248 anh hùng hào kiệt của Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:13' 19-01-2026
Dung lượng: 566.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 19h:13' 19-01-2026
Dung lượng: 566.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
248 ANH HÙNG HÀO KIỆT CỦA VIỆT NAM
Edit by MimoBile Team!
Vũ Thanh Sơn
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
LỜI GIỚI THIỆU
PHAN BỘI CHÂU
TĂNG BẠT HỔ
VƯƠNG THÚC QUÝ
PHAN CHU TRINH
HUỲNH THÚC KHÁNG
NGÔ ĐỨC KẾ
ĐẶNG VĂN BÁ
NGUYỄN AN KHƯƠNG
ĐẶNG TỬ KÍNH
NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
PHẠM VĂN NG
HỒ HỌC LÃM
TRẦN HOÀNH
ĐẶNG THÁI THÂN
TRẦN KỲ PHONG
NGUYỄN THẦN HIẾN
TRẦN CHÁNH CHIẾU
NGUYỄN HÁO VĨNH
ĐẶNG THÚC LIÊNG
LÊ CƠ
ĐẶNG NGUYÊN CẨN
LÊ KHÁNH
HỒ SĨ TẠO
LÊ THỊ ĐÀN
NGUYỄN QUANG DIÊU
MAI LÃO BẠNG
NGUYỄN QUỲNH L
LÊ VĂN HUÂN
ĐẶNG ĐOÀN BẰNG
BÙI CHÍNH LỘ
NGUYỄN THỨC CANH
NGUYỄN THỨC ĐƯỜNG
LÝ LIỄU
ĐỘI PHẤN
HỒ PHI HUYỀN
TÔN THẤT DOÃN
https://thuviensach.vn
VÕ HOÀNH
HOÀNG TĂNG BÍ
TRẦN QUÝ CÁP
TRƯƠNG GIA MÔ
BÙI LIÊM
LÊ ĐÌNH CẨN
HOÀNG XUÂN HÀ
LƯƠNG VĂN CAN
NGUYỄN QUYỀN
PHẠM TƯ TRỰC
PHAN TUẤN PHONG
NGHIÊM XUÂN QUẢNG
LÊ VÕ
N' TRANG LƠNG
HOÀNG TRỌNG MẬU
NGUYỄN KHẮC CẦN
NGUYỄN THẠC CHI
THÁI PHIÊN
VUA DUY TÂN
LÊ ĐÌNH DƯƠNG
LÊ NGUNG
NGUYỄN THỤY
PHAN THÀNH T
LÊ CHÂU HÀN
LÊ CHÂU NAM
TÀI LIỆU BIÊN SOẠN CHÍNH
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” bao gồm 5 tập với tổng cộng gồm 1000 trang
của tác giả Vũ Thanh Sơn viết về chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà văn, nhà báo Vũ
Thanh Sơn đã tập trung khắc họa lại tương đối đầy đủ và toàn diện về chân dung của 284 Anh hùng
hào kiệt của Việt Nam từ cuối Thế kỷ XIX đến đầu Thế kỷ XX. Trong đó nhiều nhân vật mà các cuốn
sách đã xuất bản từ trước đến nay chưa hề được đề cập đến. Bằng công trình của mình không những
tác giả đã đóng góp phần bổ sung cho những thiếu vắng của lịch sử nước nhà (đặc biệt là về nhân vật
và sự kiện) mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục những tấm gương tiêu biểu cho sự nghiệp cách
mạng của dân tộc - đó là sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận đại được tác giả Vũ Thanh
Sơn tập trung khắc họa ở 3 nhóm chính tương ứng với ba thời kỳ sôi động của lịch sử Việt Nam, đã có
biết bao anh hùng, nghĩa sĩ hô hào nhân dân vũ trang đánh đuổi giặc Pháp:
Đó là thời kỳ đầu tranh chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (từ khi liên quân Pháp
- Tây Ban Nha nổ súng tại bán đảo Sơn Trà, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
1/9/1858).
Là phong trào Cần Vương với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của văn thân chông Pháp (18851896) phát triển rộng khắp từ Nam ra Bắc.
Và còn là đấu tranh chống Pháp đầu thế kỷ XX với ý thức của hệ tư tưởng mới với các phong
trào chống thuế ở Quảng Nam, phong trào Duy tân, Đông du dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh...).
Trong cuộc kháng chiến không cân sức này có biết bao anh hùng, hào kiệt đã ngã xuống, nhưng
ý chí quật cường chống giặc Pháp, cùng những lời tuyên bô đanh thép trước giây phút bị hành hình vẫn
mãi sáng chói, rạng ngời lên chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đó là những câu nói đến nay ta
đọc lại vẫn rung động như Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuyên bố: “Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lay
lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa”; Bình Tây đại nguyên soái Trương Định tuyên
bố: “Chúng ta thề sẽ đánh mãi và không ngừng, khi ta thiếu tất cả ta sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy
gộc làm vũ khí cho binh lính ta”; hay Nguyễn Trung Trực trước giờ giặc hành hình vẫn dõng dạc tuyên
bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”... và còn rất nhiều,
rất nhiều lời tuyên ngôn đanh thép khác.
Nhìn chung, các nhân vật lịch sử tác giả đề cập đến trong bộ sách đều xứng đáng được
tôn vinh. Họ có thể là những quan lại, hay những nhà chí sĩ có tinh thần yêu nước. Mặc dù, mỗi người
ở cương vị khác nhau, vị thế xã hội và hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng tất cả những con
https://thuviensach.vn
người ấy đều có chung mục đích cao cả nhất là không quản ngại hy sinh gian khổ, kiên quyết đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập cho đất nước.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” với quý vị độc giả.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
https://thuviensach.vn
PHAN BỘI CHÂU
Phan Bội Châu trước năm 1900 có tên là Phan Văn Son, hiệu Hải Thụ, sau hiệu là Sào Nam.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn có nhiều tên hiệu, bút danh như Thị Hán, Thiên Phú,
Độc Tinh Tử, Cây Sung...
Ông sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo quê ở làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 10/1900,
sau khi cụ thân sinh mất, Phan mới có điều kiện hoạt động cách mạng.
Năm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí chiêu tập nghĩa binh đánh thành Nghệ An, việc
không thành. May nhờ có Tổng đốc Đào Tấn che chở, nên không bị thực dân Pháp bắt.
Năm 1903 Phan Bội Châu đến kinh thành Huế đọc sách ở Quốc Tử giám, đã gặp Phan Chu
Trinh. Từ đó về sau, hai người còn gặp nhau vài lần nữa, trao đổi chính kiến với nhau. Hai ông thống
nhất với nhau là muốn cứu nước thì phải mở mang dân trí, coi trọng giáo dục, đưa thanh niên đi du
học ở nước ngoài, mở mang việc tuyên truyền văn hóa mới. Phan Chu Trinh rất khâm phục con người
và tài trí của Phan Bội Châu.
Tháng 2/1905, Phan Bội Châu ra Bắc gặp Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can bàn việc phát
triển Duy tân hội và tổ chức Đông du. Việc Đông du được thực hiện ngay, chuyến đi này ông đem theo
bốn học sinh trong đó có hai con trai của cử nhân Lương Văn Can là Lương Nghị Khanh và Lương
Lập Nham (Lương Ngọc Quyến)
Ngày 25/02/1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc gặp Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên, Tại
đây ông viết '”Việt Nam vong quốc sử” ( Lịch sử mất nước Việt Nam), lời tựa do Lương Khải Siêu
viết.
