Giáo dục địa phương Lớp 9

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lương Thị Lành
Ngày gửi: 20h:28' 27-02-2025
Dung lượng: 17.5 MB
Số lượt tải: 15
Nguồn:
Người gửi: Lương Thị Lành
Ngày gửi: 20h:28' 27-02-2025
Dung lượng: 17.5 MB
Số lượt tải: 15
Số lượt thích:
0 người
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH LẠNG SƠN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỒNG HUY GIỚI – HÀ THỊ KHÁNH VÂN (đồng Tổng Chủ biên)
NGUYỄN VĂN DŨNG – NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN – PHẠM THỊ MAI NGỌC – LÊ THỊ MINH NGUYỆT
NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ – HỒ THỊ HỒNG VÂN (đồng Chủ biên)
VŨ THỊ LAN ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – NGÔ THẾ ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
NGUYỄN THU HẰNG – NGUYỄN THANH HỒNG – NGUYỄN THANH MAI – LƯU HOA SƠN – ĐỖ TRUNG SỸ
HOÀNG VĂN THAO – TRIỆU HOÀNG THUÝ – DƯƠNG ANH TUÂN – LƯƠNG ÁNH TUYẾT
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH
LẠNG SƠN
9
LỚP
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 đều
được chỉ dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn học sinh theo những chỉ
dẫn này. Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.
KHỞI ĐỘNG / MỞ ĐẦU
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung chủ đề,
tạo hứng thú cho học sinh tìm hiểu bài mới
KHÁM PHÁ / HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI / TÌM HIỂU BÀI ĐỌC
Phát hiện, hình thành các kiến thức, kĩ năng mới
LUYỆN TẬP / THỰC HÀNH
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
yêu cầu cần đạt của chủ đề
VẬN DỤNG
Vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học
vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu này
để dành tặng các em học sinh lớp sau.
2
LỜI NÓI ĐẦU
Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học
khác. Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá,
lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang
bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào
về quê hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân
trọng và có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh
địa phương, vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết
những vấn đề của địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 được biên soạn bao gồm khung
chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm
8 chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn
tài liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan.
Nội dung, thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát
mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học
sinh tương ứng với lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương
pháp, hình thức dạy học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm
phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh.
Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 là các chuyên gia,
các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học
cơ sở, Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm
Lạng Sơn. Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ
quản lí giáo dục, giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các
hội nghị, hội thảo; đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học
cơ sở trên địa bàn tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi
và thực tiễn cao.
Tài liệu đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định, Bộ Giáo dục và Đào tạo
phê duyệt. Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !
3
MỤC LỤC
Trang
LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG....................................................... 5
Chủ đề 1. Ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn ......................................................................................... 5
Chủ đề 2. Văn học hiện đại Lạng Sơn ............................................................................................................................. 8
Chủ đề 3. Lạng Sơn trong thời kì đấu tranh giành độc lập
và bảo vệ Tổ quốc (1919 – 1975) ............................................................................................................ 19
Chủ đề 4. Lạng Sơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
(từ năm 1975 đến nay) ................................................................................................... 29
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP ......................................................... 35
Chủ đề 5. Địa lí các ngành kinh tế tỉnh Lạng Sơn............................................................................................. 35
Chủ đề 6. Định hướng nghề nghiệp sau Trung học cơ sở
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn........................................................................................................................... 53
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ..................................................... 64
Chủ đề 7. Tìm hiểu khái quát tình hình chính trị – xã hội tỉnh Lạng Sơn.................................. 64
Chủ đề 8. Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ..................................................... 69
4
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
TRUYỀN THỐNG
LĨNH VỰC
CHỦ ĐỀ
1
NGÔN NGỮ DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Ở LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
• Làm được cuốn từ điển tiếng Tày hoặc tiếng Nùng về một chủ đề tự chọn.
• Lựa chọn được hình thức giới thiệu về cuốn từ điển và xác định được những
việc cần làm để gìn giữ, phát huy ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở địa phương.
Bạn của em đến du lịch Lạng Sơn. Sau khi trở về, bạn ấy muốn có một cuốn từ điển
về ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn để giới thiệu cho các bạn cùng lớp.
Em sẽ làm gì để giúp bạn có được cuốn từ điển đó?
I. LÀM CUỐN TỪ ĐIỂN TIẾNG TÀY, NÙNG VỀ MỘT CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN
1. Lập kế hoạch xây dựng từ điển về một chủ đề tự chọn
Để việc tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ Tày hoặc Nùng ở Lạng Sơn có hiệu quả,
bên cạnh vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã được học trong chương trình, việc lập
kế hoạch, thu thập và xử lí thông tin đóng vai trò rất quan trọng.
Có thể dựa vào bảng kế hoạch sau để lập kế hoạch làm cuốn từ điển tiếng Tày
hoặc tiếng Nùng về một chủ đề tự chọn. Đối với chủ đề này, khuyến khích cách làm
việc nhóm.
5
KẾ HOẠCH LÀM VIỆC NHÓM
‒ Tên kế hoạch
‒ Mục tiêu kế hoạch
Nội dung
công việc
Yêu cầu
công việc
Thời gian
thực hiện
Người
thực hiện
Đánh giá
(Đã hoàn thành/
Chưa hoàn thành)
Ghi chú
Tìm kiếm
thông tin
Xử lí
thông tin
Biên tập
nội dung
Thiết kế bìa,
hình thức
2. Tìm kiếm thông tin
* Có thể tìm kiếm thông tin từ các nguồn sau:
– Tìm đọc trong thư viện của nhà trường hoặc thư viện ở địa phương các tác phẩm
văn học dân gian, các bài viết, sách nghiên cứu, tài liệu lịch sử, địa lí, văn hoá địa
phương nơi sinh sống để hiểu về từ địa phương, tiếng Tày, tiếng Nùng ở Lạng Sơn.
– Sử dụng internet để tìm kiếm thông tin bằng các từ khoá liên quan: “từ ngữ địa
phương”, “biệt ngữ xã hội”, “tiếng Tày”, “tiếng Nùng”,…
– Tham khảo thông tin từ thầy cô giáo, gia đình, người thân và những người xung
quanh, đặc biệt là những người dân tộc Tày, Nùng sống quanh em.
* Gợi ý một số chủ đề ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng: số đếm, thời gian, con vật,
cây cối, vật dụng, hoạt động,…
Em có thể tham khảo các thông tin về ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng theo bảng
gợi ý dưới đây:
STT
1
6
Tiếng
Tày/Nùng
Từ loại
Nghĩa
tiếng Việt
Tua mu
Danh từ
Con lợn
2
Tua vài
Danh từ
Con trâu
3
Tua lình
Danh từ
Con khỉ
Những câu ca dao, thành ngữ,
tục ngữ,... Tày/Nùng (nếu có)
Vài ké vài ăn, không lăng tó đét
(Trâu già da mốc, phơi lưng giữa trời)
(Là cái gì?)
Hình ảnh
minh hoạ
3. Xử lí thông tin
Từ nội dung thông tin đã tìm kiếm được, em hãy:
– Trao đổi, thảo luận, kiểm tra lại tính chính xác của những từ ngữ, những câu ca dao,
thành ngữ, tục ngữ,...
– Tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa nội dung của mỗi chủ đề.
4. Thiết kế cuốn từ điển
Bước 1: Mỗi cá nhân trình bày và giải thích ý tưởng thiết kế sản phẩm của mình cả
về nội dung và hình thức (ý tưởng nên được chuẩn bị cụ thể, chi tiết và có minh hoạ).
Bước 2: Cả nhóm trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng.
* Một số lưu ý:
– Trình bày theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Việt.
– Theo thứ tự các dấu thanh: không dấu, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc, dấu nặng.
Bước 3: Sau khi tập hợp tài liệu, cần lập danh sách các mục từ, nghĩa của từng từ, sau
đó rà soát lại toàn bộ nội dung các từ tập hợp được để hoàn thiện bản thảo.
Bước 4: Hoàn thiện sản phẩm (có thể soạn thảo trên máy tính, in ấn, đóng quyển
hoặc trình bày thủ công bằng hình thức viết, vẽ bằng tay, đóng quyển).
II. GIỚI THIỆU CUỐN TỪ ĐIỂN
1. Thảo luận, thống nhất đề cương bài thuyết trình và lựa chọn hình thức thuyết
trình phù hợp với điều kiện học tập của nhóm. Có thể trình chiếu PowerPoint
(nếu có điều kiện lớp học phù hợp), làm video giới thiệu, trưng bày tại một góc
triển lãm ảnh trong khuôn viên trường học,...
2. Thuyết trình trước lớp về cuốn từ điển của nhóm.
3. Theo dõi, nhận xét, góp ý phần trình bày của các nhóm khác.
1. Em hãy nêu quy trình làm cuốn từ điển tiếng Tày hoặc tiếng Nùng về một chủ đề
tự chọn.
2. Em có thể tìm kiếm thông tin về tiếng Tày, Nùng từ những nguồn nào?
3. Cần lưu ý điều gì khi giới thiệu cuốn từ điển tiếng Tày, Nùng về một chủ đề tự chọn?
Em hãy tìm kiếm và bổ sung ít nhất 5 từ tiếng Tày, Nùng vào cuốn từ điển của nhóm em.
7
CHỦ ĐỀ
2
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nhận biết và phân tích được nét độc đáo về hình thức nghệ thuật của các
tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ,
các biện pháp tu từ.
● Viết được một bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm Đêm tháng
Sáu hoặc Núi vua Ngự: phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của đoạn trích và hiệu quả thẩm mĩ của nó.
● Biết thảo luận về một tác giả của văn học hiện đại Lạng Sơn.
● Biết yêu quý, trân trọng những tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn.
Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp:
– Tên một số tác giả tiêu biểu và tác phẩm xuất sắc của văn học hiện đại Lạng Sơn
mà em biết.
– Những việc em đã làm để góp phần quảng bá các tác phẩm văn học hiện đại
Lạng Sơn.
