Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

thanh-cat-tu-han

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 07h:47' 06-02-2026
Dung lượng: 828.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích: 0 người
Thành Cát Tư Hãn
Nguyễn Trọng Khanh
Nguồn: vnthuquan
Phát hành: Nguyễn Kim Vỹ.
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

Mục lục
Tựa
Chương I
Chương II
Chương III
Chương IV
Chương V
Chương VI
Chương VII
Chương VIII
Chương IX
Chương X
Chương XI
Chương XII
Chương XIII
Chương XIV
Chương XV
Chương XVI
Chương XVII

Chương XVIII
Chương XIX
Chương XX
Chương XXI
Chương XXII

Tựa
THÀNH CÁT TƯ HÃN

Suốt bao thế kỉ nay cả thế giới đều coi Thành-Cát-Tư-Hãn như là một đại
họa giáng xuống nhân loại. Cuộc đời của ông là một hình ảnh thu gọn lại
mười hai thế kỷ mà dân du mục miền đồng cỏ đã tràn ra bốn phương tàn phá
các dân tộc định cư có nền văn minh vững chãi. Trước ông không có nhà
chinh phục nào gây được uy vũ làm kinh hoàng cả thiên hạ, đến nỗi khi dân
Âu Châu nghe đến tên Thành-Cát-Tư-Hãn đều hãi hùng cho là “ngày tận thế
đã tới rồi!”. Ông áp dụng triệt để lối khủng bố để cai trị và thẳng tay tàn sát
để ngăn ngừa những cuộc quật khởi chống đối. Những gì mà Âu Châu đã lên
án Attila và Ấn Độ đã lên án Mihirakonia thật chẳng thấm vào đâu so với
những cuộc tàn phá của Thành-Cát-Tư-Hãn ở những nước bại trận như
Trung Quốc, Đại Hồi…
Nhưng các sử gia gần đây khi nghiên cứu tỉ mỉ cuộc đời của Thành-Cát-TưHãn đều nhận thấy rằng tính tàn bạo của ông là do hoàn cảnh sống gay go
khốc liệt ở miền đồng cỏ hoang mà ra - một thứ tàn bạo của thiên nhiên khác hẳn với Tamerlan (nhà chinh phục này phải chịu trách nhiệm về hành
động của mình vì vốn sinh trưởng trong thế giới văn minh). Trong khuôn khổ
lối sống, hoàn cảnh đất đai và chủng tộc của ông, Thành-Cát-Tư-Hãn, dưới
con mắt các sử gia, là một nhân vật có tâm hồn bình thản, có lương tri vững
chắc, rất mực điều độ, biết nghe lời phải, biết giữ tín nghĩa với bạn bè, thật
rộng lượng và giàu tình cảm dù lắm khi rất nghiêm khắc, và ông thật sự có
những đức tính căn bản của một nhà lãnh đạo. Dĩ nhiên ta phải hiểu theo
nghĩa lãnh đạo các dân tộc du mục, chứ không phải dân định cư. Trong
khuôn khổ ấy, ông đã tỏ ra là người được thiên phú cái biệt tài lập trật tự và
giỏi trị dân. Bên cạnh cái tính tàn bạo đến khủng khiếp, người ta thấy ông có
một khía cạnh cao thượng, quí phái không thể phủ nhận được. Một trong
những nét nổi bật nhất là tính khinh ghét tột độ những kẻ phản bội. Tất cả
những kẻ lầm tưởng rằng phản bội chủ cũ sẽ đựơc tín nhiệm nơi ông đều bị
giết phăng đi không chừa người nào. Trái lại sau một trận chiến thắng, ông

