Tin tức thư viện

Chức năng Dừng xem quảng cáo trên violet.vn

12087057 Kính chào các thầy, cô! Hiện tại, kinh phí duy trì hệ thống dựa chủ yếu vào việc đặt quảng cáo trên hệ thống. Tuy nhiên, đôi khi có gây một số trở ngại đối với thầy, cô khi truy cập. Vì vậy, để thuận tiện trong việc sử dụng thư viện hệ thống đã cung cấp chức năng...
Xem tiếp

Hỗ trợ kĩ thuật

  • (024) 62 930 536
  • 091 912 4899
  • hotro@violet.vn

Liên hệ quảng cáo

  • (024) 66 745 632
  • 096 181 2005
  • contact@bachkim.vn

Các bài đọc hiểu thi HK1 Ngữ Văn 9

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn THị CHu NGọc BÍch
Ngày gửi: 23h:54' 09-12-2024
Dung lượng: 51.0 KB
Số lượt tải: 114
Số lượt thích: 0 người
TỔNG HỢP CÁC BÀI ĐỌC HIỂU THI
NGỮ VĂN 9 CUỐI HỌC KÌ 1
Đọc trích đoạn sau và thực hiện các yêu cầu:
Trước đèn xem truyện Tây minh,
Gẫm cười hai chữ nhân tình éo le.
Hỡi ai lẳng lặng mà nghe,
Dữ răn việc trước, lành dè thân sau.
Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh là câu trau mình.
Có người ở quận Đông Thanh,
Tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.
Đặt tên là Lục Vân Tiên,
Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành.
Theo thầy nấu sử sôi kinh(1),
Tháng ngày bao quản sân Trình((2) lao đao.
Văn đà khởi phụng đằng giao(3)
Võ thêm ba lược, sáu thao(4) ai bì.
Xảy nghe mở hội khoa thi,
Vân Tiên vào tạ tôn sư xin về:
“Bấy lâu cửa thánh(5) dựa kề,
Đã tươi khí tượng lại xuê tinh thần.
Nay đà gặp hội phong vân,
Ai ai mà chẳng lập thân buổi này.
Chí lăm bắn nhạn ven mây(6),
Danh tôi đặng rạng, tiếng thầy bay xa.
Làm trai trong cõi người ta,
Trước lo báo bổ sau là hiển vang”.
(Trích Truyện Lục Vân Tiên – Nguyễn Đình Chiểu,

Nguyễn Thạch Giang hiệu đính và chú thích, NXB Văn học, 1982)
Chú thích:
(1) Nấu sử xôi kinh: thành ngữ chỉ về sự khổ công học tập sách vở thánh hiền, học
chăm và kĩ nhiều lần cho thật chín như việc nấu cơm, đồ xôi.
(2) Sân Trình: Sân nhà họ Trình, chỉ trường học nhà Nho.
(3) Khởi phụng đằng giao: phượng trỗi dậy, rồng bay cao, chỉ tài năng bay bổng, lỗi
lạc hơn người.
(4) Ba lược, sáu thao: tên hai bộ sách nói về binh pháp. Chỉ mưu lược, tài dùng binh.
(5) Cửa thánh: chỉ trường học đạo “thánh hiền” tức đạo Khổng Mạnh.
(6) Lăm: quyết, toan liệu một việc gì.
Bắn nhạn ven mây: ý nói trổ tài thi đỗ cao dù bài thi có khó.
1.
Đoạn trích trên thuộc thể loại văn học nào?
A.Truyện thơ
B.Thơ trữ tình
C.Truyện lịch sử
D.Truyện truyền kì
2.
Đoạn trích trên là lời của ai?
A.Nhân vật
B.Người kể chuyện và nhân vật
C.Người kể chuyện
D.Tác giả
3.
Ai là nhân vật chính của truyện, xét trong đoạn thơ nói trên?
A.Người ở quận Đông Thanh
B.Nhân vật người kể chuyện
C.Tôn sư
D.Lục Vân Tiên
4.
Người kể chuyện mong muốn điều gì khi kể chuyện, nhân xem truyện Tây
minh trước đèn?
A.Lưu ý về chuyện nhân tình éo le
B.Răn dạy việc làm người
C.Dặn dò chuyện quan hệ trai gái
D.Khuyên nhủ học trò chú tâm thi cử
5.
Đoạn trích kể về sự việc gì?
A.Kể về ý chí lập thân và khát vọng công danh của Lục Vân Tiên