Tiểu dẫn
Ra đời từ “cái nôi” lịch sử và văn hoá của quê hương, văn học Lạng Sơn có sức
sống và vẻ đẹp riêng qua mỗi thời kì phát triển. Chủ đề này tập trung giới thiệu
về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc giai đoạn văn học hiện đại Lạng Sơn.
8
I. THƠ
1. Tác giả
Mã Thế Vinh (bút danh Mai Thế, Mã Tào) là nhà thơ dân tộc Nùng, sinh năm 1932,
quê ở xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Thơ là sở trường của Mã Thế Vinh.
Hình ảnh thơ ông mộc mạc, gần gũi, thân thương, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên,
con người quê hương xứ Lạng. Các sáng tác của ông có tính chính trị sâu sắc, đậm chất
sử thi, ca ngợi Đảng, Bác Hồ và thể hiện niềm tự hào về mảnh đất Lạng Sơn anh hùng.
Thơ ông bộc lộ tình cảm yêu thương, kính trọng, tự hào và thể hiện sự hiểu biết sâu
sắc về cuộc sống, con người xứ Lạng.
Hình 1. Nhà thơ Mã Thế Vinh
Một số tác phẩm chính của ông: Vẽ bản đồ quê tôi (thơ Tày – Nùng, 1961); Truyện thơ
(song ngữ Tày – Nùng, 1995); Con đường anh đi (tập thơ, 1997); Con mực bé Páo
(tập truyện thiếu nhi, 2004); Truyện thơ, trường ca Mã Thế Vinh (2005); Hai vết sẹo
(truyện, 2011); Cảu Khay (tập truyện cổ tích, 2012); Tuyển tập Mã Thế Vinh (Song ngữ
Tày, Nùng – Việt, 2013).
Mã Thế Vinh là nhà thơ có vị trí hàng đầu của văn học Lạng Sơn hiện đại.
Ông đạt Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất (1995),
lần thứ III (2009), lần thứ IV (2014) do Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn trao tặng
và nhiều giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian, Hội Văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam.
9
2. Văn bản
ĐÊM THÁNG SÁU
Mã Thế Vinh
Chập chờn đêm tháng Sáu
Đường tháng Sáu chập chờn
Cánh đồng ruộng vào mùa
Những đêm trăng ken lối
Lúa xuân phơi hạt óng
Chạy mau theo nhịp thở
Thóc tràn bờ về kho
Oà vào đồng trăng ơi
Ôm bó lúa chất cao
Đêm hè như ngắn lại
Cả chân trời bừng sáng
Ta đo chiều chiếu chăn
Từng nhịp thở nhặt khoan
Chập chờn đêm tháng Sáu
Canh năm lòng thao thức!...
Thôn bản ta hôm nay
Tiếng chày giã trong đêm
Trăng lồng đầy bồ thóc
Động trời gà ran gáy
Những vòm trời ấm no
Mở chân trời hạnh phúc
Bếp nhà dưới nhà trên
Gối vụ đông, vụ hè
Những “cô dâu” nhóm lửa
Nối xuân vào tiếng máy
Má ửng hồng trong đêm
Đất ngập đầy hương hoa.
Ngỡ mặt trời thức dậy
1972 – 1973
(Tuyển tập Mã Thế Vinh,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Em có biết?
Tuyển tập Mã Thế Vinh là công trình có giá trị khẳng định những đóng góp của nhà thơ
trong việc góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những vẻ đẹp văn hoá truyền thống
của văn học các dân tộc thiểu số nói riêng, văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Bài thơ
Đêm tháng Sáu không chỉ tiêu biểu cho phong cách thơ Mã Thế Vinh mà còn tiêu biểu
cho phong cách, ngôn ngữ biểu đạt thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn.
10
1. Bài thơ có thể chia làm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc hoạ khung cảnh thiên nhiên đêm tháng Sáu.
Nêu cảm nhận của em về khung cảnh ấy.
3. Nêu cảm nhận của em về cuộc sống của người dân miền núi trong bài thơ. Chỉ
ra một số biện pháp tu từ được tác giả sử dụng để khắc hoạ cảnh sinh hoạt đó.
4. Nêu chủ đề của bài thơ. Theo em, hình thức thơ 5 chữ có tác dụng gì trong việc
thể hiện chủ đề của bài thơ?
II. VĂN XUÔI
1. Tác giả
Nguyễn Trường Thanh (1934 – 2016), bút danh
Trường Thanh, Nguyễn Hoàng Đạt, quê ở huyện
Đông Anh, Hà Nội. Ông vốn là một nhà giáo được
cử lên công tác tại Lạng Sơn từ năm 1964.
Sáng tác của Nguyễn Trường Thanh chủ yếu
tập trung vào thể loại tiểu thuyết lịch sử. Ông viết
về các sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử chiến
tranh bảo vệ đất nước của nhân dân Lạng Sơn
(từ thời phong kiến đến kháng chiến chống thực
dân Pháp) với cảm hứng ngợi ca những nhân vật Hình 2. Nhà văn Nguyễn Trường Thanh
lịch sử tiêu biểu, những tấm gương trung nghĩa,
những con người đã cống hiến tài trí, tâm huyết, sinh mệnh cho quê hương, đất nước;
thể hiện tấm lòng, tình cảm sâu đậm của ông đối với mảnh đất, con người xứ Lạng.
Nhà văn Nguyễn Trường Thanh đã xuất bản trên 20 đầu sách, gồm nhiều thể loại:
thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, kịch bản phim, tiểu luận phê bình. Một số tác phẩm
chính của ông: Kì tích Chi Lăng (tiểu thuyết, 1981), Hoa trong bão (tiểu thuyết, 1994),
Tướng không phong hàm (tiểu thuyết, 1998), Nữ điệp báo Lạng thành (truyện, 1999),
Một thời biên ải (tiểu thuyết, 2000), Ngôi nhà của cha (tiểu thuyết, 2007), Dặm dài ải Bắc
(truyện, 2012), Tiếng đàn sơn cước (truyện và kí, 2013).
Nguyễn Trường Thanh là nhà văn có đóng góp quan trọng cho lịch sử văn học
Lạng Sơn hiện đại. Ông đạt Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ lần thứ
nhất (1995), lần thứ II (1999), lần thứ III (2009), lần thứ IV (2014) do Uỷ ban nhân dân
tỉnh Lạng Sơn trao tặng.
11
2. Văn bản
NÚI VUA NGỰ
Nguyễn Trường Thanh
Đến Chi Lăng, nếu bạn chưa có dịp leo lên đỉnh Bảo Đài Sơn ngắm phong cảnh
hùng vĩ của cả vùng núi non sông nước muôn trùng xin hãy gắng mà leo lên núi Vua
Ngự Đường Thượng Sơn phía tây, sau làng Khuôn Áng, xã Quang Lang, đường Hạ Sơn
phía đông thuộc xã Quan Sơn. Mỗi bậc lên, xuống còn in đậm dấu tích ông cha xưa
qua nghệ thuật xếp đá mà ngót hàng ngàn năm phong hoá và xâm thực của mưa gió
vẫn “trơ như đá, vững như đồng”. Mùa thu, đi theo dấu tích của người xưa, ta lên đầu
núi cao bằng phẳng, chói loà ánh nắng, nơi có bệ vua ngồi, có dấu tích của cái chảo
vàng, mười hai quai kì lạ... Đứng ở đây, hướng mặt về phía tây ta nhìn rõ mồn một toàn
cảnh trận đồ Chi Lăng như trong lòng bàn tay. Một dãy núi đá chạy tít về tận Bắc Sơn,
dưới chân núi đá là thượng nguồn sông Thương như con trăn bạc khổng lồ trườn qua
núi, đồi, nương rẫy, uốn khúc quanh co chạy về phía nam. Nối tiếp với đỉnh núi Vua Ngự
là núi tiếp núi, rừng tiếp rừng qua những khe dọc, suối sâu, đèo cao chạy dài từ bắc
xuống nam, sau lưng là bạt ngàn rừng già gỗ quý. Cả trận đồ Chi Lăng hiện ra giữa một
bên là dãy núi trầm mặc uy nghiêm ở phía tây và một bên là núi đất cao với rừng đại
ngàn xạc xào cây lá... Phong cảnh hùng vĩ của một vùng đất nổi tiếng sử xanh này dẫn
ta đi ngược thời gian về với xa xưa qua câu chuyện kể kì thú sau:
Ấy là sau một đêm ghi nhớ, tại hang Thái Đức, Lê Hoàn đã thức trắng đêm cùng các
tướng sĩ tuỳ tùng bàn bạc với các bô lão và tù trưởng trong vùng bàn mưu kế xây ải
Chi Lăng chống giặc.
Lê Hoàn say mê bàn việc nước đến nỗi sáng lúc nào mà không biết, khi đằng đông,
chân trời đã ửng đỏ, Lê Hoàn còn một nỗi băn khoăn là phải tìm được ngọn núi nào
thuận lợi nhất có thể bao quát được toàn cảnh trận đồ Chi Lăng thì mới yên lòng.
Các bô lão trong vùng biết điều đó, nhưng lo cho nhà vua lâu nay đã rong ruổi trên đường
dài biên cương tìm kế chống giặc giữ nước, đêm qua lại thức trắng, lấy sức đâu mà đi.
Vì vậy, các bô lão kiên quyết mời vua nghỉ lấy sức ngày mai lên núi cũng chưa muộn.
Lê Hoàn mỉm cười hồn hậu, nói:
– Giặc có bao giờ chờ cho ta và các người nghỉ lấy sức rồi mới động binh xâm chiếm
nước ta đâu!
Lời nói của Lê Hoàn có sức thuyết phục mạnh đến nỗi các bô lão lại cùng nhà vua
vui vẻ lên đường.
12
Từ đó đỉnh núi không tên này đã đi vào lịch sử: Núi Vua Ngự. Đêm ấy, vua tôi hạ trại
tại đỉnh núi này bày mưu chống giặc.