thường ban thưởng trọng hậu, hoặc thâu dụng dưới trướng những kẻ tỏ ra
kiên trung với chủ trước của họ. Một kẻ yếu một khi đã đặt mình dưới sự che
chở của ông, đều được bảo vệ đến cùng và được ông lưu tâm giúp đỡ suốt
đời, không có gì làm lay chuyển nổi lời hứa hẹn của ông đã thốt ra.
Về mặt chính trị, Thành-Cát-Tư-Hãn không phải là một nhà lãnh đạo đã dại
dột ngỏanh mặt trước những kinh nghiệm quí báu của các dân tộc văn minh.
Trong số những cận thần của ông người ta thấy có nhiều cố vấn ngoại quốc
như Tatatonga người Thổ phồn, Mahmoud Yalawatch người Hồi, Chu Thai
người Khiết Đan... và nhờ biết nghe lời phải của các cố vấn ấy mà guồng
máy cai trị của ông tiến dần đến chỗ biết dùng văn tự, biết lập thuế má và
giảm bớt những cuộc đàn áp man rợ.
Về mặt quân sự, người ta đã bình luận rất nhiều về chiến lược, chiến thuật
của Thành-Cát-Tư-Hãn. Có người đã sánh với chiến lược của Frédéric II,
hoặc của Nã-Phá-Luân. Và gần đây cố Đại tướng Mac Arthur của Hoa Kỳ
đã xác nhận thêm: “Tất cả những nguyên tắc về chiến lược của Thành-CátTư-Hãn ở thời nào cũng là một kho tàng vô cùng quí giá cho các binh gia.
Không có binh thư chiến sách nào rõ ràng sáng sủa hơn những trang chiến
sử của Thành-Cát-Tư-Hãn”.
Nhưng không phải chỉ vì cuộc đời ngoại hạng của vị chúa Mông Cổ ấy mà
chúng tôi cho xuất bản quyển chiến sử này. Lẽ chính yếu là xưa kia dân tộc
chúng ta đã từng chịu đựng đại họa Mông Cổ, đã từng tạo một cuộc chiến
tranh gay go, khốc liệt để đập tan tham vọng đế quốc của họ, thì ngày nay
khi lần dở những trang sử đậm màu son ấy, tưởng chúng ta cần phải biết rõ
lực lượng của kẻ xâm lăng hùng mạnh đến mức nào? Dù rằng đến thời
HỐT-TẤT-LIỆT, cách tổ chức quân đội và khí thế của Mông Cổ đã sút kém
hơn thời Thành-Cát-Tư-Hãn. Biết rõ sức hùng mạnh và tàn bạo của một đế
quốc rộng lớn nhất cổ kim, chúng ta mới càng khâm phục tiền nhân hơn và
càng hãnh diện về lời nói của một nhà văn Ý hiện đại khi nhận xét về lịch sử
đấu tranh của dân ta:
“Dân tộc Việt Nam là dân tộc duy nhất trên thế giới đã chiến thắng quân

Mông Cổ”.

Chương I XÃ HỘI MÔNG CỔ VÀO THẾ Kỷ XII
Người Mông Cổ chính tông chính là một trong những giống dân du mục
ở miền Đông Bắc xứ Ngoại Mông ngày nay, khoảng giữa hai con sông Onon
và Kéroulène.
Họ thuộc giống da vàng, có nhiều nét đặc biệt: mặt rộng, mũi xẹp, lưỡng
quyền cao, mắt xếch, môi dày, râu cằm thưa, tóc cứng và đen. Vóc người
thấp nhưng vạm vỡ, da thẫm, hai chân hơi cong. Nhờ sống giữa một cõi đất
cằn cỗi rộng bát ngát, mùa đông lạnh cắt da, mùa hạ nóng thiêu người, họ có
sức khỏe và sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai lạ thường.
Theo truyền thuyết thì ngày xưa tổ tiên người Mông Cổ bị giống dân Thổ
(Turcs) đánh bại phải lẩn trốn trong vùng núi Erkéné- Kuoun. Cho đến thế kỉ
thứ IX họ mới dám xuống núi sinh sống ở lưu vực sông Sélenga và sông
Onon. Tù trưởng lúc bấy giờ là Bật-Tê-Si-Nô (Sói Xám) lấy bà Cô-A MaRan có một trai duy nhất tên Ba-Tát-Si. Từ đó xuống mười ba đời nữa đến
Đô-Bun: ông này mất sớm để lại bà vợ là A-Lan-Khoát-Nhã, một hôm
nhiễm phải một luồng ánh sáng, thụ thai rồi sinh ra ba người con. Người con
út tên là Bu-đăng-Sa, là ông tổ của bộ tộc Bọt-di-Dinh, dòng Ni-Ruôn, nổi
tiếng là người giản dị. Ông ta thường chỉ cỡi một con lừa ghẻ lở, đuôi còi…
Đó là ông tổ tám đời của Thành Cát Tư Hãn.
Đến thế kỉ thứ XII, dân Mông Cổ chia ra nhiều đoàn trại (Oulouss) độc lập,
khi thì đánh lẫn nhau, khi thì họp lại đánh kẻ thù chung là dân Thát Đát. Gia
đình của Thành Cát Tư Hãn thuộc tộc Ki-Dát, bộ tộc Bọt-di-Dinh. Từ khi
Thành Cát Tư Hãn thống nhất được Mông Cổ, các sử gia thường chia giống
dân này ra làm hai dòng, căn cứ ở chỗ họ thuộc dòng Ki-Dát hay dòng khác.
Dòng thứ nhất gọi là dòng Ni Ruôn, thuộc giống Mông Cổ thuần túy, tự hào
là con cháu của thần Ánh Sáng.
Dòng thứ hai thuộc giống Durlukin, lai nhiều giống khác. Dòng Niruon gồm
có 12 bộ tộc: Taidjigot, Tayitchiout, Taijiout (3 bộ tộc này sống biệt lập ở
phía Đông hồ Baikal), Ourou'oud, Mangquoud, Djadjirat, Baroulas, Ba'arin,

