- ôn cho học sinh 10

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Mông Quốc Chính
Ngày gửi: 15h:25' 16-01-2026
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 12
Nguồn:
Người gửi: Mông Quốc Chính
Ngày gửi: 15h:25' 16-01-2026
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 12
Số lượt thích:
0 người
TỔNG ÔN CHUYÊN SÂU LUYÊN THI VÀO 10
CHƯƠNG TRÌNH MỚI (DÙNG CHUNG CHO 3 BỘ SGK)
CHUYÊN ĐỀ 1: ĐỌC HIỂU
Dạng câu hỏi
Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại
văn học, thể thơ
Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề
của văn bản
Dạng câu hỏi xác định nội dung
chính của văn bản
Dạng câu hỏi đặt nhan đề
Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình
ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
Dạng câu hỏi xác định phương thức
lập luận
Trang
Dạng câu hỏi
Trang
3
Dạng câu hỏi xác định biện pháp tu
từ và nêu tác dụng
14
8
Dạng câu hỏi xác định nội dung của
từ/cụm từ khóa
22
8
9
10
11
12
Dạng câu hỏi đưa ra cách hiểu/ suy
nghĩ của bản thân
Dạng câu hỏi giải thích ý kiến tác giả
Dạng câu hỏi rút ra bài học / thông
điệp cho bản thân
Dạng câu hỏi đồng tình/ không đồng
tình với 1 ý kiến/ quan điểm.
Dạng câu hỏi nhận xét về tình cảm
của tác giả
BẢNG HÊ THỐNG KIẾN THỨC 6-9 CẦN GHI NHỚ
23
24
26
27
28
29
CHUYÊN ĐỀ 2: DẠNG BÀI VĂN
NLVH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
Phương pháp phân tích tác phẩm
truyện
NLXH
34
57
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 hiện tượng xã hội
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 tư tưởng đạo lý
83
97
CHUYÊN ĐỀ 3: DẠNG ĐOẠN VĂN
NLVH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
Phương pháp phân tích tác phẩm
truyện
NLXH
107
116
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 tư tưởng đạo lý
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 hiện tượng xã hội
124
128
1
CHUYÊN ĐỀ 4: ĐỀ LUYÊN
PHẦN 1: Dạng bài văn NLXH, đoạn văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
131
137
142
148
153
159
164
171
9
10
11
12
13
14
15
177
183
188
194
200
206
211
PHẦN 2: Dạng đoạn văn NLXH, bài văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
218
225
231
239
244
251
256
263
9
10
11
12
13
14
15
268
275
281
288
294
301
307
TÀI LIÊU ÔN THI LỚP 9 (CHƯƠNG TRÌNH MỚI) DÙNG CHUNG 3 BỘ SGK
HƯỚNG TỚI KỲ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2025
MÔN: NGƯ ̃ VĂN 9
THPTQG2025U
'
2
CHUYÊN ĐỀ I: PHƯƠNG PHÁP CHINH PHỤC PHẦN ĐỌC HIỂU ĐỀ THI
Mẹo, phương pháp nhanh cho học sinh ôn thi vào 10
I.
Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại văn học
-Tác phẩm văn học bao gồm: tự sự, trữ tình, kịch.
+ Các thể loại trữ tình: ca dao, thơ cách luật, thơ tự do, thơ trào phúng…
+ Các thể loại tự sự: truyện, ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, bút kí, phóng sự…
+ Các thể loại kịch: Bi kịch, hài kịch.
Mẹo: khi làm dạng này các em không nên đọc văn bản trước, mà đọc câu hỏi ở đề bài trước
để tránh trường hợp phải đọc lại rất tốn thời gian
CÔNG THỨC:
Bước 1: Quan sát kĩ đặc điểm văn bản dung lượng, hình thức(văn xuôi hay thơ), ngôn ngữ,
ngôi kể, nhân vật….
Bước 2: Đối chiếu với kiến thức lý thuyết thể loại mình đã học
Bước 3: Thể loại của văn bản là:….
(nếu là thơ, thì đếm số chữ trong câu xuyên suốt văn bản đề bài cho là xác định được.
VD1: 7 chữ 1 dòng xuyên suốt văn bản⇒ thơ 7 chữ
VD2: dòng 3 chữ, dòng 7 chữ, dòng 1 chữ…⇒thơ tự do)
Mẹo: đề thi họ ít khi hỏi những kiến thức cao siêu lắm, đặc biệt là năm đầu thi chương trình
mới ví dụ: bút kí,tuỳ bút, thơ trung đại, phóng sự, tiểu thuyết,tản văn… Chủ yếu thi truyện,
thơ hiện đại ⇒ vì vậy nếu yếu quá, đọc không hiểu văn bản các em ghi bừa: truyện ngắn (nếu
là 1 đoạn văn xuôi) hoặc thơ thì tỉ lệ trúng cao hơn (đây là phương pháp lụi bừa nên
các em không nên lạm dụng nhé)
Bảng hệ thống kiến thức thể loại (bắt buộc nhớ)
Phân
loại
Truyện
trung
đại
Thể
loại
Truyền
kì
Đặc điểm
Ví dụ
Các tác phẩm thơ trong văn
học trung đại, thường có
cách xứng hô đặc biết:
Nàng/ chàng/ thiếp…Sử
dụng nhiều ngôn ngữ trung
đại, cách ví von sử dụng
nhiều điển cố, điển tích
Bài:Chuyện người con gái Nam Xương
(Nguyễn Dữ)
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy.
Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà
rằng: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng
dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc
áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về
mang theo được hai chữ bình yên, thế là
đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế
giặc khôn
lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều
còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà
3
Truyện Truyện
hiện
lịch sử
đại
Là tác phẩm kể lại về các
nhân vật lịch sử trong quá
khứ, được các nhà văn viết
lại mang bóng dáng của
người anh hùng khi xưa,
hay liên quan tới các trận
chiến, gươm, đao, nhân vật
sử dụng ngôn ngữ Trung
đại: tôi/ vua/ thần/lính...
Là một tác phẩm văn
chương có cốt truyện ngắn
gọn, tập trung vào một sự
kiện hay một đoạn thời gian
Truyện ngắn trong cuộc sống của
ngắn các nhân vật. Truyện ngắn
(hay
thường có ít nhân vật và
thi)
gắn kết nhanh chóng, với
một cái kết súc tích.
