Phương trình thay đổi thế giới

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:03' 26-01-2026
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Văn Tuấn (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:03' 26-01-2026
Dung lượng: 2.0 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Chủ biên
VŨ CÔNG LẬP
PHẠM VĂN THIỀU
NGUYỄN VĂN LIỄN
http://khoahocvakhampha.com.vn
FIVE EQUATIONS THAT CHANGED THE WORLD
Copyright © 1995 by Dr. Michael Guillen
Bản tiếng Việt © 2009 Nhà xuất bản Trẻ
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Guillen, Michael
5 phương trình làm thay đổi thế giới/ Michael Guillen; Phạm Văn Thiều, Trần Quốc
Túy d. - TP. Hồ Chí Minh; Trẻ, 2009.
324 tr.; 20cm. - (Khoa học và khám phá)
Nguyên bản: Five equations that changed the world
1. Vật lý - Tác phẩm phổ cập. 2. Phương trình. I. Phạm Văn Thiều d. II. Trần Quốc
Túy d. III. Ts: Five equations that changed the world. IV. Ts: Năm phương trình làm
thay đổi thế giới.
Tặng Laurel,
người đã làm cho thế giới của tôi thay đổi tốt đẹp hơn
Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn nhóm các nghiên cứu viên của tôi, Noe Hynojosa,
Jr., Laurel Lucas, Miriam Marcus, và Monya Baker vì tài năng và tinh
thần nhẫn nại tuyệt vời của họ.
Tôi xin cảm ơn người đại diện văn chương của tôi, Nat Sobel, về sự
bền bỉ, tình bạn và sự thông thái khác thường của ông. Tôi cũng xin
bày tỏ sự tin tưởng đặc biệt tới nhà xuất bản và biên tập viên Brian
DeFiore, vì sự nhiệt tình, những góp ý xây dựng và hỗ trợ của họ.
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, góp ý và cổ vũ vô giá của: Barbara
Aragon, Thomars Barh, Randall Barone, Phil Beuth, Graeme Bird,
Paul Cornish (Dịch vụ Thông tin Anh quốc), Stefania Dragojlovic,
Ultra Fringeli (Đại học Basel), Owen Gingerich, Ann Godoff, Heather
Heiman, Gerald Holton, Carl Huss, Victor Iosilevich, Nancy Kay,
Allen Jon Kinnamon, (Thư viện Khoa học Cabot, Đại học Harvard),
Gene Krantz, Richard Leibner, Martha Lepore, Barry Lippman, Stacie
Marinelli, Martin Martmuler (Thư viện Đại học Basel), Robert Millis,
Ron Newburgh, Neil Pelletier (Hội làm vườn Mỹ), Robert Reichblum,
Jack Reilly, Diane Reverand, Hans Richner (Học viện Công nghệ
Liên bang Thụy Sĩ), William Rosen, Janice Shultz (Phòng thí nghiệm
nghiên cứu Hải quân), Johl Stachel (Đại học Boston), Rabbi Leonard
Troupp, David Vale, (Bảo tàng Grantham), Spencer Weart (Viện Vật
lý Mỹ), Richard Westfall, L. Pearce Williams, Ken Yanni (Đập Hoover),
và Allen Zelon.
L ờ i c ả m ơ n
- 7
Mặc dù nhận được sự giúp đỡ và động viên từ những người tốt
bụng này, nhưng, nếu như trong cuốn sách có bất kì một sai sót nào
thì điều đó hoàn toàn là lỗi của tôi, và tôi cũng xin chân thành cảm
ơn những bạn đọc tinh tường sẽ gửi thẳng những góp ý cho tôi.
8
Mục lục
Lời cảm ơn
9
Lời giới thiệu
Chất thơ của toán học
11
F = G × M × m ÷ d2
NHỮNG QUẢ TÁO RƠI
Isaac Newton và Định luật Vạn vật hấp dẫn
19
P + ρ × ½ν2 = constant
GIỮA HÒN ĐÁ VÀ CUỘC ĐỜI TRUÂN CHUYÊN
Daniel Bernoulli và Định luật về Áp suất thủy động học
85
-
9
∇ × E = -∂B/∂t
VƯỢT LÊN SỐ PHẬN
Michael Faraday và Định luật cảm ứng điện từ
147
∆ S vũ trụ > 0
MỘT TRẢI NGHIỆM KHÔNG SINH LỢI
Rudolf Clausius
và Nguyên lý thứ hai Nhiệt động lực học
202
E = m × c2
TRÍ TÒ MÒ GIẾT CHẾT ÁNH SÁNG
Albert Einstein và Thuyết tương đối hẹp
261
10
Lời giới thiệu
Chất thơ của toán học
db
Thơ ca đơn giản là cách thức đẹp nhất, gây ấn tượng nhất
và có tác dụng rộng lớn nhất để diễn tả các sự vật.
Matthew Arnold
TOÁN HỌC LÀ NGÔN NGỮ mà tầm quan trọng của nó tôi có thể giải
thích tốt nhất bằng cách bắt đầu từ một câu chuyện quen thuộc lấy
trong Kinh Thánh. Theo Cựu ước, đã có một thời tất cả mọi người
trên Trái đất đều nói cùng một thứ tiếng. Điều này làm cho họ thống
nhất và dễ dàng hợp tác với nhau đến mức họ bắt tay vào một dự án
chung để làm một việc dường như không thể: Họ định xây một cái
tháp ở thành phố Babel thật cao để mong có thể nhờ nó mà leo lên
được Thiên đường.
Đó là hành động hỗn hào không thể tha thứ và Chúa nhanh chóng
trút cơn tức giận của mình lên những kẻ phạm tội bất cẩn. Chúa tha
mạng sống cho họ, nhưng không tha thứ cho tiếng nói của họ: như
đã mô tả trong cuốn Sách Sáng thế (đoạn 11, câu 7), để dập tắt tính
cả gan của những kẻ phạm thượng, tất cả những gì mà Chúa cần làm
là “làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không
ai hiểu ai nữa”.
Chất thơ của toán học
- 11
Hàng ngàn năm sau, chúng ta vẫn còn nói năng lảm nhảm. Theo
các nhà ngôn ngữ học, ngày nay trên thế giới có khoảng 1.500 ngôn
ngữ khác nhau. Và trong khi không ai cho rằng sự đa ngôn ngữ này
là nguyên nhân duy nhất đối với việc có rất ít sự thống nhất trong
thế giới thì chắc chắn điều này đã ngăn trở việc có được sự hợp tác
nhiều hơn.
Không gì gợi cho chúng ta nhớ tới thực tế bất tiện đó hơn là câu
chuyện về Liên Hiệp quốc. Trở lại đầu những năm 1940, khi tổ chức
này lần đầu tiên được thành lập, những người lãnh đạo của nó gợi ý
tất cả các nhà ngoại giao nên cùng nói ngôn ngữ duy nhất với ý nghĩ
rằng đòi hỏi này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc thương
lượng vừa tượng trưng cho một thế giới hài hòa. Nhưng các nước
thành viên đã phản đối - mỗi nước đều không muốn từ bỏ bản sắc
ngôn ngữ của mình - vì vậy mới có một sự dung hòa thật lạ lùng; ngày
nay đại sứ của các nước ở Liên Hiệp quốc được phép nói một trong
năm ngôn ngữ sau: tiếng Trung Quốc phổ thông, tiếng Anh, tiếng
Nga, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp. Trong suốt nhiều năm, đã có
không ít hơn 300 ý đồ sáng tạo và truyền bá một ngôn ngữ toàn cầu,
và ý đồ nổi tiếng nhất do thầy thuốc nhãn khoa người Ba Lan là L.L.
Zamenhof đưa ra vào năm 1887. Ngôn ngữ nhân tạo mà ông sáng tạo
ra được gọi là Esperanto (Quốc tế ngữ), và ngày nay nó đang được
hơn 100.000 người ở hai mươi hai quốc gia sử dụng.