Dorben (bây giờ gọi là Dorbot), Saldjiout, Quadagin, Katakin.
Dòng Dulurkin gồm có 8 bộ tộc: Aroulat, Baya'out, Koroj, Seldu, Ikiras,
Kongirat, Ongirat, Koukourat; những bộ tộc này du mục ở phía Đông Nam,
dưới chân núi Nam Khingan cạnh xứ Thát Đát. Còn một bộ lạc nữa tên là
Djéliar cũng liệt vào giống Mông Cổ, ở vùng hợp lưu sông Khilok và sông
Sélenga hoặc sông Onon, mà có sử gia cho là một bộ lạc Thổ qui phục Mông
Cổ rồi bị đồng hóa vào thời đại Anh hùng Cai Đô.
Nhưng căn cứ vào cách sinh sống, người ta phân biệt hai thứ bộ lạc: bộ lạc
chăn nuôi ở miền đồng cỏ và bộ lạc săn bắn ở miền rừng núi.
Vùng biên cảnh Mông Cổ - Tây Bá Lợi Á, nơi người Mông Cổ phát xuất, có
hai miền khác biệt rõ rệt: miền rừng ở phía Bắc và miền đồng cỏ hoang vu ở
phía Nam. Có nhà sử học cho rằng: “khởi đầu, Mông Cổ là dân rừng núi chớ
không phải là dân đồng cỏ, căn cứ vào chỗ họ sớm biết dùng loại xe bốn
bánh bằng cây (chariot) và chỉ dùng thùng cây chớ không dùng túi da như
người Kagâz ở đồng cỏ”.
Những bộ lạc giàu thường được tổ chức chặt chẽ, xã hội chia làm bốn giai
cấp:
1. Hạng quý tộc nắm quyền thống trị, gồm có hạng Dũng Sĩ (Bagha tour),
Tộc trưởng (Noyan), Hiền nhân (Setchen) và, sau này chịu ảnh hưởng của
Trung Quốc, thêm hạng Thân vương. Vai trò của tộc trưởng và dũng sĩ là tìm
đồng cỏ chăn nuôi, sai khiến nô lệ, chăn nuôi súc vật cùng là điều khiển việc
dựng lều trại. Giai cấp này chỉ huy tất cả những giai cấp sau:
2. Hạng chiến sĩ (Nokud)
3. Hạng thường dân (Arad)
4. Hạng nô lệ (Bogoul)
Hạng sau này gồm những người nô lệ và những bộ lạc bại trận bị bắt đi chăn
súc vật hoặc phục vụ cho chiến sĩ.