⇒Mẹo: có nhân vật, có 1
chuỗi các sự việc và dẫn đến
1 kết thúc
Tiểu
thuyết
Là một loại tác phẩm văn
chương dài, thường bao
gồm nhiều nhân vật và có
cốt truyện phức tạp và có
thể kéo dài qua nhiều
chương. Mẹo: thường ở
phần trích nguồn họ sẽ
hay để “trích trong
chương/phần…” ⇒ta xác
định được ngay là tiểu
thuyết
mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp
băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng
soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi
người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang,
cũng sợ không
có cánh hồng bay bổng.
Bài: Lá cờ thuê sáu chữ vàng(Nguyễn
Huy Tưởng)
Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực
ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ
đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay
thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói:
Quân pháp vô thân, Hầu không có phận
sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc.
Nhược bằng khinh thường phép nước,
anh
em tất phải chiếu theo thượng lệnh.
Bài: Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam)
Thế mà qua một đêm mưa rào, trời
bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu
đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa
mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh
dậy, nhưng khôg bước xuống giường
ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào
trong bọc, bên cạnh đứa em bévẫn nắm
tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở
dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước
chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã
mặc áo rét cả rồi.
Bài: Hoàng tử bé (antoine de saintexpéry)
Hồi lên sáu, có lần tôi đã nhìn thấy
một bức tranh tuyệt đẹp trong một cuốn
sách nói về Rừng hoang nhan đề "Những
chuyện có thật". Nó vẽ một con trăn đang
nuốt một con thú. Đây là bản sao của bức
tranh đó. Người ta nói trong sách: "Con
trăn nuốt chửng cả con mồi mà không
nhai. Sau đó nó không thể nhúc nhích
4
Truyện
khoa
học
viễn
tưởng
Bút kí
Tuỳ bút
Là thể loại truyện hư cấu,
tưởng tượng của người viết
dựa trên tri thức khoa học.
Với nền tảng là những lí
thuyết khoa học nên có
những giả tưởng trong
truyện khoa học viễn tưởng
có thể thành sự thật: Con
vật khổng lồ, cỗ máy hiện
đại… Mẹo: là loại văn xuôi
tả những điều vô lý, ảo tưởng
được nữa và nó nằm ngủ sáu tháng liền
trong khi chờ tiêu hoá."
Bài: Hai vạn dặm dưới đáy biển (Jules
Verne, 1870),
Nó lao vào các khối thịt đó mà chém
thành hai khúc đầy máu đỏ lòm. Đuôi cá
đập vào vỏ tàu rất mạnh nhưng chẳng hề
gì. Diệt xong con này, tàu lại xông đến
con khác, lúc chạy tới, lúc chạy lui, lúc
ngoan ngoãn tuân theo bàn tay hoa tiêu
lặn xuống sâu để dượt theo kẻ địch, lúc
lại nổi lên mặt biển, khi tấn công chính
diện, khi thì đánh ngang sườn. Mũi tàu
băm vằm lũ cá một cách đáng sợ. Trên
mặt biển nổi lên tiếng ầm ầm như sấm,
tiếng rít, tiếng rống của loài cá khi giãy
chết! Đuôi cá quẫy mạnh làm mặt biển
trước đó phẳng
lặng giờ sủi bọt lên như chảo nước sôi.
Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng
Phủ Ngọc Tường)
Là thể loại văn chương ghi
lại những suy nghĩ, trải
nghiệm cá nhân, và quan
sát của tác giả về cuộc sống
hàng ngày. Bút kí thường
không có cốt truyện rõ
ràng, tập trung vào việc
miêu tả và phân tích cảm
xúc, ý kiến và
quan điểm cá nhân.
Là một thể loại văn chương Bài: Người lái đò sông Đà (Nguyễn
tự do, tác giả có thể viết về Tuân), “Chuyện cơm hến”(Hoàng Phủ
bất kỳ chủ đề nào mà họ Ngọc Tường).
muốn, không bị ràng buộc
bởi hình thức hay cấu trúc
nghiêm ngặt.
5
Tản văn
Kịch
Thơ
trung
đại
Là lối viết chú trọng ghi lại Bài: Bản tin về hoa anh đào (Nguyễn Vĩnh
những gì người viết đã trải Nguyên)
qua, nghe thấy, nhìn thấy,
cảm thấy để thể hiện được
tình cảm, ý nghĩ mang màu
sắc cá nhân, là thể loại phi
hư cấu (không có yếu tố hư
cấu) trong khi truyện ngắn
cho phép người viết được
hư cấu ngay cả khi câu
chuyện dựa trên một số
yếu tố có
thật.
Hài kịch Hài Kịch là xung đột trong
lời nói và hành động, gây ra
tiếng cười cho người khác.
Mẹo: các nhân vật đối thoại
với nhau, đọc xong ta thấy
vui
Bi kịch Nhân vật có xung đột gay
gắt giữa những khát vọng
cao đẹp của con người với
tình thế bi đát của thực tại
dẫn tới sự thảm bại hay cái
chết của nhân vật.
Mẹo: Các nhân vật đối
thoại
với nhau, đọc xong ta thấy
buồn
Thất
Số câu trong bài: 4 câu
ngôn
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
tứ tuyệt
đường
luật
Bài: Trưởng giả học làm sang, Lão hà tiện
Bài: Romeo và Giu liet, Lơxit
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Chiều tối – HCM)
6
Thất
ngôn
bát cú
đường
luật
Số câu trong bài: 8 câu
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh
Quan)
Thơ
Lục bát Câu trên: 6 chữ
dân tộc (hay thi) Câu dưới: 8 chữ
⇒Liên hoàn, lặp đi lặp lại
đến hết bài
Song
thất
lục bát
Thơ
hiện
đại
(hay
thi)
4 chữ
5 chữ
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm
xuân Giữa dòng bàn bạc việc
quânKhuya về
bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Rằm tháng Giêng – Hồ Chí Minh)
Song thất tức là hai câu 7 Ngòi đầu cầu nước trong như
chữ rồi đến cặp lục – bát cứ lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn
như vậy đến hết bài.
non. Đưa chàng lòng dặc dặc
buồn, Bộ khôn bằng ngựa thuỷ
khôn bằngthuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi taylại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
(Trích Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị
Điểm)
4 chữ 1 dòng đến hết
Mắt cô sưởi ấm
Tâm hồn trong em
Khuôn mặt ngây
thơ Loà nhoà mắt
ướt
(không tên)
5 chữ 1 dòng đến hết
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
(Sóng – Xuân Quỳnh)
7
6 chữ
7 chữ
Tự do
6 chữ 1 dòng đến hết
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
con về rợp bướm vàng bay
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
7 chữ 1 dòng đến hết
Con ngoan nghĩa nặng vui lòng bố
Cháu giỏi tình thâm thỏa dạ bà
Cuộc sống tuy còn nhiều trắc trở
Tin rằng trái ngọt vẫn phần ta.