B.Kể về thân thế của Lục Vân Tiên và việc chàng xin thầy được về đi thi
C.Kể về truyện Tây minh và những điều trai gái cần làm sau khi đọc truyện
D.Kể về tài nghệ văn võ của Lục Vân Tiên
6.
Câu thơ nào dưới đây miêu tả tài nghệ của Lục Vân Tiên?
A.Chí lăm bắn nhạn ven mây
B.Tuổi vừa hai tám, nghề chuyên học hành
C.Võ thêm ba lược, sáu thao ai bì
D.Đã tươi khí tượng lại xuê tinh thần
7.
Vì sao đang chuyên tâm học hành, Vân Tiên lại vào tạ tôn sư xin về?
A.Vì đã phải chịu nhiều lao đao nơi cửa Khổng sân Trình
B.Vì để làm rạng danh mình, vang tiếng thầy
C.Vì muốn dự hội khoa thi, khi đã tinh thông văn võ
D.Vì phải về báo hiếu cha mẹ ở quê nhà
8.
Qua lời của nhân vật, tác giả thể hiện quan niệm gì về chuyện thi cử ở thời xưa?
A.Thi cử là để khẳng định tài nghệ văn võ.
B.Thi cử là để khẳng định lòng trung hiếu.
C.Thi cử là để lập thân, vang danh với đời, báo đền các ơn sâu.
D.Thi cử là để tu nhân tích đức, sớm sinh con hiền.
9.
Em nghĩ như thế nào về quan niệm của Nguyễn Đình Chiểu được thể hiện qua
các câu thơ sau: “Trước đèn xem truyện Tây minh/ Gẫm cười hai chữ nhân tình éo
le / Hỡi ai lẳng lặng mà nghe / Dữ răn việc trước, lành dè thân sau/ Trai thời trung
hiếu làm đầu / Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”.
10.
Trong quan niệm xưa, học hành là để thi cử, đỗ đạt, từ đó được vinh hiển, rạng
danh. Em nghĩ như thế nào về quan niệm này. Với em học hành, thi cử là để làm
gì?

Đọc văn bản sau và thự hiện các yêu cầu:

HOA SEN MÙA LẠNH

Tế Nam có một đạo nhân, không biết quê quán ở đâu, cũng không rõ họ tên là gì, mùa
đông hay mùa hè đều mặc một chiếc áo mỏng, thắt một sợi dây lưng màu vàng, ngoài
ra không còn quần áo gì khác. Ông ta thường chải đầu bằng nửa miếng lược gỗ, chải
xong lại cài vào tóc, làm như đội mũ; ngày ngày đi chân đất lang thang ngoài chợ,
đêm thì ngủ ở đầu đường. Quanh chỗ ông ta nằm khoảng vài thước, băng tuyết tan
hết. Khi mới đến đất Tế, ông thường làm trò ảo thuật cho mọi người xem, người trong
phố tranh nhau cho tiền.
(...)
Các nhà quyền quý nghe thấy lạ, mời đến, cùng ông giao du. Từ đấy ông thường qua
lại nhà các tiên sinh trong làng. Các vị quan to trong hạt đều nghe danh, mỗi khi có
yến tiệc thường dắt đạo nhân đi cùng.
Một hôm, đạo nhân thết tiệc ở ngôi đình thuỷ tạ để đáp lễ các quan. Tới ngày hẹn các
quan khách đều nhận được thiếp mời của đạo nhân để trên án thư, mà không biết từ
đâu tới. Quan khách tới nơi, đạo nhân bước ra, khúm núm đón tiếp. Vào bên trong,
thấy thuỷ đình trống rỗng, im lặng như tờ, bàn ghế cũng chưa kê, đều ngờ là lừa gạt.
Đạo nhân thưa với các quan rằng:
– Bần đạo không có người hầu, phiền các ngài cho mượn mấy người tuỳ tùng đỡ tay
một lút.
Các quan cùng xin vâng. Đạo nhân vẽ lên vách hai cánh cửa, lấy tay gõ, nghe bên
trong có tiếng thưa, liền rút then nâng cửa lên. Mọi người đổ xô ngó vào, thấy bên
trong thấp thoáng những người qua lại. Bình phong rèm cửa, bàn ghế đều đủ cả. Rồi
có người truyền đem tất cả mọi thứ ra cửa ngoài. Đạo nhân sai bọn người hầu của các
quan đỡ lấy bày ra giữa đình, lại dặn đừng nói chuyện với những người bên trong. Hai
bên trao nhận chỉ nhìn nhau mà cười. Giây lát mọi thứ trang hoàng, bày đặt lịch sự
đến cùng cực. Thế rồi rượu ngon toả hơi ngào ngạt, mùi chả nướng thơm lừng, đều là
những thứ từ trong vách đưa ra cả. Tân khách không ai không kinh dị.
Nhà thuỷ đình vốn xây lưng ra mặt hồ. Hằng năm vào tháng sáu, hoa sen nở chạy dài
vài mươi khoảnh, bát ngát không thấy bờ. Nhưng bấy giờ đương vào tiết đông, ngoài
cửa sổ chỉ thấy mênh mông làn khói biếc. Chợt một vị quan than rằng:
– Hôm nay được hội tụ tưng bừng, chỉ tiếc không có hoa sen chấm phá tô điểm!
Mọi người cùng đồng thanh phụ hoạ. Phút chốc, một tên lệ mặc áo xanh chạy vào
bẩm:
– Lá sen đã phủ kín mặt hồ rồi!