Trong bộ lạc săn bắn vai trò của giai cấp quý tộc không quan trọng như ở bộ
lạc du mục. Ở đây hạng pháp sư (Chaman) chi phối mọi mặt trong đời sống;
nói chung trong xã hội Mông Cổ pháp sư đóng vai trò thật quan trọng. Sau
này chúng ta sẽ thấy vai trò của pháp sư Cốc Chu trong việc dựng đế quốc
của Thành Cát Tư Hãn.
Thật ra, việc phân chia hai thứ bộ lạc (săn bắn, du mục) như trên không có
tính cách tuyệt đối. Như dân Taidjiout lại là dân săn bắn ở rừng, còn Thành
Cát Tư Hãn lại xuất thân ở bộ lạc du mục. Dân săn bắn thường mang một
loại guốc bằng cây hoặc xương, hoạt động suốt cả mùa đông ngay trong tiết
đại hàn. Họ tìm loại điêu thử (zibeline) và loại chuột màu tro (petit-gris).
Dân du mục cũng đi săn, chuyên dùng cung tên và giây thòng lọng tìm loài
sơn dương, loài mang mễn. Bọn quý tộc thì luyện chim ưng thả đi bắt các
loài khác. Tùy lúc thịnh suy, một bộ lạc có thể bỏ lối sống du mục qua lối
sống săn bắn, hoặc ngược lại. Chẳng hạn Thành Cát Tư Hãn lúc thiếu thời,
hồi bộ lạc tan rã phải cùng với cha mẹ và em rút vào rừng đi săn bắn sống
qua ngày, rồi sau đó mới trở ra gây lại một đàn súc vật.
Những bộ lạc ở rừng nói chung trình độ còn thấp kém, dã man vì họ không
hề tiếp xúc với những dân tộc văn minh hơn. Dân du mục tiến bộ hơn nhờ
gần gũi với dân Thổ Phồn, dân Khiết Đan, dân Nữ Chân (nước Kim sau
này).
CÁI LỀU TRÒN
Đời sống du mục phải bắt buộc lang thang đây đó nhưng có lúc họ cũng
dừng chân lại một chỗ khá lâu. Đó là lúc đóng trại. Mỗi đoàn trại gồm có
nhiều khóm lều (ayil) dựng trên nền cỏ hoặc trên xe bốn bánh sắp vòng tròn,
chừa một sân rộng ở chính giữa. Lều của dân săn bắn thì nhỏ hẹp, nghèo
nàn, khác hẳn lều của bọn du mục thường lợp bằng da thú. Đến thế kỉ XIII,
lều của hạng Khả Hãn rất rộng rãi, tiện nghi, chứa đầy da thú và thảm đẹp,

gần như một thứ dinh thự lưu động. Có hai thứ lều, nhờ đó người ta có thể
phân biệt được dễ dàng nhóm Mông Cổ săn bắn và nhóm Mông Cổ du mục.
Ger (còn gọi là Yourte) là thứ lều tròn lợp da thú, sườn bằng cây, gồm những
cây chống, cây ngang rất phức tạp, thấy rõ là dân ở miền thừa thãi gỗ.
Maikhan là thứ lều rộng mà thấp, sườn bằng loại gỗ nhẹ, tháo ráp dễ dàng:
vách gồm nhiều tấm phên bằng len, mặt trong có chèn thêm một lớp cỏ khô.
Nóc lều tựa như cái nón lá lớn úp xuống, giữa đỉnh có một ống khói nhỏ.
Trong lều người Mông Cổ lúc nào cũng có một bếp lửa chụm phân bò khô
và khói thoát ra ở cái ống đó. Thời Thành Cát Tư Hãn, loại lều này thường
dựng trên xe bốn bánh rất tiện cho việc vận tải, di chuyển. Khách đến nhà
phải ngồi ở tại ngưỡng cửa bên mặt, chủ nhà ngồi trịch bên trong và ngay
cửa.
Ngày nay tiến bộ hơn họ đã biết xây nhà bằng đá, nhưng chừng như chưa bỏ
được thói quen ở lều, nên nhiều gia đình có nhà rồi mà còn dựng thêm cái
lều nguyên vẹn kiểu xưa ngay trước sân.
ĐI SĂN VÀ DU MỤC
Vùng săn bắn tốt nhất của các tay kỵ mã Mông Cổ là đồng cỏ cao, đồi sỏi đá,
đồi cát. Ở các nơi này có nhiều con sông hẹp và cạn, nhiều hồ đầm, thu hút
tất cả các loại cầm thú chân dài cánh rộng từ những nơi xa xôi đi tìm nước
uống: như sếu, thiên nga, hạc là những loài chẳng biết e ngại không gian bao
la; chó sói, lừa, ngựa rừng, linh dương đều là những giống chạy cực nhanh
và không biết chồn chân, các tay kỵ mã tài ba cũng khó hy vọng đuổi kịp
được chúng nó. Đi săn là một nhu cầu tối thiết của người Mông Cổ, một thứ
hoạt động say sưa rộn rịp nhất như khi ra chiến trường. Hơn nữa, họ coi như
là một lối tập trận hàng ngày và kẻ địch khó truy nã như thế mới thật là hấp
dẫn.