Tuy nhiên, như đã được đánh giá bởi hàng triệu người nói trôi
chảy nó và bởi những hệ quả mang tính lịch sử của những nỗ lực
thống nhất của họ mang lại thì toán học được coi là ngôn ngữ toàn
cầu thành công nhất. Mặc dù nó không giúp chúng ta xây được tháp
Babel, nhưng nó đã tạo ra những thành tựu mà đã có lúc người ta
tưởng chừng như không thể làm nổi: điện, máy bay, bom hạt nhân,
đưa người lên Mặt trăng, và hiểu được bản chất của sự sống và cái
chết. Việc khám phá ra những phương trình cuối cùng đã dẫn đến
1 2 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
những thành quả làm rung chuyển thế giới chính là chủ đề của cuốn
sách này.
Trong ngôn ngữ toán học, các phương trình cũng tựa như thơ ca.
Chúng diễn đạt các chân lý một cách cực kì chính xác, chuyển tải một
khối lượng lớn các thông tin trong một số số hạng khá ngắn gọn và
thường khó hiểu đối với những người mới nhập môn. Và cũng như
thơ ca thường giúp ta thấy được rất sâu bên trong chính chúng ta,
thơ ca toán học giúp ta có được tầm nhìn xa vượt ra ngoài bản thân
chúng ta - nếu không phải là đường tới được thiên đường, thì ít nhất
cũng tới được biên của vũ trụ nhìn thấy được.
Trong nỗ lực phân biệt giữa văn xuôi và thơ ca, Robert Frost có lần
đã cho rằng thơ ca, theo định nghĩa, là một dạng diễn đạt cô đọng
mà không bao giờ có thể dịch một cách chính xác được. Có thể nói
tương tự như vậy về toán học: người ta sẽ không thể hiểu được ý nghĩa
thật sự của một phương trình, hoặc không thể đánh giá được hết vẻ
đẹp của nó, trừ phi đọc nó bằng chính ngôn ngữ kì quặc và đầy hứng
thú mà nó đã được viết ra. Đó chính là lý do tôi viết cuốn sách này.
Đây không hẳn là sự tiếp nối cuốn sách gần đây nhất của tôi, Những
cây cầu bắc tới vô hạn: Khía cạnh nhân văn của Toán học. Tôi viết
Những cây cầu với ý định đem lại cho độc giả cảm giác về các nhà toán
học đã suy nghĩ ra sao và họ suy nghĩ về những gì. Tôi cũng cố gắng
mô tả ngôn ngữ đó - những con số, các kí hiệu, và logic - mà các nhà
toán học đã sử dụng để biểu đạt chính mình. Và tôi đã làm điều đó mà
hoàn toàn không bắt độc giả phải đau đầu vì một phương trình nào.
Nó giống như một thứ dược phẩm có vị ngọt ngào dành cho những
ai đã từng phải khổ sở vì những lo lắng về môn toán, họ thường không
đủ dũng cảm hoặc tò mò để mua một cuốn sách có chủ đề thường
làm cho họ sợ hãi. Tóm lại, Những cây cầu bắc tới vô hạn là cuốn sách
với liều lượng toán học vừa phải để có thể đọc một cách dễ dàng.
Chất thơ của toán học
- 13
Giờ đây, được khuyến khích bởi đã viết thành công một cuốn sách
không bao chứa một phương trình nào, tôi mạnh dạn dấn thêm một
bước nữa. Trong cuốn sách này, tôi mô tả nguồn gốc toán học của
một số các thành tựu đóng vai trò cột mốc - đó là những phương
trình mà hệ quả của chúng đã vĩnh viễn làm thay đổi cuộc sống hằng
ngày của chúng ta.
Người ta có thể nói, lần này, tôi dành cho công chúng một liều
lượng toán học mạnh hơn, một cơ hội dễ dàng làm quen với năm
công thức đáng chú ý ở các dạng nguyên gốc và không hề phải che
đậy của chúng. Độc giả sẽ có thể tự mình hiểu được ý nghĩa của các
phương trình đó, chứ hoàn toàn không phải đành lòng chấp nhận
một sự diễn dịch phi toán học, mà chắc chắn sẽ không tránh khỏi
khiếm khuyết.
Độc giả cuốn sách này cũng sẽ khám phá ra cách thức mà mỗi
phương trình này được rút ra. Tại sao điều này lại quan trọng? Bởi vì
có thể nói theo cách của Robert Louis Stevenson: Khi đang trên đường
đi tới một miền đất lạ, thì ta đã nhận được một nửa niềm vui rồi.
Tôi hy vọng những độc giả thiếu kiến thức cơ bản về toán học sẽ
không bị hốt hoảng bởi nhiệt tình gắng sức của tôi. Sự thanh thản
vẫn được đảm bảo, dẫu cho năm phương trình này có vẻ trừu tượng,
nhưng chắc chắn những hệ quả của chúng thì không, ngay cả với
những người không liên can gì với chúng: kẻ đơn độc ủy mị, đói tình;
thần đồng bị ngược đãi tình cảm từ một gia đình xuống cấp; người
mù chữ sùng đạo bị nghèo khốn giày đạp; người góa vợ có giọng nói
êm ái sống trong thời buổi hiểm nghèo; và kẻ bỏ học giữa chừng tính
cách ngông nghênh.
Mỗi câu chuyện được kể trong năm phần. Phần Mở đầu thuật lại
một tình tiết gây ấn tượng nào đấy trong cuộc đời của nhân vật chính,
giúp xác lập giọng điệu cho những gì được kể tiếp theo. Rồi đến ba
1 4 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
phần tiếp theo mà tôi đặt tên lần lượt là Veni, Vidi, Vici. Những từ
Latin này có nghĩa là “Tôi đã đến, Tôi đã thấy, Tôi đã chinh phục”,
đó chính là câu mà nghe nói Caesar đã từng tuyên bố sau khi đánh
bại nhà vua châu Á Pharnaces. Veni là phần mà tôi sẽ giải thích nhân
vật chính - tức nhà khoa học - đã đến với cái đề tài bí ẩn của mình
như thế nào; Vidi giải thích về mặt lịch sử đề tài đó đã xuất hiện một
cách bí ẩn ra sao; còn Vici giải thích nhà khoa học đã xoay xở như thế
nào để chinh phục điều bí ẩn dẫn đến phương trình lịch sử đó. Cuối
cùng, phần Vĩ thanh mô tả phương trình đó đã dẫn đến việc định
hình lại vĩnh viễn cuộc sống của chúng ta như thế nào.
Để chuẩn bị viết cuốn sách này, tôi đã lựa chọn năm phương trình
trong số hàng chục những phương trình thật sự nổi bật, chủ yếu với
tiêu chí là mức độ mà chúng đã làm thay đổi cơ bản thế giới chúng
ta. Tuy nhiên, lúc này tôi mới nhận thấy rằng những câu chuyện gắn
với các phương trình đó đã ngẫu nhiên kết hợp nhau để mang lại cho
độc giả một biên niên sử khá liền mạch về khoa học và xã hội từ thế
kỷ 17 cho tới ngày nay.
Hóa ra, đây là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử. Về mặt
khoa học, nó trải từ khi bắt đầu Cuộc Cách mạng khoa học, xuyên
suốt các kỷ nguyên Lý trí, Ánh sáng, Tư tưởng và Phân tích; và trong
suốt thời gian đó khoa học đã làm sáng tỏ từng thứ một trong năm
nguyên tố cổ xưa: Đất, Nước, Lửa, Không khí và Ête.
Hơn nữa, trong giai đoạn đầy kịch tính đó, chúng ta thấy: Chúa đã
vĩnh viễn tách ra khỏi Khoa học, Khoa học đã thay thế thuật chiêm
tinh với tư cách là cách thức cơ bản của chúng ta trong việc dự đoán
tương lai, khoa học trở thành một nghề nghiệp được trả công, và
khoa học đã phải vật lộn với những chủ đề siêu bí ẩn về sự sống và
cái chết, về không gian và thời gian.