(Gia đình hạnh phúc- Hoàng Nguyên)
Không quy định số chữ Đi thôi em, đi để cảm nhận, đi để mà yêu
trong 1 câu
Đi ngắm mùa trăng liêu xiêu
Nhớ thời mười tám
Đi thôi em, đường xa lắm, đời đâu xa lắm
Một cái quay lưng đã bạc mái đầu..
(Không tên – Huỳnh Minh Nhật)
II.
Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề của văn bản
- Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn chúng ta cần xác định xem đoạn văn đó trình bày
theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu
đoạn. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn.
- Còn đoạn văn trình bày theo cách T-P-H ,song hành hay móc xích thì câu chủ đề là câu có
tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn. Câu đó có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trong
đoạn văn.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định hình thức đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân- hợp ….
Mẹo: căn cứ vào vị trí câu chủ đề (ở: đầu đoạn→diễn dịch, cuối đoạn→quy nạp, Đầucuối→tổng phân hợp)
Bước 2: Câu chủ đề của đoạn trích là:…(chép đủ/nguyên văn cả câu )
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về
phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể
ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải
chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay...
Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu
thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh
8
phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
* Câu chủ đề của đoạn trích là: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn
nhưng nhiều khó khăn hơn.
III. Dạng câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản
- Muốn xác định được nội dung của văn bản học sinh cần căn cứ vào tiêu đề của văn bản.
Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn câu thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là
những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản
- Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh cần phải xác định
được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song hành…Xác
định được kiểu trình bày đnạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào.
-Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn. Xác định bố cục của
đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó (chú ý đôi
khi không phải cứ câu chủ đề là mang nội dung chính mà còn phải căn cứ vào các từ ngữ,
hình ảnh, nhanh đề, chi tiết được lặp đi lặp lại nhiều lần , ý nghĩa bao hàm toàn bộ nội dung
của
văn bản nữa nhé).
CÔNG THỨC:
Bước 1: Đọc nhan đề + đọc văn bản để tóm tắt thành một câu khái quát nội dung bề mặt (căn
cứ vào nhan đề/cụm từ khóa, hình ảnh được lặp lại, câu chủ đề…)
Bước 2: Qua đó tác giả bộc lộ/gửi gắm thông điệp….(nội dung ngầm)
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến
về phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước; Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát... Người ta bỏ
con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu thì cũng có
người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh phúc thực sự là
như thế nào?
⇒ Nội dung chính của văn bản là: Lời tâm tình dạy bảo của người cha dành cho người con
về những cung bậc khác nhau của hạnh phúc với những biểu hiện đa dạng và giá trị của hạnh
phúc gắn với thời điểm khi con đã lớn khôn. Qua đó tác giả muốn gửi gắm thông điệp phải
biết tự tin, cố gắng vững bước trên đôi chân của mình trong chặng đường đi tìm hạnh phúc.
IV.
Dạng câu hỏi đặt nhan đề
9
- Văn bản thường là một chỉnh thể thống nhất về nội dung, hài hòa về hình thức. Khi hiểu rõ
đươc văn bản, học sinh dễ dàng tìm được nhan đề cũng như nội dung chính của văn bản
- Đặt nhan đề cho văn bản chẳng khác nào người cha khai sinh ra đứa con tinh thần của
mình. Đặt nhan đề sao cho đúng,cho hay không phải là dễ. Vì nhan đề phải khái quát được
cao nội dung tư tưởng của văn bản , phải cô đọng được cái thần, cái hồn của văn bản .
- Học sinh chỉ có thể đặt tên được nhan đề cho văn bản khi hiểu được nó. Vì thế học sinh đọc
văn bản để hiểu được ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề. Nhan đề của văn
bản
thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản
CÔNG THỨC:
Bước 1: Phải xác định được từ khoá/ nội dung của văn bản.
Yêu cầu: + Dạng: từ/ cụm từ/ câu (ngắn gọn)
+ Có tính khái quát, thể hiện nội dung của văn bản.
Bước 2: Nhan đề của văn bản là:….(tên nhan đề)
10
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về
phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể
ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải
chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay...
Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu
thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh
phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
* Từ khoá: Hạnh phúc, đối tượng: người con. Nội dung: Lời nhắn nhủ của cha với con về
hạnh phúc trong cuộc sống.
* Nhan đề của văn bản là: Hạnh phúc/ Giá trị của hạnh phúc/ Hạnh phúc của con…
V.
Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
Đ.điểm
Ngôi
Người kể
Dấu hiệu
Tác dụng
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ 3
Người kể tham gia vào nội dung cốt
truyện, là 1 nhân vật trong truyện
Người kể dứng ngoài, không tham
gia vào nội dung cốt truyện (còn gọi
là người kể giấu mình/người kể
truyện
toàn trí)
Xưng: tôi,ta, tớ, tao, mình…
Gọi nhân vật bằng tên của nó: bọn nó,
chúng nó, cô ấy, người ta…
Làm cho người đọc nắm bắt tâm Biết rõ mọi việc trong thế giới truyện,
trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, lời kể mang tính khách quan.
chân thật và gần gũi hơn.
- Dạng xác định ngôi kể là 1 dạng câu hỏi dễ nhưng học sinh thường bị nhầm lẫn do không
được luyện nhiều và không nắm vững kiến thức lý thuyết.
- Trong quá trình học tập, giảng dạy thầy cô và các em học sinh nên chú ý học thật
thuộc+luyện
nhiều do đề vào 10 cũng hay hỏi.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định người kể là ai?
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên
gọi ấy.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là:…
11
Ví dụ 1: Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc, nhưng vua vẫn còn muốn thử
cho đến cùng. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà
vua mang tới một con chim sẻ và lệnh chỉ bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé bảo cha
lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:
– Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.
Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
=>chưa xác định được
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi
ấy.
– Gọi tên nhân vật bằng chính tên của họ (vua, thằng bé, hai cha con, sứ giả, chim sẻ…)
=> người kể không phải là một nhân vật trong truyện.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: ngôi 3.
Ví dụ 2: Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao
lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Ðôi càng tôi mẫm bóng. Những cái
vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những
chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như
có nhát dao vừa lia qua. Ðôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín
xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
⇒ Dế Mèn.
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi
ấy.
⇒Tôi.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: thứ nhất.
VI. Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
- Phần này trong đề thi thường hỏi anh,chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, một câu văn
nào đó có sẵn trong văn bản.
- Vì thế học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản để trả lời.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định rõ yêu cầu, nội dung của câu hỏi.