Thấy một hồ nước nhỏ, trong vắt trên núi cao, Lê Hoàn vui sướng reo lên:
– Đây không chỉ là nơi đặt vọng gác tiền tiêu tốt mà còn là hậu cứ tiếp tế cho quân
ta đánh tập hậu không nơi nào bằng, lương thảo chuyển lên lại không khó bằng đồ
nấu ăn cho sĩ tốt.
Đầu canh tư đêm ấy, vua tôi đang thiu thiu ngủ thì có một ông già râu tóc bạc phơ,
chống gậy trúc đốt lửa bằng gỗ hoàng đàn thơm phức dẫn đường cho hai lực sĩ lặc lè
khiêng một chiếc chảo to, có mười hai quai đến yết kiến và xin dâng lên nhà vua chiếc
chảo nuôi quân “nấu một lần ăn mười bữa” ăn đến đâu, cơm lại đầy đến đấy.
Lê Hoàn vui sướng reo lên:
– Xin đa tạ lão trượng. Chảo này có lẽ là nồi Thạch Sanh tái sinh chăng?...
Chưa nói hết câu, ông già và hai chàng trai đã biến mất vào rừng sâu ào ào gió
dông chỉ còn lại chiếc chảo quý mười hai quai đang chìm dần vào trong lòng núi, cơ
hồ cũng sắp biến mất như chủ của nó chăng?
Nhà vua bước nhanh đến chiếc chảo lạ lúc đó đã chìm sâu hai phần, sờ vào quai
chảo mà nói:
– Ta chưa kịp tạ ơn hạnh ngộ, người đã định đi sao?
Tức thì chiếc chảo lạ xoay tít một vòng như chào vua và dừng lại, hai phần chìm,
một phần nổi.
Chiếc chảo đó đã góp phần quan trọng trong công việc nuôi quân ăn no đánh
thắng quân thù xâm lược.
Tan giặc, các tướng sĩ và bô lão trong vùng dâng kế lên nhà vua xin đem chiếc chảo
quý về kinh đô Hoa Lư cho bàn dân thiên hạ được cùng chung chiêm ngưỡng. Nhưng
lạ thay, chiếc chảo nuôi quân hoá thành vàng bám chặt vào lòng núi, bao nhiêu lực
sĩ xúm vào kéo lên, chiếc chảo vẫn không hề nhúc nhích. Biết chuyện lạ này, vua hạ
chiếu ban xuống cho dân vùng biên thuỳ:
– Ai có công sinh ra, nuôi dưỡng được mười hai người con trai, cả mười hai người
đều đã lập công giết giặc trong thời gian vừa qua, người mẹ và mười hai người con ấy,
được hưởng chiếc chảo lạ mười hai quai hoá vàng này và hãy nhớ một điều: chỉ riêng
người mẹ ấy mới có quyền chia của báu ấy cho các con.
13
Người ta đã tìm ra được một người mẹ biên thuỳ có mười hai người con dũng lược.
Hôm mẹ dẫn mười hai người con trai có công lên đỉnh núi Vua Ngự lấy chảo vàng
mười hai quai là ngày hội của cả vùng biên thuỳ. Dân chúng đã mang đến núi Vua Ngự
đủ mọi của ngon vật quý chúc mừng mẹ con bà.
Trước lúc mười hai người con của bà mẹ phúc đức kia bắt tay vào khênh chiếc chảo
quý, đã có không biết bao nhiêu tốp lực sĩ đã xúm vào dùng hết sức nâng chiếc chảo
vàng lên nhưng vô hiệu, chiếc chảo vàng vẫn nằm đó như thách thức sức mạnh của
các chàng trai nổi danh lực sĩ có võ nghệ cao cường.
Cuối cùng người mẹ mỉm cười bước vào, gọi chàng con cả rồi con thứ hai, thứ ba,
thứ tư,... thứ mười hai, mỗi chàng nắm chắc một quai chảo, mẹ hô:
– Dô ta nào...
Tức thì chiếc chảo từ từ dâng lên chói lọi dưới ánh mặt trời, giữa tiếng hò reo vang
dậy của bàn dân thiên hạ.
Chiếc chảo vàng vừa đặt lên mặt đất thì việc bàn cãi giữa mười hai anh em nổ ra.
Người anh cả đòi mẹ chia cho phần nhiều nhất, người con thứ hai đòi mẹ chia cho
phần ít hơn anh một tẹo, người con thứ ba đòi chia ra mười một phần bằng nhau, còn
phần ít nhất dành cho đứa em nuôi,...
Mười anh em cho là phải nhưng anh cả thì khăng khăng không chịu...
Người mẹ khuyên:
– Các con, con nuôi hay con đẻ cũng cùng chung một dòng sữa mẹ, cũng đều được
hưởng lộc vua, ăn cơm dân, mặc áo nước,...
Nhưng mười một người con, không vâng lời mẹ, họ cãi nhau có nguy cơ xô xát...
Người con nuôi tách ra, trước bàn dân thiên hạ, đã quỳ xuống trước mặt người mẹ
nuôi tạ ơn và xin nhường phần mình cho các anh các em...
Người con trai nuôi hào hiệp nói chưa dứt lời thì một đám mây đen bất ngờ kéo đến
phủ kín núi rừng, sấm chớp, mưa gió bất thần nổi lên.
Một loáng sau trời quang, mây tạnh, nhưng chiếc chảo vàng mười hai quai đã biến
mất từ lúc nào chẳng biết, trước sự kinh ngạc của mọi người.
(Nguyễn Trường Thanh, Kì tích Chi Lăng, NXB Văn học, Hà Nội, 1995)
14
Em có biết?
Kì tích Chi Lăng được viết năm 1981, sau khi chiến tranh biên giới năm 1979 kết thúc.
Tập truyện được nhà văn Nguyễn Trường Thanh sáng tác dựa trên các truyền thuyết
dân gian Lạng Sơn. Tác phẩm gồm 53 truyện, viết về những kì tích trên mảnh đất
Chi Lăng, nơi từng là nỗi khiếp đảm của giặc phương Bắc mỗi lần xâm lược Việt Nam.
Suốt hàng trăm năm lịch sử, ải Chi Lăng là nơi trấn giữ con đường huyết mạch nối với
kinh đô. Với địa thế đặc biệt hiểm yếu, nơi đây trở thành tử địa đối với giặc xâm lăng,
là nơi “thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (mười người đi, một người về). Mỗi ngọn
núi, cây cầu, bến sông Chi Lăng đều ghi dấu ấn những chiến tích huyền thoại của người
Lạng Sơn trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Từ những tích truyện lưu truyền trong
dân gian, Nguyễn Trường Thanh đã sáng tạo nên những tác phẩm văn học hiện đại
sinh động, hấp dẫn. Qua các sáng tác, Nguyễn Trường Thanh đã đưa đến cho người
đọc những hiểu biết lí thú chưa từng được biết về các sự kiện, nhân vật ở mảnh đất
Chi Lăng lịch sử. Những tấm gương anh hùng lồng trong những câu chuyện về tấm
lòng thơm thảo, tình nghĩa và tình yêu đôi lứa sâu nặng là một cách lí giải thú vị về
lịch sử một vùng đất anh hùng. Kì tích Chi Lăng thể hiện niềm tự hào sâu sắc về tình
yêu Tổ quốc, phẩm chất anh hùng và tâm hồn cao đẹp của con người xứ Lạng trong
đấu tranh bảo vệ đất nước.
1. Tóm tắt ngắn gọn (từ 7 – 10 câu) nội dung của truyện theo diễn biến sự việc.
2. Trong truyện, nhân vật Lê Hoàn đã nói gì với các bô lão? Nêu cảm nhận của em
về nhân vật này.
3. Chiếc chảo kì lạ được miêu tả qua những chi tiết nào? Bằng lời của ai?
4. Tìm trong văn bản lời người mẹ khuyên các con.
5. Nêu ý nghĩa của câu chuyện về bà mẹ và mười hai người con.
6. Nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của tác giả.
7. Phát biểu chủ đề của truyện.
Viết bài văn nghị luận phân tích một đoạn thơ/truyện (tự chọn) mà em thích nhất
trong bài thơ Đêm tháng Sáu của nhà thơ Mã Thế Vinh hoặc truyện Núi vua Ngự của
nhà văn Nguyễn Trường Thanh.
15
1. Em hãy sưu tầm và ghi lại những thông tin chính về sự nghiệp sáng tác và một
tác phẩm tiêu biểu của một trong hai tác giả sau của văn học hiện đại Lạng Sơn:
tác giả Vi Thị Kim Bình, tác giả Nguyễn Quang Huynh.
2. Thiết kế một cuốn sổ tay văn học cá nhân để ghi chú các thông tin cơ bản về các
tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn mà em yêu thích.
ĐỌC THÊM
THƠ
LỘC BIẾC
Vũ Kiều Oanh
Những vết thời gian qua
Hằn lên thân già cỗi
Cây nghiêng gốc xù xì
Đón xuân về thêm tuổi
Ngỡ trong từng thớ gỗ
Dòng nhựa sống cạn khô
Lá vàng đi về đất
Cành khô gầy chơ vơ
Và bất ngờ mưa bụi
Li ti giăng đầy trời
Và không gian chợt ấm
Giục muôn loài sinh sôi
Cây rùng mình khe khẽ
Đau nỗi đau sinh thành
Lớp vỏ già tách nhẹ
Đón hạt mưa ngọt lành
Nơi chót cành nhựa ứa
Thấp thoáng trong màn mưa
Nhú đôi cành lộc biếc
Xanh dịu dàng non tơ…
16
(Vũ kiều Oanh, Lời yêu thương, NXB Mĩ thuật, Hà Nội, 2007)
VĂN XUÔI
TÓM TẮT TRUYỆN “MUỐI MẶN GỪNG CAY”
Muối mặn gừng cay là truyện ngắn hay khắc hoạ thành công hình ảnh cuộc sống,
con người ở vùng đất xứ Lạng thời Hậu Lê. Đó là câu chuyện đẹp về tình yêu của cô
Nguyễn Thị Giang, con gái Phó trấn Lạng Sơn gốc miền xuôi với chàng trai nông dân
miền sơn cước Nông Văn Vỉ. Vượt qua những định kiến khắt khe của xã hội phong kiến
về nguồn gốc, sắc tộc, gia cảnh, vùng miền,... họ vẫn đến được với nhau trong sự
đồng thuận, ủng hộ của người cha cô gái. Từ đó hai người đã có nhiều đóng góp
trong xây dựng và phát triển kinh tế của tỉnh Lạng Sơn. Đoạn trích sau đây nằm ở
đoạn giữa của truyện ngắn, kể lại hành trình của cô Giang và phường buôn muối từ
đèo Sài Hồ đến phố Kỳ Lừa trong một chuyến hàng cuối năm; diễn biến tâm lí của cô
trước khi thổ lộ với cha về ý nguyện được về chung một nhà với chàng trai nghèo,
giàu nghị lực và chăm chỉ Nông Văn Vỉ.