Tháng 7 năm 1905. Phan Bội Châu về nước tiếp tục đưa thanh niên sang Nhật. Tháng 9 năm
1905 (tháng 8 năm Ất Tỵ) Phan Bội Châu về nước sau đó gặp gỡ Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phan
Bội Châu về nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng ở làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bàn việc tổ
chức các nhóm “ Minh xã” “Ám xã” và lập các hội Nông, Công, Thương, Học.
Tháng 3 năm 1907 trường Đông Kinh Nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, thì văn thơ yêu nước của
Phan Bội Châu được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường số 4 Hàng Đào và các phân hiệu và
trong các buổi diễn thuyết bình thơ văn cho đông đảo công chúng nghe. Trên cơ sở hiểu biết về trường
Khánh Ưng Nghĩa thục ở Nhật Bản mà Phan Bội Châu trao đổi sĩ phu Hà Nội, Lương Văn Can,
Nguyễn Quyền, Đỗ Cơ Quang, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đã quyết định thành lập trường Đông
Kinh Nghĩa thục.
Văn thơ Phan Bội Châu sôi sục tinh thần cách mạng đã từ trường Đông Kinh Nghĩa thục nhanh
chóng phát triển trong nhân dân, trở thành một phong trào.
Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Việt Nam lại nhìn
sang Nhật Bản, mong được sự viện trợ “một nước da vàng tiên tiến” để ca ngợi sự nghiệp Minh Trị
Duy tân của Nhật và việc Nhật đánh bại Sa hoàng Nga, chủ trương đưa Nhật Bản theo con đường Duy
tân.
Việt Nam Duy tân hội sau khi được thành lập cũng đề ra phương châm tranh thủ sự viện trợ của
nước ngoài. Phan Bội Châu đích thân đi Nhật và phát động phong trào Đông du. Ông cho rằng Nhật
Bản là một nước Châu Á cùng máu đỏ, da vàng và cùng có một nền văn hóa như Việt Nam, “thường
lấy việc lợi hại khuyên răn ta, họ nhất định sẽ vui vẻ giúp đỡ chúng ta” .
https://thuviensach.vn
Nhưng tới giữa năm 1908, đầu năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau giải tán các tổ chức
học sinh Việt Nam tại Nhật Bản như “ Công Hiến hội” “Đông Á Đổng văn thư viện”... trục xuất lưu
học sinh Việt Nam khỏi Nhật, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất. Bấy giờ Phan Bội Châu
mới nhận thức được rằng không thể dựa vào Nhật Bản, nên ông chuyển hướng sang đảng cách mạng
Trung Hoa và những nước những dân tộc trên thế giới "có căn bệnh giống ta”.
Năm 1911 cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng
thống. Đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.
Năm 1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải thể hội Duy tân thành lập Việt Nam Quang phục hội.
Tháng 1 năm 1914, thực dân Pháp thỏa thuận với nhà cầm quyền Quảng Đông bắt Phan Bội Châu giải
về Đông Dương giao cho thực dân Pháp. Tuy ở trong tù nhưng Phan Bội Châu vẫn tìm mọi cách liên
lạc với các đồng chí chỉ đạo công việc của cách mạng như đối với cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng
5 năm 1916, Phan Bội Châu cũng đã ủy quyền cho Nguyễn Thượng Hiền tới đại sứ Đức và đại sứ Áo
ở Xiêm La nhận tiền để mua vũ khí cho quân cách mạng Việt Nam. Ông bị giam ở núi Quan Âm mãi
đến năm 1917, quân cách mạng tấn công Quảng Đông, Long Tế Quang bỏ chạy ông mới được giải
thoát.
Từ năm 1920 trở đi Phan Bội Châu về Hàng Châu cộng tác vói tờ “Bình sự tạp chí” ông đi lại
nhiều ở Trung Quốc.
Ngày 30/6/1925, Phan Bội Châu tới một bưu điện Thượng Hải gửi tiền cho một du học sinh
đang học ở Đức, thì bị một kẻ phản bội chỉ điểm báo cho mật thám Pháp bắt cóc. Chúng bí mật giải
ông về Hồng Kông , rồi từ đó đưa ông về Hải Phòng trên tầu Ăng Co, rồi bị áp giải về Hà Nội giam ở
nhà lao Hỏa Lò. Để tránh dư luận lên án và bí mật hãm hại ông theo bản án tử hình vắng mặt đã có
sẵn, chính quyền thực dân bưng bít và đặt cho ông một cái tên giả là Trần Văn Đức. Song âm mưu của
chúng đã bị bại lộ. Quần chúng nhân dân kịch liệt lên án phản đối, đòi trả tự do cho ông.
Trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước phản đối nhà cầm
quyền Pháp kết án Phan Bội Châu. Hội đồng bảo hộ Pháp phải họp ngay tại phủ Thống sứ để xét lại
cái án đó. Toàn quyền Varen phải gửi điện về Pháp xin ân xá cho ông.
Ngày 22/12/1925, toàn quyền Varen phải ký giấy trả tự do cho nhà cách mạng lão thành Phan
Bội Châu. Ngày 29/12/1925, Tổng thống Pháp cũng phải ký uỷ quyền cho Varen tuyên bố tha bổng
Phan Bội Châu, sau đó an trí ông ở Huế. Tại nơi an trí Phan Bội Châu không hoạt động chính trị được
nhưng ôngđặc biệt quan tâm đến thời cuộc. Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940.
https://thuviensach.vn
TĂNG BẠT HỔ
Tăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Sư Triệu, sinh năm Mậu Ngọ (1858). Ông quê ở
An Thường, xã Ân Thạch, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Ông là người học hành thông minh, thông hiểu kinh sách, từmg luyện tập võ nghệ, cường. Năm
Ất Hợi (1876) dưới triều Tự Đức, ông vừa 18 tuổi đã thay anh đi lính, trước năm 1883 đã thăng suất
đội.
Nghe tin vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, Tăng Doãn Văn bỏ quân ngũ kêu gọi đồng đội
chiêu mộ nghĩa quân lập chiến khu tại núi Kim Sơn gọi là Tổng dinh chống Pháp. Lực lượng nghĩa
quân của Tăng Doãn Văn phát triển nhanh, thực dân Pháp và bọn tay sai biết ông là người đứng đầu
phong trào Cần vương ở tỉnh Bình Định đã đánh phá căn cứ của ông rất ác liệt.
Tháng 8 năm Bính Tuất (1888) tên Việt gian Nguyễn Thân kéo quân vào Bình Định, đóng quân
tại đồn Lại Giang xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn để tiến đánh đồn Tổng Dinh và lực lượng kháng
chiến ở Kim Sơn. Phán đoán trước ý đồ của giặc, ông mật ước với Thống trấn Bùi Điền lợi dụng đêm
tối tấn công vào đồn Lại Giang trrước. Tướng Bùi Điền lầm tưởng Lại Giang là Lộc Giang thuộc xã
Ân Tường, huyện Hoài Ân vào đêm đó lực lượng phân tán, ông bị quân địch phản công nên bị thiệt
hại nặng nề, đối phó với giặc rất khó khăn.
Mùa xuân năm 1887, Tăng Doãn Văn cùng một số đồng chí sang Xiêm La toan tính cầu viện cứu
nước. Khi đi đến dốc Đót giáp với cao nguyên An Khê tỉnh Bình Định gặp con cọp đứng chắn đường,
mấy người đi theo ai nấy run như cầy sấy. Tăng Doãn Văn không chút sợ hãi, ông nhìn thẳng vào con
cọp nói: “Này chúa Sơn lâm! Ta đi đây là vì đại nghĩa, chứ không phải việc riêng tư nào khác. Xin
chúa Sơn lẩn tránh ra một bên để cho kẻ vong quốc này lên đường cho sớm!”