Cả bàn tiệc cùng kinh ngạc, đẩy cửa sổ trông ra, quả thấy đầy tầm mắt đều là lá non
xanh biếc, chen lẫn với những bông sen. Rồi chỉ trong khoảng chớp mắt, muôn nghìn
đoá sen nở tung một lượt, một làn gió bấc thổi tới, hương thơm ngào ngạt thấm tận
tâm can. Mọi người đều lấy làm lạ lùng. Sai một tên nha lại chèo thuyền ra hái sen,
đứng xa trông thấy thuyền vào tít giữa hồ sen, một lát bơi về tay không lên trình quan.
Quan hỏi, nha lại thưa rằng:
– Tiểu nhân chèo thuyền đi, thấy hoa ở phía xa xa, dần dần sang tới bờ phía Bắc,
ngoảnh lại, lại thấy xa tắp mãi tận phía Nam.
Đạo nhân cười nói:
– Đó chỉ là những bông hoa giả ở trong ảo mộng.
Không bao lâu, tiệc rượu tàn, hoa sen cũng tả tơi héo úa. Gió bấc vụt nổi lên làm gãy
hết các cuống lá, không còn một cây nào sót lại.
Quan án Tế Đông bằng lòng lắm, dắt đạo sĩ về dinh, hằng ngày vui chơi tiêu khiển.
Một hôm quan cùng khách uống rượu. Nhà quan vốn có một thứ rượu ngon gia
truyền, mỗi lần uống hạn định chỉ lấy ra một đấu, không chịu cho uống tràn. Hôm ấy
khách uống ngon miệng, cố đòi dốc cạn vò, quan khăng khăng chối từ, lấy cớ rượu đã
nhẵn. Đạo nhân cười bảo khách rằng:
– Các ngài phàm nếu muốn nốc cho đã, cứ hỏi bần đạo này là được ngay.
Khách vâng liền. Đạo nhân cầm hồ (1) bỏ trong tay áo, giây lát lấy ra, rót khắp một
lượt, chẳng khác gì thứ rượu quan giấu trong nhà. Ai nấy say sưa thoả thích mới thôi.
Quan đâm ngờ, vào nhìn bình rượu, thì dấu niêm phong hãy còn nguyên, mà rượu đã
không còn một giọt. Trong bụng vừa thẹn vừa giận, lấy cớ là yêu quái, cho bắt đạo sĩ
đánh đòn. Gậy vừa quất vào, quan cảm thấy đùi mình thốt nhiên đau buốt; đánh thêm
một hèo nữa, thịt đùi tưởng như muốn toạc ra. Dưới thềm tuy đạo nhân cất tiếng kêu
rên, nhưng trên công đường, quan án đã chảy máu đầm đìa. Quan bèn truyền dừng
tay, không đánh nữa và đuổi đạo nhân đi. Đạo nhân bèn rời khỏi đất Tế, không biết là
đi đâu. Sau có người gặp ở Kim Lăng, cách ăn mặc vẫn như cũ. Hỏi, chỉ cười không
nói.
(Trích truyện Hoa sen mùa lạnh, tuyển tập truyện Liêu trai chí dị, quyển 3 – Bồ Tùng
Linh, NXB Văn nghệ TP.HCM, 2000).
Chú thích:
(1)Hồ: bầu đựng nước làm từ quả bầu khô.
1.
Nhân vật chính của truyện là những ai?
A.Đạo nhân, quan
B.Người dân, các nhà quyền quý
C.Khách, quan