Đối với dân du mục, chỗ ở thích hợp hơn hết là những vùng núi thấp có triền
thoai thoải phủ cỏ xanh và rừng cây lưa thưa, có ghềnh thác. Qua mùa hạ, họ
lánh đồng bằng cháy nắng, lùa thú lên cao lần lần tìm đồng cỏ xanh tươi
hơn; đó là mùa "đoàn trại chia ly", như họ nói. Mỗi bộ tộc đi tìm một mục
trường riêng cho mình, chiếm cứ ở đó một thời gian. Bầy súc vật là nguồn
sống của dân du mục. Nhưng thường nhật họ chỉ ăn những con thú già, thú
chết vì bệnh hoặc rủi ro. Nuôi thú cốt để lấy sữa làm koumiss (sữa chua) phó
mát (một thứ phó mát ngâm trong muối cứng như sắt), lấy da, lấy lông làm
nỉ. Phân thú là một thứ thông dụng trong việc đun nấu. Loại thú lớn như trâu,
bò, trâu yak, lạc đà… dùng cho việc kéo xe, tải đồ.
Mối quan tâm nhất của dân du mục là thức ăn của bầy gia súc. Cái lạnh khốc
liệt (-30 độ C) của mùa đông làm cho mọi hoạt động đều đình trệ; họ lùa súc
vật đi ẩn trú ở những chỗ ít gió rét nhưng vẫn để chúng ở ngoài trời sống với
những thức ăn dự trữ như cỏ khô. Trong một năm, bầy thú di chuyển từ chỗ
này sang chỗ khác từ mười đến mười hai lần. Lâu dần bầy thú mất hết bản
năng tự tồn, chỉ còn biết trông cậy vào sự chăm sóc của người du mục.
Đời sống du mục qua bao thế hệ đã gây cho người Mông Cổ một vài ý thức
sơ đẳng về cách tổ chức một xã hội định cư như lập một đoàn trại trung ương
trên vùng đồng rộng, chung quanh có rừng để có thể đi hái trái, đào củ làm
lương thực hoặc đem đổi lấy những thức cần dùng với các bộ lạc khác; hay
việc tổ chức một đội quân có đại bản doanh để bảo vệ lãnh thổ.
Qua thế kỷ XII người Mông Cổ lại thoái bộ hơn thế kỷ thứ IX. Thời còn
thống trị vùng Orkhon, dân Thổ phồn đã truyền bá thuật trồng tỉa, nghề nông
đã bắt đầu phát triển. Đến lúc bị dân Kirghiz xâm chiếm, khoảng năm 840,
dân Mông Cổ lại trở về đời sống du mục. Chế độ Kirghiz đã diệt hẳn nghề
nông do bọn tín đồ Ma-ni giáo truyền qua. Ngoài ra một chút ít văn minh