Con cọp như hiểu được lời ông liền tránh sang một bên, nhường đường cho ông đi qua. Những
người cùng đi vô cùng cảm phục ông và tôn ông là Tăng Bạt Hổ. Từ đó ông mang tên này.
Tăng Bạt Hổ ở Xiêm La vài tháng rồi sang Trung Quốc. Ông tới nhiều vùng của hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây gặp gỡ Việt kiều để gây dựng cơ sở. Khi Tăng Bạt Hổ ở Trung Hoa, người Pháp
xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết bấy giờ đang bị an trí ở Triều Châu. Tăng
Bạt Hổ có tài nguỵ trang, ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và Hế biết được biến động chính
trị ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Dương (Indonexia) nơi mà Tăng Bạt Hổ đã đến
tận nơi khảo sát tình hình chính trị, kinh tế.
Trong những chuyến từ Trung Quốc về nước Tăng Bạt Hổ còn đem theo các sách Tân thư, Tân
văn của Trung Hoa và Nhật Bản về nước. Tăng Bạt Hổ đã có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn
Thượng Hiền.
Về nước một thời gian, nhưng cơ hội chưa đến Tăng Bạt Hổ thấy chỉ có con đường đi Nhật như
Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã nói. Để đỡ tốn tiền, ông xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn sang
Nhật.
Tháng 10/1904, Tăng Bạt Hổ từ Nhật trở về nước gặp Phan Bội Châu. Ông cùng Phan Bội Châu
bàn thành lập phong trào Đông du với sự có mặt của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền.
Tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Tăng Bạt Hổ vừa là người đưa đường, người phiên dịch tháp
tùng Phan Bội Châu sang Nhật.
Tháng chạp năm 1905 ông từ Nhật về mang theo thư của Phan Bội Châu nhan đề “Khuyên Thanh
niên Du học”. Sau đó ông lại cùng Nguyễn Quyền xúc tiến thành lập Đông kinh nghĩahttps://thuviensach.vn
thục.
Mùa Đông năm Đinh Mùi (1908), ông từ Bắc Kỳ trở vào miền Trung, ông dừng chân tại Huế cổ
động cho phong trào Đông du thì lâm bệnh. Bệnh ông quá nặng, thuốc thang không giảm, ông mất trên
thuyền. Các đồng chí an táng ông trên bờ sông Hương.
https://thuviensach.vn
VƯƠNG THÚC QUÝ
Vương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu,
người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Vương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Vùng Nam Đàn có bốn người học giỏi
nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên chiếm tới
ba người là Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc, Trần Văn Lương, chỉ còn ại Phan Bội Châu người
làng Đan Nhiệm:
Uyên bác bất như San
Thông minh bất như Sắc
Tài hoa bất như Quý
Cường ký bất như Lương
Nghĩa là:
Không ai hiểu biết rộng như Phan Văn San (tức Phan Bội Châu)
Không ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc
Không ai tài hoa như Vương Thúc Quý
Không ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương
Khoa thi Hương năm Tân Mão (1891), Vương Thúc Quý đi thi đậu cử nhân. Mang nặng mối thù
nhà, nợ nước, ông không ra làm quan, cũng không đi thi Hội ở nhà dạy học, cùng Phan Bội Châu hoạt
động cách mạng cứu nước.
Ngày 14 tháng 7 năm 1901, lợi dụng ngày Quốc khánh nước Pháp có nhiều người đi lại trong
thành Nghệ An, Vương Thúc Quý, Trần Hải đã theo Phan Bội Châu chỉ huy khoảng 20 người, bí mật
tập trung trong thành Nghệ An định dùng giáo mác để cướp vũ khí giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ
An. Việc không thành vì tên Nguyễn Điềm phản bội mật báo với thực dân Pháp. Tổng đốc Nghệ An
Đào Tấn hết lòng che chở, nên Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Hải và những người tham gia
đều thoát nạn.
Năm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam, năm 1905 phát triển ra Nghệ
An, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội Duy tân. Ông tổ chức cho nhiều
thanh niên Nghệ An xuất dương sang Nhật du học và vận động tài chính cho Hội. Năm 1907, trường
Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh
nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư.
Giữa năm 1907 Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị
ốm nặng phải trở về quê nhà. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngày 19 tháng 7 nãm 1907, Vương Thúc
Quý cố gắng ngồi dậy, bảo người bên cạnh đưa giấy, bút, viết mấy chữ : “Phụ thù vị báo, thử si1;”
(Nghĩa là: thù cha chưa báo được đời này thật uổng, rồi trút hơi thở cuối cùng.
https://thuviensach.vn
PHAN CHU TRINH
Phan Chu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện
Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1900, Phan Chu Trinh thi đỗ cử nhân, năm sau thi hội đỗ Phó Bảng, được bổ làm Thừa
biện bộ Lễ. Năm 1903 kết giao với Phan Bội Châu.
Năm 1904 Phan Chu Trinh từ quan tham gia cuộc vận động Duy tân. Năm 1905 ông vào Bình
Định cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết Chí Thành thông thánh. Năm 1905 sang Trung
Quốc rồi sang Nhật trao đổi chính kiến với Phan Bội Châu, nhưng ông không đi theo con đường vũ
trang của Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh muốn lợi dụng chiêu bài khai hóa của
thực dân Pháp để đấu tranh hợp pháp, trước hết là mở mang trường học để khai hóa dân trí.
Năm 1906, Phan Chu Trinh ra Bắc gặp Lương Văn Can bàn việc mở một trường học tại Hà Nội
để làm kiểu mẫu, rút kinh nghiệm mở các trường trong toàn quốc. Sau khi gặp Lương Văn Can, Phan
Chu Trinh bí mật dời Hà Nội lên Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám.
Đầu năm 1907 Phan Chu Trinh trở về Quảng Nam cùng các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc
Kháng thực hiện chủ trương khai hóa dân trí đã bất chấp sự cấm đoán của bọn cầm quyền Bảo hộ
Pháp và chính quyền Nam triều, các ông đã đi vận động mở nhiều trường học ở Quảng Nam như
trường An Phước (Hoa Phụng), Tân Thạnh (Hòa Phước), Hòa An (Hòa Phát) đều thuộc huyện Hòa
Vang ra đời. Sau khi hàng chục trường học ở Quảng Nam ra đời thì tại Hà Nội, ông cử Lương Văn
Can, Đốc học Nguyễn Quyền cùng nhiều nhà nho khác đã thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà
Nội. Lương Văn Can đã mời Phan Chu Trinh ra dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Phan Chu Trinh
đã nhiều lần diễn thuyết về phong trào Duy tân trước công chúng Hà Nội tại trường Đông Kinh nghĩa
thục và các phân hiệu như ở Chèm, Hà Đông. Ông cổ động cho lối sốngHà Nội. Phan Chu Trinh rất
quan tâm đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn cho từng ngành nghề khuyến khích việc học nghề. Trong
phong trào Duy tân, Phan Chu Trinh chủ trương không tán thành bạo động vũ trang mà ông chủ trương
cải cách là "khai thông dân trí, mở rộng dân quyền" trái ngược với chủ trương bạo động của Phan Bội
Châu. Từ chủ trương cải cách của Phan Chu Trinh đã dẫn tới cuộc đấu tranh "xin xâu, chống thuế ở
Trung Kỳ".
Phan Chu Trinh với chủ trương ''Pháp - Việt đề huề” đã có nhiều hoạt động trong giới Việt kiều
và vận động các chính khách tư sản, hội Nhân quyền và Chính phủ Pháp thực hiện những cải cách ở
Đông Dương trong khuôn khổ cải lương tư sản.
Ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Phan Chu Trinh khi ở Côn Đảo làm rất nhiều thơ,
trong đó có bài:
CÔN LÔN TỨC CẢNH
Biển dân đời đổi mấy thu đông
Cụm núi Côn Lôn đứng vững trông
Bốn mặt dày vò oai sóng gió
Một mình che chở tội non sông
Cỏ hoa đất nở cây trăm thước
Rồng cá trời riêng cả một vùng
Nước biếc non xanh thiêng chẳng nhĩ
Gian nan xin hộ khách anh hùng
https://thuviensach.vn
Năm 1911 ra tù ông sang Pháp, hoạt động trong Việt kiều yêu nước. Năm 1912, Phan Chu Trinh
gặp Phan Văn Trường sang Pháp từ trước. Đầu năm 1914 ông và Phan Văn Trường thành lập ''Hội
người Việt Nam yêu nước" tại Pháp. Tháng 4/1914 ông và Phan Văn Trường bị bắt vì bị vu cho là
"Mật thông với kẻ thù của nước Pháp" (nước Đức). Phan Chu Trinh cũng đưa con là Phan Châu Dật là
con thứ ba và là con trai duy nhất sang Pháp học. Trong thời gian Phan Chu Trinh bị giam ở ngục Săng
đê, Châu Dật được phép mỗi tuần đến thăm cha hai lần chờ ở phòng khách thăm tù. Tháng 4/1914
chúng phải thả hai ông vì không có đủ chứng cứ buộc tội.
Ngày 3/2/1925 Phan Chu Trinh diễn thuyết lần cuối cùng ở hội Nhân quyền Paris. Ngày
28/5/1925 ông cùng Phan Văn Trường đi Mác Xây rồi về Sài Gòn.
Tháng 6/1925 Phan Chu Trinh về đến Sài Gòn. Ngày 24/3/1926, Phan Chu Trinh đột ngột qua
đời tại Sài Gòn.
https://thuviensach.vn
HUỲNH THÚC KHÁNG
Huỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Minh Viên, sinh năm Bính Tý (1876), ở
làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là
xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông nhà nghèo, học giỏi.
Năm Canh Tý (1900) ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm Giáp Thìn (1904), ông 29 tuổi, đỗ
đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáp ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân
dân xếp là "Tứ Hổ" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn
Đình Hiên, Phạm Liệu). Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, mà ờ nhà đọc tân
thư, giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh.
Đầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia "Duy tân tự cường" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức
Kế. Khác với Phan Bội Châu theo chủ trương bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát
khởi phong trào Duy tân cải cách văn hóa xã hội theo hướng ''khơi dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh"
(khẩu hiệu và mục tiêu của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng
không phản đối đường lối “bạo động xuất dương cầu ngoại viện" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn
toàn tin theo đường lối "bất bạo động, bất ngoại vong" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra
là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là người có vai trò: "điều hòa mâu thuẫn" giữa hai
đường lối của hai nhà yêu nước họ Phan.
Ngay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn
(1904), Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ
động cho phong trào Duy tân. Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu
Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc "Nam du". Đn nơi nào ba nhà Duy tân cũng "cổ xúy tân học không
chán''.
Ông cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Huỳnh Thúc
Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2/1921 ông được tha.
Tháng 12/1926 ông vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh
doanh để tài trợ cho những hoạt động chính trị.
Tháng 4/1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà Nẵng với sự tham gia của nhiều
nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái... chuyên ngành in và báo chí. Huỳnh Thúc
Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân mà ông
làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được coi như cơ quan ngôn luận của
Viện dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này làm diễn đàn đòi một số
quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.
Sau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hợp thường niên ngày
2/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của bọn thực
dân và ông tuyên bố từ chức. Việc ông từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến
bộ. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Được sự tin cậy của
Hồ Chủ tịch, ông đã giữ chức Quyền Chủ tịch nước (và cũng là Quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng,
giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc Pháp và bọn Việt Quốc, Việt
Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, ông đi
thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại diện Chính phủ. Ông đột ngột mắc bệnh
rồi qua đời tại
https://thuviensach.vn
nhà một người dân dùng làm trụ sở Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày
21 tháng 4 năm 1947.
https://thuviensach.vn
NGÔ ĐỨC KẾ
Ngô Đức Kế hiệu Tập Xuyên, sinh năm Kỷ Mão (187 (có sách viết ông sinh năm Mậu Dần
(1878). Ông người xã Trảo Nha, tổng Đoài, huyệ
248 ANH HÙNG HÀO KIỆT CỦA VIỆT NAM
Edit by MimoBile Team!
Vũ Thanh Sơn
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
LỜI GIỚI THIỆU
PHAN BỘI CHÂU
TĂNG BẠT HỔ
VƯƠNG THÚC QUÝ
PHAN CHU TRINH
HUỲNH THÚC KHÁNG
NGÔ ĐỨC KẾ
ĐẶNG VĂN BÁ
NGUYỄN AN KHƯƠNG
ĐẶNG TỬ KÍNH
NGUYỄN THƯỢNG HIỀN
PHẠM VĂN NG
HỒ HỌC LÃM
TRẦN HOÀNH
ĐẶNG THÁI THÂN
TRẦN KỲ PHONG
NGUYỄN THẦN HIẾN
TRẦN CHÁNH CHIẾU
NGUYỄN HÁO VĨNH
ĐẶNG THÚC LIÊNG
LÊ CƠ
ĐẶNG NGUYÊN CẨN
LÊ KHÁNH
HỒ SĨ TẠO
LÊ THỊ ĐÀN
NGUYỄN QUANG DIÊU
MAI LÃO BẠNG
NGUYỄN QUỲNH L
LÊ VĂN HUÂN
ĐẶNG ĐOÀN BẰNG
BÙI CHÍNH LỘ
NGUYỄN THỨC CANH
NGUYỄN THỨC ĐƯỜNG
LÝ LIỄU
ĐỘI PHẤN
HỒ PHI HUYỀN
TÔN THẤT DOÃN
https://thuviensach.vn
VÕ HOÀNH
HOÀNG TĂNG BÍ
TRẦN QUÝ CÁP
TRƯƠNG GIA MÔ
BÙI LIÊM
LÊ ĐÌNH CẨN
HOÀNG XUÂN HÀ
LƯƠNG VĂN CAN
NGUYỄN QUYỀN
PHẠM TƯ TRỰC
PHAN TUẤN PHONG
NGHIÊM XUÂN QUẢNG
LÊ VÕ
N' TRANG LƠNG
HOÀNG TRỌNG MẬU
NGUYỄN KHẮC CẦN
NGUYỄN THẠC CHI
THÁI PHIÊN
VUA DUY TÂN
LÊ ĐÌNH DƯƠNG
LÊ NGUNG
NGUYỄN THỤY
PHAN THÀNH T
LÊ CHÂU HÀN
LÊ CHÂU NAM
TÀI LIỆU BIÊN SOẠN CHÍNH
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Ebook miễn phí tại : www.SachMoi.net
Bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” bao gồm 5 tập với tổng cộng gồm 1000 trang
của tác giả Vũ Thanh Sơn viết về chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà văn, nhà báo Vũ
Thanh Sơn đã tập trung khắc họa lại tương đối đầy đủ và toàn diện về chân dung của 284 Anh hùng
hào kiệt của Việt Nam từ cuối Thế kỷ XIX đến đầu Thế kỷ XX. Trong đó nhiều nhân vật mà các cuốn
sách đã xuất bản từ trước đến nay chưa hề được đề cập đến. Bằng công trình của mình không những
tác giả đã đóng góp phần bổ sung cho những thiếu vắng của lịch sử nước nhà (đặc biệt là về nhân vật
và sự kiện) mà còn góp phần tuyên truyền, giáo dục những tấm gương tiêu biểu cho sự nghiệp cách
mạng của dân tộc - đó là sự nghiệp đấu tranh chống ngoại xâm giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.