Bước 2: Tìm, gạch chân từ ngữ/ hình ảnh/ chi tiết. (đáp án nằm trong văn bản)
Bước 3: Các từ ngữ thể hiện…..trong văn bản là:….(chỉ ra chính xác từ ngữ, hình ảnh, chi
tiết-liệt kê ra cho bằng hết.)
Ví dụ:
Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
12
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò…sung chát…đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Hãy chỉ ra những chi tiết thể hiện hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ trên ?
⇒ Các từ ngữ thể hiện hình ảnh người mẹ giản dị được khắc họa qua những chi tiết trong văn
bản là: không có yếm đào, nón mê, tay bí tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu, câu ca mẹ
hát, lời mẹ ru.
VII.
Tiêu chí
Dạng câu hỏi xác định phương thức lập luận
Nội dung
Diễn dịch -Đoạn văn có câu chủ đề được
đặt ở đầu đoạn, những câu tiếp
triển khai các nội dung cụ thể để
làm rõ chủ đề của đoạn văn.
-Mô hình:
Quy nạp
- Đoạn văn triển khai nội dung
cụ thể trước, từ đó mới khái quát
nội dung chung, được thể hiện
bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
-Mô hình:
Ví dụ
Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao
quý (1). Suốt chín tháng mười ngày, mẹ
mang nặng đẻ đau, để rồi đến khi đứa con
cất tiếng khóc chào đời cũng là lúc lòng mẹ
thấy hạnh phúc nhất (2). Mỗi khi ta ốm đau,
mẹ đã thức suốt đêm thâu chăm sóc ta, lặng
lẽ quan tâm mà chưa bao giờ mẹ kể(3). Mẹ
sẵn sàng nén nước mắt vào trong, chịu bao
đắng cay của cuộc đời để nuôi ta khôn lớn,
thành người (4). Khi ta vấp ngã trước con
đường đời, mẹ vỗ về động viên, an ủi chúng
ta (5).
=>Câu chủ đề là câu số 1. Các câu 2,3,4,5
lần lượt đưa ra các ý để làm sang tỏ câu chủ
đề (chứng minh câu chủ đề là đúng)
Câu chủ đề : “Tình mẫu tử là tình cảm
thiêng liêng, cao quý” vì :
+Mẹ mang nặng, đẻ đâu sinh ra ta
+ Mẹ luôn chăm sóc, quan tâm ta
+ Mẹ hi sinh nuôi lớn ta thành người
+Luôn là người động viên, an ủi ta
Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng
thành, phần lớn thời gian là gần gũi và
thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn
từ cha (1). Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng
ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống,
chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…(2). Với
việc nhận
thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học
13
Song
song
(Song
hành)
- Đoạn văn không có câu chủ đề,
các câu trong đoạn có nội dung
khác nhau, nhưng cùng hướng
tới một chủ đề.
- Mô hình:
Phối
hợp
(Tổngphân hợp)
-Đoạn văn mở đẩu bằng câu chủ
để, tiếp đó là những câu triển
khai các nội dung cụ thể. Cầu
cuối của
đoạn cũng là một cầu chủ đễ, khái
quát lại nội dung của các câu triển
khai. (Câu chủ đề cuối thông
thường mang tính mở rộng của
câu chủ đề đầu).
-Mô hình:
hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc
biệt các đức của người mẹ, đã hình thành
dần dần bản tính của đứa con theo kiểu
“mưa dầm, thấm lâu” (3). Ngoài ra, những
đứa trẻ thường là thích bắt chước người
khác thông qua những hành động của người
gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ (4). Chính
người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục
con cái chủ yếu trong gia đình(5).
=>Câu chủ đề là câu số 5, các câu 1,2,3,4 đi
trước nhằm liệt kể ý để câu chủ đề khái quát
lại nội dung
- Văn chương là đời sống ghi trên giấy (1).
Và dù thông minh bực nào, cũng phải có
sống mới hiểu được đời, mới hiểu được
văn(2). Không lịch
CHƯƠNG TRÌNH MỚI (DÙNG CHUNG CHO 3 BỘ SGK)
CHUYÊN ĐỀ 1: ĐỌC HIỂU
Dạng câu hỏi
Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại
văn học, thể thơ
Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề
của văn bản
Dạng câu hỏi xác định nội dung
chính của văn bản
Dạng câu hỏi đặt nhan đề
Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình
ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
Dạng câu hỏi xác định phương thức
lập luận
Trang
Dạng câu hỏi
Trang
3
Dạng câu hỏi xác định biện pháp tu
từ và nêu tác dụng
14
8
Dạng câu hỏi xác định nội dung của
từ/cụm từ khóa
22
8
9
10
11
12
Dạng câu hỏi đưa ra cách hiểu/ suy
nghĩ của bản thân
Dạng câu hỏi giải thích ý kiến tác giả
Dạng câu hỏi rút ra bài học / thông
điệp cho bản thân
Dạng câu hỏi đồng tình/ không đồng
tình với 1 ý kiến/ quan điểm.
Dạng câu hỏi nhận xét về tình cảm
của tác giả
BẢNG HÊ THỐNG KIẾN THỨC 6-9 CẦN GHI NHỚ
23
24
26
27
28
29
CHUYÊN ĐỀ 2: DẠNG BÀI VĂN
NLVH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
Phương pháp phân tích tác phẩm
truyện
NLXH
34
57
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 hiện tượng xã hội
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 tư tưởng đạo lý
83
97
CHUYÊN ĐỀ 3: DẠNG ĐOẠN VĂN
NLVH
Phương pháp phân tích tác phẩm thơ
Phương pháp phân tích tác phẩm
truyện
NLXH
107
116
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 tư tưởng đạo lý
Phương pháp làm dạng đề: Nghị
luận về 1 hiện tượng xã hội
124
128
1
CHUYÊN ĐỀ 4: ĐỀ LUYÊN
PHẦN 1: Dạng bài văn NLXH, đoạn văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
131
137
142
148
153
159
164
171
9
10
11
12
13
14
15
177
183
188
194
200
206
211
PHẦN 2: Dạng đoạn văn NLXH, bài văn NLVH
Đề
Trang
Đề
Trang
1
2
3
4
5
6
7
8
218
225
231
239
244
251
256
263
9
10
11
12
13
14
15
268
275
281
288
294
301
307
TÀI LIÊU ÔN THI LỚP 9 (CHƯƠNG TRÌNH MỚI) DÙNG CHUNG 3 BỘ SGK
HƯỚNG TỚI KỲ THI TUYỂN SINH VÀO 10 NĂM 2025
MÔN: NGƯ ̃ VĂN 9
THPTQG2025U
'
2
CHUYÊN ĐỀ I: PHƯƠNG PHÁP CHINH PHỤC PHẦN ĐỌC HIỂU ĐỀ THI
Mẹo, phương pháp nhanh cho học sinh ôn thi vào 10
I.
