3 sôi 2 lạnh) sau khi có sự
cân bằng nhiệt bằng bao nhiêu độ Cenxiut?
A. 60,80C.
B. 66,80C.
C. 56,40C.
D. 65,20C.
Sử dụng các thông tin sau cho Câu 11 và Câu 12. Hình bên là sơ
đồ nguyên lí hoạt động của một máy sưởi dùng nước nóng. Nước
nóng được bơm vào ống bên trong máy, hệ thống tản
nhiệt được gắn với ống này. Không khí lạnh được hút
vào trong máy sưởi bằng quạt và được làm ấm lên nhờ
hệ thống tản nhiệt. Mỗi giờ có 575 kg nước nóng được
bơm qua máy. Biết nhiệt độ của nước giảm
khi đi
qua máy; nhiệt dung riêng của nước là
.
Câu 11: Nhiệt độ của nước giảm bao nhiêu kelvin khi đi qua máy
sưởi?
A. 5 K.
B. 278 K.
C. 268 K.
D. 4 K.
Câu 12: Nhiệt lượng tỏa ra từ nước trong mỗi giờ là
A. 12 MJ.
B. 670 MJ.
C. 2,5 MJ.
D. 21 kJ.
Câu 13. Một phương pháp điều trị được đề xuất cho người bị đột
quỵ là ngâm mình trong bồn nước đá tại 0 oC để hạ nhiệt độ cơ
thể, ngăn ngừa tổn thương não. Trong một loạt thử nghiệm,bệnh
nhân được làm mát cho đến khi nhiệt độ bên trong của họ đạt tới
nhiệt độ 32oC. Để điều trị cho một bệnh nhân nặng 70,0 kg, lượng
đá tối thiểu ở 0oC bạn cần cho vào bồn tắm là bao nhiêu để nhiệt
độ của nước trong bồn duy trì ở 0 oC? Nhiệt dung riêng của cơ thể
người là 3480 và nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 334.10 3 ,
xem như nhiệt độ bình thường của cơ thể người là 37 oC .(bỏ qua
sự trao đổi nhiệt với môi trường) ?
A. 3,65kg.
27kg.
B. 2,65k.
C. 3,7kg.
D.
Hướng dẫn giải
Nhiệt lượng do người này cần toả ra để giảm nhiệt cơ thể xuống
32oC
Qng = mcT = 70 . 3480 . 5 = 1,218.106 J
Do đó, lượng nhiệt truyền vào nước đá Qn = m = Qng = 1,22.106 J
m = 3,7 kg
Câu 14. Tại một khu vực núi cao, nhiệt độ nước sôi là 90°C. Nếu
một người muốn
luộc chín một quả trứng trong nước này, thời gian cần thiết sẽ như
thế nào so với việc luộc trứng trong nước sôi ở 100°C ?
A. Thời gian luộc sẽ ngắn hơn do nước sôi ở nhiệt độ thấp hơn .
B. Thời gian luộc không thay đổi vì trứng chín ở 90°C cũng như ở
100°C.
C. Thời gian luộc sẽ dài hơn do nhiệt độ sôi thấp hơn.
D. Không thể luộc chín trứng vì nước không sôi ở 100°C.
Hướng dẫn giải
Ở nhiệt độ thấp hơn (90°C), năng lượng cung cấp cho trứng ít hơn
so với khi nước sôi ở 100°C, khiến thời gian luộc chín trứng tăng
lên
Câu 15. Một đầu tàu hỏa sử dụng động cơ Diezen có công suất
700 kW, trung bình tiêu thụ 164,7 lít dầu Diesel trong 1 h. Biết
khối lượng riêng của dầu 0,85 kg/lít, năng suất tỏa nhiệt của dầu
là 47,3 MJ/kg. Bỏ qua hao phí năng lượng vô ích khác.
a. Nhiệt lượng động cơ thu được trong 1 h là 6600 MJ.
b. Công động cơ sinh ra trong 1 h là 2520 MJ.
c. Hiệu suất của động cơ là 40%.
d. Nếu dùng phần nhiệt lượng tỏa ra cho nguồn lạnh trong 1 h
để đun nước thì đun được 13022 lít nước từ nhiệt độ 25 0C, ở áp
suất 1 bar đến nhiệt độ sôi. Biết nhiệt dung riêng của nước là
4200 J/kg.K, khối lượng riêng của nước là ρ = 1000 kg/m3.
S-Đ-S-S
Câu 16. Hình bên là sơ đồ các hình thức
chuyển thể. Một khối vật chất (thể rắn, lỏng
hoặc khí) cần trao đổi nhiệt với vật khác để
thực hiện quá trình chuyển thể)
a) Thả viên nước đá vào cốc nước nóng, viên nước đá thu nhiệt
lượng từ nước để tan ra, đó là quá trình nóng chảy.
b) Sự hóa hơi diễn ra ở bề mặt chất lỏng gọi là sự bay hơi, do một
số phân tử ở gần mặt thoáng của chất lỏng có động năng đủ lớn,
thắng được lực liên kết với các phân tử chất lỏng khác, thoát khỏi
mặt thoáng và trở thành các phân tử hơi của chất lỏng đó.
c) Theo mô hình động học, trong quá trình chuyển thể của một
khối chất, nếu khoảng cách trung bình giữa phân tử càng tăng thì
lực liên kết giữa chúng càng yếu và trong quá trình đó nhiệt lượng
khối chất đó tỏa ra môi trường càng lớn.
d) Một khối nước đá ở nhiệt độ -5 0C nặng 1 kg, biết nhiệt dung
riêng của nước đá và nước lần lượt là
nhiệt nóng chảy của nước đá là
và
;
nhiệt hóa hơi của nước
là
Nhiệt lượng cần để cung cấp cho khối nước đá đó
bay hơi hoàn toàn ở 1000C là 3069 J.
