chiều tối

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Yến Nhi
Ngày gửi: 15h:59' 13-11-2022
Dung lượng: 15.6 KB
Số lượt tải: 2
Nguồn:
Người gửi: Đỗ Yến Nhi
Ngày gửi: 15h:59' 13-11-2022
Dung lượng: 15.6 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
"Chiều tối" là bài thơ được viết trong thời điểm gần kết thúc của một chuyến
chuyển lao. Bài thơ là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối nơi núi rừng - cảnh đẹp bởi
nó ánh lên sự sống ấm áp của con người. Qua đó, bộc lộ một tâm hồn thi nhân
nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, một tấm lòng nhân hậu đối với con người,
một phong thái ung dung luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Hay nói
đúng hơn đây là một thực thể của sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh
thần hiện đại.
Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương. Khung cảnh buổi chiều về
tối thường dễ sinh tình vì thế, buổi chiều đã đi vào bao áng thơ kim cổ, làm nên
những vần thơ tuyệt tác. Thơ chiều cổ điển thường man mác một nỗi buồn đìu hiu,
hoang vắng trong sự tàn tạ của thời gian, hoặc trĩu nặng nỗi buồn tha hương lữ thứ.
Ở đây, bằng vài nét chấm phá của bút pháp ước lệ tượng trưng tác giả đã dựng nên
bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)
“Cánh chim” và “chòm mây” là hai hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong
thơ chiều xưa và nay. Cho nên, đó chỉ là hai hình ảnh của không gian mà đã mang
theo ý nghĩa của thời gian. Cánh chim ở đây được lấy từ thế giới nghệ thuật cổ
phương Đông. Trong thế giới thẩm mỹ ấy, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít
nhiều có ý nghĩa biểu tượng ước lệ diễn tả cảnh chiều: “Phi yến thu lâm”; “Quyện
điểu quy lâm” là những nhóm từ thường thấy trong thơ chữ Hán. Trong “Truyện
Kiều”, khi miêu tả cảnh chiều, Nguyễn Du đã điểm vào bức tranh hình ảnh cánh
chim bay về rừng: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Trong thơ Bà Huyện Thanh
Quan cũng thế: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” và Huy Cận lại cảm thấy bóng
chiều như đang sà xuống từ cánh chim đang nghiêng dần về cuối chân trời: “Chim
nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình như trong cảm nhận của các thi nhân xưa
thì khi miêu tả cảnh chiều mà không có hình ảnh cánh chim thì bóng chiều chưa rõ.
Cánh chim trong thơ xưa thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần tuý để gợi tả
cảnh chiều thế thôi và thường gợi nên cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa:
“Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
“Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
Chúng ta đều nhận thấy cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên
đều “Phi tuyệt”, “Phi tận”. Tất cả đều không có điểm dừng mà ở vào trạng thái bay
vào chốn xa xăm, vô tận, gợi lên một ý niệm siêu hình nào đó. Còn cánh chim
trong bài thơ “Chiều tối” của Bác lại có phương hướng, điểm dừng, mục đích bay
rõ ràng:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ)
Như vậy Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới hiện thực.
Ta nhận thấy trong cách nhìn của Bác là một cách nhìn đầy yêu thương, trìu mến
trước biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Nhìn cánh chim đang bay, Bác cảm nhận
được sự mệt mỏi của đôi cánh sau một ngày đường hoạt động. Trong chiều sâu tâm
hồn của Bác chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan của Bác chính là cảm
quan nhân đạo.
Câu thơ thứ hai cũng mang đậm nét Đường thi. Nó rất gần với câu thơ: “Cô vân
độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở
thành một mô tuýp quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh
cao, sự phiêu diêu, thoát tục và nỗi khắc khoải của con người trước cõi hư không.
Còn trong bài “Chiều tối” của Bác, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua
bầu trời chỉ là một nét vẽ tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều nơi
miền rừng núi. Bầu trời hôm ấy phải thật cao, thật trong xanh ta mới thấy được
hình ảnh chòm mây cô độc ấy gợi nên hình ảnh cô độc nơi đất khách, quê người
của Bác. Mỗi một chi tiết của cảnh chiều đều nhuốm màu tâm trạng. Cánh chim
mỏi tìm về tổ ấm, còn người tù thì mệt mỏi sau một ngày đường mà vẫn chưa có
được chỗ dừng chân. Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ trên tầng không, còn người tù
thì cô đơn giữa một buổi chiều nơi đất khách. Hai câu thơ đạt đến mức vi diệu của
lối tả cảnh ngụ tình. Ơ đó ta bắt gặp một tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên
và sự sống. Từ đó ta thấy được một nghị lực phi thường và đó cũng chính là chất
thép trong thơ của Bác.