D.Khách, đạo nhân
2.
Bữa tiệc đạo nhân thết đãi các quan diễn ra trong không gian và thời gian nào?
A.Nhà đạo sĩ, vào mùa xuân
B.Đình thuỷ tạ, vào tiết đông
C.Hồ sen, vào mùa hạ
D.Nhà quan, vào tiết thu
3.
Những lời thoại dưới đây, lời nào là lời của đạo nhân?
A.Lá sen đã phủ kín mặt hồ rồi!
B.Tiểu nhân chèo thuyền đi, thấy hoa ở phía xa xa, dần dần sang tới bờ phía Bắc,
ngoảnh lại, lại thấy xa tắp mãi tận phía Nam.
C.Đó chỉ là những bông hoa ở trong ảo mộng.
D.Hôm nay được hội tụ tưng bừng, chỉ tiếc không có hoa sen tô điểm!
4.
Vì sao quan khách ngỡ là bị lừa gạt khi đến dự buổi tiệc do đạo nhân thết đãi?
A.Vì thấy ngoài cửa sổ chỉ thấy mênh mông làn khói biếc.
B.Vì thấy muôn nghìn đoá sen nở tung một lượt, hương thơm ngào ngạt.
C.Vì thấy thiếp mời của đạo nhân để trên án thư, mà không biết từ đâu tới.
D.Vì thấy thuỷ đình trống rỗng, im lặng như tờ, bàn ghế cũng chưa kê.
5.
Chi tiết “dưới thềm tuy đạo nhân cất tiếng kêu rên, nhưng trên công đường,
quan án đã chảy máu đầm đìa” cho thấy tính chất gì của văn bản truyện kể?
A.Hiện thực
B.Kì ảo
C.Lãng mạn
D.Tượng trưng
6.
Vì sao đạo nhân rời khỏi đất Tề?
A.Đạo nhân bị quan đánh và đuổi đi.
B.Đạo nhân vốn ngày đi lang thang ngoài chợ, đêm ngủ ở đầu đường, nay đây mai đó.
C.Đạo nhân được các quan khách mời đến dinh thự của họ.
D.Đạo nhân đến nơi khác để làm ảo thuật, biểu diễn cho mọi người xem
7.
Sự kiện mang tính kì ảo nào khiến quan án Tế Đông thay đổi thái độ đối xử, từ
chỗ bằng lòng đến chỗ ghét, giận vị đạo nhân.
A.Quan bắt đạo sĩ đánh đòn, song gậy vừa quất vào, quan cảm thấy đùi mình thốt
nhiên đau buốt.

B.Trong khoảng chớp mắt, muôn nghìn đoá sen nở tung một lượt, nhưng tên nha lại
chèo thuyền ra hái sen chỉ bơi về tay không.
C.Đạo nhân bèn rời khỏi đất Tế, không biết là đi đâu.
D.Đạo nhân lấy rượu quý của quan cho quan khách (dấu niêm phong hãy còn nguyên,
mà rượu đã không còn một giọt).
8.
Dấu hiệu nào cho biết đoạn trích trên là một văn bản truyện truyền kì?
A.Không gian trong truyện có sự pha trộn giữa cõi trần và cõi tiên.
B.Truyện có nhiều sự kiện, chi tiết kì ảo.
C.Nhân vật chính là thần tiên, yêu quái.
D.Cốt truyện được tổ chức dựa vào các chuỗi sự kiện được sắp xếp theo trật tự tuyến
tính.
9.
Đoạn văn mở đầu (Tế Nam có một đạo nhân..., mọi người tranh nhau cho tiền.) có
ý nghĩa, và vai trò gì đối với toàn bộ truyện kể?
10.
Hành động của viên quan trong đoạn văn: “Quan đâm ngờ, vào nhìn bình rượu,
thì dấu niêm phong hãy còn nguyên, mà rượu đã không còn một giọt. Trong bụng
vừa thẹn vừa giận, lấy cớ là yêu quái, cho bắt đạo sĩ đánh đòn. Gậy vừa quất vào,
quan cảm thấy đùi mình thốt nhiên đau buốt; đánh thêm một hèo nữa, thịt đùi
tưởng như muốn toạc ra. Dưới thềm tuy đạo nhân cất tiếng kêu rên, nhưng trên
công đường, quan án đã chảy máu đầm đìa. Quan bèn truyền dừng tay, không
đánh nữa và đuổi đạo nhân đi”, gợi cho em những suy nghĩ và bài học gì?