Đ-Đ-S-S
Câu 17: Trà đá vỉa hè đã là một nét đặc
trưng riêng của phố cổ Hà Nội. Cho trà
vào ấm, rót nước sôi vào ấm, ủ trà
khoảng vài phút rồi đặt ấm vào bình giữ
nhiệt. Khi có khách gọi trà, người bán
hàng rót nước trà từ ấm vào cốc, sau đó
bỏ ít viên nước đá vào cốc, du khách sẽ
được thưởng thức một cốc trà đá thơm
mát.
a) Các viên đá nổi trong cốc trà chứng
tỏ nước ở thể rắn có khối riêng nhỏ hơn
nước ở thể lỏng.
b) Nước đá truyền nhiệt lượng cho
nước trà làm nước trà mát lạnh.
c) Sờ vào cốc trà đá, ta thấy “có nước
bám vào thành cốc”. Đây là do nước
trong cốc bay hơi rồi bám vào thành cốc.
d) Mỗi viên nước đá trước khi bỏ vào
cốc trà có khối lượng 30 g, nhiệt độ
a) -30C. Nhiệt dung riêng của nước đá là
1800 J/kg.K; nhiệt nóng chảy riêng của
nước đá là 3,4.105 J/kg. Để mỗi viên nước
đá nóng chảy hoàn toàn thì cần cung cấp
cho nó một nhiệt lượng 11,3 kJ.
Đ-S-S-S
Câu 18: Thầy Doanh đi mua bình siêu tốc, người bán vì va chạm
trong quá trình lấy bình ra khỏi giá nên thông số trên vỏ ấm bị
biến dạng chỉ còn là 220 V - a W (a là con số bị mất).
Người bán khẳng định công suất ấm là 1800 W. Để kiểm
tra công suất của bình Thầy Doanh đã thực hiện đun
nước như sau:
- Lần 1: dùng bình đun 1 lít nước ở 20 oC sau 3 phút 35
giây thì nước sôi.
- Lần 2: ngay sau lần 1, rót thêm 1 lít nước ở 20 oC vào và đun
trong 3 phút 30 giây nữa thì nước sôi.
Nhiệt ban đầu của bình là 20 oC. Bỏ qua sự tỏa nhiệt ra môi
trường. Cho biết nhiệt dung riêng của nước c = 4200 J/kg.K, khối
lượng riêng của nước D = 1000 kg/m3, điện áp khi bình hoạt động
ổn định bằng 220 V.
a) Nhiệt lượng mà nước thu vào trong lần đun đầu tiên là 336
kJ.
b) Công suất thực chất của bình là 1500 W.
c) Theo công suất người bán hàng đưa ra thì đun lần 2 nước sôi
sau khoảng thời gian 187 s (kết quả làm tròn đến chữ số hàng
đơn vị)
d) Nhiệt lượng mà bình hấp thụ khi thực hiện đun nước là 8 kJ.
Câu 19. Có 30 học sinh tập trung trong một phòng học đóng kín,
cách nhiệt có kích thước 6m 8m 3m . Giả sử thể tích trung bình mỗi
học sinh là 0,05 m3, bỏ qua thể tích và sự hấp thụ nhiệt của đồ
đạc trong phòng. Cho biết tốc độ truyền nhiệt trung bình của mỗi
học sinh ra môi trường là 1500 kcal/ngày. Biết khối lượng riêng
của không khí là 1,2 kg/m3 và nhiệt dung riêng của không khí coi
như không đổi bằng 0,24 kcal/kg.°C. Độ tăng nhiệt độ không khí
trong phòng sau 10 phút bằng bao nhiêu 0C? (kết quả làm tròn
đến 1 chữ số sau dấu phẩy thập phân)
7,5
Câu 20. Trong một hệ đun nước
bằng năng lượng Mặt Trời, năng lượng
Mặt Trời thu thập từ những mặt ngoài
củabộ thu nhiệt, nó làm nước lưu
thông qua các ống của bộ thu nhiệt.
Bức xạ Mặt Trời đi vào trong phần góp
qua các lớp phủ trong suốt, làm nóng
nước trong ống. Nước này được bơm
vào các bình chứa. Giả thiết rằng hiệu
suất của toàn bộ hệ là 15% (nghĩa là
85% năng lượng Mặt Trời bị mất khỏi
hệ). Cường độ của ánh sáng Mặt Trời
2
tới là 700 W/m . Biết nhiệt dung riêng
của nước là 4200 (J/kg.K). Biết khối
kg
1000 3
m . Khi cần nâng nhiệt độ của 200
lượng riêng của n
I. ĐIỀU KIỆN HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN
Giáo dục phổ thông Việt Nam đang bước vào giai đoạn
chuyển đổi toàn diện, lấy việc phát triển phẩm chất và năng lực
người học làm trung tâm. Định hướng này được xác lập rõ trong
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế”. Theo đó, giáo dục phổ thông phải chuyển
mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và
phẩm chất học sinh, trong đó năng lực vận dụng kiến thức vào
thực tiễn và giải quyết vấn đề được xem là trụ cột quan trọng.