MUỐI MẶN GỪNG CAY
(Trích)
Vi Thị Thu Đạm
[…] Gà gáy canh ba, cô Giang vội vàng trở dậy, đã thấy đèn đuốc thắp lên sáng rực
ngoài sàn. Ngựa đã đóng vào xe, chúng gõ móng lộp cộp. Ông chủ nhà còn cẩn thận
giắt thêm vài bó đuốc chưa thắp lên xe để mọi người thắp dần. Đoàn phu muối với
những xe ngựa thồ lặc lè rời khỏi nhà ông Dùng, bắt đầu vào con đèo Sài Hồ, hướng
về phương bắc.
Đoàn người lặng lẽ đi trong yên lặng, nghe rõ tiếng ngọn lửa bắt gió cháy phần
phật trên đầu bó đuốc, tiếng ngựa thở phì phò. Con đèo dốc quanh co, hiểm trở,
hai bên là rừng đại ngàn với biết bao hiểm nguy rình rập: kẻ xấu, thú dữ, rắn độc,…
Hiếm ai mà một mình, một ngựa dám qua con đèo này. Cô Giang đã từng nghe chuyện
ở con đèo này có người bị con rắn hổ mang bành to bằng cái đấu phì nọc độc chết cả
người cả ngựa. Cô cho ngựa đi theo sát bà Cả Hương, mắt không ngừng quan sát mọi
động tĩnh xung quanh. Thi thoảng, một con hoẵng ăn đêm giật mình, chạy thục mạng
khiến những cành khô gãy roàn roạt theo bước chân của nó, một vài con sóc chuyền
cành líu chíu hay mẹ con nhà khỉ bị chí chét càu nhàu. Mùi lá cây mục hoai hoải bốc
lên theo vó ngựa.
Trời tang tảng sáng dần, cảnh vật hiện ra trong màn sương đùng đục. Thi thoảng
bắt gặp những tàu chuối non táp khô lại vì gió rét, nổi bật trên nền trời xám bạc, giữa
những cây nghiến, cây lim vẫn thắm một sắc xanh vạn niên.
Non buổi sáng, đoàn người đã lên tới đỉnh dốc và dừng lại nghỉ ngơi chốc lát.
Mọi người tranh thủ ăn chút lương khô và đám phu thì toả đi tìm chặt cành cây làm
thắng hậu khi xuống đèo. Chốc lát, họ đã lôi về những cành cây to cỡ bắp chân người,
để nguyên cả cành lá sum suê, họ buộc những cành cây đó vào sau mỗi xe hàng.
17
Đây là cách mà phu xe hàng vẫn thường làm mỗi khi phải cho xe xuôi những con dốc
đứng. Cành cây được kéo lê theo sau xe sẽ an toàn hơn cho những chú ngựa không
bị xe hàng chúi thúc vào mông, nguy hiểm hơn, có thể lật đổ cả xe hàng. Xuống tới
chân con dốc, những cành cây như thế bị bỏ lại chất thành đống, người quanh vùng
thường đến lượm về làm củi đun.
Chiều tối, đoàn người về đến bến Nam bờ sông Kỳ Cùng. Chuyến đi kể như
là trót lọt, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Trên bến sông, Vỉ đã chống sào chờ.
Cô Giang cắt đặt việc ăn nghỉ cho ông bà Hương xong xuôi thì đốc đoàn phu muối
vác hàng xuống mảng chở sang bên kia sông để kịp cho buổi chợ phiên sáng hôm
sau. Gặp lại Vỉ, nhìn ánh mắt đầy yêu thương, bờ vai rộng, dáng đi vững chãi của
chàng, trong lòng cô Giang lại rộn lên một niềm tin tưởng. Cô Giang quyết định
ngay tối nay sẽ thưa chuyện cùng cha.
Ngoài bến sông dần thưa vắng người, gió lạnh thốc từng cơn, hơi nước từ mặt
sông bốc lên ngùn ngụt. Giang chờ Vỉ vác xong những bao hàng cuối cùng thì lấy
ở trong tay nải ra gói đường phèn trao tận tay anh. Đường phèn là món quà miền
xuôi mà Vỉ rất thích vì anh để đem chia cho những người già, trẻ nhỏ trong vùng làm
thuốc chữa bệnh.
– Anh về đi, áo ướt mồ hôi, bắt gió lạnh là cảm đấy.
– Ừ. Em về Phủ, nhớ đập vài củ gừng ngâm chân cho đỡ lạnh. Anh tranh thủ đi bỏ
mấy bó lá để mai bắt cá.
– Trời! Lạnh thế này anh còn tham gì. Mà lạnh thế này thì làm sao mà bắt được cá.
– Trời lạnh, chỉ cần thả mấy bó lá sim xuống chỗ nước nông là cá sẽ chui vào
tránh rét. Chiều nay đi rừng tranh thủ chặt được mấy bó lá sim rồi, sáng mai anh nhấc
một lát là xong thôi mà. Vẫn kịp phụ em buổi chợ. Còn cá thì để đem cho già Khưa
bán lấy tiền mua muối. Già Khưa nhịn muối đã mấy tuần nay rồi.
– Vậy anh đem một ống muối về biếu già trước đã, đợi em một lát nhé…
Hai người chia tay nhau trong tất bật công việc và đầy ắp những nỗi niềm lo lắng,
thương yêu dành cho người khác. Tình yêu của Vỉ và Giang gặp nhau chính là từ tình
yêu đồng loại mà cô và anh đã dành cho những người khốn khổ hơn mình.
(Tạp chí Văn nghệ xứ Lạng, 2013)
18
CHỦ ĐỀ
3
LẠNG SƠN TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
(1919 – 1975)
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nêu được điểm nổi bật của phong trào cách mạng Lạng Sơn trong những
năm 1919 – 1930 và sự ra đời của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản ở tỉnh
Lạng Sơn (1930 – 1945).
● Thuật lại được nét chính của khởi nghĩa Bắc Sơn và nêu được ý nghĩa của
cuộc khởi nghĩa.
● Tóm tắt được cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Lạng Sơn trong
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
● Trình bày được một số sự kiện chính trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946 – 1954) ở Lạng Sơn và đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 – 1975).
● Xác định được trách nhiệm của cá nhân đối với việc phát huy truyền thống
yêu quê hương, đất nước.
Hình bên là lễ đón nhận Huân
chương Độc lập hạng Ba của Chủ
tịch nước tặng cho tỉnh Lạng Sơn
năm 1966 tại nơi sơ tán – huyện
Văn Lãng. Đây là một vinh dự, một
niềm tự hào lớn của nhân dân
Lạng Sơn.
Vậy, nhân dân Lạng Sơn đã chiến
đấu và đóng góp gì trong cuộc
đấu tranh giành độc lập và bảo vệ
Tổ quốc trong những năm từ 1919
đến năm 1975? Vì sao chúng ta
phải tìm hiểu về lịch sử Lạ...
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐỒNG HUY GIỚI – HÀ THỊ KHÁNH VÂN (đồng Tổng Chủ biên)
NGUYỄN VĂN DŨNG – NGUYỄN PHƯƠNG LIÊN – PHẠM THỊ MAI NGỌC – LÊ THỊ MINH NGUYỆT
NGUYỄN THỊ HỒNG THUÝ – HỒ THỊ HỒNG VÂN (đồng Chủ biên)
VŨ THỊ LAN ANH – TRƯƠNG PHƯƠNG ANH – NGÔ THẾ ANH – NGUYỄN HOÀNG ĐẠO – VŨ TRÚC HÀ
NGUYỄN THU HẰNG – NGUYỄN THANH HỒNG – NGUYỄN THANH MAI – LƯU HOA SƠN – ĐỖ TRUNG SỸ
HOÀNG VĂN THAO – TRIỆU HOÀNG THUÝ – DƯƠNG ANH TUÂN – LƯƠNG ÁNH TUYẾT
TÀI LIỆU GIÁO DỤC ĐỊA PHƯƠNG
TỈNH
LẠNG SƠN
9
LỚP
NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM
HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH
Mỗi hoạt động trong cuốn Tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 đều
được chỉ dẫn bằng một kí hiệu. Thầy cô giáo sẽ hướng dẫn học sinh theo những chỉ
dẫn này. Các em cũng có thể theo các kí hiệu chỉ dẫn này để tự học.
KHỞI ĐỘNG / MỞ ĐẦU
Gợi mở những vấn đề liên quan đến nội dung chủ đề,
tạo hứng thú cho học sinh tìm hiểu bài mới
KHÁM PHÁ / HÌNH THÀNH KIẾN THỨC MỚI / TÌM HIỂU BÀI ĐỌC
Phát hiện, hình thành các kiến thức, kĩ năng mới
LUYỆN TẬP / THỰC HÀNH
Củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng theo nội dung,
yêu cầu cần đạt của chủ đề
VẬN DỤNG
Vận dụng những kiến thức, kĩ năng đã học
vào việc giải quyết các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống
Hãy bảo quản, giữ gìn tài liệu này
để dành tặng các em học sinh lớp sau.