Chân dung các nhân vật lịch sử Việt Nam trong thời kỳ lịch sử cận đại được tác giả Vũ Thanh
Sơn tập trung khắc họa ở 3 nhóm chính tương ứng với ba thời kỳ sôi động của lịch sử Việt Nam, đã có
biết bao anh hùng, nghĩa sĩ hô hào nhân dân vũ trang đánh đuổi giặc Pháp:
Đó là thời kỳ đầu tranh chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX (từ khi liên quân Pháp
- Tây Ban Nha nổ súng tại bán đảo Sơn Trà, chính thức mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
1/9/1858).
Là phong trào Cần Vương với nhiều cuộc khởi nghĩa tiêu biểu của văn thân chông Pháp (18851896) phát triển rộng khắp từ Nam ra Bắc.
Và còn là đấu tranh chống Pháp đầu thế kỷ XX với ý thức của hệ tư tưởng mới với các phong
trào chống thuế ở Quảng Nam, phong trào Duy tân, Đông du dưới sự lãnh đạo của Phan Bội Châu,
Phan Chu Trinh...).
Trong cuộc kháng chiến không cân sức này có biết bao anh hùng, hào kiệt đã ngã xuống, nhưng
ý chí quật cường chống giặc Pháp, cùng những lời tuyên bô đanh thép trước giây phút bị hành hình vẫn
mãi sáng chói, rạng ngời lên chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt Nam. Đó là những câu nói đến nay ta
đọc lại vẫn rung động như Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tuyên bố: “Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lay
lắt mà sống, sao bằng thung dung chết vì việc nghĩa”; Bình Tây đại nguyên soái Trương Định tuyên
bố: “Chúng ta thề sẽ đánh mãi và không ngừng, khi ta thiếu tất cả ta sẽ bẻ nhánh cây làm cờ, lấy gậy
gộc làm vũ khí cho binh lính ta”; hay Nguyễn Trung Trực trước giờ giặc hành hình vẫn dõng dạc tuyên
bố: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”... và còn rất nhiều,
rất nhiều lời tuyên ngôn đanh thép khác.
Nhìn chung, các nhân vật lịch sử tác giả đề cập đến trong bộ sách đều xứng đáng được
tôn vinh. Họ có thể là những quan lại, hay những nhà chí sĩ có tinh thần yêu nước. Mặc dù, mỗi người
ở cương vị khác nhau, vị thế xã hội và hoàn cảnh xuất thân không giống nhau nhưng tất cả những con
https://thuviensach.vn
người ấy đều có chung mục đích cao cả nhất là không quản ngại hy sinh gian khổ, kiên quyết đấu tranh
chống thực dân Pháp xâm lược giành độc lập cho đất nước.
Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bộ sách “284 Anh hùng hào kiệt của Việt Nam” với quý vị độc giả.
NHÀ XUẤT BẢN CÔNG AN NHÂN DÂN
https://thuviensach.vn
PHAN BỘI CHÂU
Phan Bội Châu trước năm 1900 có tên là Phan Văn Son, hiệu Hải Thụ, sau hiệu là Sào Nam.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông còn có nhiều tên hiệu, bút danh như Thị Hán, Thiên Phú,
Độc Tinh Tử, Cây Sung...
Ông sinh năm 1867 trong một gia đình nhà nho nghèo quê ở làng Đan Nhiễm, tổng Xuân Liễu,
huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, nay là xã Nam Hoà, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Tháng 10/1900,
sau khi cụ thân sinh mất, Phan mới có điều kiện hoạt động cách mạng.
Năm 1901, Phan Bội Châu cùng một số đồng chí chiêu tập nghĩa binh đánh thành Nghệ An, việc
không thành. May nhờ có Tổng đốc Đào Tấn che chở, nên không bị thực dân Pháp bắt.
Năm 1903 Phan Bội Châu đến kinh thành Huế đọc sách ở Quốc Tử giám, đã gặp Phan Chu
Trinh. Từ đó về sau, hai người còn gặp nhau vài lần nữa, trao đổi chính kiến với nhau. Hai ông thống
nhất với nhau là muốn cứu nước thì phải mở mang dân trí, coi trọng giáo dục, đưa thanh niên đi du
học ở nước ngoài, mở mang việc tuyên truyền văn hóa mới. Phan Chu Trinh rất khâm phục con người
và tài trí của Phan Bội Châu.
Tháng 2/1905, Phan Bội Châu ra Bắc gặp Nguyễn Thượng Hiền, Lương Văn Can bàn việc phát
triển Duy tân hội và tổ chức Đông du. Việc Đông du được thực hiện ngay, chuyến đi này ông đem theo
bốn học sinh trong đó có hai con trai của cử nhân Lương Văn Can là Lương Nghị Khanh và Lương
Lập Nham (Lương Ngọc Quyến)
Ngày 25/02/1905, Phan Bội Châu sang Trung Quốc gặp Lương Khải Siêu và Tôn Dật Tiên, Tại
đây ông viết '”Việt Nam vong quốc sử” ( Lịch sử mất nước Việt Nam), lời tựa do Lương Khải Siêu
viết.
Tháng 7 năm 1905. Phan Bội Châu về nước tiếp tục đưa thanh niên sang Nhật. Tháng 9 năm
1905 (tháng 8 năm Ất Tỵ) Phan Bội Châu về nước sau đó gặp gỡ Hoàng Hoa Thám ở Yên Thế, Phan
Bội Châu về nhà cử nhân Nguyễn Văn Đảng ở làng Nội Duệ, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh bàn việc tổ
chức các nhóm “ Minh xã” “Ám xã” và lập các hội Nông, Công, Thương, Học.
Tháng 3 năm 1907 trường Đông Kinh Nghĩa thục thành lập ở Hà Nội, thì văn thơ yêu nước của
Phan Bội Châu được đưa vào chương trình giảng dạy ở trường số 4 Hàng Đào và các phân hiệu và
trong các buổi diễn thuyết bình thơ văn cho đông đảo công chúng nghe. Trên cơ sở hiểu biết về trường
Khánh Ưng Nghĩa thục ở Nhật Bản mà Phan Bội Châu trao đổi sĩ phu Hà Nội, Lương Văn Can,
Nguyễn Quyền, Đỗ Cơ Quang, Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc... đã quyết định thành lập trường Đông
Kinh Nghĩa thục.
Văn thơ Phan Bội Châu sôi sục tinh thần cách mạng đã từ trường Đông Kinh Nghĩa thục nhanh
chóng phát triển trong nhân dân, trở thành một phong trào.
Từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp, Phan Bội Châu và nhiều chí sĩ Việt Nam lại nhìn
sang Nhật Bản, mong được sự viện trợ “một nước da vàng tiên tiến” để ca ngợi sự nghiệp Minh Trị
Duy tân của Nhật và việc Nhật đánh bại Sa hoàng Nga, chủ trương đưa Nhật Bản theo con đường Duy
tân.
Việt Nam Duy tân hội sau khi được thành lập cũng đề ra phương châm tranh thủ sự viện trợ của
nước ngoài. Phan Bội Châu đích thân đi Nhật và phát động phong trào Đông du. Ông cho rằng Nhật
Bản là một nước Châu Á cùng máu đỏ, da vàng và cùng có một nền văn hóa như Việt Nam, “thường
lấy việc lợi hại khuyên răn ta, họ nhất định sẽ vui vẻ giúp đỡ chúng ta” .
https://thuviensach.vn
Nhưng tới giữa năm 1908, đầu năm 1909, Pháp và Nhật cấu kết với nhau giải tán các tổ chức
học sinh Việt Nam tại Nhật Bản như “ Công Hiến hội” “Đông Á Đổng văn thư viện”... trục xuất lưu
học sinh Việt Nam khỏi Nhật, Phan Bội Châu, Cường Để cũng bị trục xuất. Bấy giờ Phan Bội Châu
mới nhận thức được rằng không thể dựa vào Nhật Bản, nên ông chuyển hướng sang đảng cách mạng
Trung Hoa và những nước những dân tộc trên thế giới "có căn bệnh giống ta”.