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Mười ngày đã tới ải Đồng,
Minh mông 1 biển rộng đùng đùng sóng xao.
Đêm nay chẳng biết đêm nào,
Bóng trăng vằng vặc bóng sao mờ mờ.
Trên trời lặng lẽ như tờ,
Nguyệt Nga nhớ nỗi tóc tơ chẳng tròn.
Than rằng: “Nọ nước kìa non,
Cảnh thời thấy đó, người còn về đâu?”
Quân hầu đều đã ngủ lâu,
Lén ra mở bức rèm châu một mình:
“Vắng người có bóng trăng thanh,
Trăm năm xin gửi chút tình lại đây.
Vân Tiên anh hỡi có hay?
Thiếp nguyền một tấm lòng ngay với chàng”.
Than rồi lấy tượng vai mang,
Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.
(Trích Truyện Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu, in trong Nguyễn Đình
Chiểu toàn tập, tập I, NXB Đại học và THCN, Hà Nội, 1980)
* Bối cảnh đoạn trích: Kiều Nguyệt Nga được Lục Vân Tiên cứu khỏi đám cướp đã
đem lòng yêu mến, tự nguyện gắn bó suốt đời với Vân Tiên. Nghe tin Vân Tiên đã
chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con
trai không được, đem lòng oán thù, tâu vua bắt Kiều Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua.
Đoạn trích trên ghi lại tâm trạng của Kiều Nguyệt Nga trên đường đi cống giặc Ô
Qua.
Chú thích
1Minh mông: mênh mông (phát âm theo tiếng miền Nam).
1.
Đoạn thơ trên là lời của nhân vật nào?
A.Thái sư

B.Người kể chuyện
C.Lục Vân Tiên
D.Kiều Nguyệt Nga
2.
Xác định kiểu lời được sử dụng trong bốn dòng thơ: “Vắng người có bóng trăng
thanh,/ Trăm năm xin gửi chút tình lại đây./ Vân Tiên anh hỡi có hay?/ Thiếp
nguyền một tấm lòng ngay với chàng”.
A.Lời đối thoại
B.Lời độc thoại
C.Lời dẫn trực tiếp
D.Lời dẫn gián tiếp
3.
Phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích trên là gì?
A.Nghị luận
B.Biểu cảm
C.Miêu tả
D.Tự sự
4.
Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong hai dòng thơ sau?
“Than rồi lấy tượng vai mang,/ Nhắm dòng nước chảy vội vàng nhảy ngay.”
A.Điệp ngữ
B.Điệp cấu trúc
C.Điệp vần
D.Điệp thanh
5.
Hai dòng thơ: Than rằng: “Nọ nước kìa non,/ Cảnh thời thấy đó, người còn về
đâu?” cho biết niềm tâm sự gì của Kiều Nguyệt Nga?
A.Nhớ người yêu, không biết chàng nơi đâu
B.Oán trách số phận nghiệt ngã
C.Nhớ thương người thân vì lâu ngày chưa gặp
D.Nàng tự thương thân, không biết mình sẽ về đâu
6.
Vì sao Kiều Nguyệt Nga lại chọn nhảy xuống nước?
A.Tự vẫn để giữ trinh tiết, tấm lòng thuỷ chung với Vân Tiên
B.Đau khổ, tuyệt vọng của mình trước thực tại
C.Tìm đường chạy trốn khỏi đám quan quân đang canh giữ
D.Phản ứng trước việc nàng bị bắt đi cống giặc Ô Qua
7.
Bút pháp nghệ thuật nào được sử dụng chủ yếu trong đoạn thơ?