2
LỜI NÓI ĐẦU
Nội dung giáo dục địa phương trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 cấp
Trung học cơ sở là nội dung giáo dục bắt buộc, có vị trí tương đương các môn học
khác. Nội dung tài liệu chứa đựng những vấn đề cơ bản, mang tính thời sự về văn hoá,
lịch sử, địa lí, kinh tế, xã hội, môi trường, hướng nghiệp của tỉnh Lạng Sơn nhằm trang
bị cho học sinh những hiểu biết về nơi sinh sống; bồi dưỡng tình yêu và niềm tự hào
về quê hương, gắn bó và có trách nhiệm với quê hương, cộng đồng; giáo dục sự trân
trọng và có ý thức giữ gìn truyền thống quê hương; phát huy tiềm lực và thế mạnh
địa phương, vận dụng những kiến thức và kĩ năng đã học để góp phần giải quyết
những vấn đề của địa phương, chuẩn bị cho cuộc sống xã hội và nghề nghiệp.
Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 được biên soạn bao gồm khung
chương trình và tài liệu dạy học, tổ chức các hoạt động giáo dục; được thiết kế gồm
8 chủ đề thuộc 3 cụm lĩnh vực với tổng thời lượng là 35 tiết/năm học. Việc biên soạn
tài liệu được thực hiện theo quy định của Luật Giáo dục và pháp luật liên quan.
Nội dung, thông tin thể hiện tính khoa học, tính sư phạm cao; đồng thời bám sát
mục tiêu đổi mới giáo dục, đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29/NQ-TW của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học
sinh tương ứng với lớp, cấp học, giúp cho giáo viên vận dụng linh hoạt các phương
pháp, hình thức dạy học tích cực, đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá nhằm
phát huy tối đa tính tự giác, tích cực, sáng tạo của giáo viên và học sinh.
Nhóm biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương tỉnh Lạng Sơn lớp 9 là các chuyên gia,
các nhà khoa học; các thầy, cô giáo là cán bộ quản lí, giáo viên cốt cán cấp Trung học
cơ sở, Trung học phổ thông của tỉnh Lạng Sơn, giảng viên Trường Cao đẳng Sư phạm
Lạng Sơn. Tài liệu đã nhận được sự góp ý của các cơ quan, các nhà khoa học, cán bộ
quản lí giáo dục, giáo viên cấp Trung học cơ sở trong và ngoài tỉnh thông qua các
hội nghị, hội thảo; đồng thời đã được tổ chức dạy thực nghiệm tại trường Trung học
cơ sở trên địa bàn tỉnh, được các thầy, cô và học sinh đánh giá là tài liệu có tính khả thi
và thực tiễn cao.
Tài liệu đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn thẩm định, Bộ Giáo dục và Đào tạo
phê duyệt. Đây là tài liệu giáo dục địa phương chính thức được sử dụng trong tất cả các
trường Trung học cơ sở trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Chúc các em học tập tốt và trải nghiệm thật vui !
3
MỤC LỤC
Trang
LĨNH VỰC: VĂN HOÁ, LỊCH SỬ TRUYỀN THỐNG....................................................... 5
Chủ đề 1. Ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn ......................................................................................... 5
Chủ đề 2. Văn học hiện đại Lạng Sơn ............................................................................................................................. 8
Chủ đề 3. Lạng Sơn trong thời kì đấu tranh giành độc lập
và bảo vệ Tổ quốc (1919 – 1975) ............................................................................................................ 19
Chủ đề 4. Lạng Sơn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
(từ năm 1975 đến nay) ................................................................................................... 29
LĨNH VỰC: ĐỊA LÍ, KINH TẾ, HƯỚNG NGHIỆP ......................................................... 35
Chủ đề 5. Địa lí các ngành kinh tế tỉnh Lạng Sơn............................................................................................. 35
Chủ đề 6. Định hướng nghề nghiệp sau Trung học cơ sở
trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn........................................................................................................................... 53
LĨNH VỰC: CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI, MÔI TRƯỜNG ..................................................... 64
Chủ đề 7. Tìm hiểu khái quát tình hình chính trị – xã hội tỉnh Lạng Sơn.................................. 64
Chủ đề 8. Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn ..................................................... 69
4
VĂN HOÁ, LỊCH SỬ
TRUYỀN THỐNG
LĨNH VỰC
CHỦ ĐỀ
1
NGÔN NGỮ DÂN TỘC TÀY, NÙNG
Ở LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
• Làm được cuốn từ điển tiếng Tày hoặc tiếng Nùng về một chủ đề tự chọn.
• Lựa chọn được hình thức giới thiệu về cuốn từ điển và xác định được những
việc cần làm để gìn giữ, phát huy ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở địa phương.
Bạn của em đến du lịch Lạng Sơn. Sau khi trở về, bạn ấy muốn có một cuốn từ điển
về ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn để giới thiệu cho các bạn cùng lớp.
Em sẽ làm gì để giúp bạn có được cuốn từ điển đó?
I. LÀM CUỐN TỪ ĐIỂN TIẾNG TÀY, NÙNG VỀ MỘT CHỦ ĐỀ TỰ CHỌN
1. Lập kế hoạch xây dựng từ điển về một chủ đề tự chọn
Để việc tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ Tày hoặc Nùng ở Lạng Sơn có hiệu quả,
bên cạnh vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã được học trong chương trình, việc lập
kế hoạch, thu thập và xử lí thông tin đóng vai trò rất quan trọng.
Có thể dựa vào bảng kế hoạch sau để lập kế hoạch làm cuốn từ điển tiếng Tày
hoặc tiếng Nùng về một chủ đề tự chọn. Đối với chủ đề này, khuyến khích cách làm
việc nhóm.
5
KẾ HOẠCH LÀM VIỆC NHÓM
‒ Tên kế hoạch
‒ Mục tiêu kế hoạch
Nội dung
công việc
Yêu cầu
công việc
Thời gian
thực hiện
Người
thực hiện
Đánh giá
(Đã hoàn thành/
Chưa hoàn thành)
Ghi chú
Tìm kiếm
thông tin
Xử lí
thông tin
Biên tập
nội dung
Thiết kế bìa,
hình thức
2. Tìm kiếm thông tin
* Có thể tìm kiếm thông tin từ các nguồn sau:
– Tìm đọc trong thư viện của nhà trường hoặc thư viện ở địa phương các tác phẩm
văn học dân gian, các bài viết, sách nghiên cứu, tài liệu lịch sử, địa lí, văn hoá địa
phương nơi sinh sống để hiểu về từ địa phương, tiếng Tày, tiếng Nùng ở Lạng Sơn.
– Sử dụng internet để tìm kiếm thông tin bằng các từ khoá liên quan: “từ ngữ địa
phương”, “biệt ngữ xã hội”, “tiếng Tày”, “tiếng Nùng”,…
– Tham khảo thông tin từ thầy cô giáo, gia đình, người thân và những người xung
quanh, đặc biệt là những người dân tộc Tày, Nùng sống quanh em.
* Gợi ý một số chủ đề ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng: số đếm, thời gian, con vật,
cây cối, vật dụng, hoạt động,…
Em có thể tham khảo các thông tin về ngôn ngữ dân tộc Tày, Nùng theo bảng
gợi ý dưới đây:
STT
1
6
Tiếng
Tày/Nùng
Từ loại
Nghĩa
tiếng Việt
Tua mu
Danh từ
Con lợn
2
Tua vài
Danh từ
Con trâu
3
Tua lình
Danh từ
Con khỉ
Những câu ca dao, thành ngữ,
tục ngữ,... Tày/Nùng (nếu có)
Vài ké vài ăn, không lăng tó đét
(Trâu già da mốc, phơi lưng giữa trời)
(Là cái gì?)
Hình ảnh
minh hoạ
3. Xử lí thông tin
Từ nội dung thông tin đã tìm kiếm được, em hãy:
– Trao đổi, thảo luận, kiểm tra lại tính chính xác của những từ ngữ, những câu ca dao,
thành ngữ, tục ngữ,...
– Tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa nội dung của mỗi chủ đề.
4. Thiết kế cuốn từ điển
Bước 1: Mỗi cá nhân trình bày và giải thích ý tưởng thiết kế sản phẩm của mình cả
về nội dung và hình thức (ý tưởng nên được chuẩn bị cụ thể, chi tiết và có minh hoạ).
Bước 2: Cả nhóm trao đổi, thảo luận và thống nhất ý tưởng.
* Một số lưu ý:
– Trình bày theo thứ tự trong bảng chữ cái tiếng Việt.
– Theo thứ tự các dấu thanh: không dấu, dấu huyền, dấu hỏi, dấu ngã, dấu sắc, dấu nặng.
Bước 3: Sau khi tập hợp tài liệu, cần lập danh sách các mục từ, nghĩa của từng từ, sau
đó rà soát lại toàn bộ nội dung các từ tập hợp được để hoàn thiện bản thảo.
Bước 4: Hoàn thiện sản phẩm (có thể soạn thảo trên máy tính, in ấn, đóng quyển
hoặc trình bày thủ công bằng hình thức viết, vẽ bằng tay, đóng quyển).
II. GIỚI THIỆU CUỐN TỪ ĐIỂN
1. Thảo luận, thống nhất đề cương bài thuyết trình và lựa chọn hình thức thuyết
trình phù hợp với điều kiện học tập của nhóm. Có thể trình chiếu PowerPoint
(nếu có điều kiện lớp học phù hợp), làm video giới thiệu, trưng bày tại một góc
triển lãm ảnh trong khuôn viên trường học,...
2. Thuyết trình trước lớp về cuốn từ điển của nhóm.
3. Theo dõi, nhận xét, góp ý phần trình bày của các nhóm khác.
1. Em hãy nêu quy trình làm cuốn từ điển tiếng Tày hoặc tiếng Nùng về một chủ đề
tự chọn.