Năm 1911 cách mạng Tân Hợi Trung Quốc thành công, Tôn Trung Sơn được bầu làm tổng
thống. Đây là cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam.
Năm 1912 Phan Bội Châu tuyên bố giải thể hội Duy tân thành lập Việt Nam Quang phục hội.
Tháng 1 năm 1914, thực dân Pháp thỏa thuận với nhà cầm quyền Quảng Đông bắt Phan Bội Châu giải
về Đông Dương giao cho thực dân Pháp. Tuy ở trong tù nhưng Phan Bội Châu vẫn tìm mọi cách liên
lạc với các đồng chí chỉ đạo công việc của cách mạng như đối với cuộc khởi nghĩa ở Trung Kỳ tháng
5 năm 1916, Phan Bội Châu cũng đã ủy quyền cho Nguyễn Thượng Hiền tới đại sứ Đức và đại sứ Áo
ở Xiêm La nhận tiền để mua vũ khí cho quân cách mạng Việt Nam. Ông bị giam ở núi Quan Âm mãi
đến năm 1917, quân cách mạng tấn công Quảng Đông, Long Tế Quang bỏ chạy ông mới được giải
thoát.
Từ năm 1920 trở đi Phan Bội Châu về Hàng Châu cộng tác vói tờ “Bình sự tạp chí” ông đi lại
nhiều ở Trung Quốc.
Ngày 30/6/1925, Phan Bội Châu tới một bưu điện Thượng Hải gửi tiền cho một du học sinh
đang học ở Đức, thì bị một kẻ phản bội chỉ điểm báo cho mật thám Pháp bắt cóc. Chúng bí mật giải
ông về Hồng Kông , rồi từ đó đưa ông về Hải Phòng trên tầu Ăng Co, rồi bị áp giải về Hà Nội giam ở
nhà lao Hỏa Lò. Để tránh dư luận lên án và bí mật hãm hại ông theo bản án tử hình vắng mặt đã có
sẵn, chính quyền thực dân bưng bít và đặt cho ông một cái tên giả là Trần Văn Đức. Song âm mưu của
chúng đã bị bại lộ. Quần chúng nhân dân kịch liệt lên án phản đối, đòi trả tự do cho ông.
Trước sự đấu tranh quyết liệt của nhân dân Hà Nội và nhân dân cả nước phản đối nhà cầm
quyền Pháp kết án Phan Bội Châu. Hội đồng bảo hộ Pháp phải họp ngay tại phủ Thống sứ để xét lại
cái án đó. Toàn quyền Varen phải gửi điện về Pháp xin ân xá cho ông.
Ngày 22/12/1925, toàn quyền Varen phải ký giấy trả tự do cho nhà cách mạng lão thành Phan
Bội Châu. Ngày 29/12/1925, Tổng thống Pháp cũng phải ký uỷ quyền cho Varen tuyên bố tha bổng
Phan Bội Châu, sau đó an trí ông ở Huế. Tại nơi an trí Phan Bội Châu không hoạt động chính trị được
nhưng ôngđặc biệt quan tâm đến thời cuộc. Phan Bội Châu mất ngày 29 tháng 10 năm 1940.
https://thuviensach.vn
TĂNG BẠT HỔ
Tăng Bạt Hổ tên thật là Tăng Doãn Văn, hiệu là Sư Triệu, sinh năm Mậu Ngọ (1858). Ông quê ở
An Thường, xã Ân Thạch, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Ông là người học hành thông minh, thông hiểu kinh sách, từmg luyện tập võ nghệ, cường. Năm
Ất Hợi (1876) dưới triều Tự Đức, ông vừa 18 tuổi đã thay anh đi lính, trước năm 1883 đã thăng suất
đội.
Nghe tin vua Hàm Nghi hạ chiếu Cần vương, Tăng Doãn Văn bỏ quân ngũ kêu gọi đồng đội
chiêu mộ nghĩa quân lập chiến khu tại núi Kim Sơn gọi là Tổng dinh chống Pháp. Lực lượng nghĩa
quân của Tăng Doãn Văn phát triển nhanh, thực dân Pháp và bọn tay sai biết ông là người đứng đầu
phong trào Cần vương ở tỉnh Bình Định đã đánh phá căn cứ của ông rất ác liệt.
Tháng 8 năm Bính Tuất (1888) tên Việt gian Nguyễn Thân kéo quân vào Bình Định, đóng quân
tại đồn Lại Giang xã Bồng Sơn, huyện Hoài Nhơn để tiến đánh đồn Tổng Dinh và lực lượng kháng
chiến ở Kim Sơn. Phán đoán trước ý đồ của giặc, ông mật ước với Thống trấn Bùi Điền lợi dụng đêm
tối tấn công vào đồn Lại Giang trrước. Tướng Bùi Điền lầm tưởng Lại Giang là Lộc Giang thuộc xã
Ân Tường, huyện Hoài Ân vào đêm đó lực lượng phân tán, ông bị quân địch phản công nên bị thiệt
hại nặng nề, đối phó với giặc rất khó khăn.
Mùa xuân năm 1887, Tăng Doãn Văn cùng một số đồng chí sang Xiêm La toan tính cầu viện cứu
nước. Khi đi đến dốc Đót giáp với cao nguyên An Khê tỉnh Bình Định gặp con cọp đứng chắn đường,
mấy người đi theo ai nấy run như cầy sấy. Tăng Doãn Văn không chút sợ hãi, ông nhìn thẳng vào con
cọp nói: “Này chúa Sơn lâm! Ta đi đây là vì đại nghĩa, chứ không phải việc riêng tư nào khác. Xin
chúa Sơn lẩn tránh ra một bên để cho kẻ vong quốc này lên đường cho sớm!”
Con cọp như hiểu được lời ông liền tránh sang một bên, nhường đường cho ông đi qua. Những
người cùng đi vô cùng cảm phục ông và tôn ông là Tăng Bạt Hổ. Từ đó ông mang tên này.
Tăng Bạt Hổ ở Xiêm La vài tháng rồi sang Trung Quốc. Ông tới nhiều vùng của hai tỉnh Quảng
Đông, Quảng Tây gặp gỡ Việt kiều để gây dựng cơ sở. Khi Tăng Bạt Hổ ở Trung Hoa, người Pháp
xem ông là một phái viên rất đắc lực của Tôn Thất Thuyết bấy giờ đang bị an trí ở Triều Châu. Tăng
Bạt Hổ có tài nguỵ trang, ông đi về thường xuyên giữa Quảng Đông và Hế biết được biến động chính
trị ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Đài Loan, Nam Dương (Indonexia) nơi mà Tăng Bạt Hổ đã đến
tận nơi khảo sát tình hình chính trị, kinh tế.
Trong những chuyến từ Trung Quốc về nước Tăng Bạt Hổ còn đem theo các sách Tân thư, Tân
văn của Trung Hoa và Nhật Bản về nước. Tăng Bạt Hổ đã có mối liên hệ mật thiết với Nguyễn
Thượng Hiền.
Về nước một thời gian, nhưng cơ hội chưa đến Tăng Bạt Hổ thấy chỉ có con đường đi Nhật như
Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi đã nói. Để đỡ tốn tiền, ông xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn sang
Nhật.