Cụ thể hóa chủ trương đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban
hành Chương trình Giáo dục phổ thông năm 2018, theo
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018. Chương
trình mới nhấn mạnh việc tổ chức hoạt động học tập theo hướng
phát triển phẩm chất, năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động,
sáng tạo và khả năng tự học của học sinh. Môn Vật lí được xác
định không chỉ là môn khoa học tự nhiên thuần túy mà còn là
công cụ phát triển tư duy logic, tư duy hệ thống, khả năng vận
dụng kiến thức vào các tình huống trong đời sống, kỹ thuật và
công nghệ.
Bên cạnh đó, để tổ chức thực hiện hiệu quả chương trình
mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn số
5512/BGDĐT-GDTrH ngày 18/12/2020 hướng dẫn xây dựng kế
hoạch giáo dục của nhà trường. Trong công văn này, Bộ đặc biệt
yêu cầu giáo viên phải thiết kế các hoạt động học tập theo hướng
phát triển năng lực, gắn với thực tiễn, đa dạng hóa hình thức tổ
chức dạy học và phương pháp đánh giá. Đây là cơ sở pháp lý và
chuyên môn quan trọng để giáo viên xây dựng các hoạt động học
tập tích cực, hiệu quả, sát thực tế.
Tuy nhiên, qua thực tiễn giảng dạy và bồi dưỡng học sinh
giỏi lớp 12 môn Vật lí, tôi nhận thấy một khoảng trống khá rõ ràng
giữa kiến thức học thuật và năng lực vận dụng thực tiễn của học
sinh. Phần lớn các em học sinh giỏi có thể thành thạo giải những
bài toán khó, thậm chí ở mức độ quốc gia, nhưng lại lúng túng khi
gặp những câu hỏi gắn với tình huống đời sống thực tế. Khi cần lý
giải nguyên lý hoạt động của một thiết bị, phân tích một hiện
tượng vật lí thực tiễn hoặc trả lời ngắn gọn, logic một câu hỏi
mang tính phản biện – các em thường bị động, thiếu lập luận và
kém phản xạ. Điều này cho thấy, học sinh giỏi tuy có tư duy phân
tích và năng lực tiếp nhận kiến thức tốt nhưng lại chưa được rèn
luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách có hệ
thống.
Nguyên nhân phần lớn xuất phát từ chính cách thiết kế bài
học trong các lớp bồi dưỡng học sinh giỏi. Giáo viên thường tập
trung vào bài tập kỹ thuật, tính toán thuần túy, mô hình hóa cao
mà ít dành thời gian cho việc phân tích hiện tượng, xử lý ngữ cảnh
đời sống, xây dựng tình huống gắn thực tiễn. Việc sử dụng các
định dạng câu hỏi mới như trắc nghiệm gắn tình huống, câu hỏi
đúng/sai có lý giải, hoặc dạng trả lời ngắn với yêu cầu phản biện
nhanh – dù xuất hiện trong các đề thi học sinh giỏi gần đây –
nhưng vẫn chưa được khai thác đầy đủ trong quá trình dạy học.
Điều đáng nói là chương trình Vật lí lớp 12 không hề thiếu
những cơ hội để tích hợp ứng dụng thực tiễn. Những bài học về
nhiệt động lực học hoàn toàn có thể liên hệ đến các hệ thống điều
hòa, xử lý nhiệt công nghiệp, bảo quản năng lượng. Kiến thức về
khí lí tưởng là nền tảng để giải thích các hiện tượng trong y học,
hàng không, đóng gói thực phẩm. Các chủ đề về từ trường, cảm
ứng điện từ, máy phát điện, máy biến áp… có thể trở thành cầu
nối giúp học sinh hiểu sâu hơn về hạ tầng năng lượng quốc gia, hệ
thống điện gia dụng và công nghiệp. Còn vật lí hạt nhân, nếu
được trình bày đúng cách, sẽ không chỉ là chuỗi công thức, mà là
câu chuyện về năng lượng sạch, y học hiện đại, và những ứng
dụng sâu rộng trong tương lai.
Chính từ sự mâu thuẫn giữa yêu cầu của chương trình – định
hướng đổi mới – yêu cầu của đề thi học sinh giỏi – và thực trạng
dạy học hiện tại, tôi nhận thấy sự cần thiết phải điều chỉnh cách
tiếp cận nội dung, đặc biệt trong bồi dưỡng học sinh giỏi. Việc vận
dụng kiến thức thực tiễn không chỉ làm bài học sinh động hơn, mà
còn góp phần rèn luyện tư duy tổng hợp, khả năng nhận diện vấn
đề, phản xạ lập luận nhanh và phát triển tư duy phản biện –
những năng lực cốt lõi mà một học sinh giỏi vật lí cần có trong
thời đại mới.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi quyết định triển khai sáng kiến
với đề tài: “Vận dụng kiến thức thực tiễn trong dạy học Vật
lí nhằm phát triển năng lực học sinh giỏi lớp 12”, với mong
muốn góp phần hoàn thiện định hướng dạy học phát triển năng
lực, nâng cao chất lượng bồi dưỡng học sinh giỏi và tạo ra những
tiết học vật lí sâu sắc – thực tiễn – truyền cảm hứng.