A.Bút pháp phóng đại
B.Bút pháp tả cảnh ngụ tình
C.Bút pháp lãng mạn
D.Bút pháp hiện thực
8.
Không gian trong câu thơ: “Minh mông biển rộng đùng đùng sóng xao.”gợi cho
em suy nghĩ gì?
9.
Vẻ đẹp tâm hồn của Kiều Nguyệt Nga được thể hiện như thế nào qua đoạn thơ
trên? (Viết câu trả lời trong khoảng 3 – 4 dòng).
10.
Thân phận của những người phụ nữ trong xã hội phong kiến được thể hiện qua
nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong đoạn trích ở những điểm nào? (Viết câu trả lời
trong khoảng 3 – 5 dòng).

Đọc văn bản sau và thự hiện các yêu cầu:
Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thuỷ1, nét xuân sơn2,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành 3,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc4 ngũ âm5,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm6 một trương7.
Khúc nhà tay lựa nên chương8,
Một thiên Bạc mệnh9, lại càng não nhân10.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Trích Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Văn học, Tái bản 2022)
Chú thích: 1Làn thu thuỷ: làn nước mùa thu.
Nét xuân sơn: Nét núi mùa xuân

2

Nghiêng nước nghiêng thành: Lấy ý ở một câu chữ Hán, có nghĩa là: ngoảnh lại nhìn
một cái thì thành người ta bị xiêu, ngoảnh lại nhìn cái nữa thì nước người ta bị
nghiêng ngả.
3

Làu bậc: thuộc lòng các cung bậc.

4

Ngũ âm: năm nốt trong âm giai của nhạc cổ.

5

Hồ cầm: đàn của người Hồ, một thứ đàn giống đàn nhị của Việt Nam.

6

7Một

trương: một cây

Nên chương: thành bài.

8

Một thiên Bạc mệnh: một bản nhạc có tên là Bạc mệnh.

9

Não nhân: làm cho lòng người sầu não, đau khổ.

10

1.
Đoạn trích trên sử dụng thể thơ gì?
A.Song thất lục bát
B.Lục bát
C.Bát ngôn xen lục ngôn
D.Thất ngôn xen lục ngôn
2.
Đoạn trích sử dụng lối gieo vần nào?
A.Vần cách
B.Vần liền
C.Vần chân
D.Vần lưng
3.
Vẻ đẹp của Thuý Kiều được nhà thơ gợi tả qua những chi tiết nào?
A.Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
B.Nghiêng nước, nghiêng thành
C.Sắc sảo, mặn mà
D.Phong lưu, xuân xanh
4.
Tác giả sử dụng bút pháp gì khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều?
A.Bút pháp phóng đại
B.Bút pháp tả cảnh ngụ tình
C.Bút pháp trần thuật
D.Bút pháp ước lệ tượng trưng
5.
Những câu thơ sau cho thấy Thúy Kiều là người như thế nào?
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân
A.Có vẻ đẹp tâm hồn bên trong
B.Có sự thông minh, sắc sảo
C.Có vẻ đẹp hình dáng bên ngoài
D.Có tài cầm, kì, thi, hoạ

6.
Tác giả sử dụng thủ pháp nghệ thuật nào trong câu thơ: “Một hai nghiêng nước
nghiêng thành”?
A.Hình ảnh tượng trưng
B.Nghệ thuật phóng đại
C.Nghệ thuật hoán dụ
D.Sử dụng điển tích, điển cố
7.
Qua cung đàn Kiều sáng tác, em hiểu gì về nhân vật này?
A.Là người gắn bó với gia đình
B.Là người có trái tim đa sầu, đa cảm
C.Là người tươi vui, lạc quan
D.Là người có tình yêu thuỷ chung
8.
Qua những câu thơ miêu tả Thúy Kiều trong đoạn trích, Nguyễn Du dự báo cuộc
đời nàng diễn ra theo chiều hướng nào?
A.Bình lặng, suôn sẻ
B.Trắc trở, khổ đau
C.Giàu sang, phú quý
D.Hạnh phúc, vinh hiển
9.
Dụng ý của tác giả khi miêu tả Thúy Kiều trong câu thơ: “Hoa ghen thua thắm,
liễu hờn kém xanh” là gì?
10.
Qua đoạn trích trên kết hợp với hiểu biết của em, hãy viết một đoạn văn (khoảng
100 từ), liên hệ vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều với hình ảnh người phụ nữ Việt
Nam hiện đại.