2. Em có thể tìm kiếm thông tin về tiếng Tày, Nùng từ những nguồn nào?
3. Cần lưu ý điều gì khi giới thiệu cuốn từ điển tiếng Tày, Nùng về một chủ đề tự chọn?
Em hãy tìm kiếm và bổ sung ít nhất 5 từ tiếng Tày, Nùng vào cuốn từ điển của nhóm em.
7
CHỦ ĐỀ
2
VĂN HỌC HIỆN ĐẠI LẠNG SƠN
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nhận biết và phân tích được nét độc đáo về hình thức nghệ thuật của các
tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn thể hiện qua bố cục, kết cấu, ngôn ngữ,
các biện pháp tu từ.
● Viết được một bài văn nghị luận về một đoạn trích trong tác phẩm Đêm tháng
Sáu hoặc Núi vua Ngự: phân tích nội dung chủ đề, những nét đặc sắc về hình
thức nghệ thuật của đoạn trích và hiệu quả thẩm mĩ của nó.
● Biết thảo luận về một tác giả của văn học hiện đại Lạng Sơn.
● Biết yêu quý, trân trọng những tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn.
Hãy chia sẻ với các bạn trong lớp:
– Tên một số tác giả tiêu biểu và tác phẩm xuất sắc của văn học hiện đại Lạng Sơn
mà em biết.
– Những việc em đã làm để góp phần quảng bá các tác phẩm văn học hiện đại
Lạng Sơn.
Tiểu dẫn
Ra đời từ “cái nôi” lịch sử và văn hoá của quê hương, văn học Lạng Sơn có sức
sống và vẻ đẹp riêng qua mỗi thời kì phát triển. Chủ đề này tập trung giới thiệu
về một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu thuộc giai đoạn văn học hiện đại Lạng Sơn.
8
I. THƠ
1. Tác giả
Mã Thế Vinh (bút danh Mai Thế, Mã Tào) là nhà thơ dân tộc Nùng, sinh năm 1932,
quê ở xã Tri Phương, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Thơ là sở trường của Mã Thế Vinh.
Hình ảnh thơ ông mộc mạc, gần gũi, thân thương, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên,
con người quê hương xứ Lạng. Các sáng tác của ông có tính chính trị sâu sắc, đậm chất
sử thi, ca ngợi Đảng, Bác Hồ và thể hiện niềm tự hào về mảnh đất Lạng Sơn anh hùng.
Thơ ông bộc lộ tình cảm yêu thương, kính trọng, tự hào và thể hiện sự hiểu biết sâu
sắc về cuộc sống, con người xứ Lạng.
Hình 1. Nhà thơ Mã Thế Vinh
Một số tác phẩm chính của ông: Vẽ bản đồ quê tôi (thơ Tày – Nùng, 1961); Truyện thơ
(song ngữ Tày – Nùng, 1995); Con đường anh đi (tập thơ, 1997); Con mực bé Páo
(tập truyện thiếu nhi, 2004); Truyện thơ, trường ca Mã Thế Vinh (2005); Hai vết sẹo
(truyện, 2011); Cảu Khay (tập truyện cổ tích, 2012); Tuyển tập Mã Thế Vinh (Song ngữ
Tày, Nùng – Việt, 2013).
Mã Thế Vinh là nhà thơ có vị trí hàng đầu của văn học Lạng Sơn hiện đại.
Ông đạt Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ lần thứ nhất (1995),
lần thứ III (2009), lần thứ IV (2014) do Uỷ ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn trao tặng
và nhiều giải thưởng của Hội Văn nghệ dân gian, Hội Văn học các dân tộc thiểu số
Việt Nam.
9
2. Văn bản
ĐÊM THÁNG SÁU
Mã Thế Vinh
Chập chờn đêm tháng Sáu
Đường tháng Sáu chập chờn
Cánh đồng ruộng vào mùa
Những đêm trăng ken lối
Lúa xuân phơi hạt óng
Chạy mau theo nhịp thở
Thóc tràn bờ về kho
Oà vào đồng trăng ơi
Ôm bó lúa chất cao
Đêm hè như ngắn lại
Cả chân trời bừng sáng
Ta đo chiều chiếu chăn
Từng nhịp thở nhặt khoan
Chập chờn đêm tháng Sáu
Canh năm lòng thao thức!...
Thôn bản ta hôm nay
Tiếng chày giã trong đêm
Trăng lồng đầy bồ thóc
Động trời gà ran gáy
Những vòm trời ấm no
Mở chân trời hạnh phúc
Bếp nhà dưới nhà trên
Gối vụ đông, vụ hè
Những “cô dâu” nhóm lửa
Nối xuân vào tiếng máy
Má ửng hồng trong đêm
Đất ngập đầy hương hoa.
Ngỡ mặt trời thức dậy
1972 – 1973
(Tuyển tập Mã Thế Vinh,
NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2013)
Em có biết?
Tuyển tập Mã Thế Vinh là công trình có giá trị khẳng định những đóng góp của nhà thơ
trong việc góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những vẻ đẹp văn hoá truyền thống
của văn học các dân tộc thiểu số nói riêng, văn học hiện đại Việt Nam nói chung. Bài thơ
Đêm tháng Sáu không chỉ tiêu biểu cho phong cách thơ Mã Thế Vinh mà còn tiêu biểu
cho phong cách, ngôn ngữ biểu đạt thơ của các nhà thơ dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn.
10
1. Bài thơ có thể chia làm mấy phần? Nêu nội dung chính của từng phần.
2. Tìm những từ ngữ, hình ảnh khắc hoạ khung cảnh thiên nhiên đêm tháng Sáu.
Nêu cảm nhận của em về khung cảnh ấy.
3. Nêu cảm nhận của em về cuộc sống của người dân miền núi trong bài thơ. Chỉ
ra một số biện pháp tu từ được tác giả sử dụng để khắc hoạ cảnh sinh hoạt đó.
4. Nêu chủ đề của bài thơ. Theo em, hình thức thơ 5 chữ có tác dụng gì trong việc
thể hiện chủ đề của bài thơ?
II. VĂN XUÔI
1. Tác giả
Nguyễn Trường Thanh (1934 – 2016), bút danh
Trường Thanh, Nguyễn Hoàng Đạt, quê ở huyện
Đông Anh, Hà Nội. Ông vốn là một nhà giáo được
cử lên công tác tại Lạng Sơn từ năm 1964.
Sáng tác của Nguyễn Trường Thanh chủ yếu
tập trung vào thể loại tiểu thuyết lịch sử. Ông viết
về các sự kiện, nhân vật có thật trong lịch sử chiến
tranh bảo vệ đất nước của nhân dân Lạng Sơn
(từ thời phong kiến đến kháng chiến chống thực
dân Pháp) với cảm hứng ngợi ca những nhân vật Hình 2. Nhà văn Nguyễn Trường Thanh
lịch sử tiêu biểu, những tấm gương trung nghĩa,
những con người đã cống hiến tài trí, tâm huyết, sinh mệnh cho quê hương, đất nước;
thể hiện tấm lòng, tình cảm sâu đậm của ông đối với mảnh đất, con người xứ Lạng.
Nhà văn Nguyễn Trường Thanh đã xuất bản trên 20 đầu sách, gồm nhiều thể loại:
thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, kí, kịch bản phim, tiểu luận phê bình. Một số tác phẩm
chính của ông: Kì tích Chi Lăng (tiểu thuyết, 1981), Hoa trong bão (tiểu thuyết, 1994),
Tướng không phong hàm (tiểu thuyết, 1998), Nữ điệp báo Lạng thành (truyện, 1999),
Một thời biên ải (tiểu thuyết, 2000), Ngôi nhà của cha (tiểu thuyết, 2007), Dặm dài ải Bắc
(truyện, 2012), Tiếng đàn sơn cước (truyện và kí, 2013).
Nguyễn Trường Thanh là nhà văn có đóng góp quan trọng cho lịch sử văn học
Lạng Sơn hiện đại. Ông đạt Giải thưởng Văn học nghệ thuật Hoàng Văn Thụ lần thứ
nhất (1995), lần thứ II (1999), lần thứ III (2009), lần thứ IV (2014) do Uỷ ban nhân dân
tỉnh Lạng Sơn trao tặng.
11
2. Văn bản
NÚI VUA NGỰ
Nguyễn Trường Thanh
Đến Chi Lăng, nếu bạn chưa có dịp leo lên đỉnh Bảo Đài Sơn ngắm phong cảnh
hùng vĩ của cả vùng núi non sông nước muôn trùng xin hãy gắng mà leo lên núi Vua
Ngự Đường Thượng Sơn phía tây, sau làng Khuôn Áng, xã Quang Lang, đường Hạ Sơn
phía đông thuộc xã Quan Sơn. Mỗi bậc lên, xuống còn in đậm dấu tích ông cha xưa
qua nghệ thuật xếp đá mà ngót hàng ngàn năm phong hoá và xâm thực của mưa gió
vẫn “trơ như đá, vững như đồng”. Mùa thu, đi theo dấu tích của người xưa, ta lên đầu
núi cao bằng phẳng, chói loà ánh nắng, nơi có bệ vua ngồi, có dấu tích của cái chảo
vàng, mười hai quai kì lạ... Đứng ở đây, hướng mặt về phía tây ta nhìn rõ mồn một toàn
cảnh trận đồ Chi Lăng như trong lòng bàn tay. Một dãy núi đá chạy tít về tận Bắc Sơn,
dưới chân núi đá là thượng nguồn sông Thương như con trăn bạc khổng lồ trườn qua
núi, đồi, nương rẫy, uốn khúc quanh co chạy về phía nam. Nối tiếp với đỉnh núi Vua Ngự
là núi tiếp núi, rừng tiếp rừng qua những khe dọc, suối sâu, đèo cao chạy dài từ bắc
xuống nam, sau lưng là bạt ngàn rừng già gỗ quý. Cả trận đồ Chi Lăng hiện ra giữa một
bên là dãy núi trầm mặc uy nghiêm ở phía tây và một bên là núi đất cao với rừng đại
ngàn xạc xào cây lá... Phong cảnh hùng vĩ của một vùng đất nổi tiếng sử xanh này dẫn
ta đi ngược thời gian về với xa xưa qua câu chuyện kể kì thú sau:
Ấy là sau một đêm ghi nhớ, tại hang Thái Đức, Lê Hoàn đã thức trắng đêm cùng các
tướng sĩ tuỳ tùng bàn bạc với các bô lão và tù trưởng trong vùng bàn mưu kế xây ải
Chi Lăng chống giặc.