Dạng câu hỏi phân biệt các thể loại văn học
-Tác phẩm văn học bao gồm: tự sự, trữ tình, kịch.
+ Các thể loại trữ tình: ca dao, thơ cách luật, thơ tự do, thơ trào phúng…
+ Các thể loại tự sự: truyện, ngắn, tiểu thuyết, truyện vừa, bút kí, phóng sự…
+ Các thể loại kịch: Bi kịch, hài kịch.
Mẹo: khi làm dạng này các em không nên đọc văn bản trước, mà đọc câu hỏi ở đề bài trước
để tránh trường hợp phải đọc lại rất tốn thời gian
CÔNG THỨC:
Bước 1: Quan sát kĩ đặc điểm văn bản dung lượng, hình thức(văn xuôi hay thơ), ngôn ngữ,
ngôi kể, nhân vật….
Bước 2: Đối chiếu với kiến thức lý thuyết thể loại mình đã học
Bước 3: Thể loại của văn bản là:….
(nếu là thơ, thì đếm số chữ trong câu xuyên suốt văn bản đề bài cho là xác định được.
VD1: 7 chữ 1 dòng xuyên suốt văn bản⇒ thơ 7 chữ
VD2: dòng 3 chữ, dòng 7 chữ, dòng 1 chữ…⇒thơ tự do)
Mẹo: đề thi họ ít khi hỏi những kiến thức cao siêu lắm, đặc biệt là năm đầu thi chương trình
mới ví dụ: bút kí,tuỳ bút, thơ trung đại, phóng sự, tiểu thuyết,tản văn… Chủ yếu thi truyện,
thơ hiện đại ⇒ vì vậy nếu yếu quá, đọc không hiểu văn bản các em ghi bừa: truyện ngắn (nếu
là 1 đoạn văn xuôi) hoặc thơ thì tỉ lệ trúng cao hơn (đây là phương pháp lụi bừa nên
các em không nên lạm dụng nhé)
Bảng hệ thống kiến thức thể loại (bắt buộc nhớ)
Phân
loại
Truyện
trung
đại
Thể
loại
Truyền
kì
Đặc điểm
Ví dụ
Các tác phẩm thơ trong văn
học trung đại, thường có
cách xứng hô đặc biết:
Nàng/ chàng/ thiếp…Sử
dụng nhiều ngôn ngữ trung
đại, cách ví von sử dụng
nhiều điển cố, điển tích
Bài:Chuyện người con gái Nam Xương
(Nguyễn Dữ)
Chàng quỳ xuống đất vâng lời dạy.
Nàng rót chén rượu đầy tiễn chồng mà
rằng: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng
dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc
áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về
mang theo được hai chữ bình yên, thế là
đủ rối. Chỉ e việc quân khó liệu, thế
giặc khôn
lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều
còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà
3
Truyện Truyện
hiện
lịch sử
đại
Là tác phẩm kể lại về các
nhân vật lịch sử trong quá
khứ, được các nhà văn viết
lại mang bóng dáng của
người anh hùng khi xưa,
hay liên quan tới các trận
chiến, gươm, đao, nhân vật
sử dụng ngôn ngữ Trung
đại: tôi/ vua/ thần/lính...
Là một tác phẩm văn
chương có cốt truyện ngắn
gọn, tập trung vào một sự
kiện hay một đoạn thời gian
Truyện ngắn trong cuộc sống của
ngắn các nhân vật. Truyện ngắn
(hay
thường có ít nhân vật và
thi)
gắn kết nhanh chóng, với
một cái kết súc tích.
⇒Mẹo: có nhân vật, có 1
chuỗi các sự việc và dẫn đến
1 kết thúc
Tiểu
thuyết
Là một loại tác phẩm văn
chương dài, thường bao
gồm nhiều nhân vật và có
cốt truyện phức tạp và có
thể kéo dài qua nhiều
chương. Mẹo: thường ở
phần trích nguồn họ sẽ
hay để “trích trong
chương/phần…” ⇒ta xác
định được ngay là tiểu
thuyết
mùa dưa chín quá kì, khiến cho tiện thiếp
băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng
soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi
người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang,
cũng sợ không
có cánh hồng bay bổng.
Bài: Lá cờ thuê sáu chữ vàng(Nguyễn
Huy Tưởng)
Lính ập đến giữ lấy Hoài Văn. Thực
ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ
đã để cho chàng đứng đấy từ sáng. Nay
thấy Hoài Văn làm quá, viên tướng nói:
Quân pháp vô thân, Hầu không có phận
sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc.
Nhược bằng khinh thường phép nước,
anh
em tất phải chiếu theo thượng lệnh.
Bài: Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam)
Thế mà qua một đêm mưa rào, trời
bỗng đổi ra gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu
đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa
mùa đông rét mướt. Sơn tung chăn tỉnh
dậy, nhưng khôg bước xuống giường
ngay như mọi khi, còn ngồi thu tay vào
trong bọc, bên cạnh đứa em bévẫn nắm
tay ngủ kỹ. Chị Sơn và mẹ Sơn đã trở
dậy, đang ngồi quạt hỏa lò để pha nước
chè uống. Sơn nhìn thấy mọi người đã
mặc áo rét cả rồi.
Bài: Hoàng tử bé (antoine de saintexpéry)
Hồi lên sáu, có lần tôi đã nhìn thấy
một bức tranh tuyệt đẹp trong một cuốn
sách nói về Rừng hoang nhan đề "Những
chuyện có thật". Nó vẽ một con trăn đang
nuốt một con thú. Đây là bản sao của bức
tranh đó. Người ta nói trong sách: "Con
trăn nuốt chửng cả con mồi mà không
nhai. Sau đó nó không thể nhúc nhích
4
Truyện
khoa
học
viễn
tưởng
Bút kí
Tuỳ bút
Là thể loại truyện hư cấu,
tưởng tượng của người viết
dựa trên tri thức khoa học.
Với nền tảng là những lí
thuyết khoa học nên có
những giả tưởng trong
truyện khoa học viễn tưởng
có thể thành sự thật: Con
vật khổng lồ, cỗ máy hiện
đại… Mẹo: là loại văn xuôi
tả những điều vô lý, ảo tưởng
được nữa và nó nằm ngủ sáu tháng liền
trong khi chờ tiêu hoá."