Trong năm câu chuyện này, từ thời chàng trai hướng nội Isaac
Chất thơ của toán học
- 15
Newton trầm tĩnh ngồi dưới gốc cây táo cho đến thời chàng trai hay
truy vấn Albert Einstein suýt chết khi leo lên dãy núi Alps ở Thụy Sĩ,
chúng ta thấy khoa học đã đi con đường của nó từ quả táo nổi tiếng
đến quả bom nguyên tử đầy tai tiếng. Điều đáng nói là chúng ta đang
phải chứng kiến khoa học đi từ chỗ là nguồn của ánh sáng và hy vọng
đến chỗ trở thành nguồn của tối tăm và chết chóc.
Các nhà văn trước tôi đã ghi theo niên đại cuộc sống của một số
trong năm nhà khoa học này - thường là những tiểu sử dài một cách
đáng sợ. Và các nhà văn trước tôi cũng đã dựng lại phả hệ của một
số những đổi mới về trí tuệ này từ lúc bắt đầu của lịch sử thành văn.
Nhưng họ không bao giờ tập trung chú ý kĩ càng vào một số nhỏ các
phương trình toán học đã ảnh hưởng đến sự sinh tồn của chúng ta
theo cách thật sự sâu sắc và mật thiết.
Ngoại lệ là phương trình năng lượng nổi tiếng của Albert Einstein
E = m × c2 mà nhiều người đã biết, và dẫu thế nào thì phương trình
này cũng phải chịu phần trách nhiệm đối với bom hạt nhân. Nhưng
mặc cho tất cả những tai tiếng của nó thì ngay cả phương trình nhỏ
bé nguy hiểm này chắc chắn cũng chỉ lưu lại trong tâm trí nhiều người
như một biểu tượng bí ẩn, giống như logo của tập đoàn Procter &
Gamble thật quen thuộc nhưng không thể giải thích được.
Các chữ cái E, m và c chính xác là chỉ cái gì? Tại sao c lại phải
bình phương? Và việc cho E bằng m × c2 có ý nghĩa gì? Độc giả sẽ
biết những câu trả lời rất đáng ngạc nhiên trong chương Trí tò mò
giết chết ánh sáng.
Các chương khác đề cập đến những nhà khoa học ít nổi tiếng hơn
Einstein, nhưng là những người không kém phần quan trọng đối với
lịch sử văn minh nhân loại. Chẳng hạn, chương Giữa hòn đá và cuộc
đời truân chuyên nói về nhà khoa học người Thụy Sĩ Daniel Bernoulli
và phương trình thủy động lực học của ông P + ρ × ½ ν 2 = CONSTANT
1 6 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
một phương trình cuối cùng đã dẫn đến máy bay hiện đại. Chương
Vượt lên số phận nói về nhà vật lý người Anh Michael Faraday và
phương trình điện từ trường của ông ∇ × E = -∂B/∂t cuối cùng đã dẫn
đến sự xuất hiện của điện.
Chương Những quả táo rơi kể về câu chuyện của nhà triết học tự
nhiên người Anh Isaac Newton và phương trình vạn vật hấp dẫn của
ông F = G × M × m ÷ d2 - phương trình này không dẫn đến bất kì một
phát minh cụ thể nào nhưng lại đưa đến một sự kiện mang tính sử
thi: sự đổ bộ của con người lên Mặt trăng.
Cuối cùng, chương Kinh nghiệm không sinh lợi nói về nhà toán lý
người Đức Rudolf Julius Emmanuel Clausius và phương trình nhiệt
động lực học (hay chính xác hơn là bất đẳng thức nhiệt động lực học)
của ông ∆Svũ trụ > 0. Nó cũng không dẫn đến một phát minh hoặc một
sự kiện lịch sử nào nhưng lại đưa đến một sự hiểu biết đáng kinh
ngạc: ngược với niềm tin phổ biến, sinh vật đang sống là trái với tự
nhiên; thực tế là toàn bộ sự sống tồn tại bất chấp, chứ không phải là
tuân theo, định luật cơ bản nhất của vũ trụ.
Trong cuốn sách gần đây nhất của tôi, cuốn Những cây cầu bắc tới
vô hạn, tôi đã cho rằng trí tưởng tượng của con người thực sự là giác
quan thứ sáu, được dùng để tìm hiểu những chân lý đã luôn hiện hữu.
Giống như những ngôi sao trên vòm trời, những chân lý này ở một
nơi nào đó bên ngoài đang chờ đợi trí tưởng tượng ngoại cảm của
chúng ta phát hiện ra chúng. Hơn nữa, tôi cho rằng trí tưởng tượng
toán học đặc biệt có tính tiên tri trong việc phát hiện những chân
lý phi vật chất này, và tôi đã kể ra nhiều thí dụ để làm bằng chứng.
Cũng trong cuốn sách đó, độc giả sẽ thấy những bằng chứng đầy
kịch tính cho lý thuyết nói rằng toán học là “người dẫn đường” đặc
biệt siêu nhạy cảm. Nếu không thế làm sao chúng ta có thể giải thích
được sự tinh thông không hề lầm lẫn và tính kiên trì tuyệt vời mà với
Chất thơ của toán học
- 17
nó năm nhà toán học này, có thể nói, là đã đánh hơi được và nhắm
vào các phương trình tương ứng của họ.
Tuy nhiên, trong khi các phương trình thể hiện sự nhận thức sâu
sắc các chân lý phổ quát và vĩnh hằng, thì cách thức mà các phương
trình này được viết ra lại mang đậm dấu ấn chất phác của con người.
Đó chính là điều đã làm cho các phương trình rất giống với thơ ca,
những nỗ lực nghệ thuật kì diệu đã biến những thực tại vô hạn trở
nên có thể hiểu được đối với những sinh linh hữu hạn.
Do đó, các nhà khoa học trong cuốn sách này không chỉ là những
nhà thám hiểm trí tuệ, mà họ còn là những nghệ sĩ phi thường làm
chủ một vốn từ vựng rộng lớn và thứ ngữ pháp phức tạp của ngôn
ngữ toán học. Họ là những Whitmans, Shakespeares và Shelleys của
thế giới định lượng. Và di sản của họ là năm bài thơ vĩ đại nhất đã
được sản sinh ra nhờ cảm hứng bởi trí tưởng tượng của con người.
1 8 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
F = G × M × m ÷ d2
Những quả táo rơi
Isaac Newton và Định luật Vạn vật hấp dẫn
db
Đôi khi tôi mong muốn Chúa quay trở lại
trong cái thế giới tối tăm và rộng lớn này.
Bởi vì dẫu Người có thiếu đi một vài phẩm hạnh nào đấy
thì Người
vẫn có những khía cạnh vui vẻ dễ thương
Gamaliel Bradford
SUỐT VÀI THÁNG QUA, cậu bé Isaac Newton mười ba tuổi hằng ngày
vẫn tò mò quan sát những người thợ đang dựng chiếc cối xay gió ngay
ngoài thị trấn Grantham. Dự án xây dựng gây nhiều hào hứng, vì dù
đã được phát minh ra trước đây vài thế kỉ, nhưng cối xay gió vẫn là
điều mới lạ ở vùng thôn dã này của nước Anh.
Hằng ngày mỗi khi đi học về, cậu lại chạy đến bờ sông và ngồi đó
một mình ghi chép tỉ mẩn hình dáng, vị trí và hoạt động của từng chi
tiết của chiếc cối xay gió. Rồi cậu lại chạy ào về phòng mình ở nhà
ông Clarke để chế tạo những bản sao thu nhỏ của các bộ phận đang
được lắp ráp mà cậu vừa quan sát thấy.