Sáng kiến này không chỉ nhằm đổi mới một vài tiết học, một
vài hình thức kiểm tra, mà hướng đến việc kiến tạo một môi
trường học tập giàu thách thức, giàu tính khám phá, nơi học sinh
giỏi được rèn giũa khả năng vận dụng kiến thức vật lí như một
công cụ trí tuệ sắc bén để hiểu thế giới, lý giải đời sống và khẳng
định bản thân bằng tư duy khoa học và tinh thần học thuật.
II. MÔ TẢ NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN
1. Mô tả thực trạng, hạn chế, nhu cầu cần thiết trước khi
có sáng kiến
Trong công tác giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi lớp 12
môn Vật lí tại các trường trung học phổ thông hiện nay, vẫn còn
tồn tại nhiều bất cập mang tính hệ thống. Một trong những thực
trạng rõ nét nhất là sự lệch pha giữa yêu cầu phát triển năng lực
học sinh theo định hướng của chương trình giáo dục phổ thông
mới với cách tổ chức dạy học thực tế ở nhiều cơ sở giáo dục. Dù
chương trình đã nhấn mạnh đến việc tăng cường vận dụng kiến
thức vào thực tiễn, phát triển tư duy phản biện và giải quyết vấn
đề, nhưng trong quá trình dạy học học sinh giỏi, giáo viên vẫn có
xu hướng tập trung nhiều vào các dạng bài tập tính toán thuần
túy, kỹ thuật biến đổi công thức và khai thác các dạng toán nâng
cao truyền thống, trong khi chưa chú trọng đúng mức đến việc
rèn luyện năng lực vận dụng thực tế và khả năng trình bày, lập
luận ngắn gọn – những yêu cầu quan trọng trong các kỳ thi học
sinh giỏi hiện nay.
Bên cạnh đó, đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia trong
những năm gần đây đã có sự thay đổi rõ rệt, đặc biệt ở phần câu
hỏi mở, câu hỏi có ngữ cảnh thực tiễn, dạng đúng/sai có lý giải
hoặc yêu cầu học sinh viết câu trả lời ngắn để giải thích hiện
tượng. Tuy nhiên, phần lớn học sinh giỏi hiện nay vẫn chưa được
làm quen đầy đủ với các định dạng đề thi này. Các em thường giỏi
tính toán, hiểu lý thuyết sâu nhưng lại thiếu khả năng vận dụng
vào hiện tượng đời sống, thiếu kỹ năng phân tích hiện tượng vật lí
gắn với thực tiễn công nghệ, và đặc biệt yếu trong việc trình bày
lý lẽ một cách rõ ràng, logic trong thời gian ngắn. Chính điều đó
khiến một bộ phận học sinh dù học giỏi nhưng lại không đạt kết
quả cao khi tham gia các kỳ thi có yếu tố đổi mới phương pháp
đánh giá năng lực.
Một thực trạng khác không thể bỏ qua là việc thiếu hệ thống
bài tập, câu hỏi và tình huống dạy học thực tiễn được thiết kế
chuyên biệt cho đối tượng học sinh giỏi. Trong khi các em cần
được thử thách bằng những tình huống thực tế có chiều sâu, yêu
cầu kết hợp kiến thức đa bài học, đa chủ đề, thì nội dung tài liệu
bồi dưỡng hiện hành phần lớn vẫn chỉ dừng ở mức độ khai thác
toán học nâng cao hoặc bài toán lí thuyết khô khan. Giáo viên
cũng gặp không ít khó khăn trong việc thiết kế những bài học có
yếu tố ứng dụng, do thiếu thời gian, thiếu tài liệu mẫu, hoặc chưa
có cơ sở để đánh giá hiệu quả của những cách dạy học mới.
Ngoài ra, trong môi trường học sinh giỏi, sự cạnh tranh và áp
lực thành tích khiến việc rèn luyện các năng lực mềm như kỹ năng
trình bày ngắn gọn, tư duy phản biện, khả năng phản xạ nhanh
trước câu hỏi thực tế… thường bị xem nhẹ. Nhiều giáo viên và học
sinh vẫn đặt nặng thành tích giải bài hơn là năng lực diễn đạt,
phân tích, kết nối và vận dụng vào đời sống – trong khi đây lại là
những kỹ năng cốt lõi mà giáo dục hiện đại hướng đến.
Từ những thực trạng đó, có thể khẳng định rằng, nhu cầu đổi
mới phương pháp bồi dưỡng học sinh giỏi theo hướng tăng cường
vận dụng kiến thức thực tiễn, thiết kế các hoạt động học tập linh
hoạt, xây dựng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm tình huống, đúng/sai
có lý giải và câu trả lời ngắn là vô cùng cần thiết. Việc đưa thực
tiễn vào dạy học học sinh giỏi không chỉ là một giải pháp mang
tính “làm mới tiết học”, mà là sự thay đổi về tư duy, về mục tiêu
đào tạo, về cách xây dựng năng lực học sinh – một sự thay đổi
mang tính bản chất và bền vững.