TỰ TÌNH (BÀI II – HỒ XUÂN HƯƠNG)

Những nhà thơ lớn xưa nay đều là những nhà thơ của cảm thức về thời gian. Trong ba
bài Tự tình của Hồ Xuân Huơng thì có tới hai bài cảm thức về thời gian đã trở thành
cái nền của tâm trạng. Tự tình (bài I) mở đầu và kết thúc là những câu thơ cảm thức về
thời gian: "Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom", "Thân này đâu đã chịu già tom". Tự
tình (bài II) cũng là môt kết cấu vòng tròn, mở ra bằng sự cảm nhận về thời gian:
"Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn" và khép lại cũng trong sự cảm nhận về thời
gian: "Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại – Mảnh tình san sé tí con con".
Thời gian là một thế lực nghịch đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là với tuổi
trẻ và tình yêu. Ý thức về tuổi trẻ, về tình yêu thường đi liền với cảm thức về thời
gian. Hồ Xuân Hương là người ý thức rất sâu, rất đậm về duyên tình, duyên phận, hơn
nữa bà lại là nhà thơ của ý thức về nữ tính nên yếu tố thời gian càng sâu đậm hơn.
Cảm thức về thời gian trong thơ Hồ Xuân Hương gắn liền với duyên tình, duyên phận.
Bà vừa như thách đố thời gian để nở nụ cười chiến thắng: "đâu đã chịu già tom" lại
vừa phải thừa nhận một thực tế phũ phàng để ngậm cười chua chát: "Ngán nỗi xuân đi
xuân lại lại".
Để hiểu Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương có lẽ cũng cần xuất phát từ khía cạnh
trên.
Bài thơ nêu lên một nghịch đối: duyên phận muộn màng, lỡ dở trong khi thời gian cứ
lạnh lùng trôi qua. Nghịch đối này dẫn đến tâm trang vừa buồn tủi, vừa phẫn uất
nhưng cuối cùng vẫn đọng lại nỗi xót xa.
Ở Tự tình (bài II), là nỗi niềm buồn tủi của Xuân Hương được gợi lên giữa một đêm
khuya:
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
Thông thường, giữa không gian rợn ngợp con người cảm thấy mình nhỏ bé, cô đơn. Ở
đây Xuân Hương lại cảm nhận sự cô đơn trước thời gian. Thời gian cũng vô thuỷ, vô
chung như không gian nhưng chứa đựng trong bước đi của nó còn là sự phá huỷ. Cái
mô típ "văng vẳng" trong thơ Hồ Xuân Hương dù có đùa vui thì cũng là mô típ não
lòng: "Văng vẳng tai nghe tiếng khóc chồng" (Dỗ người đàn bà chồng chết). Trong
hai bài Tự tình, mô típ "văng vẳng" không chỉ não lòng mà còn là lo lắng. Nhà thơ
nghe "văng vẳng" không đơn thuần là cảm nhận âm thanh mà còn là "nghe" thời gian
trôi. So với câu thơ đầu của Tự tình (bài I): "Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom" thì câu
đầu Tự tình (bài II) buồn hơn: "Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn". Cái nhịp gấp
gáp, liên hồi của tiếng trống vừa là sự cảm nhận vừa là sự thể hiện bước đi dồn dập
của thời gian và sự rối bời của tâm trạng.