Bài: Hai vạn dặm dưới đáy biển (Jules
Verne, 1870),
Nó lao vào các khối thịt đó mà chém
thành hai khúc đầy máu đỏ lòm. Đuôi cá
đập vào vỏ tàu rất mạnh nhưng chẳng hề
gì. Diệt xong con này, tàu lại xông đến
con khác, lúc chạy tới, lúc chạy lui, lúc
ngoan ngoãn tuân theo bàn tay hoa tiêu
lặn xuống sâu để dượt theo kẻ địch, lúc
lại nổi lên mặt biển, khi tấn công chính
diện, khi thì đánh ngang sườn. Mũi tàu
băm vằm lũ cá một cách đáng sợ. Trên
mặt biển nổi lên tiếng ầm ầm như sấm,
tiếng rít, tiếng rống của loài cá khi giãy
chết! Đuôi cá quẫy mạnh làm mặt biển
trước đó phẳng
lặng giờ sủi bọt lên như chảo nước sôi.
Bài: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng
Phủ Ngọc Tường)
Là thể loại văn chương ghi
lại những suy nghĩ, trải
nghiệm cá nhân, và quan
sát của tác giả về cuộc sống
hàng ngày. Bút kí thường
không có cốt truyện rõ
ràng, tập trung vào việc
miêu tả và phân tích cảm
xúc, ý kiến và
quan điểm cá nhân.
Là một thể loại văn chương Bài: Người lái đò sông Đà (Nguyễn
tự do, tác giả có thể viết về Tuân), “Chuyện cơm hến”(Hoàng Phủ
bất kỳ chủ đề nào mà họ Ngọc Tường).
muốn, không bị ràng buộc
bởi hình thức hay cấu trúc
nghiêm ngặt.
5
Tản văn
Kịch
Thơ
trung
đại
Là lối viết chú trọng ghi lại Bài: Bản tin về hoa anh đào (Nguyễn Vĩnh
những gì người viết đã trải Nguyên)
qua, nghe thấy, nhìn thấy,
cảm thấy để thể hiện được
tình cảm, ý nghĩ mang màu
sắc cá nhân, là thể loại phi
hư cấu (không có yếu tố hư
cấu) trong khi truyện ngắn
cho phép người viết được
hư cấu ngay cả khi câu
chuyện dựa trên một số
yếu tố có
thật.
Hài kịch Hài Kịch là xung đột trong
lời nói và hành động, gây ra
tiếng cười cho người khác.
Mẹo: các nhân vật đối thoại
với nhau, đọc xong ta thấy
vui
Bi kịch Nhân vật có xung đột gay
gắt giữa những khát vọng
cao đẹp của con người với
tình thế bi đát của thực tại
dẫn tới sự thảm bại hay cái
chết của nhân vật.
Mẹo: Các nhân vật đối
thoại
với nhau, đọc xong ta thấy
buồn
Thất
Số câu trong bài: 4 câu
ngôn
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
tứ tuyệt
đường
luật
Bài: Trưởng giả học làm sang, Lão hà tiện
Bài: Romeo và Giu liet, Lơxit
Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
Cô em xóm núi xay ngô tối
Xay hết lò than đã rực hồng
(Chiều tối – HCM)
6
Thất
ngôn
bát cú
đường
luật
Số câu trong bài: 8 câu
Số chữ trên 1 câu: 7 chữ
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá, đá chen hoa
Lom khom dưới núi, tiều vài chú
Lác đác bên sông, chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại, trời non nước
Một mảnh tình riêng, ta với ta.
(Qua đèo ngang – Bà Huyện Thanh
Quan)
Thơ
Lục bát Câu trên: 6 chữ
dân tộc (hay thi) Câu dưới: 8 chữ
⇒Liên hoàn, lặp đi lặp lại
đến hết bài
Song
thất
lục bát
Thơ
hiện
đại
(hay
thi)
4 chữ
5 chữ
Rằm xuân lồng lộng trăng soi
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm
xuân Giữa dòng bàn bạc việc
quânKhuya về
bát ngát trăng ngân đầy thuyền
(Rằm tháng Giêng – Hồ Chí Minh)
Song thất tức là hai câu 7 Ngòi đầu cầu nước trong như
chữ rồi đến cặp lục – bát cứ lọc, Đường bên cầu cỏ mọc còn
như vậy đến hết bài.
non. Đưa chàng lòng dặc dặc
buồn, Bộ khôn bằng ngựa thuỷ
khôn bằngthuyền
Nước trong chảy lòng phiền chẳng rửa
Cỏ xanh thơm dạ nhớ khó quên
Nhủ rồi taylại trao liền
Bước đi một bước lại vin áo chàng.
(Trích Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị
Điểm)
4 chữ 1 dòng đến hết
Mắt cô sưởi ấm
Tâm hồn trong em
Khuôn mặt ngây
thơ Loà nhoà mắt
ướt
(không tên)
5 chữ 1 dòng đến hết
Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể
(Sóng – Xuân Quỳnh)
7
6 chữ
7 chữ
Tự do
6 chữ 1 dòng đến hết
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
con về rợp bướm vàng bay
(Quê hương – Đỗ Trung Quân)
7 chữ 1 dòng đến hết
Con ngoan nghĩa nặng vui lòng bố
Cháu giỏi tình thâm thỏa dạ bà
Cuộc sống tuy còn nhiều trắc trở
Tin rằng trái ngọt vẫn phần ta.
(Gia đình hạnh phúc- Hoàng Nguyên)
Không quy định số chữ Đi thôi em, đi để cảm nhận, đi để mà yêu
trong 1 câu
Đi ngắm mùa trăng liêu xiêu
Nhớ thời mười tám
Đi thôi em, đường xa lắm, đời đâu xa lắm
Một cái quay lưng đã bạc mái đầu..
(Không tên – Huỳnh Minh Nhật)
II.
Dạng câu hỏi xác định câu chủ đề của văn bản
- Muốn xác định được câu chủ đề của đoạn chúng ta cần xác định xem đoạn văn đó trình bày
theo cách nào. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch thì câu chủ đề thường ở đầu
đoạn. Nếu là đoạn văn trình bày theo cách quy nạp thì câu chủ đề nằm ở cuối đoạn.
- Còn đoạn văn trình bày theo cách T-P-H ,song hành hay móc xích thì câu chủ đề là câu có
tính chất khái quát nhất, khái quát toàn đoạn. Câu đó có thể nằm ở bất kỳ vị trí nào trong
đoạn văn.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định hình thức đoạn văn: diễn dịch, quy nạp, tổng - phân- hợp ….