Đó chính là lý do tôi xác định phải triển khai một sáng kiến
có chiều sâu, có khả năng tác động lâu dài đến cả quá trình bồi
dưỡng học sinh giỏi lẫn kết quả dự thi của các em. Từ thực tế lớp
học, từ yêu cầu của chương trình và từ xu hướng đổi mới thi cử,
tôi tin rằng việc vận dụng kiến thức thực tiễn vào dạy học học
sinh giỏi Vật lí là một hướng đi vừa đúng đắn, vừa cấp thiết trong
giai đoạn hiện nay.
2. Mô tả giải pháp sau khi có sáng kiến
2.1. Giải Pháp 1: Xây Dựng Hệ Thống Tình Huống Thực
Tiễn Kèm Câu Hỏi 3 Dạng
Trong những năm gần đây, xu hướng đổi mới đánh giá học
sinh theo hướng tiừ duy và vận dụng ngày càng được nhấn mạnh
trong các kỳ thi chọn học sinh giỏi. Đặc biệt trong môn Vật lý lớp
12, các đề thi học sinh giỏi cấp tỉnh, quốc gia đã chuyển dần từ
các dạng bài tính toán không gian thuần túy sang các dạng bài
tình huống thực tiễn, yêu cầu học sinh không chỉ tính toán chính
xác mà còn phân tích hiện tượng, lý giải, và trình bày một cách
logic.
Tuy nhiên, thực tế giảng dạy cho thấy nhiều học sinh giỏi dù
thực sự giỏi về toán học, về nắm kiến thức đối với các chủ đề
trong sách giáo khoa, nhưng lại tỏ ra lung tung hoặc trả lời một
cách mờ hồ khi gặp câu hỏi dạng "mô tả hiện tượng trong đời
sống", hoặc các câu hỏi có liên quan đến ứng dụng khoa học,
công nghệ. Vấn đề nằm ở đây: học sinh chưa được rèn kỹ năng
"kết nối kiến thức với đời sống", chưa được tiếp cận các dạng câu
hỏi thực tiễn ngay trong giờ học.
Trước thực trạng trên, giải pháp đặt ra là: Sưu tầm, chọn lọc
và biên soạn các câu hỏi tình huống thực tiễn trong đề thi HSG
các tỉnh, sau đó thiết kế lại dưới dạng đánh giá theo 3 cấp độ: câu
hỏi trắc nghiệm, câu hỏi đúng sai, câu hỏi trả lời ngắn.
Khác với việc chỉ sử dụng bài tập sách giáo khoa hoặc bài
tập nâng cao theo mô hình trừu tượng, việc biên tập các câu hỏi
từ đề HSG giúp:
Đảm bảo tính thực tiễn đã được kiểm định bằng thực tế ra
đề
Tổng hợp nhiều góc độ về kiến thức, đáp ứng chuẩn nâng
cao
Giúc học sinh dễ hình dung các hiện tượng trong đời sống
dưới góc độ vật lý
Trong quá trình triển khai, giáo viên có thể tích hợp các tình
huống thực tiễn đã thiết kế vào các buổi bồi dưỡng học sinh giỏi
bằng phương pháp dạy học tích cực. Học sinh sẽ được yêu cầu
làm việc cá nhân để đưa ra hướng giải quyết ban đầu, sau đó trao
đổi theo cặp hoặc nhóm nhỏ để thảo luận về lựa chọn đáp án,
phân tích lý do, phản biện và củng cố lập luận. Việc tổ chức thảo
luận theo nhóm không chỉ khơi dậy tư duy phản biện mà còn giúp
học sinh nâng cao năng lực diễn đạt ý tưởng bằng ngôn ngữ vật lí.
Giải pháp này giúp phát huy tối đa năng lực vận dụng kiến
thức vào thực tiễn của học sinh giỏi, đồng thời tạo nên điểm nhấn
riêng cho tiết học – nơi mà Vật lí không chỉ là công thức mà còn là
công cụ để giải thích, phân tích và tư duy hiện tượng xung quanh.
Nhờ vậy, hạn chế lâu nay là học sinh giỏi thường mạnh lý thuyết
nhưng yếu trong ứng dụng thực tiễn từng bước được khắc phục
một cách hiệu quả.
Bộ câu hỏi theo từng chương
Chương 1: Vật Lí Nhiệt
Câu 1. Trước mỗi đợt mưa dông, không khí trở nên oi nóng là do
A. hơi nước biển bốc lên mang khí nóng vào bên trong đất liền.
B. hơi nước ngưng tụ thu nhiệt của không khí.
C. hơi nước ngưng tụ tỏa nhiệt ra không khí.
D. hơi nước ngưng kết tỏa nhiệt ra không khí.
Câu 2. Một khinh khí cầu dùng nhiệt có thể tích quả cầu khí nóng
là V = 500 m3, thể tích các phần còn lại xem như không đáng kể.