Nếu như ở hai câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển Bác đã dựng nên bức phông lớn
làm nền cho bức tranh, thì trong hai câu thơ sau, Bác tập trung làm nổi bật hình
tượng trung tâm của bức tranh. Từ bút pháp cổ điển Bác chuyển hẳn sang bút pháp
hiện đại.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng)
“xóm núi” là hình ảnh giản dị biểu tượng cho sự sống bình yên của con người.
Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn với hình ảnh người thiếu nữ. Vẻ đẹp trẻ trung
đầy sức sống của người thiếu nữ với tư thế lao động (xay ngô) trở thành tâm điểm
của bức tranh thiên nhiên buổi chiều. Điều đáng lưu ý ở đây là hình tượng người
thiếu nữ trong thơ Bác hoàn toàn khác với hình tượng người thiếu nữ trong thơ
xưa. Người phụ nữ trong thơ xưa thì thường được ví như “Liễu yếu đào tơ” và
sống trong cảnh “Phòng khuê khép kín”, chỉ biết “cầm, kì, thi, hoạ” là đủ. Còn
người thiếu nữ trong thơ Bác thì gắn liền với công việc lao động bình dị, đời
thường, khỏe khoắn đầy sức sống. Phải chăng chính cái sức sống ấy của người
thiếụ nữ đã làm nên vẻ đẹp lung linh cho bức tranh.
Trong thơ xưa, những bức tranh vẻ cảnh chiều đều có bóng dáng con người nhưng
sao lẻ loi, cô độc và hiu hắt quá. Con người ở đây mang nặng một nỗi niềm hoài
cổ, một nỗi sầu muộn:
“Lom khom dưới núi tều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
Hay:
“Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
(Chiều Hôm Nhớ Nhà – Bà Huyện Thanh Quan)
... còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống. Chính hai
từ “thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái miệt mài xay ngô và
hình như cô không chú ý đến những gì xung quanh mình. Cối xay vẫn cứ quay và
quay tít “ma bao túc” rồi “bao túc ma” và khi ngô đã xay xong “bao túc ma hoàn”
thì cô mới nhìn thấy “lò than đã rực hồng”. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” hiện
lên trong đêm tối càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên
nhiên đang chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò
than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt. Bài thơ kết thúc bằng chữ “hồng”, có thể
nói đó chính là chỗ đẹp nhất của bài thơ. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống
đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan. Chữ
“hồng” đặt ở cuối bài thơ soi rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm
xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều tối nơi rừng núi.
Hai câu thơ đã cho ta thấy được cái nhìn ấm áp đầy yêu thương, trân trọng của Bác
đối với con người lao động. Buổi “Chiều tối” nơi miền rừng núi quạnh hiu, hoang
vắng, lẽ ra rất đỗi buồn bã, thê lương trước mắt người tù bị xiềng xích, bị giải đi
với biết bao nỗi gian lao vất vả, nhưng trái lại đó là tiếng reo vui. Chữ “hồng” ở
cuối bài đã làm nên tiếng reo vui ấy, tạo cho bài thơ âm hưởng nồng ấm, dạt dào.
“Chiều tối” là một tác phẩm đậm đà màu sắc cổ điển mà cũng rất hiện đại, thể hiện
một cách tự nhiên và phong phú vẻ đẹp của hình ảnh người tù – thi sĩ, người chiến
sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của
Bác. Điều đặc biệt ở đây là cảm quan thiên nhiên của Bác gắn liền với cảm quan
nhân đạo, cảm quan về sự sống.
chuyển lao. Bài thơ là một bức tranh vẽ cảnh chiều tối nơi núi rừng - cảnh đẹp bởi
nó ánh lên sự sống ấm áp của con người. Qua đó, bộc lộ một tâm hồn thi nhân
nhạy cảm trước vẻ đẹp của thiên nhiên, một tấm lòng nhân hậu đối với con người,
một phong thái ung dung luôn hướng về sự sống, ánh sáng và tương lai. Hay nói
đúng hơn đây là một thực thể của sự kết hợp hài hoà giữa màu sắc cổ điển và tinh
thần hiện đại.