Tháng 10/1904, Tăng Bạt Hổ từ Nhật trở về nước gặp Phan Bội Châu. Ông cùng Phan Bội Châu
bàn thành lập phong trào Đông du với sự có mặt của Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Quyền.
Tháng giêng năm Ất Tỵ (1905) Tăng Bạt Hổ vừa là người đưa đường, người phiên dịch tháp
tùng Phan Bội Châu sang Nhật.
Tháng chạp năm 1905 ông từ Nhật về mang theo thư của Phan Bội Châu nhan đề “Khuyên Thanh
niên Du học”. Sau đó ông lại cùng Nguyễn Quyền xúc tiến thành lập Đông kinh nghĩahttps://thuviensach.vn
thục.
Mùa Đông năm Đinh Mùi (1908), ông từ Bắc Kỳ trở vào miền Trung, ông dừng chân tại Huế cổ
động cho phong trào Đông du thì lâm bệnh. Bệnh ông quá nặng, thuốc thang không giảm, ông mất trên
thuyền. Các đồng chí an táng ông trên bờ sông Hương.
https://thuviensach.vn
VƯƠNG THÚC QUÝ
Vương Thúc Quý sinh năm Nhâm Tuất (1862) là con trai độc nhất của tú tài Vương Thúc Mậu,
người làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Vương Thúc Quý từ nhỏ đã là người học giỏi, tài hoa. Vùng Nam Đàn có bốn người học giỏi
nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX được mệnh danh là “Tứ hổ” thì làng Kim Liên chiếm tới
ba người là Vương Thúc Quý, Nguyễn Sinh Sắc, Trần Văn Lương, chỉ còn ại Phan Bội Châu người
làng Đan Nhiệm:
Uyên bác bất như San
Thông minh bất như Sắc
Tài hoa bất như Quý
Cường ký bất như Lương
Nghĩa là:
Không ai hiểu biết rộng như Phan Văn San (tức Phan Bội Châu)
Không ai thông minh như Nguyễn Sinh Sắc
Không ai tài hoa như Vương Thúc Quý
Không ai nhớ giỏi như Trần Văn Lương
Khoa thi Hương năm Tân Mão (1891), Vương Thúc Quý đi thi đậu cử nhân. Mang nặng mối thù
nhà, nợ nước, ông không ra làm quan, cũng không đi thi Hội ở nhà dạy học, cùng Phan Bội Châu hoạt
động cách mạng cứu nước.
Ngày 14 tháng 7 năm 1901, lợi dụng ngày Quốc khánh nước Pháp có nhiều người đi lại trong
thành Nghệ An, Vương Thúc Quý, Trần Hải đã theo Phan Bội Châu chỉ huy khoảng 20 người, bí mật
tập trung trong thành Nghệ An định dùng giáo mác để cướp vũ khí giặc rồi đánh úp tỉnh thành Nghệ
An. Việc không thành vì tên Nguyễn Điềm phản bội mật báo với thực dân Pháp. Tổng đốc Nghệ An
Đào Tấn hết lòng che chở, nên Phan Bội Châu, Vương Thúc Quý, Trần Hải và những người tham gia
đều thoát nạn.
Năm 1904 Phan Bội Châu thành lập hội Duy tân ở Quảng Nam, năm 1905 phát triển ra Nghệ
An, Vương Thúc Quý trở thành người tích cực hoạt động cho hội Duy tân. Ông tổ chức cho nhiều
thanh niên Nghệ An xuất dương sang Nhật du học và vận động tài chính cho Hội. Năm 1907, trường
Đông Kinh nghĩa thục được thành lập ở Hà Nội, Vương Thúc Quý thành lập phân hiệu Đông Kinh
nghĩa thục ở làng Sen xây dựng tủ sách Tân thư.
Giữa năm 1907 Vương Thúc Quý trên đường ra Hải Phòng để sang Nhật. Ông tới Nam Định, bị
ốm nặng phải trở về quê nhà. Bệnh tình ngày càng trầm trọng, ngày 19 tháng 7 nãm 1907, Vương Thúc
Quý cố gắng ngồi dậy, bảo người bên cạnh đưa giấy, bút, viết mấy chữ : “Phụ thù vị báo, thử si1;”
(Nghĩa là: thù cha chưa báo được đời này thật uổng, rồi trút hơi thở cuối cùng.
https://thuviensach.vn
PHAN CHU TRINH
Phan Chu Trinh tự Hy Mã, hiệu Tây Hồ, sinh ngày 9 tháng 9 năm 1872 tại làng Tây Lộc, huyện
Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, nay thuộc huyện Tuy Phước, tỉnh Quảng Nam.
Năm 1900, Phan Chu Trinh thi đỗ cử nhân, năm sau thi hội đỗ Phó Bảng, được bổ làm Thừa
biện bộ Lễ. Năm 1903 kết giao với Phan Bội Châu.
Năm 1904 Phan Chu Trinh từ quan tham gia cuộc vận động Duy tân. Năm 1905 ông vào Bình
Định cùng với Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng viết Chí Thành thông thánh. Năm 1905 sang Trung
Quốc rồi sang Nhật trao đổi chính kiến với Phan Bội Châu, nhưng ông không đi theo con đường vũ
trang của Hoàng Hoa Thám và Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh muốn lợi dụng chiêu bài khai hóa của
thực dân Pháp để đấu tranh hợp pháp, trước hết là mở mang trường học để khai hóa dân trí.
Năm 1906, Phan Chu Trinh ra Bắc gặp Lương Văn Can bàn việc mở một trường học tại Hà Nội
để làm kiểu mẫu, rút kinh nghiệm mở các trường trong toàn quốc. Sau khi gặp Lương Văn Can, Phan
Chu Trinh bí mật dời Hà Nội lên Phồn Xương gặp Hoàng Hoa Thám.
Đầu năm 1907 Phan Chu Trinh trở về Quảng Nam cùng các ông Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc
Kháng thực hiện chủ trương khai hóa dân trí đã bất chấp sự cấm đoán của bọn cầm quyền Bảo hộ
Pháp và chính quyền Nam triều, các ông đã đi vận động mở nhiều trường học ở Quảng Nam như
trường An Phước (Hoa Phụng), Tân Thạnh (Hòa Phước), Hòa An (Hòa Phát) đều thuộc huyện Hòa
Vang ra đời. Sau khi hàng chục trường học ở Quảng Nam ra đời thì tại Hà Nội, ông cử Lương Văn
Can, Đốc học Nguyễn Quyền cùng nhiều nhà nho khác đã thành lập trường Đông Kinh nghĩa thục ở Hà
Nội. Lương Văn Can đã mời Phan Chu Trinh ra dạy ở trường Đông Kinh nghĩa thục. Phan Chu Trinh
đã nhiều lần diễn thuyết về phong trào Duy tân trước công chúng Hà Nội tại trường Đông Kinh nghĩa
thục và các phân hiệu như ở Chèm, Hà Đông. Ông cổ động cho lối sốngHà Nội. Phan Chu Trinh rất
quan tâm đến việc đào tạo cán bộ chuyên môn cho từng ngành nghề khuyến khích việc học nghề. Trong
phong trào Duy tân, Phan Chu Trinh chủ trương không tán thành bạo động vũ trang mà ông chủ trương
cải cách là "khai thông dân trí, mở rộng dân quyền" trái ngược với chủ trương bạo động của Phan Bội
Châu. Từ chủ trương cải cách của Phan Chu Trinh đã dẫn tới cuộc đấu tranh "xin xâu, chống thuế ở
Trung Kỳ".
Phan Chu Trinh với chủ trương ''Pháp - Việt đề huề” đã có nhiều hoạt động trong giới Việt kiều
và vận động các chính khách tư sản, hội Nhân quyền và Chính phủ Pháp thực hiện những cải cách ở
Đông Dương trong khuôn khổ cải lương tư sản.