Tổng khối lượng của hệ thống và tải là m0 = 200 kg. Không khí có
áp suất đo được là p = 720 mmHg, nhiệt độ là t = 27 0C. Lấy g =
10 m/s2. Biết khối lượng riêng của không khí ở điều kiện tiêu
chuẩn
là ρ0 = 1,29 kg/m3. Nhiệt độ trung bình
tối thiểu của quả cầu khí nóng để hệ thống này có thể bay lên là
A. 486,50C. B. 468,50C.
C. 195,50C.
D. 213,50C.
Câu 3: Để đúc các vật bằng thép; người ta phải nấu
chảy thép trong lò. Thép đưa vào lò có nhiệt độ
,
hiệu suất của lò là
, nghĩa là
nhiệt lượng cung
cấp cho lò được dùng vào việc đun nóng thép cho
đến khi thép nóng chảy. Để cung cấp nhiệt lượng,
người ta đã đốt hết 200 kg than đá có năng suất toả
nhiệt là
. Cho biết thép có:
; nhiệt độ nóng
chảy là
; nhiệt dung riêng ở thể rắn là
. Khối lượng
của mẻ thép nấu chảy gần với giá trị nào trong các giá trị sau?
A. m = 5843 kg.
B. m = 6458 kg.
C. m = 5145 kg.
D. m = 6543 kg.
Câu 4: Nội năng của vật trong hình nào sau đây đang giảm?
A. Hình 4.
B. Hình 1.
C. Hình 3.
D. Hình 2.
Câu 5. Đổ nước đá vào trong một cốc thủy tinh (không
thủng hay vỡ), một lát sau bên ngoài thành cốc xuất
hiện những giọt nước. Những giọt nước này được hình
thành là do quá trình
A. ngưng tụ.
B. ngưng kết.
C. đông đặc.
D. nóng chảy.
Câu 6: Về mùa đông ở các xứ lạnh ta thấy người đi thường thở ra
“khói” là do hơi thở của người
A. có nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị bay hơi tạo
thành khói.
B. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị ngưng
tụ thành các hạt nhỏ li ti tạo thành khói.
C. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị đông
đặc thành đá tạo thành khói.
D. có chứa nhiều hơi nước, khi ra ngoài không khí lạnh bị hoá hơi
thành đá tạo thành khói.
Câu 7: Xã Mỹ Đồng, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng là
một làng nghề, với nghề truyền thống đúc đồng được truyền qua
nhiều đời cho đến nay. Giả sử ở làng nghề, người ta tiến hành đúc
một quả chuông bằng đồng nguyên chất có khối lượng 20 kg. Biết
nhiệt độ nóng chảy, nhiệt nóng chảy riêng, nhiệt dung riêng của
đồng lần lượt là: t = 1084 oC;
; c = 380 J/kg.K; nhiệt độ
ban đầu của môi trường và hỗn hợp nguyên liệu là 27 oC. Coi phần
năng lượng nhiệt tỏa ra môi trường xung quanh không đáng kể;
lượng nguyên liệu dùng là vừa đủ. Nhiệt lượng tối thiểu cần cung
cấp để đúc quả chuông trên xấp xỉ bằng
A. 11,6 MJ.
B. 3,6 MJ.
C. 21,6 MJ.
D. 9,6 MJ.
Câu 8: Trong tập huấn cứu hỏa,
đồng chí cảnh sát phòng cháy chữa
cháy nhắc mọi người khi sử dụng
bình cứu hỏa khí nén CO2 không
được cầm tay vào loa xịt mà phải
cầm vào vòi xịt (như hình minh họa)
vì nếu cầm tay vào loa xịt có thể bị
bỏng lạnh do loa xịt sẽ rất lạnh. Vậy
tại sao loa xịt lại rất lạnh khi sử dụng
bình?
A. Do khí trong bình được giữ ở nhiệt độ 0 oC nên khi xịt ra khỏi bình
khí rất lạnh làm loa xịt lạnh rất nhanh.
B. Do khí trong bình được nén ở áp suất cao nên tồn tại ở dạng
lỏng, khi được xịt ra ngoài nó chuyển sang dạng hơi ở loa, quá
trình chuyển thể này truyền nhiệt lượng cho loa làm loa lạnh đi rất
nhanh.
C. Do khí trong bình được nén ở áp suất cao nên tồn tại ở dạng
lỏng, khi được xịt ra ngoài nó chuyển sang thể hơi ở loa, quá trình
chuyển thể này lấy nhiệt lượng từ loa xịt làm loa xịt lạnh rất
nhanh.
D. Do tốc độ bay của khí qua ống loa rất nhanh làm nhiệt độ loa
giảm đi.
Sử dụng các thông tin sau cho Câu 9 và Câu
10. Hạt thóc giống muốn nảy mầm thuận lợi
cần hút nước để đạt độ ẩm cần thiết (thóc no nước) và nhiệt độ
ấm áp (300C - 350C). Muốn vậy, nông dân cần phải ngâm thóc
bằng nước nóng 540C (3 sôi 2 lạnh). Đi vào thực tế. Để xứ lý thóc
giống bằng phương pháp (3 sôi 2 lạnh), người ta ngâm thóc vào
vại (chum) chứa 3 phần nước sôi hòa với 2 phần nước lạnh. Biết
nhiệt độ ban đầu của nước sôi là 100 0C và nước lạnh là 170C. Bỏ
qua sự trao đổi nhię̂t với vại (chum) và môi trường xung quanh.
Câu 9 . Nhiệt độ của nước lạnh bằng bao nhiêu Kelvin?