Lê Hoàn say mê bàn việc nước đến nỗi sáng lúc nào mà không biết, khi đằng đông,
chân trời đã ửng đỏ, Lê Hoàn còn một nỗi băn khoăn là phải tìm được ngọn núi nào
thuận lợi nhất có thể bao quát được toàn cảnh trận đồ Chi Lăng thì mới yên lòng.
Các bô lão trong vùng biết điều đó, nhưng lo cho nhà vua lâu nay đã rong ruổi trên đường
dài biên cương tìm kế chống giặc giữ nước, đêm qua lại thức trắng, lấy sức đâu mà đi.
Vì vậy, các bô lão kiên quyết mời vua nghỉ lấy sức ngày mai lên núi cũng chưa muộn.
Lê Hoàn mỉm cười hồn hậu, nói:
– Giặc có bao giờ chờ cho ta và các người nghỉ lấy sức rồi mới động binh xâm chiếm
nước ta đâu!
Lời nói của Lê Hoàn có sức thuyết phục mạnh đến nỗi các bô lão lại cùng nhà vua
vui vẻ lên đường.
12
Từ đó đỉnh núi không tên này đã đi vào lịch sử: Núi Vua Ngự. Đêm ấy, vua tôi hạ trại
tại đỉnh núi này bày mưu chống giặc.
Thấy một hồ nước nhỏ, trong vắt trên núi cao, Lê Hoàn vui sướng reo lên:
– Đây không chỉ là nơi đặt vọng gác tiền tiêu tốt mà còn là hậu cứ tiếp tế cho quân
ta đánh tập hậu không nơi nào bằng, lương thảo chuyển lên lại không khó bằng đồ
nấu ăn cho sĩ tốt.
Đầu canh tư đêm ấy, vua tôi đang thiu thiu ngủ thì có một ông già râu tóc bạc phơ,
chống gậy trúc đốt lửa bằng gỗ hoàng đàn thơm phức dẫn đường cho hai lực sĩ lặc lè
khiêng một chiếc chảo to, có mười hai quai đến yết kiến và xin dâng lên nhà vua chiếc
chảo nuôi quân “nấu một lần ăn mười bữa” ăn đến đâu, cơm lại đầy đến đấy.
Lê Hoàn vui sướng reo lên:
– Xin đa tạ lão trượng. Chảo này có lẽ là nồi Thạch Sanh tái sinh chăng?...
Chưa nói hết câu, ông già và hai chàng trai đã biến mất vào rừng sâu ào ào gió
dông chỉ còn lại chiếc chảo quý mười hai quai đang chìm dần vào trong lòng núi, cơ
hồ cũng sắp biến mất như chủ của nó chăng?
Nhà vua bước nhanh đến chiếc chảo lạ lúc đó đã chìm sâu hai phần, sờ vào quai
chảo mà nói:
– Ta chưa kịp tạ ơn hạnh ngộ, người đã định đi sao?
Tức thì chiếc chảo lạ xoay tít một vòng như chào vua và dừng lại, hai phần chìm,
một phần nổi.
Chiếc chảo đó đã góp phần quan trọng trong công việc nuôi quân ăn no đánh
thắng quân thù xâm lược.
Tan giặc, các tướng sĩ và bô lão trong vùng dâng kế lên nhà vua xin đem chiếc chảo
quý về kinh đô Hoa Lư cho bàn dân thiên hạ được cùng chung chiêm ngưỡng. Nhưng
lạ thay, chiếc chảo nuôi quân hoá thành vàng bám chặt vào lòng núi, bao nhiêu lực
sĩ xúm vào kéo lên, chiếc chảo vẫn không hề nhúc nhích. Biết chuyện lạ này, vua hạ
chiếu ban xuống cho dân vùng biên thuỳ:
– Ai có công sinh ra, nuôi dưỡng được mười hai người con trai, cả mười hai người
đều đã lập công giết giặc trong thời gian vừa qua, người mẹ và mười hai người con ấy,
được hưởng chiếc chảo lạ mười hai quai hoá vàng này và hãy nhớ một điều: chỉ riêng
người mẹ ấy mới có quyền chia của báu ấy cho các con.
13
Người ta đã tìm ra được một người mẹ biên thuỳ có mười hai người con dũng lược.
Hôm mẹ dẫn mười hai người con trai có công lên đỉnh núi Vua Ngự lấy chảo vàng
mười hai quai là ngày hội của cả vùng biên thuỳ. Dân chúng đã mang đến núi Vua Ngự
đủ mọi của ngon vật quý chúc mừng mẹ con bà.
Trước lúc mười hai người con của bà mẹ phúc đức kia bắt tay vào khênh chiếc chảo
quý, đã có không biết bao nhiêu tốp lực sĩ đã xúm vào dùng hết sức nâng chiếc chảo
vàng lên nhưng vô hiệu, chiếc chảo vàng vẫn nằm đó như thách thức sức mạnh của
các chàng trai nổi danh lực sĩ có võ nghệ cao cường.
Cuối cùng người mẹ mỉm cười bước vào, gọi chàng con cả rồi con thứ hai, thứ ba,
thứ tư,... thứ mười hai, mỗi chàng nắm chắc một quai chảo, mẹ hô:
– Dô ta nào...
Tức thì chiếc chảo từ từ dâng lên chói lọi dưới ánh mặt trời, giữa tiếng hò reo vang
dậy của bàn dân thiên hạ.
Chiếc chảo vàng vừa đặt lên mặt đất thì việc bàn cãi giữa mười hai anh em nổ ra.
Người anh cả đòi mẹ chia cho phần nhiều nhất, người con thứ hai đòi mẹ chia cho
phần ít hơn anh một tẹo, người con thứ ba đòi chia ra mười một phần bằng nhau, còn
phần ít nhất dành cho đứa em nuôi,...
Mười anh em cho là phải nhưng anh cả thì khăng khăng không chịu...
Người mẹ khuyên:
– Các con, con nuôi hay con đẻ cũng cùng chung một dòng sữa mẹ, cũng đều được
hưởng lộc vua, ăn cơm dân, mặc áo nước,...
Nhưng mười một người con, không vâng lời mẹ, họ cãi nhau có nguy cơ xô xát...
Người con nuôi tách ra, trước bàn dân thiên hạ, đã quỳ xuống trước mặt người mẹ
nuôi tạ ơn và xin nhường phần mình cho các anh các em...
Người con trai nuôi hào hiệp nói chưa dứt lời thì một đám mây đen bất ngờ kéo đến
phủ kín núi rừng, sấm chớp, mưa gió bất thần nổi lên.
Một loáng sau trời quang, mây tạnh, nhưng chiếc chảo vàng mười hai quai đã biến
mất từ lúc nào chẳng biết, trước sự kinh ngạc của mọi người.
(Nguyễn Trường Thanh, Kì tích Chi Lăng, NXB Văn học, Hà Nội, 1995)
14
Em có biết?
Kì tích Chi Lăng được viết năm 1981, sau khi chiến tranh biên giới năm 1979 kết thúc.
Tập truyện được nhà văn Nguyễn Trường Thanh sáng tác dựa trên các truyền thuyết
dân gian Lạng Sơn. Tác phẩm gồm 53 truyện, viết về những kì tích trên mảnh đất
Chi Lăng, nơi từng là nỗi khiếp đảm của giặc phương Bắc mỗi lần xâm lược Việt Nam.
Suốt hàng trăm năm lịch sử, ải Chi Lăng là nơi trấn giữ con đường huyết mạch nối với
kinh đô. Với địa thế đặc biệt hiểm yếu, nơi đây trở thành tử địa đối với giặc xâm lăng,
là nơi “thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (mười người đi, một người về). Mỗi ngọn
núi, cây cầu, bến sông Chi Lăng đều ghi dấu ấn những chiến tích huyền thoại của người
Lạng Sơn trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Từ những tích truyện lưu truyền trong
dân gian, Nguyễn Trường Thanh đã sáng tạo nên những tác phẩm văn học hiện đại
sinh động, hấp dẫn. Qua các sáng tác, Nguyễn Trường Thanh đã đưa đến cho người
đọc những hiểu biết lí thú chưa từng được biết về các sự kiện, nhân vật ở mảnh đất
Chi Lăng lịch sử. Những tấm gương anh hùng lồng trong những câu chuyện về tấm
lòng thơm thảo, tình nghĩa và tình yêu đôi lứa sâu nặng là một cách lí giải thú vị về
lịch sử một vùng đất anh hùng. Kì tích Chi Lăng thể hiện niềm tự hào sâu sắc về tình
yêu Tổ quốc, phẩm chất anh hùng và tâm hồn cao đẹp của con người xứ Lạng trong
đấu tranh bảo vệ đất nước.
1. Tóm tắt ngắn gọn (từ 7 – 10 câu) nội dung của truyện theo diễn biến sự việc.
2. Trong truyện, nhân vật Lê Hoàn đã nói gì với các bô lão? Nêu cảm nhận của em
về nhân vật này.
3. Chiếc chảo kì lạ được miêu tả qua những chi tiết nào? Bằng lời của ai?
4. Tìm trong văn bản lời người mẹ khuyên các con.
5. Nêu ý nghĩa của câu chuyện về bà mẹ và mười hai người con.
6. Nhận xét về nghệ thuật kể chuyện của tác giả.
7. Phát biểu chủ đề của truyện.
Viết bài văn nghị luận phân tích một đoạn thơ/truyện (tự chọn) mà em thích nhất
trong bài thơ Đêm tháng Sáu của nhà thơ Mã Thế Vinh hoặc truyện Núi vua Ngự của
nhà văn Nguyễn Trường Thanh.