Vì vậy, khi mà nhiều bộ phận máy móc xa lạ cồng kềnh ở Grantham
Những quả táo rơi
- 19
được lắp đặt xong thì công việc bắt chước chính xác đến tuyệt vời,
chiếc cối xay gió nhỏ của cậu cũng hoàn thành. Bây giờ công việc
còn lại đối với cậu chỉ là đưa vật gì đó hay ai đó ra để đóng vai trò
của người chạy máy.
Đêm qua cậu chợt nảy ra ý tưởng mà cậu cho là tuyệt vời: con chuột
yêu quí của cậu sẽ thật là hoàn hảo đối với bảng phân vai. Nhưng
làm sao có thể huấn luyện cho nó làm việc, biết tháo lắp bánh răng
của chiếc cối xay gió thu nhỏ theo mệnh lệnh? Đó là những gì đã làm
cho cậu rất bối rối trên đường tới trường sáng nay.
Với những bước đi chậm rãi, cậu dồn suy nghĩ vào cách giải quyết
vấn đề. Rồi đột nhiên cậu cảm thấy đau nhói ở bụng và những ý nghĩ
của cậu đột ngột dừng lại. Khi đã hồi lại, Newton ra khỏi giấc mơ ban
ngày và chợt thấy cơn ác mộng tồi tệ nhất của mình: đó là gã Arthur
Storer, kẻ chuyên bắt nạt học sinh trong trường, với bộ mặt nhăn nhở
và khiêu khích, vừa đá vào bụng cậu.
Storer, một trong những đứa con trai riêng của ông Clarke, thích
chọn Newton để chọc ghẹo một cách tàn nhẫn vì nó nghĩ Newton
có tính cách không bình thường và lại kết thân với Katherine, chị
nó. Newton là một đứa bé, nhỏ tuổi hơn, hiền lành và trầm tính, và
thường thích giao du với những suy tư của mình hơn là kết bạn với
mọi người. Nhưng cứ khi nào cậu trở nên hòa đồng thì việc ấy lại
diễn ra với đám con gái; đám này bị lôi cuốn bởi những con búp-bê
hoặc các đồ chơi khác mà cậu làm cho chúng bằng bộ đồ nghề riêng,
như các loại cưa, rìu và búa nhỏ xíu. Việc Storer chế nhạo Newton có
tính khí đàn bà là chuyện thường ngày, nhưng vào buổi sáng đặc biệt
này, nó đã nhục mạ Newton là ngu dốt. Thật không may, sự thực thì
Newton là học sinh đang xếp hạng gần như đội sổ trong số toàn bộ
học sinh của trường Free Grammer School của vua Edward đệ tứ ở
Grantham và xếp dưới cả Storer. Nhưng việc gã to xác chuyên bắt nạt
này cho rằng nó có đầu óc vượt trội hơn mình đã làm cho suy nghĩ
2 0 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
của cậu bé Newton quen sống ẩn dật chuyển hẳn từ chuyện cối xay
gió sang chuyện trả thù.
Vì ngồi ở cuối lớp nên Newton thường không để ý tới những gì
mà thầy giáo của cậu, ông Stokes, đang nói. Tuy nhiên, lần này cậu
lại chú ý lắng nghe. Vũ trụ được chia thành hai thế giới, ông Stokes
giảng vậy, mỗi thế giới tuân theo các định luật khoa học khác nhau.
Thế giới trên Trái đất không hoàn hảo, hành xử theo một cách, còn
thế giới trên trời là hoàn hảo và hành xử theo một cách khác; ông nói
thêm, hai thế giới này đã được nghiên cứu kỹ càng và các qui định
cho mỗi thế giới đã được nhà triết học Hy Lạp Aristotle xác định từ
rất lâu trước đây.
Đối với Newton, chịu đựng những bàn tay không hoàn hảo nơi
trần thế như của thằng Storer là đủ bằng chứng về những gì mà ông
Stokes đang nói. Newton căm ghét Storer và các bạn đồng học vì họ
không thích cậu. Mà trên hết là cậu ghét chính bản thân mình vì cậu
không dễ mến tới mức ngay cả mẹ đẻ của cậu cũng đã bỏ rơi cậu.
Chúa là người bạn duy nhất mà cậu có, cậu bé ngoan đạo tự nhủ,
và cũng là người duy nhất cậu cần. Newton nhỏ con hơn nhiều so
với Storer, nhưng với sự giúp đỡ của Chúa, chắc chắn cậu sẽ đánh
bại được kẻ trêu chọc thô bạo này.
Ngày hôm đó, ngay sau khi ông Stokes cho tan học, Newton đã ở
bên ngoài lớp và đứng đợi kẻ chuyên bắt nạt ở gần sân nhà thờ. Chỉ
trong vòng vài phút, đám đông học sinh ầm ĩ đã tụ tập vòng quanh.
Con trai ông Stokes, tự cho mình là trọng tài, vỗ vỗ vào lưng Newton
ra vẻ động viên trong khi nháy mắt ra hiệu cho Storer như thể muốn
nói việc này chỉ là trò giải trí, như đứng xem Daniel làm mồi cho
những con sư tử thôi mà.
Thoạt đầu, không ai cổ vũ cho Newton. Thay vì thế, mỗi lần Storer
giáng một cú đấm, đám học sinh lại ầm ĩ reo lên kích động thúc giục
kẻ độc ác lần sau hãy đấm mạnh hơn. Vào lúc Newton dường như đã
Những quả táo rơi
- 21
bị đánh gục, Storer thả lỏng người ở tư thế đứng thẳng, và toe toét
cười một cách huênh hoang với đám học sinh cùng lớp.
Nhưng khi nó định bước đi thì Newton đã tung một cú đá vào chân
nó: cậu không muốn để cho Storer có quyền lên mặt với mình trong
suốt quãng đời còn lại. Được đánh động bởi những tiếng kêu cảnh
báo, Storer xoay người tránh nhưng vẫn bị ăn một cú đá vào bụng và
một cú đấm vào mũi; Newton đã làm cho nó chảy máu mũi và điều
đó làm cho cậu cảm thấy hăng hơn.
Khoảng vài phút sau, hai đối thủ liên tiếp đấm nhau rồi vật nhau
xuống đất. Không biết bao lần, Storer loạng choạng nghĩ rằng mình đã
đánh bại Newton, nhưng gã chỉ nhận được những đòn phản công mới.
Khi vụ ẩu đả kết thúc, đám đông choáng váng đứng lặng như tờ.
Và khi cậu bé trọng tài bước tới chúc mừng Newton đã kiệt sức và
mặt mũi bê bết máu thì đám học sinh đang đứng lặng vì ngạc nhiên
bỗng lại reo hò náo nhiệt: Daniel đã trở thành David, chúng hớn hở
tuyên bố, và nhảy múa xung quanh gã khổng lồ Goliath đã ngã gục.
Newton còn hơn là thỏa mãn với những gì cậu đã làm, nhưng bọn
con trai cùng lớp thì không. Khi cậu định bước đi, Stokes nắm lấy vai
cậu và xúi cậu phải hạ nhục Storer. Newton lưỡng lự, nhưng rồi muốn
nhận thêm sự tán thưởng của đám bạn học, cậu kéo tai kẻ chuyên
bắt nạt đang hoang mang và đẩy mặt nó quay vào bức tường nhà thờ.
Đám đông các khán giả trẻ tuổi ré lên vui sướng rồi chạy vây quanh
kẻ chiến thắng vẫn đang còn chưa thôi bàng hoàng. Chúng vỗ nhẹ
lên lưng cậu và đi theo cậu suốt dọc đường về nhà với những tiếng
la thét tán tụng không kìm hãm nổi.
Sau khi đánh bại Storer, Newton nhanh chóng quay lại chuyện
huấn luyện con chuột yêu quí của cậu. Thật không may cho Newton,
nhưng điều này có nghĩa là cậu sẽ quay lại cách hành xử đã từng cho
gã chuyên bắt nạt bực tức nhất.