A. 327 K.
B. 17 K.
C. 373 K.
D. 290 K.
Câu 10. Nhiệt độ của hỗn hợp nước (3 sôi 2 lạnh) sau khi có sự
cân bằng nhiệt bằng bao nhiêu độ Cenxiut?
A. 60,80C.
B. 66,80C.
C. 56,40C.
D. 65,20C.
Sử dụng các thông tin sau cho Câu 11 và Câu 12. Hình bên là sơ
đồ nguyên lí hoạt động của một máy sưởi dùng nước nóng. Nước
nóng được bơm vào ống bên trong máy, hệ thống tản
nhiệt được gắn với ống này. Không khí lạnh được hút
vào trong máy sưởi bằng quạt và được làm ấm lên nhờ
hệ thống tản nhiệt. Mỗi giờ có 575 kg nước nóng được
bơm qua máy. Biết nhiệt độ của nước giảm
khi đi
qua máy; nhiệt dung riêng của nước là
.
Câu 11: Nhiệt độ của nước giảm bao nhiêu kelvin khi đi qua máy
sưởi?
A. 5 K.
B. 278 K.
C. 268 K.
D. 4 K.
Câu 12: Nhiệt lượng tỏa ra từ nước trong mỗi giờ là
A. 12 MJ.
B. 670 MJ.
C. 2,5 MJ.
D. 21 kJ.
Câu 13. Một phương pháp điều trị được đề xuất cho người bị đột
quỵ là ngâm mình trong bồn nước đá tại 0 oC để hạ nhiệt độ cơ
thể, ngăn ngừa tổn thương não. Trong một loạt thử nghiệm,bệnh
nhân được làm mát cho đến khi nhiệt độ bên trong của họ đạt tới
nhiệt độ 32oC. Để điều trị cho một bệnh nhân nặng 70,0 kg, lượng
đá tối thiểu ở 0oC bạn cần cho vào bồn tắm là bao nhiêu để nhiệt
độ của nước trong bồn duy trì ở 0 oC? Nhiệt dung riêng của cơ thể
người là 3480 và nhiệt nóng chảy riêng của nước đá là 334.10 3 ,
xem như nhiệt độ bình thường của cơ thể người là 37 oC .(bỏ qua
sự trao đổi nhiệt với môi trường) ?
A. 3,65kg.
27kg.
B. 2,65k.
C. 3,7kg.
D.
Hướng dẫn giải
Nhiệt lượng do người này cần toả ra để giảm nhiệt cơ thể xuống
32oC
Qng = mcT = 70 . 3480 . 5 = 1,218.106 J
Do đó, lượng nhiệt truyền vào nước đá Qn = m = Qng = 1,22.106 J
m = 3,7 kg
Câu 14. Tại một khu vực núi cao, nhiệt độ nước sôi là 90°C. Nếu
một người muốn
luộc chín một quả trứng trong nước này, thời gian cần thiết sẽ như
thế nào so với việc luộc trứng trong nước sôi ở 100°C ?
A. Thời gian luộc sẽ ngắn hơn do nước sôi ở nhiệt độ thấp hơn .
B. Thời gian luộc không thay đổi vì trứng chín ở 90°C cũng như ở
100°C.
C. Thời gian luộc sẽ dài hơn do nhiệt độ sôi thấp hơn.
D. Không thể luộc chín trứng vì nước không sôi ở 100°C.
Hướng dẫn giải
Ở nhiệt độ thấp hơn (90°C), năng lượng cung cấp cho trứng ít hơn
so với khi nước sôi ở 100°C, khiến thời gian luộc chín trứng tăng
lên
Câu 15. Một đầu tàu hỏa sử dụng động cơ Diezen có công suất
700 kW, trung bình tiêu thụ 164,7 lít dầu Diesel trong 1 h. Biết
khối lượng riêng của dầu 0,85 kg/lít, năng suất tỏa nhiệt của dầu
là 47,3 MJ/kg. Bỏ qua hao phí năng lượng vô ích khác.
a. Nhiệt lượng động cơ thu được trong 1 h là 6600 MJ.
b. Công động cơ sinh ra trong 1 h là 2520 MJ.
c. Hiệu suất của động cơ là 40%.
d. Nếu dùng phần nhiệt lượng tỏa ra cho nguồn lạnh trong 1 h
để đun nước thì đun được 13022 lít nước từ nhiệt độ 25 0C, ở áp
suất 1 bar đến nhiệt độ sôi. Biết nhiệt dung riêng của nước là
4200 J/kg.K, khối lượng riêng của nước là ρ = 1000 kg/m3.
S-Đ-S-S
Câu 16. Hình bên là sơ đồ các hình thức
chuyển thể. Một khối vật chất (thể rắn, lỏng
hoặc khí) cần trao đổi nhiệt với vật khác để
thực hiện quá trình chuyển thể)
a) Thả viên nước đá vào cốc nước nóng, viên nước đá thu nhiệt
lượng từ nước để tan ra, đó là quá trình nóng chảy.
b) Sự hóa hơi diễn ra ở bề mặt chất lỏng gọi là sự bay hơi, do một
số phân tử ở gần mặt thoáng của chất lỏng có động năng đủ lớn,
thắng được lực liên kết với các phân tử chất lỏng khác, thoát khỏi
mặt thoáng và trở thành các phân tử hơi của chất lỏng đó.
c) Theo mô hình động học, trong quá trình chuyển thể của một
khối chất, nếu khoảng cách trung bình giữa phân tử càng tăng thì
lực liên kết giữa chúng càng yếu và trong quá trình đó nhiệt lượng
khối chất đó tỏa ra môi trường càng lớn.
d) Một khối nước đá ở nhiệt độ -5 0C nặng 1 kg, biết nhiệt dung
riêng của nước đá và nước lần lượt là
nhiệt nóng chảy của nước đá là
và
;
nhiệt hóa hơi của nước
là
Nhiệt lượng cần để cung cấp cho khối nước đá đó
bay hơi hoàn toàn ở 1000C là 3069 J.