Cảnh chiều tối là một đề tài quen thuộc của văn chương. Khung cảnh buổi chiều về
tối thường dễ sinh tình vì thế, buổi chiều đã đi vào bao áng thơ kim cổ, làm nên
những vần thơ tuyệt tác. Thơ chiều cổ điển thường man mác một nỗi buồn đìu hiu,
hoang vắng trong sự tàn tạ của thời gian, hoặc trĩu nặng nỗi buồn tha hương lữ thứ.
Ở đây, bằng vài nét chấm phá của bút pháp ước lệ tượng trưng tác giả đã dựng nên
bức phông lớn làm nền cho cảnh chiều:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không;
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không)
“Cánh chim” và “chòm mây” là hai hình ảnh quen thuộc thường xuất hiện trong
thơ chiều xưa và nay. Cho nên, đó chỉ là hai hình ảnh của không gian mà đã mang
theo ý nghĩa của thời gian. Cánh chim ở đây được lấy từ thế giới nghệ thuật cổ
phương Đông. Trong thế giới thẩm mỹ ấy, hình ảnh cánh chim bay về rừng đã ít
nhiều có ý nghĩa biểu tượng ước lệ diễn tả cảnh chiều: “Phi yến thu lâm”; “Quyện
điểu quy lâm” là những nhóm từ thường thấy trong thơ chữ Hán. Trong “Truyện
Kiều”, khi miêu tả cảnh chiều, Nguyễn Du đã điểm vào bức tranh hình ảnh cánh
chim bay về rừng: “Chim hôm thoi thót về rừng”. Trong thơ Bà Huyện Thanh
Quan cũng thế: “Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi” và Huy Cận lại cảm thấy bóng
chiều như đang sà xuống từ cánh chim đang nghiêng dần về cuối chân trời: “Chim
nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa”. Hình như trong cảm nhận của các thi nhân xưa
thì khi miêu tả cảnh chiều mà không có hình ảnh cánh chim thì bóng chiều chưa rõ.
Cánh chim trong thơ xưa thường chỉ là một chi tiết nghệ thuật thuần tuý để gợi tả
cảnh chiều thế thôi và thường gợi nên cảm giác về sự xa xăm, phiêu bạt, chia lìa:
“Chúng điểu cao phi tận” – Lí Bạch
“Thiên sơn điểu phi tuyệt” – Liễu Tông Nguyên
Chúng ta đều nhận thấy cánh chim trong thơ của Lí Bạch và Liễu Tông Nguyên
đều “Phi tuyệt”, “Phi tận”. Tất cả đều không có điểm dừng mà ở vào trạng thái bay
vào chốn xa xăm, vô tận, gợi lên một ý niệm siêu hình nào đó. Còn cánh chim
trong bài thơ “Chiều tối” của Bác lại có phương hướng, điểm dừng, mục đích bay
rõ ràng:
Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ
(Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ)
Như vậy Bác đã đưa cánh chim từ thế giới siêu hình trở về với thế giới hiện thực.
Ta nhận thấy trong cách nhìn của Bác là một cách nhìn đầy yêu thương, trìu mến
trước biểu hiện nhỏ nhoi của sự sống. Nhìn cánh chim đang bay, Bác cảm nhận
được sự mệt mỏi của đôi cánh sau một ngày đường hoạt động. Trong chiều sâu tâm
hồn của Bác chính là lòng yêu thương sự sống, cảm quan của Bác chính là cảm
quan nhân đạo.
Câu thơ thứ hai cũng mang đậm nét Đường thi. Nó rất gần với câu thơ: “Cô vân
độc khứ nhàn” của Lí Bạch. Hình ảnh chòm mây cô độc trôi giữa bầu trời đã trở
thành một mô tuýp quen thuộc trong thơ xưa, nó thường gợi lên cái cô độc thanh
cao, sự phiêu diêu, thoát tục và nỗi khắc khoải của con người trước cõi hư không.
Còn trong bài “Chiều tối” của Bác, hình ảnh chòm mây cô độc trôi nhè nhẹ qua
bầu trời chỉ là một nét vẽ tạo nên cái không gian cao rộng của cảnh trời chiều nơi
miền rừng núi. Bầu trời hôm ấy phải thật cao, thật trong xanh ta mới thấy được
hình ảnh chòm mây cô độc ấy gợi nên hình ảnh cô độc nơi đất khách, quê người
của Bác. Mỗi một chi tiết của cảnh chiều đều nhuốm màu tâm trạng. Cánh chim
mỏi tìm về tổ ấm, còn người tù thì mệt mỏi sau một ngày đường mà vẫn chưa có
được chỗ dừng chân. Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ trên tầng không, còn người tù
thì cô đơn giữa một buổi chiều nơi đất khách. Hai câu thơ đạt đến mức vi diệu của
lối tả cảnh ngụ tình. Ơ đó ta bắt gặp một tâm hồn giàu cảm xúc trước thiên nhiên
và sự sống. Từ đó ta thấy được một nghị lực phi thường và đó cũng chính là chất
thép trong thơ của Bác.