2 2 - 5 P H
VŨ CÔNG LẬP
PHẠM VĂN THIỀU
NGUYỄN VĂN LIỄN
http://khoahocvakhampha.com.vn
FIVE EQUATIONS THAT CHANGED THE WORLD
Copyright © 1995 by Dr. Michael Guillen
Bản tiếng Việt © 2009 Nhà xuất bản Trẻ
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Guillen, Michael
5 phương trình làm thay đổi thế giới/ Michael Guillen; Phạm Văn Thiều, Trần Quốc
Túy d. - TP. Hồ Chí Minh; Trẻ, 2009.
324 tr.; 20cm. - (Khoa học và khám phá)
Nguyên bản: Five equations that changed the world
1. Vật lý - Tác phẩm phổ cập. 2. Phương trình. I. Phạm Văn Thiều d. II. Trần Quốc
Túy d. III. Ts: Five equations that changed the world. IV. Ts: Năm phương trình làm
thay đổi thế giới.
Tặng Laurel,
người đã làm cho thế giới của tôi thay đổi tốt đẹp hơn
Lời cảm ơn
Tôi xin cảm ơn nhóm các nghiên cứu viên của tôi, Noe Hynojosa,
Jr., Laurel Lucas, Miriam Marcus, và Monya Baker vì tài năng và tinh
thần nhẫn nại tuyệt vời của họ.
Tôi xin cảm ơn người đại diện văn chương của tôi, Nat Sobel, về sự
bền bỉ, tình bạn và sự thông thái khác thường của ông. Tôi cũng xin
bày tỏ sự tin tưởng đặc biệt tới nhà xuất bản và biên tập viên Brian
DeFiore, vì sự nhiệt tình, những góp ý xây dựng và hỗ trợ của họ.
Tôi cũng xin cảm ơn sự giúp đỡ, góp ý và cổ vũ vô giá của: Barbara
Aragon, Thomars Barh, Randall Barone, Phil Beuth, Graeme Bird,
Paul Cornish (Dịch vụ Thông tin Anh quốc), Stefania Dragojlovic,
Ultra Fringeli (Đại học Basel), Owen Gingerich, Ann Godoff, Heather
Heiman, Gerald Holton, Carl Huss, Victor Iosilevich, Nancy Kay,
Allen Jon Kinnamon, (Thư viện Khoa học Cabot, Đại học Harvard),
Gene Krantz, Richard Leibner, Martha Lepore, Barry Lippman, Stacie
Marinelli, Martin Martmuler (Thư viện Đại học Basel), Robert Millis,
Ron Newburgh, Neil Pelletier (Hội làm vườn Mỹ), Robert Reichblum,
Jack Reilly, Diane Reverand, Hans Richner (Học viện Công nghệ
Liên bang Thụy Sĩ), William Rosen, Janice Shultz (Phòng thí nghiệm
nghiên cứu Hải quân), Johl Stachel (Đại học Boston), Rabbi Leonard
Troupp, David Vale, (Bảo tàng Grantham), Spencer Weart (Viện Vật
lý Mỹ), Richard Westfall, L. Pearce Williams, Ken Yanni (Đập Hoover),
và Allen Zelon.
L ờ i c ả m ơ n
- 7
Mặc dù nhận được sự giúp đỡ và động viên từ những người tốt
bụng này, nhưng, nếu như trong cuốn sách có bất kì một sai sót nào
thì điều đó hoàn toàn là lỗi của tôi, và tôi cũng xin chân thành cảm
ơn những bạn đọc tinh tường sẽ gửi thẳng những góp ý cho tôi.
8
Mục lục
Lời cảm ơn
9
Lời giới thiệu
Chất thơ của toán học
11
F = G × M × m ÷ d2
NHỮNG QUẢ TÁO RƠI
Isaac Newton và Định luật Vạn vật hấp dẫn
19
P + ρ × ½ν2 = constant
GIỮA HÒN ĐÁ VÀ CUỘC ĐỜI TRUÂN CHUYÊN
Daniel Bernoulli và Định luật về Áp suất thủy động học
85
-
9
∇ × E = -∂B/∂t
VƯỢT LÊN SỐ PHẬN
Michael Faraday và Định luật cảm ứng điện từ
147
∆ S vũ trụ > 0
MỘT TRẢI NGHIỆM KHÔNG SINH LỢI
Rudolf Clausius
và Nguyên lý thứ hai Nhiệt động lực học
202
E = m × c2
TRÍ TÒ MÒ GIẾT CHẾT ÁNH SÁNG
Albert Einstein và Thuyết tương đối hẹp
261
10
Lời giới thiệu
Chất thơ của toán học
db
Thơ ca đơn giản là cách thức đẹp nhất, gây ấn tượng nhất
và có tác dụng rộng lớn nhất để diễn tả các sự vật.
Matthew Arnold
TOÁN HỌC LÀ NGÔN NGỮ mà tầm quan trọng của nó tôi có thể giải
thích tốt nhất bằng cách bắt đầu từ một câu chuyện quen thuộc lấy
trong Kinh Thánh. Theo Cựu ước, đã có một thời tất cả mọi người
trên Trái đất đều nói cùng một thứ tiếng. Điều này làm cho họ thống
nhất và dễ dàng hợp tác với nhau đến mức họ bắt tay vào một dự án
chung để làm một việc dường như không thể: Họ định xây một cái
tháp ở thành phố Babel thật cao để mong có thể nhờ nó mà leo lên
được Thiên đường.
Đó là hành động hỗn hào không thể tha thứ và Chúa nhanh chóng
trút cơn tức giận của mình lên những kẻ phạm tội bất cẩn. Chúa tha
mạng sống cho họ, nhưng không tha thứ cho tiếng nói của họ: như
đã mô tả trong cuốn Sách Sáng thế (đoạn 11, câu 7), để dập tắt tính
cả gan của những kẻ phạm thượng, tất cả những gì mà Chúa cần làm
là “làm cho tiếng nói của chúng phải xáo trộn, khiến chúng không
ai hiểu ai nữa”.
Chất thơ của toán học
- 11
Hàng ngàn năm sau, chúng ta vẫn còn nói năng lảm nhảm. Theo
các nhà ngôn ngữ học, ngày nay trên thế giới có khoảng 1.500 ngôn
ngữ khác nhau. Và trong khi không ai cho rằng sự đa ngôn ngữ này
là nguyên nhân duy nhất đối với việc có rất ít sự thống nhất trong
thế giới thì chắc chắn điều này đã ngăn trở việc có được sự hợp tác
nhiều hơn.
Không gì gợi cho chúng ta nhớ tới thực tế bất tiện đó hơn là câu
chuyện về Liên Hiệp quốc. Trở lại đầu những năm 1940, khi tổ chức
này lần đầu tiên được thành lập, những người lãnh đạo của nó gợi ý
tất cả các nhà ngoại giao nên cùng nói ngôn ngữ duy nhất với ý nghĩ
rằng đòi hỏi này vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc thương
lượng vừa tượng trưng cho một thế giới hài hòa. Nhưng các nước
thành viên đã phản đối - mỗi nước đều không muốn từ bỏ bản sắc
ngôn ngữ của mình - vì vậy mới có một sự dung hòa thật lạ lùng; ngày
nay đại sứ của các nước ở Liên Hiệp quốc được phép nói một trong
năm ngôn ngữ sau: tiếng Trung Quốc phổ thông, tiếng Anh, tiếng
Nga, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp. Trong suốt nhiều năm, đã có
không ít hơn 300 ý đồ sáng tạo và truyền bá một ngôn ngữ toàn cầu,
và ý đồ nổi tiếng nhất do thầy thuốc nhãn khoa người Ba Lan là L.L.
Zamenhof đưa ra vào năm 1887. Ngôn ngữ nhân tạo mà ông sáng tạo
ra được gọi là Esperanto (Quốc tế ngữ), và ngày nay nó đang được
hơn 100.000 người ở hai mươi hai quốc gia sử dụng.