tiến bộ khác có ghi trong sử Thổ phồn đến thời Thành Cát Tư Hãn cũng
không còn nữa.
CON NGỰA VỚI NGƯỜI MÔNG CỔ
Nhưng con ngựa mới là loài thiết yếu hơn hết trong đời sống du mục. Trên
một cõi đất bao la mà những cánh đồng cỏ thường cách nhau hàng trăm dặm
đường, người Mông Cổ chỉ trông cậy vào phương tiện giao thông nhanh hơn
hết là ngựa.
Ngựa Mông Cổ thấp, chân to, lông dày, cổ nở, dáng không đẹp bằng ngựa Ả
Rập nhưng rất khoẻ, sức bền bỉ, lại ăn ít. Họ chú trọng sản xuất ngựa thật
nhanh, thật nhiều vì mỗi tấc đường đều cần đến ngựa và chỉ có họ mới điều
khiển nổi những con ngựa bất kham ấy. Họ phi ngựa như bay không cần cầm
cương, hai tay đều rảnh để cầm vũ khí. Ngựa đang phi họ có thể nhảy xuống
đất chạy theo, rồi nhảy trở lại lên lưng như trò xiếc: có thể cỡi suốt 15 giờ
liền, mỗi ngày đi được 75 cây số. Họ rong ruổi đây đó, hoặc theo bầy súc vật
hoặc đuổi thú rừng. Cuộc sống trên lưng ngựa đã gây cho người Mông Cổ
một tâm hồn khoáng đạt, tự do; những lúc đi xa thường phải phi ngựa đơn
độc và tự bảo vệ lấy sinh mạng của mình, do đó họ có tinh thần bình đẳng và
tinh thần độc lập mạnh mẽ. Ngoài ra, qua bao thế kỷ, việc nuôi ngựa và say
mê thích thú nghề kỵ mã đã tạo ra một số người nặng óc tự tôn, trở thành
giai cấp quý tộc Mông Cổ.
PHỤ NỮ
Công việc thường xuyên của các thiếu nữ Mông Cổ là dệt len. Hàng ngày họ
đổ vào rừng chặt cây “baronetz” về tước vỏ đánh thành sợi rồi dệt thành
những tấm len mà họ thường khoe là "mịn như lông con cừu Scythie". Theo
phong tục, con gái Mông Cổ phải lấy chồng ở một bộ lạc khác: lẽ sống duy
nhất của họ là tận tâm phụng sự chồng, sinh con cái, lo việc bếp núc, lúc
rảnh rỗi thì chế tạo những đồ đạc lặt vặt trong nhà, vắt sữa bò, sữa ngựa, làm

bơ và pho mát cứng (gurud), đóng giày hoặc may vá quần áo. Người đàn bà
Mông Cổ là chủ, nắm hết quyền điều khiển trong gia đình. Trong lúc chồng
vắng mặt, họ mua bán mọi thứ theo ý muốn. Ngoài việc nội trợ họ còn đảm
nhận việc dạy dỗ con cái và sau mỗi trận đánh thường phải túc trực bên cạnh
chồng săn sóc vết thương.
Họ cỡi ngựa, bắn cung cũng thật tài, đôi khi phải tham gia chiến trận: núp
sau các chiếc xe tải đồ, dùng cung tên chống lại những đợt xung phong của
quân nghịch hoặc đánh xáp lá cà trong những trận ác chiến.
Các bà vợ chính đều cho chồng lấy vợ lẽ không hề ghen, nhưng các bà vợ
nhỏ phải ở dười quyền kiểm soát của họ; họ giữ cả quyền phân phát chiến lợi
phẩm của chồng mang về. Nói chung phụ nữ Mông Cổ rất đảm đang, từ việc
trong nhà đến việc nặng nhọc bên ngoài. Đổi lại họ được trọng nể và được
bảo vệ. Tục ngữ Mông Cổ có câu: “Người ta biết đức tính của đàn ông qua
người vợ của họ” và luật Mông Cổ phạt rất nặng những người đánh vợ, xử tử
hình những kẻ xâm phạm tiết trinh của một thiếu nữ.
TRẺ CON
Lên ba tuổi chú bé Mông Cổ mới dứt sữa mẹ và bắt đầu góp mặt vào cuộc
sinh hoạt tập thể của bọn nhi đồng trong đoàn trại, không phân biệt con của
Khả Hãn hay con của nô lệ. Chúng thích bày những trò chơi táo bạo: trò đấu
sức hoặc lập trận giả như người lớn, đấm đá nhau đến đổ máu. Lên năm,
chúng đã có thể cất mình một cách gọn gàng lên lưng con ngựa tơ và từ đó
thời giờ ở trên lưng ngựa nhiều hơn ở dưới đất, cho nên khi lớn lên hai ống
chân của người Mông Cổ đều cong, thành cái vẻ đặc biệt của dân kỵ mã.
Cũng từ khoảng năm tuổi, chúng được nhập bọn với người lớn đi đây đó học
tập kinh nghiệm và tự tìm lấy cách sống. Mỗi đứa đều có một cây cung vừa
với tầm vóc. Vào rừng chúng có thể hạ những con mồi nhỏ rồi chia thịt đồng
đều với nhau giữa bọn chúng. Ngoài việc săn bắn, trẻ con có thể đi hái trái,
đào củ làm thức ăn thường nhật. Không như thế, lúc đói chúng sẽ cấu xé