Đ-Đ-S-S
Câu 17: Trà đá vỉa hè đã là một nét đặc
trưng riêng của phố cổ Hà Nội. Cho trà
vào ấm, rót nước sôi vào ấm, ủ trà
khoảng vài phút rồi đặt ấm vào bình giữ
nhiệt. Khi có khách gọi trà, người bán
hàng rót nước trà từ ấm vào cốc, sau đó
bỏ ít viên nước đá vào cốc, du khách sẽ
được thưởng thức một cốc trà đá thơm
mát.
a) Các viên đá nổi trong cốc trà chứng
tỏ nước ở thể rắn có khối riêng nhỏ hơn
nước ở thể lỏng.
b) Nước đá truyền nhiệt lượng cho
nước trà làm nước trà mát lạnh.
c) Sờ vào cốc trà đá, ta thấy “có nước
bám vào thành cốc”. Đây là do nước
trong cốc bay hơi rồi bám vào thành cốc.
d) Mỗi viên nước đá trước khi bỏ vào
cốc trà có khối lượng 30 g, nhiệt độ
a) -30C. Nhiệt dung riêng của nước đá là
1800 J/kg.K; nhiệt nóng chảy riêng của
nước đá là 3,4.105 J/kg. Để mỗi viên nước
đá nóng chảy hoàn toàn thì cần cung cấp
cho nó một nhiệt lượng 11,3 kJ.
Đ-S-S-S
Câu 18: Thầy Doanh đi mua bình siêu tốc, người bán vì va chạm
trong quá trình lấy bình ra khỏi giá nên thông số trên vỏ ấm bị
biến dạng chỉ còn là 220 V - a W (a là con số bị mất).
Người bán khẳng định công suất ấm là 1800 W. Để kiểm
tra công suất của bình Thầy Doanh đã thực hiện đun
nước như sau:
- Lần 1: dùng bình đun 1 lít nước ở 20 oC sau 3 phút 35
giây thì nước sôi.
- Lần 2: ngay sau lần 1, rót thêm 1 lít nước ở 20 oC vào và đun
trong 3 phút 30 giây nữa thì nước sôi.
Nhiệt ban đầu của bình là 20 oC. Bỏ qua sự tỏa nhiệt ra môi
trường. Cho biết nhiệt dung riêng của nước c = 4200 J/kg.K, khối
lượng riêng của nước D = 1000 kg/m3, điện áp khi bình hoạt động
ổn định bằng 220 V.
a) Nhiệt lượng mà nước thu vào trong lần đun đầu tiên là 336
kJ.
b) Công suất thực chất của bình là 1500 W.
c) Theo công suất người bán hàng đưa ra thì đun lần 2 nước sôi
sau khoảng thời gian 187 s (kết quả làm tròn đến chữ số hàng
đơn vị)
d) Nhiệt lượng mà bình hấp thụ khi thực hiện đun nước là 8 kJ.
Câu 19. Có 30 học sinh tập trung trong một phòng học đóng kín,
cách nhiệt có kích thước 6m 8m 3m . Giả sử thể tích trung bình mỗi
học sinh là 0,05 m3, bỏ qua thể tích và sự hấp thụ nhiệt của đồ
đạc trong phòng. Cho biết tốc độ truyền nhiệt trung bình của mỗi
học sinh ra môi trường là 1500 kcal/ngày. Biết khối lượng riêng
của không khí là 1,2 kg/m3 và nhiệt dung riêng của không khí coi
như không đổi bằng 0,24 kcal/kg.°C. Độ tăng nhiệt độ không khí
trong phòng sau 10 phút bằng bao nhiêu 0C? (kết quả làm tròn
đến 1 chữ số sau dấu phẩy thập phân)
7,5
Câu 20. Trong một hệ đun nước
bằng năng lượng Mặt Trời, năng lượng
Mặt Trời thu thập từ những mặt ngoài
củabộ thu nhiệt, nó làm nước lưu
thông qua các ống của bộ thu nhiệt.
Bức xạ Mặt Trời đi vào trong phần góp
qua các lớp phủ trong suốt, làm nóng
nước trong ống. Nước này được bơm
vào các bình chứa. Giả thiết rằng hiệu
suất của toàn bộ hệ là 15% (nghĩa là
85% năng lượng Mặt Trời bị mất khỏi
hệ). Cường độ của ánh sáng Mặt Trời
2
tới là 700 W/m . Biết nhiệt dung riêng
của nước là 4200 (J/kg.K). Biết khối
kg
1000 3
m . Khi cần nâng nhiệt độ của 200
lượng riêng của n
 









Các ý kiến mới nhất