Tuy nhiên, như đã được đánh giá bởi hàng triệu người nói trôi
chảy nó và bởi những hệ quả mang tính lịch sử của những nỗ lực
thống nhất của họ mang lại thì toán học được coi là ngôn ngữ toàn
cầu thành công nhất. Mặc dù nó không giúp chúng ta xây được tháp
Babel, nhưng nó đã tạo ra những thành tựu mà đã có lúc người ta
tưởng chừng như không thể làm nổi: điện, máy bay, bom hạt nhân,
đưa người lên Mặt trăng, và hiểu được bản chất của sự sống và cái
chết. Việc khám phá ra những phương trình cuối cùng đã dẫn đến
1 2 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
những thành quả làm rung chuyển thế giới chính là chủ đề của cuốn
sách này.
Trong ngôn ngữ toán học, các phương trình cũng tựa như thơ ca.
Chúng diễn đạt các chân lý một cách cực kì chính xác, chuyển tải một
khối lượng lớn các thông tin trong một số số hạng khá ngắn gọn và
thường khó hiểu đối với những người mới nhập môn. Và cũng như
thơ ca thường giúp ta thấy được rất sâu bên trong chính chúng ta,
thơ ca toán học giúp ta có được tầm nhìn xa vượt ra ngoài bản thân
chúng ta - nếu không phải là đường tới được thiên đường, thì ít nhất
cũng tới được biên của vũ trụ nhìn thấy được.
Trong nỗ lực phân biệt giữa văn xuôi và thơ ca, Robert Frost có lần
đã cho rằng thơ ca, theo định nghĩa, là một dạng diễn đạt cô đọng
mà không bao giờ có thể dịch một cách chính xác được. Có thể nói
tương tự như vậy về toán học: người ta sẽ không thể hiểu được ý nghĩa
thật sự của một phương trình, hoặc không thể đánh giá được hết vẻ
đẹp của nó, trừ phi đọc nó bằng chính ngôn ngữ kì quặc và đầy hứng
thú mà nó đã được viết ra. Đó chính là lý do tôi viết cuốn sách này.
Đây không hẳn là sự tiếp nối cuốn sách gần đây nhất của tôi, Những
cây cầu bắc tới vô hạn: Khía cạnh nhân văn của Toán học. Tôi viết
Những cây cầu với ý định đem lại cho độc giả cảm giác về các nhà toán
học đã suy nghĩ ra sao và họ suy nghĩ về những gì. Tôi cũng cố gắng
mô tả ngôn ngữ đó - những con số, các kí hiệu, và logic - mà các nhà
toán học đã sử dụng để biểu đạt chính mình. Và tôi đã làm điều đó mà
hoàn toàn không bắt độc giả phải đau đầu vì một phương trình nào.
Nó giống như một thứ dược phẩm có vị ngọt ngào dành cho những
ai đã từng phải khổ sở vì những lo lắng về môn toán, họ thường không
đủ dũng cảm hoặc tò mò để mua một cuốn sách có chủ đề thường
làm cho họ sợ hãi. Tóm lại, Những cây cầu bắc tới vô hạn là cuốn sách
với liều lượng toán học vừa phải để có thể đọc một cách dễ dàng.
Chất thơ của toán học
- 13
Giờ đây, được khuyến khích bởi đã viết thành công một cuốn sách
không bao chứa một phương trình nào, tôi mạnh dạn dấn thêm một
bước nữa. Trong cuốn sách này, tôi mô tả nguồn gốc toán học của
một số các thành tựu đóng vai trò cột mốc - đó là những phương
trình mà hệ quả của chúng đã vĩnh viễn làm thay đổi cuộc sống hằng
ngày của chúng ta.
Người ta có thể nói, lần này, tôi dành cho công chúng một liều
lượng toán học mạnh hơn, một cơ hội dễ dàng làm quen với năm
công thức đáng chú ý ở các dạng nguyên gốc và không hề phải che
đậy của chúng. Độc giả sẽ có thể tự mình hiểu được ý nghĩa của các
phương trình đó, chứ hoàn toàn không phải đành lòng chấp nhận
một sự diễn dịch phi toán học, mà chắc chắn sẽ không tránh khỏi
khiếm khuyết.
Độc giả cuốn sách này cũng sẽ khám phá ra cách thức mà mỗi
phương trình này được rút ra. Tại sao điều này lại quan trọng? Bởi vì
có thể nói theo cách của Robert Louis Stevenson: Khi đang trên đường
đi tới một miền đất lạ, thì ta đã nhận được một nửa niềm vui rồi.
Tôi hy vọng những độc giả thiếu kiến thức cơ bản về toán học sẽ
không bị hốt hoảng bởi nhiệt tình gắng sức của tôi. Sự thanh thản
vẫn được đảm bảo, dẫu cho năm phương trình này có vẻ trừu tượng,
nhưng chắc chắn những hệ quả của chúng thì không, ngay cả với
những người không liên can gì với chúng: kẻ đơn độc ủy mị, đói tình;
thần đồng bị ngược đãi tình cảm từ một gia đình xuống cấp; người
mù chữ sùng đạo bị nghèo khốn giày đạp; người góa vợ có giọng nói
êm ái sống trong thời buổi hiểm nghèo; và kẻ bỏ học giữa chừng tính
cách ngông nghênh.
Mỗi câu chuyện được kể trong năm phần. Phần Mở đầu thuật lại
một tình tiết gây ấn tượng nào đấy trong cuộc đời của nhân vật chính,
giúp xác lập giọng điệu cho những gì được kể tiếp theo. Rồi đến ba
1 4 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
phần tiếp theo mà tôi đặt tên lần lượt là Veni, Vidi, Vici. Những từ
Latin này có nghĩa là “Tôi đã đến, Tôi đã thấy, Tôi đã chinh phục”,
đó chính là câu mà nghe nói Caesar đã từng tuyên bố sau khi đánh
bại nhà vua châu Á Pharnaces. Veni là phần mà tôi sẽ giải thích nhân
vật chính - tức nhà khoa học - đã đến với cái đề tài bí ẩn của mình
như thế nào; Vidi giải thích về mặt lịch sử đề tài đó đã xuất hiện một
cách bí ẩn ra sao; còn Vici giải thích nhà khoa học đã xoay xở như thế
nào để chinh phục điều bí ẩn dẫn đến phương trình lịch sử đó. Cuối
cùng, phần Vĩ thanh mô tả phương trình đó đã dẫn đến việc định
hình lại vĩnh viễn cuộc sống của chúng ta như thế nào.
Để chuẩn bị viết cuốn sách này, tôi đã lựa chọn năm phương trình
trong số hàng chục những phương trình thật sự nổi bật, chủ yếu với
tiêu chí là mức độ mà chúng đã làm thay đổi cơ bản thế giới chúng
ta. Tuy nhiên, lúc này tôi mới nhận thấy rằng những câu chuyện gắn
với các phương trình đó đã ngẫu nhiên kết hợp nhau để mang lại cho
độc giả một biên niên sử khá liền mạch về khoa học và xã hội từ thế
kỷ 17 cho tới ngày nay.
Hóa ra, đây là một giai đoạn rất quan trọng trong lịch sử. Về mặt
khoa học, nó trải từ khi bắt đầu Cuộc Cách mạng khoa học, xuyên
suốt các kỷ nguyên Lý trí, Ánh sáng, Tư tưởng và Phân tích; và trong
suốt thời gian đó khoa học đã làm sáng tỏ từng thứ một trong năm
nguyên tố cổ xưa: Đất, Nước, Lửa, Không khí và Ête.
Hơn nữa, trong giai đoạn đầy kịch tính đó, chúng ta thấy: Chúa đã
vĩnh viễn tách ra khỏi Khoa học, Khoa học đã thay thế thuật chiêm
tinh với tư cách là cách thức cơ bản của chúng ta trong việc dự đoán
tương lai, khoa học trở thành một nghề nghiệp được trả công, và
khoa học đã phải vật lộn với những chủ đề siêu bí ẩn về sự sống và
cái chết, về không gian và thời gian.