15
1. Em hãy sưu tầm và ghi lại những thông tin chính về sự nghiệp sáng tác và một
tác phẩm tiêu biểu của một trong hai tác giả sau của văn học hiện đại Lạng Sơn:
tác giả Vi Thị Kim Bình, tác giả Nguyễn Quang Huynh.
2. Thiết kế một cuốn sổ tay văn học cá nhân để ghi chú các thông tin cơ bản về các
tác giả, tác phẩm văn học hiện đại Lạng Sơn mà em yêu thích.
ĐỌC THÊM
THƠ
LỘC BIẾC
Vũ Kiều Oanh
Những vết thời gian qua
Hằn lên thân già cỗi
Cây nghiêng gốc xù xì
Đón xuân về thêm tuổi
Ngỡ trong từng thớ gỗ
Dòng nhựa sống cạn khô
Lá vàng đi về đất
Cành khô gầy chơ vơ
Và bất ngờ mưa bụi
Li ti giăng đầy trời
Và không gian chợt ấm
Giục muôn loài sinh sôi
Cây rùng mình khe khẽ
Đau nỗi đau sinh thành
Lớp vỏ già tách nhẹ
Đón hạt mưa ngọt lành
Nơi chót cành nhựa ứa
Thấp thoáng trong màn mưa
Nhú đôi cành lộc biếc
Xanh dịu dàng non tơ…
16
(Vũ kiều Oanh, Lời yêu thương, NXB Mĩ thuật, Hà Nội, 2007)
VĂN XUÔI
TÓM TẮT TRUYỆN “MUỐI MẶN GỪNG CAY”
Muối mặn gừng cay là truyện ngắn hay khắc hoạ thành công hình ảnh cuộc sống,
con người ở vùng đất xứ Lạng thời Hậu Lê. Đó là câu chuyện đẹp về tình yêu của cô
Nguyễn Thị Giang, con gái Phó trấn Lạng Sơn gốc miền xuôi với chàng trai nông dân
miền sơn cước Nông Văn Vỉ. Vượt qua những định kiến khắt khe của xã hội phong kiến
về nguồn gốc, sắc tộc, gia cảnh, vùng miền,... họ vẫn đến được với nhau trong sự
đồng thuận, ủng hộ của người cha cô gái. Từ đó hai người đã có nhiều đóng góp
trong xây dựng và phát triển kinh tế của tỉnh Lạng Sơn. Đoạn trích sau đây nằm ở
đoạn giữa của truyện ngắn, kể lại hành trình của cô Giang và phường buôn muối từ
đèo Sài Hồ đến phố Kỳ Lừa trong một chuyến hàng cuối năm; diễn biến tâm lí của cô
trước khi thổ lộ với cha về ý nguyện được về chung một nhà với chàng trai nghèo,
giàu nghị lực và chăm chỉ Nông Văn Vỉ.
MUỐI MẶN GỪNG CAY
(Trích)
Vi Thị Thu Đạm
[…] Gà gáy canh ba, cô Giang vội vàng trở dậy, đã thấy đèn đuốc thắp lên sáng rực
ngoài sàn. Ngựa đã đóng vào xe, chúng gõ móng lộp cộp. Ông chủ nhà còn cẩn thận
giắt thêm vài bó đuốc chưa thắp lên xe để mọi người thắp dần. Đoàn phu muối với
những xe ngựa thồ lặc lè rời khỏi nhà ông Dùng, bắt đầu vào con đèo Sài Hồ, hướng
về phương bắc.
Đoàn người lặng lẽ đi trong yên lặng, nghe rõ tiếng ngọn lửa bắt gió cháy phần
phật trên đầu bó đuốc, tiếng ngựa thở phì phò. Con đèo dốc quanh co, hiểm trở,
hai bên là rừng đại ngàn với biết bao hiểm nguy rình rập: kẻ xấu, thú dữ, rắn độc,…
Hiếm ai mà một mình, một ngựa dám qua con đèo này. Cô Giang đã từng nghe chuyện
ở con đèo này có người bị con rắn hổ mang bành to bằng cái đấu phì nọc độc chết cả
người cả ngựa. Cô cho ngựa đi theo sát bà Cả Hương, mắt không ngừng quan sát mọi
động tĩnh xung quanh. Thi thoảng, một con hoẵng ăn đêm giật mình, chạy thục mạng
khiến những cành khô gãy roàn roạt theo bước chân của nó, một vài con sóc chuyền
cành líu chíu hay mẹ con nhà khỉ bị chí chét càu nhàu. Mùi lá cây mục hoai hoải bốc
lên theo vó ngựa.
Trời tang tảng sáng dần, cảnh vật hiện ra trong màn sương đùng đục. Thi thoảng
bắt gặp những tàu chuối non táp khô lại vì gió rét, nổi bật trên nền trời xám bạc, giữa
những cây nghiến, cây lim vẫn thắm một sắc xanh vạn niên.
Non buổi sáng, đoàn người đã lên tới đỉnh dốc và dừng lại nghỉ ngơi chốc lát.
Mọi người tranh thủ ăn chút lương khô và đám phu thì toả đi tìm chặt cành cây làm
thắng hậu khi xuống đèo. Chốc lát, họ đã lôi về những cành cây to cỡ bắp chân người,
để nguyên cả cành lá sum suê, họ buộc những cành cây đó vào sau mỗi xe hàng.
17
Đây là cách mà phu xe hàng vẫn thường làm mỗi khi phải cho xe xuôi những con dốc
đứng. Cành cây được kéo lê theo sau xe sẽ an toàn hơn cho những chú ngựa không
bị xe hàng chúi thúc vào mông, nguy hiểm hơn, có thể lật đổ cả xe hàng. Xuống tới
chân con dốc, những cành cây như thế bị bỏ lại chất thành đống, người quanh vùng
thường đến lượm về làm củi đun.
Chiều tối, đoàn người về đến bến Nam bờ sông Kỳ Cùng. Chuyến đi kể như
là trót lọt, ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm. Trên bến sông, Vỉ đã chống sào chờ.
Cô Giang cắt đặt việc ăn nghỉ cho ông bà Hương xong xuôi thì đốc đoàn phu muối
vác hàng xuống mảng chở sang bên kia sông để kịp cho buổi chợ phiên sáng hôm
sau. Gặp lại Vỉ, nhìn ánh mắt đầy yêu thương, bờ vai rộng, dáng đi vững chãi của
chàng, trong lòng cô Giang lại rộn lên một niềm tin tưởng. Cô Giang quyết định
ngay tối nay sẽ thưa chuyện cùng cha.
Ngoài bến sông dần thưa vắng người, gió lạnh thốc từng cơn, hơi nước từ mặt
sông bốc lên ngùn ngụt. Giang chờ Vỉ vác xong những bao hàng cuối cùng thì lấy
ở trong tay nải ra gói đường phèn trao tận tay anh. Đường phèn là món quà miền
xuôi mà Vỉ rất thích vì anh để đem chia cho những người già, trẻ nhỏ trong vùng làm
thuốc chữa bệnh.
– Anh về đi, áo ướt mồ hôi, bắt gió lạnh là cảm đấy.
– Ừ. Em về Phủ, nhớ đập vài củ gừng ngâm chân cho đỡ lạnh. Anh tranh thủ đi bỏ
mấy bó lá để mai bắt cá.
– Trời! Lạnh thế này anh còn tham gì. Mà lạnh thế này thì làm sao mà bắt được cá.
– Trời lạnh, chỉ cần thả mấy bó lá sim xuống chỗ nước nông là cá sẽ chui vào
tránh rét. Chiều nay đi rừng tranh thủ chặt được mấy bó lá sim rồi, sáng mai anh nhấc
một lát là xong thôi mà. Vẫn kịp phụ em buổi chợ. Còn cá thì để đem cho già Khưa
bán lấy tiền mua muối. Già Khưa nhịn muối đã mấy tuần nay rồi.
– Vậy anh đem một ống muối về biếu già trước đã, đợi em một lát nhé…
Hai người chia tay nhau trong tất bật công việc và đầy ắp những nỗi niềm lo lắng,
thương yêu dành cho người khác. Tình yêu của Vỉ và Giang gặp nhau chính là từ tình
yêu đồng loại mà cô và anh đã dành cho những người khốn khổ hơn mình.
(Tạp chí Văn nghệ xứ Lạng, 2013)
18
CHỦ ĐỀ
3
LẠNG SƠN TRONG THỜI KÌ ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC
(1919 – 1975)
Sau chủ đề này, học sinh sẽ:
● Nêu được điểm nổi bật của phong trào cách mạng Lạng Sơn trong những
năm 1919 – 1930 và sự ra đời của tổ chức cơ sở Đảng Cộng sản ở tỉnh
Lạng Sơn (1930 – 1945).
● Thuật lại được nét chính của khởi nghĩa Bắc Sơn và nêu được ý nghĩa của
cuộc khởi nghĩa.
● Tóm tắt được cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở Lạng Sơn trong
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
● Trình bày được một số sự kiện chính trong cuộc kháng chiến chống thực dân
Pháp (1946 – 1954) ở Lạng Sơn và đóng góp của nhân dân Lạng Sơn trong
cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ (1954 – 1975).
● Xác định được trách nhiệm của cá nhân đối với việc phát huy truyền thống
yêu quê hương, đất nước.
Hình bên là lễ đón nhận Huân
chương Độc lập hạng Ba của Chủ
tịch nước tặng cho tỉnh Lạng Sơn
năm 1966 tại nơi sơ tán – huyện
Văn Lãng. Đây là một vinh dự, một
niềm tự hào lớn của nhân dân
Lạng Sơn.
Vậy, nhân dân Lạng Sơn đã chiến
đấu và đóng góp gì trong cuộc
đấu tranh giành độc lập và bảo vệ
Tổ quốc trong những năm từ 1919
đến năm 1975? Vì sao chúng ta
phải tìm hiểu về lịch sử Lạ...
 









Các ý kiến mới nhất