nhau để giành một khúc xương của người lớn ném ra.
TÍN NGƯỠNG
Người Mông Cổ có một ý niệm rất mơ hồ về đấng Tối Cao đã sáng tạo ra thế
giới: họ gọi là Trời Xanh. Nhưng không thấy họ hình dung đấng ấy ra sao cả,
cũng không bao giờ dựng nhà thờ phượng.
Thành Cát Tư Hãn đã có lần ngạc nhiên về những cuộc hành hương ở La
Mecque, phát biểu ý kiến như sau: “Cả vũ trụ đâu cũng là nhà của Đấng Tối
Cao, tại sao phải định một chỗ riêng rồi tới đó tỏ lòng tôn kính?”
Lời nói đó thể hiện đúng tâm lý của dân du mục: đối với họ đâu cũng là nhà,
đâu cũng như nhau cả. Họ sợ hãi thần Đá, thần Cây, thần Gió Bão, thần trên
đỉnh núi cao có mây bao phủ và bọn Ma Quỷ tác quái gây ra chứng đau
bụng, gieo các thứ bệnh tật trong bầy súc vật, thần Bạch Hổ và tất cả những
đấng vô hình. Nhưng họ không thờ cúng bao giờ, chỉ tỏ ra bằng cử chỉ kính
nể, vái lạy hay cầu khẩn.
Đồng cỏ là nơi hiếm cây, hiếm đến nỗi một cây có bóng mát đã trở thành
một vật linh thiêng. Cho đến ngày nay, một người Mông Cổ Khalkha hoặc
Kirghize khi gặp một cây nào đứng trơ trọi liền xuống ngựa dở mũ lạy mấy
lạy, rồi máng lên cành một mảnh vải, một miếng da trừu hoặc một chùm
lông bờm ngựa. Vô cớ mà bẻ nhánh hay đốn một cây nào là xúc phạm đến
đấng thiêng liêng, làm cho vị thần ở cây đó và thần Thảo Mộc phẫn nộ.
Ngoài ra ngọn núi cao và chòm cây cổ thụ cũng là hai thứ linh thiêng mà dân
du mục rất kiêng sợ. Để tỏ lòng tôn kính, mỗi khi đi ngang qua những nơi
này, họ dừng lại khấn vái rồi bỏ một hòn đá lên đống đá lớn do bao người
trước đã chồng lên.
VAI TRÒ CỦA KHẢ HÃN