Trong năm câu chuyện này, từ thời chàng trai hướng nội Isaac
Chất thơ của toán học
- 15
Newton trầm tĩnh ngồi dưới gốc cây táo cho đến thời chàng trai hay
truy vấn Albert Einstein suýt chết khi leo lên dãy núi Alps ở Thụy Sĩ,
chúng ta thấy khoa học đã đi con đường của nó từ quả táo nổi tiếng
đến quả bom nguyên tử đầy tai tiếng. Điều đáng nói là chúng ta đang
phải chứng kiến khoa học đi từ chỗ là nguồn của ánh sáng và hy vọng
đến chỗ trở thành nguồn của tối tăm và chết chóc.
Các nhà văn trước tôi đã ghi theo niên đại cuộc sống của một số
trong năm nhà khoa học này - thường là những tiểu sử dài một cách
đáng sợ. Và các nhà văn trước tôi cũng đã dựng lại phả hệ của một
số những đổi mới về trí tuệ này từ lúc bắt đầu của lịch sử thành văn.
Nhưng họ không bao giờ tập trung chú ý kĩ càng vào một số nhỏ các
phương trình toán học đã ảnh hưởng đến sự sinh tồn của chúng ta
theo cách thật sự sâu sắc và mật thiết.
Ngoại lệ là phương trình năng lượng nổi tiếng của Albert Einstein
E = m × c2 mà nhiều người đã biết, và dẫu thế nào thì phương trình
này cũng phải chịu phần trách nhiệm đối với bom hạt nhân. Nhưng
mặc cho tất cả những tai tiếng của nó thì ngay cả phương trình nhỏ
bé nguy hiểm này chắc chắn cũng chỉ lưu lại trong tâm trí nhiều người
như một biểu tượng bí ẩn, giống như logo của tập đoàn Procter &
Gamble thật quen thuộc nhưng không thể giải thích được.
Các chữ cái E, m và c chính xác là chỉ cái gì? Tại sao c lại phải
bình phương? Và việc cho E bằng m × c2 có ý nghĩa gì? Độc giả sẽ
biết những câu trả lời rất đáng ngạc nhiên trong chương Trí tò mò
giết chết ánh sáng.
Các chương khác đề cập đến những nhà khoa học ít nổi tiếng hơn
Einstein, nhưng là những người không kém phần quan trọng đối với
lịch sử văn minh nhân loại. Chẳng hạn, chương Giữa hòn đá và cuộc
đời truân chuyên nói về nhà khoa học người Thụy Sĩ Daniel Bernoulli
và phương trình thủy động lực học của ông P + ρ × ½ ν 2 = CONSTANT
1 6 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
một phương trình cuối cùng đã dẫn đến máy bay hiện đại. Chương
Vượt lên số phận nói về nhà vật lý người Anh Michael Faraday và
phương trình điện từ trường của ông ∇ × E = -∂B/∂t cuối cùng đã dẫn
đến sự xuất hiện của điện.
Chương Những quả táo rơi kể về câu chuyện của nhà triết học tự
nhiên người Anh Isaac Newton và phương trình vạn vật hấp dẫn của
ông F = G × M × m ÷ d2 - phương trình này không dẫn đến bất kì một
phát minh cụ thể nào nhưng lại đưa đến một sự kiện mang tính sử
thi: sự đổ bộ của con người lên Mặt trăng.
Cuối cùng, chương Kinh nghiệm không sinh lợi nói về nhà toán lý
người Đức Rudolf Julius Emmanuel Clausius và phương trình nhiệt
động lực học (hay chính xác hơn là bất đẳng thức nhiệt động lực học)
của ông ∆Svũ trụ > 0. Nó cũng không dẫn đến một phát minh hoặc một
sự kiện lịch sử nào nhưng lại đưa đến một sự hiểu biết đáng kinh
ngạc: ngược với niềm tin phổ biến, sinh vật đang sống là trái với tự
nhiên; thực tế là toàn bộ sự sống tồn tại bất chấp, chứ không phải là
tuân theo, định luật cơ bản nhất của vũ trụ.
Trong cuốn sách gần đây nhất của tôi, cuốn Những cây cầu bắc tới
vô hạn, tôi đã cho rằng trí tưởng tượng của con người thực sự là giác
quan thứ sáu, được dùng để tìm hiểu những chân lý đã luôn hiện hữu.
Giống như những ngôi sao trên vòm trời, những chân lý này ở một
nơi nào đó bên ngoài đang chờ đợi trí tưởng tượng ngoại cảm của
chúng ta phát hiện ra chúng. Hơn nữa, tôi cho rằng trí tưởng tượng
toán học đặc biệt có tính tiên tri trong việc phát hiện những chân
lý phi vật chất này, và tôi đã kể ra nhiều thí dụ để làm bằng chứng.
Cũng trong cuốn sách đó, độc giả sẽ thấy những bằng chứng đầy
kịch tính cho lý thuyết nói rằng toán học là “người dẫn đường” đặc
biệt siêu nhạy cảm. Nếu không thế làm sao chúng ta có thể giải thích
được sự tinh thông không hề lầm lẫn và tính kiên trì tuyệt vời mà với
Chất thơ của toán học
- 17
nó năm nhà toán học này, có thể nói, là đã đánh hơi được và nhắm
vào các phương trình tương ứng của họ.
Tuy nhiên, trong khi các phương trình thể hiện sự nhận thức sâu
sắc các chân lý phổ quát và vĩnh hằng, thì cách thức mà các phương
trình này được viết ra lại mang đậm dấu ấn chất phác của con người.
Đó chính là điều đã làm cho các phương trình rất giống với thơ ca,
những nỗ lực nghệ thuật kì diệu đã biến những thực tại vô hạn trở
nên có thể hiểu được đối với những sinh linh hữu hạn.
Do đó, các nhà khoa học trong cuốn sách này không chỉ là những
nhà thám hiểm trí tuệ, mà họ còn là những nghệ sĩ phi thường làm
chủ một vốn từ vựng rộng lớn và thứ ngữ pháp phức tạp của ngôn
ngữ toán học. Họ là những Whitmans, Shakespeares và Shelleys của
thế giới định lượng. Và di sản của họ là năm bài thơ vĩ đại nhất đã
được sản sinh ra nhờ cảm hứng bởi trí tưởng tượng của con người.
1 8 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
F = G × M × m ÷ d2
Những quả táo rơi
Isaac Newton và Định luật Vạn vật hấp dẫn
db
Đôi khi tôi mong muốn Chúa quay trở lại
trong cái thế giới tối tăm và rộng lớn này.
Bởi vì dẫu Người có thiếu đi một vài phẩm hạnh nào đấy
thì Người
vẫn có những khía cạnh vui vẻ dễ thương
Gamaliel Bradford
SUỐT VÀI THÁNG QUA, cậu bé Isaac Newton mười ba tuổi hằng ngày
vẫn tò mò quan sát những người thợ đang dựng chiếc cối xay gió ngay
ngoài thị trấn Grantham. Dự án xây dựng gây nhiều hào hứng, vì dù
đã được phát minh ra trước đây vài thế kỉ, nhưng cối xay gió vẫn là
điều mới lạ ở vùng thôn dã này của nước Anh.
Hằng ngày mỗi khi đi học về, cậu lại chạy đến bờ sông và ngồi đó
một mình ghi chép tỉ mẩn hình dáng, vị trí và hoạt động của từng chi
tiết của chiếc cối xay gió. Rồi cậu lại chạy ào về phòng mình ở nhà
ông Clarke để chế tạo những bản sao thu nhỏ của các bộ phận đang
được lắp ráp mà cậu vừa quan sát thấy.
Vì vậy, khi mà nhiều bộ phận máy móc xa lạ cồng kềnh ở Grantham
Những quả táo rơi
- 19
được lắp đặt xong thì công việc bắt chước chính xác đến tuyệt vời,
chiếc cối xay gió nhỏ của cậu cũng hoàn thành. Bây giờ công việc
còn lại đối với cậu chỉ là đưa vật gì đó hay ai đó ra để đóng vai trò
của người chạy máy.