(Trích “Tự tình (Bài II – Hồ Xuân Hương), Phân tích tác phẩm văn học trung đại Việt
Nam từ góc nhìn thể loại, Lã Nhâm Thìn, NXB Giáo dục Việt Nam 2009, trang 83 –
84)
1.
Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn trích.
A.Thuyết minh
B.Tự sự
C.Nghị luận
D.Biểu cảm
2.
Đối tượng nghị luận của đoạn trích trên là gì?
A.Hai bài thơ Tự tình (bài I) và Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương.
B.Bài thơ Tự tình (bài I) của Hồ Xuân Hương.
C.Bài thơ Tự tình (bài II) của Hồ Xuân Hương.
D.Ba bài thơ Tự tình (bài I) và Tự tình (bài II), Tự tình (bài III) của Hồ Xuân Hương.
3.
Trong đoạn trích, người viết tập trung làm rõ vấn đề nào trong những bài thơ Tự
tình của Hồ Xuân Hương?
A.Mở đầu và kết thúc
B.Cảm thức về thời gian
C.Kết cấu vòng tròn
D.Mô típ "văng vẳng"
4.
Tác giả sử dụng cách thức triển khai luận điểm nào trong câu văn dưới đây:
Ở Tự tình (bài II) là nỗi niềm buồn tủi của Xuân Hương được gợi lên giữa một đêm
khuya:
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn,
Trơ cái hồng nhan với nước non.
A.Sử dụng biện pháp tu từ so sánh
B.Sử dụng lí lẽ để triển khai luận điểm
C.Liên hệ với các bài thơ khác cùng chủ đề
D.Dùng cách trích dẫn dẫn chứng trong bài thơ
5.
Câu văn nào sau đây là vấn đề nghị luận cần làm sáng tỏ trong đoạn trích?
A.Tự tình (bài I) mở đầu và kết thúc là những câu thơ cảm thức về thời gian: "Tiếng
gà văng vẳng gáy trên bom", "Thân này đâu đã chịu già tom".
B.Trong ba bài Tự tình của Hồ Xuân Hương thì có tới hai bài cảm thức về thời gian
đã trở thành cái nền của tâm trạng.

C.Tự tình (bài II) cũng là môt kết cấu vòng tròn, mở ra bằng sự cảm nhận về thời
gian: "Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn" và khép lai cũng trong sự cảm nhận về
thời gian: "Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/ Mảnh tình san sé tí con con".
D.Những nhà thơ lớn xưa nay đều là những nhà thơ của cảm thức về thời gian.
6.
Theo anh/ chị, từ “vô thủy vô chung” trong câu: “Thời gian cũng vô thuỷ, vô
chung như không gian nhưng chứa đựng trong bước đi của nó còn là sự phá
huỷ.” có nghĩa là gì?
A.Không có bắt đầu cũng không có kết thúc
B.Có bắt đầu nhưng không có kết thúc
C.Có bắt đầu và có kết thúc
D.Không có bắt đầu nhưng có kết thúc
7.
Theo tác giả, sự độc đáo của Hồ Xuân Hương trong cảm thức về thời gian là gì?
A.Sự cô đơn trước không gian.
B.Duyên phận muộn màng, lỡ dở trong khi thời gian cứ lạnh lùng đứng yên.
C.Duyên phận muộn màng, lỡ dở trong khi thời gian cứ lạnh lùng trôi qua.
D.Sự cô đơn trước thời gian.
8.
Theo tác giả, đâu KHÔNG phải là ý niệm về thời gian của Hồ Xuân Hương trong
hai bài thơ Tự tình (bài I) và Tự tình (bài II)?
A.Trước thời gian đang ngưng đọng là sự rối bời của tâm trạng con người.
B.Thời gian cũng vô thuỷ, vô chung như không gian nhưng chứa đựng trong bước đi
của nó còn là sự phá huỷ.
C.Trước thời gian đang trôi chảy, con người cảm thấy mình nhỏ bé, cô đơn.
D.Thời gian là một thế lực nghịch đối với cuộc sống của con người, đặc biệt là với
tuổi trẻ và tình yêu.
9.
Trong đoạn trích, tác giả viết: “Hồ Xuân Hương là người ý thức rất sâu, rất đậm
về duyên tình, duyên phận, hơn nữa bà lại là nhà thơ của ý thức về nữ tính…”.
Anh/chị có đồng tình với ý kiến trên không? Vì sao?
10.
Tìm câu ghép và xác định quan hệ ý nghĩa giữa các vế câu trong đoạn văn sau:
“Thông thường, giữa không gian rợn ngợp con người cảm thấy mình nhỏ bé, cô
đơn. Ở đây Xuân Hương lai cảm nhận sự cô đơn trước thời gian. Thời gian cũng
vô thuỷ, vô chung như không gian nhưng chứa đựng trong bước đi của nó còn là
sự phá huỷ.”
 
Gửi ý kiến