Mẹo: căn cứ vào vị trí câu chủ đề (ở: đầu đoạn→diễn dịch, cuối đoạn→quy nạp, Đầucuối→tổng phân hợp)
Bước 2: Câu chủ đề của đoạn trích là:…(chép đủ/nguyên văn cả câu )
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về
phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể
ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải
chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay...
Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu
thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh
8
phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
* Câu chủ đề của đoạn trích là: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn
nhưng nhiều khó khăn hơn.
III. Dạng câu hỏi xác định nội dung chính của văn bản
- Muốn xác định được nội dung của văn bản học sinh cần căn cứ vào tiêu đề của văn bản.
Căn cứ vào những hình ảnh đặc sắc, câu văn câu thơ được nhắc đến nhiều lần. Đây có thể là
những từ khóa chứa đựng nội dung chính của văn bản
- Đối với văn bản là một đoạn, hoặc một vài đoạn, việc cần làm là học sinh cần phải xác định
được đoạn văn trình bày theo cách nào: diễn dịch, quy nạp, móc xích hay song hành…Xác
định được kiểu trình bày đnạn văn học sinh sẽ xác định được câu chủ đề nằm ở vị trí nào.
-Thường câu chủ đề sẽ là câu nắm giữ nội dung chính của cả đoạn. Xác định bố cục của
đoạn cũng là căn cứ để chúng ta tìm ra các nội dung chính của đoạn văn bản đó (chú ý đôi
khi không phải cứ câu chủ đề là mang nội dung chính mà còn phải căn cứ vào các từ ngữ,
hình ảnh, nhanh đề, chi tiết được lặp đi lặp lại nhiều lần , ý nghĩa bao hàm toàn bộ nội dung
của
văn bản nữa nhé).
CÔNG THỨC:
Bước 1: Đọc nhan đề + đọc văn bản để tóm tắt thành một câu khái quát nội dung bề mặt (căn
cứ vào nhan đề/cụm từ khóa, hình ảnh được lặp lại, câu chủ đề…)
Bước 2: Qua đó tác giả bộc lộ/gửi gắm thông điệp….(nội dung ngầm)
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến
về phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước; Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát... Người ta bỏ
con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu thì cũng có
người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh phúc thực sự là
như thế nào?
⇒ Nội dung chính của văn bản là: Lời tâm tình dạy bảo của người cha dành cho người con
về những cung bậc khác nhau của hạnh phúc với những biểu hiện đa dạng và giá trị của hạnh
phúc gắn với thời điểm khi con đã lớn khôn. Qua đó tác giả muốn gửi gắm thông điệp phải
biết tự tin, cố gắng vững bước trên đôi chân của mình trong chặng đường đi tìm hạnh phúc.
IV.
Dạng câu hỏi đặt nhan đề
9
- Văn bản thường là một chỉnh thể thống nhất về nội dung, hài hòa về hình thức. Khi hiểu rõ
đươc văn bản, học sinh dễ dàng tìm được nhan đề cũng như nội dung chính của văn bản
- Đặt nhan đề cho văn bản chẳng khác nào người cha khai sinh ra đứa con tinh thần của
mình. Đặt nhan đề sao cho đúng,cho hay không phải là dễ. Vì nhan đề phải khái quát được
cao nội dung tư tưởng của văn bản , phải cô đọng được cái thần, cái hồn của văn bản .
- Học sinh chỉ có thể đặt tên được nhan đề cho văn bản khi hiểu được nó. Vì thế học sinh đọc
văn bản để hiểu được ý nghĩa của văn bản sau đó mới xác định nhan đề. Nhan đề của văn
bản
thường nằm ở những từ ngữ, những câu lặp đi, lặp lại nhiều lần trong văn bản
CÔNG THỨC:
Bước 1: Phải xác định được từ khoá/ nội dung của văn bản.
Yêu cầu: + Dạng: từ/ cụm từ/ câu (ngắn gọn)
+ Có tính khái quát, thể hiện nội dung của văn bản.
Bước 2: Nhan đề của văn bản là:….(tên nhan đề)
10
Ví dụ: Con lớn hơn rồi hạnh phúc theo đó cũng lớn hơn, đủ đầy hơn nhưng nhiều khó
khăn hơn. Hạnh phúc không phải là khi con cố gắng để trở nên mạnh mẽ, kiên cường để tiến về
phía trước. Mà là khi con ngã đau có người nâng con dậy, đỡ lấy bờ vai nhỏ nhắn của con,
thầm thì với con: “Gắng lên nào!” rồi cùng con tiến về phía trước, Là mỗi lần thất bại, mọi thứ
xung quanh con sụp đổ, khi tất cả những nỗ lực của con trở về vạch xuất phát. Có người có thể
ôm con để con khóc một trận thật to, nức nở, như trút hết những tủi thân ấm ức mà còn phải
chịu đựng rồi vỗ về con: Rồi mọi chuyện sẽ ổn thôi! Là mỗi lần đổ vỡ, cãi nhau rồi chia tay...
Người ta bỏ con lại với những giọt nước mắt nghẹn cứng cả tim. Có người dạy con cách yêu
thì cũng có người làm con đau nhưng nếu con không biết đau con sẽ không biết được hạnh
phúc thực sự là như thế nào?...
(Nguồn: https://www.cuasotinhyeu.vn)
* Từ khoá: Hạnh phúc, đối tượng: người con. Nội dung: Lời nhắn nhủ của cha với con về
hạnh phúc trong cuộc sống.
* Nhan đề của văn bản là: Hạnh phúc/ Giá trị của hạnh phúc/ Hạnh phúc của con…
V.
Dạng câu hỏi xác định ngôi kể
Đ.điểm
Ngôi
Người kể
Dấu hiệu
Tác dụng
Ngôi thứ nhất
Ngôi thứ 3
Người kể tham gia vào nội dung cốt
truyện, là 1 nhân vật trong truyện
Người kể dứng ngoài, không tham
gia vào nội dung cốt truyện (còn gọi
là người kể giấu mình/người kể
truyện
toàn trí)
Xưng: tôi,ta, tớ, tao, mình…
Gọi nhân vật bằng tên của nó: bọn nó,
chúng nó, cô ấy, người ta…
Làm cho người đọc nắm bắt tâm Biết rõ mọi việc trong thế giới truyện,
trạng nhân vật sâu sắc, sinh động, lời kể mang tính khách quan.
chân thật và gần gũi hơn.
- Dạng xác định ngôi kể là 1 dạng câu hỏi dễ nhưng học sinh thường bị nhầm lẫn do không
được luyện nhiều và không nắm vững kiến thức lý thuyết.
- Trong quá trình học tập, giảng dạy thầy cô và các em học sinh nên chú ý học thật
thuộc+luyện
nhiều do đề vào 10 cũng hay hỏi.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định người kể là ai?