Trong xã hội Mông Cổ, người dân du mục nào cũng hy vọng một cơ hội may
mắn làm nổi bật giá trị mình lên để được hưởng nhiều quyền lợi và danh dự,
hơn nữa để lên địa vị Khả Hãn (Tù trưởng).
Người nào cũng có thừa lòng can đảm và tự tin nhưng muốn xuất chúng
phải có sức khỏe hơn người, phải khôn quỷ, nhiều thủ đoạn, … và một số
đức tính cần thiết. Không có luật lệ nào bắt buộc phải cử một người lên làm
Khả Hãn mà chính thực tế đòi hỏi phải có người lãnh đạo. Lãnh trách nhiệm
này là thể theo nguyện vọng của toàn dân. Nếu người lãnh đạo chết hoặc tự
thấy mình không đảm đương nổi, tức khắc phải có người khác thay thế.
Vai trò của Khã Hãn là nâng cao đời sống của bộ lạc, bao gồm việc chọn
đồng cỏ tốt cho súc vật, gìn giữ cho súc vật không bị hao hớt vì rủi ro hoặc
bệnh dịch và tổ chức những chuyến săn cho kết quả. Ông ta phải biết nơi nào
có đồng cỏ tốt, nơi nào có nước, phải chọn đúng thời kỳ lùa thú đi hoặc cho
nghỉ ngơi, chọn mùa săn bắn. Lại phải biết đoán đúng thời tiết: lúc nào sẽ có
hạn, bão cát, cuồng phong … Chỉ có Khả Hãn có quyền quyết định và chịu
mọi trách nhiệm; có thể là lệnh xử tử một kẻ có hành động trái lẽ công bằng
hoặc giết một kẻ tình nghi cho mọi người đều thỏa mãn hơn là để sự bất mãn
lan tràn trong bộ lạc. Tóm lại, uy tín của Khả Hãn là cái hồn của bộ lạc; hành
động của ông ta phải thực tế, uyển chuyển, tùy việc tùy lúc.
Đời sống an bình của bộ lạc rất mong manh, ít khi kéo dài được nửa thế kỉ.
Sự bất hòa thường xảy ra: hoặc xung đột đẫm máu với nhau, hoặc chiến
tranh với các bộ lạc khác vì những lý do thông thường như việc thù hiềm
giữa Khả Hãn, vụ bắt cóc một thiếu nữ, xâm phạm mục trường, hoặc thầy
phù thủy bất lực không trừ được ma quỷ đang bắt một tên lính hoặc nhậu
nhẹt say sưa, hoặc chỉ vì lâu ngày không ra trận đâm ra buồn tẻ…
Gặp những trường hợp ấy nếu Khả Hãn bất lực trong việc giàn xếp, bộ lạc
sẽ tan rã.
Có kẻ ra đi vì bị xét xử bất công hoặc không thể đội trời chung với người
hàng xóm thù địch. Họ chỉ phục tùng Khả Hãn khi thấy cuộc sống yên ổn,
lạc nghiệp. Và một khi đã bất tuân thượng lệnh thì chỉ còn cách ly khai đi gia

nhập một bộ lạc khác. Kẻ bất mãn cứ cuốn lều, lùa gia súc của mình đi.
Thường khi những kẻ ly khai gặp nhau họp lại thành một bộ lạc mới, rồi
chọn người khỏe và khôn hơn hết cử lên làm Khả Hãn.
Trong đời người Mông Cổ không có quyết định nào quan trọng bằng việc
phải ly khai một bộ lạc mà tổ tiên họ đã sống ở đó. Chính đời sống tập thể
trong bộ lạc đã ràng buộc dòng dõi họ hàng khỏi bị phân tán, thất lạc. Họ
cũng quan niệm giống chúng ta: “Chim có tổ, người có tông”. Muốn khỏi bị
khinh là kẻ mất gốc, người du mục phải trưng được gốc gác của mình: con
của ai, ở bộ lạc Suối Nước, hoặc bộ lạc Chó Sói, v.v. Gia nhập một bộ lạc
khác, hoặc bị bắt làm tù binh đó là kẻ mất gốc.
Lòng lưu luyến mạnh đến nỗi nhiều kẻ đã ly khai gia nhập bộ lạc khác, ít lâu
sau phải trốn trở về chịu tội, hoặc xếp qua một bên mối thù riêng. Những kẻ
mới gia nhập hoặc bị bắt ở trận mạc hay ở đoàn trại khác đem về đều bị coi
là kẻ ngoại tộc, chỉ được cho làm thợ rèn, thợ dệt, đi chăn súc vật…
Thật ra, vai trò của Khả Hãn không phải chỉ có việc tạo nên sự thịnh vượng
mà nặng nề hơn hết là bảo vệ an ninh cho bộ lạc. Dù có hàng trăm trại cũng
khó chống nổi với kẻ thù đông gấp bội đang thiếu mục trường hoặc chống
với dân Thát Đát, dân Thổ Phồn hay dân Trung Quốc. Cho nên Khả Hãn
phải tìm hiểu mưu toan của những tù trưởng ở chung quanh, phải biết rõ họ
đang suy yếu hay đang có tham vọng bành trướn
 
Gửi ý kiến