Ông bị thực dân Pháp bắt và đày ra Côn Đảo. Phan Chu Trinh khi ở Côn Đảo làm rất nhiều thơ,
trong đó có bài:
CÔN LÔN TỨC CẢNH
Biển dân đời đổi mấy thu đông
Cụm núi Côn Lôn đứng vững trông
Bốn mặt dày vò oai sóng gió
Một mình che chở tội non sông
Cỏ hoa đất nở cây trăm thước
Rồng cá trời riêng cả một vùng
Nước biếc non xanh thiêng chẳng nhĩ
Gian nan xin hộ khách anh hùng
https://thuviensach.vn
Năm 1911 ra tù ông sang Pháp, hoạt động trong Việt kiều yêu nước. Năm 1912, Phan Chu Trinh
gặp Phan Văn Trường sang Pháp từ trước. Đầu năm 1914 ông và Phan Văn Trường thành lập ''Hội
người Việt Nam yêu nước" tại Pháp. Tháng 4/1914 ông và Phan Văn Trường bị bắt vì bị vu cho là
"Mật thông với kẻ thù của nước Pháp" (nước Đức). Phan Chu Trinh cũng đưa con là Phan Châu Dật là
con thứ ba và là con trai duy nhất sang Pháp học. Trong thời gian Phan Chu Trinh bị giam ở ngục Săng
đê, Châu Dật được phép mỗi tuần đến thăm cha hai lần chờ ở phòng khách thăm tù. Tháng 4/1914
chúng phải thả hai ông vì không có đủ chứng cứ buộc tội.
Ngày 3/2/1925 Phan Chu Trinh diễn thuyết lần cuối cùng ở hội Nhân quyền Paris. Ngày
28/5/1925 ông cùng Phan Văn Trường đi Mác Xây rồi về Sài Gòn.
Tháng 6/1925 Phan Chu Trinh về đến Sài Gòn. Ngày 24/3/1926, Phan Chu Trinh đột ngột qua
đời tại Sài Gòn.
https://thuviensach.vn
HUỲNH THÚC KHÁNG
Huỳnh Thúc Kháng thuở nhỏ tên là Huỳnh Hanh hiệu Minh Viên, sinh năm Bính Tý (1876), ở
làng Thanh Bình, tổng Tiên Giang Thượng, huyện Hà Đông, phủ Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, nay là
xã Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam. Ông nhà nghèo, học giỏi.
Năm Canh Tý (1900) ông đỗ Giải nguyên kỳ thi Hương. Năm Giáp Thìn (1904), ông 29 tuổi, đỗ
đầu kỳ thi Hội (Hội nguyên) rồi đỗ Tiến sĩ Đệ Tam giáp ở kỳ thi Đình. Ông được giới sĩ phu và nhân
dân xếp là "Tứ Hổ" ở đất Quảng (bốn người học giỏi là Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn
Đình Hiên, Phạm Liệu). Huỳnh Thúc Kháng đỗ tiến sĩ, nhưng không ra làm quan, mà ờ nhà đọc tân
thư, giao du với các nhà yêu nước như Trần Quý Cáp, Phan Chu Trinh.
Đầu năm 1905, Huỳnh Thúc Kháng tham gia "Duy tân tự cường" cùng Phan Chu Trinh, Ngô Đức
Kế. Khác với Phan Bội Châu theo chủ trương bạo lực cách mạng, Huỳnh Thúc Kháng vận động phát
khởi phong trào Duy tân cải cách văn hóa xã hội theo hướng ''khơi dân trí, chấn dân khí, hào dân sinh"
(khẩu hiệu và mục tiêu của phong trào Duy tân do Phan Chu Trinh đề xướng), Huỳnh Thúc Kháng
không phản đối đường lối “bạo động xuất dương cầu ngoại viện" của Phan Bội Châu, cũng không hoàn
toàn tin theo đường lối "bất bạo động, bất ngoại vong" của Phan Chu Trinh. Nếu Phan Chu Trinh tỏ ra
là người cực đoan thì Huỳnh Thúc Kháng lại là người có vai trò: "điều hòa mâu thuẫn" giữa hai
đường lối của hai nhà yêu nước họ Phan.
Ngay sau khi thi đỗ tiến sĩ, Huỳnh Thúc Kháng không ra làm quan, tháng 10 năm Giáp Thìn
(1904), Huỳnh Thúc Kháng cùng Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp đi khắp nơi trong tỉnh Quảng Nam cổ
động cho phong trào Duy tân. Tháng 2 năm Ất Tỵ (1905), Huỳnh Thúc Kháng lại cùng Phan Chu
Trinh, Trần Quý Cáp thực hiện cuộc "Nam du". Đn nơi nào ba nhà Duy tân cũng "cổ xúy tân học không
chán''.
Ông cùng các bạn tù bị thực dân Pháp giam ở Khám Lớn, Sài Gòn chờ đi Côn Đảo. Huỳnh Thúc
Kháng bị giam ở Côn Đảo từ năm 1908. Tháng 2/1921 ông được tha.
Tháng 12/1926 ông vận động thành lập một công ty tập hợp những người yêu nước tìm vốn kinh
doanh để tài trợ cho những hoạt động chính trị.
Tháng 4/1927, công ty Huỳnh Thúc Kháng được thành lập ở Đà Nẵng với sự tham gia của nhiều
nhân vật như Nguyễn Đình Kiên, Nguyễn Xương Thái... chuyên ngành in và báo chí. Huỳnh Thúc
Kháng lấy tư cách là Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, đã xin phép xuất bản tờ Tiếng Dân mà ông
làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Ngày 10/8/1927, báo Tiếng Dân ra số đầu tiên. Tờ báo được coi như cơ quan ngôn luận của
Viện dân biểu Trung Kỳ, nhưng trên thực tế, cụ Huỳnh đã sử dụng tờ báo này làm diễn đàn đòi một số
quyền tự do dân chủ trong khuôn khổ những cải cách có tính chất tư sản và hợp pháp.
Sau những lần xô xát với Phạm Quỳnh và Bùi Quang Châu tại kỳ hợp thường niên ngày
2/10/1928, Huỳnh Thúc Kháng đã lên tiếng chỉ trích kịch liệt đường lối phản dân chủ của bọn thực
dân và ông tuyên bố từ chức. Việc ông từ chức đã dẫn theo sự ly khai của hàng loạt các dân biểu tiến
bộ. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, Huỳnh Thúc Kháng đã gần 70 tuổi. Được sự tin cậy của
Hồ Chủ tịch, ông đã giữ chức Quyền Chủ tịch nước (và cũng là Quyền Thủ tướng) trong hơn 5 tháng,
giữa lúc đất nước vẫn bị nạn đói đe dọa và có nguy cơ mất vào tay giặc Pháp và bọn Việt Quốc, Việt
Cách, tay sai của Tưởng Giới Thạch. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến 19 tháng 12 năm 1946, ông đi
thanh tra ở tỉnh Quảng Ngãi với tư cách là đại diện Chính phủ. Ông đột ngột mắc bệnh
rồi qua đời tại
https://thuviensach.vn
nhà một người dân dùng làm trụ sở Ủy ban kháng chiến Hành chính Nam Trung Bộ (chợ Chùa) ngày
21 tháng 4 năm 1947.
https://thuviensach.vn
NGÔ ĐỨC KẾ
Ngô Đức Kế hiệu Tập Xuyên, sinh năm Kỷ Mão (187 (có sách viết ông sinh năm Mậu Dần
(1878). Ông người xã Trảo Nha, tổng Đoài, huyệ
 








Các ý kiến mới nhất