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên
gọi ấy.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là:…
11
Ví dụ 1: Vua và đình thần chịu thằng bé là thông minh lỗi lạc, nhưng vua vẫn còn muốn thử
cho đến cùng. Qua hôm sau, khi hai cha con đang ăn cơm ở nhà công quán, bỗng có sứ nhà
vua mang tới một con chim sẻ và lệnh chỉ bắt họ phải dọn thành ba cỗ thức ăn. Em bé bảo cha
lấy cho mình một cái kim may rồi đưa cho sứ giả, bảo:
– Ông cầm lấy cái này về tâu đức vua xin rèn cho tôi thành một con dao để xẻ thịt chim.
Vua nghe nói, từ đó mới phục hẳn.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
=>chưa xác định được
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi
ấy.
– Gọi tên nhân vật bằng chính tên của họ (vua, thằng bé, hai cha con, sứ giả, chim sẻ…)
=> người kể không phải là một nhân vật trong truyện.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: ngôi 3.
Ví dụ 2: Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao
lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Ðôi càng tôi mẫm bóng. Những cái
vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những
chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như
có nhát dao vừa lia qua. Ðôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín
xuống tận chấm đuôi. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã.
Bước 1: Xác định người kể là ai?
⇒ Dế Mèn.
Bước 2: Xác định dấu hiệu: người kể xưng/gọi tên các nhân vật là gì? + Gạch dưới các tên gọi
ấy.
⇒Tôi.
Bước 3: Ngôi kể được dùng trong văn bản là: thứ nhất.
VI. Dạng câu hỏi xác định từ ngữ/hình ảnh biểu đạt nội dung trong văn bản
- Phần này trong đề thi thường hỏi anh,chị hãy chỉ ra một từ ngữ, một hình ảnh, một câu văn
nào đó có sẵn trong văn bản.
- Vì thế học sinh đọc kĩ đề, khi lý giải phải bám sát vào văn bản để trả lời.
CÔNG THỨC:
Bước 1: Xác định rõ yêu cầu, nội dung của câu hỏi.
Bước 2: Tìm, gạch chân từ ngữ/ hình ảnh/ chi tiết. (đáp án nằm trong văn bản)
Bước 3: Các từ ngữ thể hiện…..trong văn bản là:….(chỉ ra chính xác từ ngữ, hình ảnh, chi
tiết-liệt kê ra cho bằng hết.)
Ví dụ:
Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
12
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa
Cái cò…sung chát…đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
Hãy chỉ ra những chi tiết thể hiện hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ trên ?
⇒ Các từ ngữ thể hiện hình ảnh người mẹ giản dị được khắc họa qua những chi tiết trong văn
bản là: không có yếm đào, nón mê, tay bí tay bầu, váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu, câu ca mẹ
hát, lời mẹ ru.
VII.
Tiêu chí
Dạng câu hỏi xác định phương thức lập luận
Nội dung
Diễn dịch -Đoạn văn có câu chủ đề được
đặt ở đầu đoạn, những câu tiếp
triển khai các nội dung cụ thể để
làm rõ chủ đề của đoạn văn.
-Mô hình:
Quy nạp
- Đoạn văn triển khai nội dung
cụ thể trước, từ đó mới khái quát
nội dung chung, được thể hiện
bằng câu chủ đề ở cuối đoạn văn.
-Mô hình:
Ví dụ
Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, cao
quý (1). Suốt chín tháng mười ngày, mẹ
mang nặng đẻ đau, để rồi đến khi đứa con
cất tiếng khóc chào đời cũng là lúc lòng mẹ
thấy hạnh phúc nhất (2). Mỗi khi ta ốm đau,
mẹ đã thức suốt đêm thâu chăm sóc ta, lặng
lẽ quan tâm mà chưa bao giờ mẹ kể(3). Mẹ
sẵn sàng nén nước mắt vào trong, chịu bao
đắng cay của cuộc đời để nuôi ta khôn lớn,
thành người (4). Khi ta vấp ngã trước con
đường đời, mẹ vỗ về động viên, an ủi chúng
ta (5).
=>Câu chủ đề là câu số 1. Các câu 2,3,4,5
lần lượt đưa ra các ý để làm sang tỏ câu chủ
đề (chứng minh câu chủ đề là đúng)
Câu chủ đề : “Tình mẫu tử là tình cảm
thiêng liêng, cao quý” vì :
+Mẹ mang nặng, đẻ đâu sinh ra ta
+ Mẹ luôn chăm sóc, quan tâm ta
+ Mẹ hi sinh nuôi lớn ta thành người
+Luôn là người động viên, an ủi ta
Những đứa con từ khi sinh ra đến khi trưởng
thành, phần lớn thời gian là gần gũi và
thường là chịu ảnh hưởng từ người mẹ hơn
từ cha (1). Chúng được mẹ cho bú sữa, bồng
ẵm, dỗ dành, tắm giặt, ru ngủ, cho ăn uống,
chăm sóc rất nhiều khi ốm đau…(2). Với
việc nhận
thức thông qua quá trình bé tự quan sát, học
13
Song
song
(Song
hành)
- Đoạn văn không có câu chủ đề,
các câu trong đoạn có nội dung
khác nhau, nhưng cùng hướng
tới một chủ đề.
- Mô hình:
Phối
hợp
(Tổngphân hợp)
-Đoạn văn mở đẩu bằng câu chủ
để, tiếp đó là những câu triển
khai các nội dung cụ thể. Cầu
cuối của
đoạn cũng là một cầu chủ đễ, khái
quát lại nội dung của các câu triển
khai. (Câu chủ đề cuối thông
thường mang tính mở rộng của
câu chủ đề đầu).
-Mô hình:
hỏi tự nhiên hàng ngày và ảnh hưởng đặc
biệt các đức của người mẹ, đã hình thành
dần dần bản tính của đứa con theo kiểu
“mưa dầm, thấm lâu” (3). Ngoài ra, những
đứa trẻ thường là thích bắt chước người
khác thông qua những hành động của người
gần gũi nhất chủ yếu là người mẹ (4). Chính
người phụ nữ là người chăm sóc và giáo dục
con cái chủ yếu trong gia đình(5).
=>Câu chủ đề là câu số 5, các câu 1,2,3,4 đi
trước nhằm liệt kể ý để câu chủ đề khái quát
lại nội dung
- Văn chương là đời sống ghi trên giấy (1).
Và dù thông minh bực nào, cũng phải có
sống mới hiểu được đời, mới hiểu được
văn(2). Không lịch
 








Các ý kiến mới nhất