Đêm qua cậu chợt nảy ra ý tưởng mà cậu cho là tuyệt vời: con chuột
yêu quí của cậu sẽ thật là hoàn hảo đối với bảng phân vai. Nhưng
làm sao có thể huấn luyện cho nó làm việc, biết tháo lắp bánh răng
của chiếc cối xay gió thu nhỏ theo mệnh lệnh? Đó là những gì đã làm
cho cậu rất bối rối trên đường tới trường sáng nay.
Với những bước đi chậm rãi, cậu dồn suy nghĩ vào cách giải quyết
vấn đề. Rồi đột nhiên cậu cảm thấy đau nhói ở bụng và những ý nghĩ
của cậu đột ngột dừng lại. Khi đã hồi lại, Newton ra khỏi giấc mơ ban
ngày và chợt thấy cơn ác mộng tồi tệ nhất của mình: đó là gã Arthur
Storer, kẻ chuyên bắt nạt học sinh trong trường, với bộ mặt nhăn nhở
và khiêu khích, vừa đá vào bụng cậu.
Storer, một trong những đứa con trai riêng của ông Clarke, thích
chọn Newton để chọc ghẹo một cách tàn nhẫn vì nó nghĩ Newton
có tính cách không bình thường và lại kết thân với Katherine, chị
nó. Newton là một đứa bé, nhỏ tuổi hơn, hiền lành và trầm tính, và
thường thích giao du với những suy tư của mình hơn là kết bạn với
mọi người. Nhưng cứ khi nào cậu trở nên hòa đồng thì việc ấy lại
diễn ra với đám con gái; đám này bị lôi cuốn bởi những con búp-bê
hoặc các đồ chơi khác mà cậu làm cho chúng bằng bộ đồ nghề riêng,
như các loại cưa, rìu và búa nhỏ xíu. Việc Storer chế nhạo Newton có
tính khí đàn bà là chuyện thường ngày, nhưng vào buổi sáng đặc biệt
này, nó đã nhục mạ Newton là ngu dốt. Thật không may, sự thực thì
Newton là học sinh đang xếp hạng gần như đội sổ trong số toàn bộ
học sinh của trường Free Grammer School của vua Edward đệ tứ ở
Grantham và xếp dưới cả Storer. Nhưng việc gã to xác chuyên bắt nạt
này cho rằng nó có đầu óc vượt trội hơn mình đã làm cho suy nghĩ
2 0 - 5 P H Ư Ơ N G T R Ì N H L À M T H AY Đ Ổ I T H Ế G I Ớ I
của cậu bé Newton quen sống ẩn dật chuyển hẳn từ chuyện cối xay
gió sang chuyện trả thù.
Vì ngồi ở cuối lớp nên Newton thường không để ý tới những gì
mà thầy giáo của cậu, ông Stokes, đang nói. Tuy nhiên, lần này cậu
lại chú ý lắng nghe. Vũ trụ được chia thành hai thế giới, ông Stokes
giảng vậy, mỗi thế giới tuân theo các định luật khoa học khác nhau.
Thế giới trên Trái đất không hoàn hảo, hành xử theo một cách, còn
thế giới trên trời là hoàn hảo và hành xử theo một cách khác; ông nói
thêm, hai thế giới này đã được nghiên cứu kỹ càng và các qui định
cho mỗi thế giới đã được nhà triết học Hy Lạp Aristotle xác định từ
rất lâu trước đây.
Đối với Newton, chịu đựng những bàn tay không hoàn hảo nơi
trần thế như của thằng Storer là đủ bằng chứng về những gì mà ông
Stokes đang nói. Newton căm ghét Storer và các bạn đồng học vì họ
không thích cậu. Mà trên hết là cậu ghét chính bản thân mình vì cậu
không dễ mến tới mức ngay cả mẹ đẻ của cậu cũng đã bỏ rơi cậu.
Chúa là người bạn duy nhất mà cậu có, cậu bé ngoan đạo tự nhủ,
và cũng là người duy nhất cậu cần. Newton nhỏ con hơn nhiều so
với Storer, nhưng với sự giúp đỡ của Chúa, chắc chắn cậu sẽ đánh
bại được kẻ trêu chọc thô bạo này.
Ngày hôm đó, ngay sau khi ông Stokes cho tan học, Newton đã ở
bên ngoài lớp và đứng đợi kẻ chuyên bắt nạt ở gần sân nhà thờ. Chỉ
trong vòng vài phút, đám đông học sinh ầm ĩ đã tụ tập vòng quanh.
Con trai ông Stokes, tự cho mình là trọng tài, vỗ vỗ vào lưng Newton
ra vẻ động viên trong khi nháy mắt ra hiệu cho Storer như thể muốn
nói việc này chỉ là trò giải trí, như đứng xem Daniel làm mồi cho
những con sư tử thôi mà.
Thoạt đầu, không ai cổ vũ cho Newton. Thay vì thế, mỗi lần Storer
giáng một cú đấm, đám học sinh lại ầm ĩ reo lên kích động thúc giục
kẻ độc ác lần sau hãy đấm mạnh hơn. Vào lúc Newton dường như đã
Những quả táo rơi
- 21
bị đánh gục, Storer thả lỏng người ở tư thế đứng thẳng, và toe toét
cười một cách huênh hoang với đám học sinh cùng lớp.
Nhưng khi nó định bước đi thì Newton đã tung một cú đá vào chân
nó: cậu không muốn để cho Storer có quyền lên mặt với mình trong
suốt quãng đời còn lại. Được đánh động bởi những tiếng kêu cảnh
báo, Storer xoay người tránh nhưng vẫn bị ăn một cú đá vào bụng và
một cú đấm vào mũi; Newton đã làm cho nó chảy máu mũi và điều
đó làm cho cậu cảm thấy hăng hơn.
Khoảng vài phút sau, hai đối thủ liên tiếp đấm nhau rồi vật nhau
xuống đất. Không biết bao lần, Storer loạng choạng nghĩ rằng mình đã
đánh bại Newton, nhưng gã chỉ nhận được những đòn phản công mới.
Khi vụ ẩu đả kết thúc, đám đông choáng váng đứng lặng như tờ.
Và khi cậu bé trọng tài bước tới chúc mừng Newton đã kiệt sức và
mặt mũi bê bết máu thì đám học sinh đang đứng lặng vì ngạc nhiên
bỗng lại reo hò náo nhiệt: Daniel đã trở thành David, chúng hớn hở
tuyên bố, và nhảy múa xung quanh gã khổng lồ Goliath đã ngã gục.
Newton còn hơn là thỏa mãn với những gì cậu đã làm, nhưng bọn
con trai cùng lớp thì không. Khi cậu định bước đi, Stokes nắm lấy vai
cậu và xúi cậu phải hạ nhục Storer. Newton lưỡng lự, nhưng rồi muốn
nhận thêm sự tán thưởng của đám bạn học, cậu kéo tai kẻ chuyên
bắt nạt đang hoang mang và đẩy mặt nó quay vào bức tường nhà thờ.
Đám đông các khán giả trẻ tuổi ré lên vui sướng rồi chạy vây quanh
kẻ chiến thắng vẫn đang còn chưa thôi bàng hoàng. Chúng vỗ nhẹ
lên lưng cậu và đi theo cậu suốt dọc đường về nhà với những tiếng
la thét tán tụng không kìm hãm nổi.
Sau khi đánh bại Storer, Newton nhanh chóng quay lại chuyện
huấn luyện con chuột yêu quí của cậu. Thật không may cho Newton,
nhưng điều này có nghĩa là cậu sẽ quay lại cách hành xử đã từng cho
gã chuyên bắt nạt bực tức nhất.
2 2 - 5 P H
 









Các ý kiến mới nhất