Nếu như ở hai câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển Bác đã dựng nên bức phông lớn
làm nền cho bức tranh, thì trong hai câu thơ sau, Bác tập trung làm nổi bật hình
tượng trung tâm của bức tranh. Từ bút pháp cổ điển Bác chuyển hẳn sang bút pháp
hiện đại.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng
(Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết lò than đã rực hồng)
“xóm núi” là hình ảnh giản dị biểu tượng cho sự sống bình yên của con người.
Xóm núi như đẹp hơn, ấm áp hơn với hình ảnh người thiếu nữ. Vẻ đẹp trẻ trung
đầy sức sống của người thiếu nữ với tư thế lao động (xay ngô) trở thành tâm điểm
của bức tranh thiên nhiên buổi chiều. Điều đáng lưu ý ở đây là hình tượng người
thiếu nữ trong thơ Bác hoàn toàn khác với hình tượng người thiếu nữ trong thơ
xưa. Người phụ nữ trong thơ xưa thì thường được ví như “Liễu yếu đào tơ” và
sống trong cảnh “Phòng khuê khép kín”, chỉ biết “cầm, kì, thi, hoạ” là đủ. Còn
người thiếu nữ trong thơ Bác thì gắn liền với công việc lao động bình dị, đời
thường, khỏe khoắn đầy sức sống. Phải chăng chính cái sức sống ấy của người
thiếụ nữ đã làm nên vẻ đẹp lung linh cho bức tranh.
Trong thơ xưa, những bức tranh vẻ cảnh chiều đều có bóng dáng con người nhưng
sao lẻ loi, cô độc và hiu hắt quá. Con người ở đây mang nặng một nỗi niềm hoài
cổ, một nỗi sầu muộn:
“Lom khom dưới núi tều vài chú,
Lác đác bên sông chợ mấy nhà”
(Qua Đèo Ngang – Bà Huyện Thanh Quan)
Hay:
“Gác mái ngư ông về viễn phố,
Gõ sừng mục tử lại cô thôn”
(Chiều Hôm Nhớ Nhà – Bà Huyện Thanh Quan)
... còn con người trong thơ Bác, lại là con người lao động đầy sức sống. Chính hai
từ “thiếu nữ” đã làm bừng lên sức sống của bức tranh. Cô gái miệt mài xay ngô và
hình như cô không chú ý đến những gì xung quanh mình. Cối xay vẫn cứ quay và
quay tít “ma bao túc” rồi “bao túc ma” và khi ngô đã xay xong “bao túc ma hoàn”
thì cô mới nhìn thấy “lò than đã rực hồng”. Hình ảnh “lò than đã rực hồng” hiện
lên trong đêm tối càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên
nhiên đang chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò
than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt. Bài thơ kết thúc bằng chữ “hồng”, có thể
nói đó chính là chỗ đẹp nhất của bài thơ. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống
đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan. Chữ
“hồng” đặt ở cuối bài thơ soi rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm
xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều tối nơi rừng núi.
Hai câu thơ đã cho ta thấy được cái nhìn ấm áp đầy yêu thương, trân trọng của Bác
đối với con người lao động. Buổi “Chiều tối” nơi miền rừng núi quạnh hiu, hoang
vắng, lẽ ra rất đỗi buồn bã, thê lương trước mắt người tù bị xiềng xích, bị giải đi
với biết bao nỗi gian lao vất vả, nhưng trái lại đó là tiếng reo vui. Chữ “hồng” ở
cuối bài đã làm nên tiếng reo vui ấy, tạo cho bài thơ âm hưởng nồng ấm, dạt dào.
“Chiều tối” là một tác phẩm đậm đà màu sắc cổ điển mà cũng rất hiện đại, thể hiện
một cách tự nhiên và phong phú vẻ đẹp của hình ảnh người tù – thi sĩ, người chiến
sĩ cộng sản Hồ Chí Minh. Bài thơ đã thể hiện tình yêu thiên nhiên tha thiết của
Bác. Điều đặc biệt ở đây là cảm quan thiên nhiên của Bác gắn liền với cảm quan
nhân đạo, cảm quan về sự sống.
 








Các ý kiến mới nhất